Tải bản đầy đủ (.doc) (25 trang)

SKKNDay tho tru tinh trung dai 7

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (210.02 KB, 25 trang )

Phần I.ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lí do chọn đề tài.
1. Cơ sở lí luận:
Thơ trữ tình trung đại chiếm một vị trí khá quan trọng trong chương trình
Ngữ văn 7 kì I, bao gồm bộ phận thơ trữ tình trung đại Việt Nam và khá nhiều
bài thơ trữ tình đời Đường của Trung Quốc.
Xét về mặt nội dung và nghệ thuật, các bài thơ trữ tình trung đại này có
nhiều điểm tương đồng. Các tác phẩm đều phản ánh một cách toàn diện xã hội
đương thời, thể hiện quan niệm nhận thức, tâm tư, tình cảm ... của con người
một cách sâu sắc. Nội dung phong phú được thể hiện bằng hình thức thơ hoàn
mỹ. Đặc biệt là các bài thơ Đường, đó là sự kế thừa và phát triển cao độ của thơ
ca cổ điển Trung Quốc mà những phương diện của thi pháp thơ cổ điển của
Trung Quốc vốn rất tiêu biểu. Các tác phẩm thi ca Việt Nam thời kì này cũng
chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi nghệ thuật của thơ Đường, thi pháp thơ rất đa
dạng, phong phú, phức tạp và sâu sắc: ngôn ngữ rất hàm súc, nói ít gợi nhiều,ý
tại ngôn ngoại, vừa có tính ước lệ, cổ kính, trang nghiêm, vừa có tính chặt chẽ
niêm luật của thể loại. Hiểu được các bài thơ này một cách thấu đáo đã là khó,
việc giảng dạy như thế nào để học sinh cảm thụ được còn khó khăn hơn rất
nhiều. Thiết nghĩ, đó là vấn đề mà rất nhiều giáo viên đứng lớp rất trăn trở.
Đã từ lâu việc dạy các tác phẩm thơ trữ tình TĐ gặp không ít những khó
khăn. Tác phẩm thơ trung đại có nhiều bản phiên âm chữ Hán, Phải qua bản dịch
nghĩa, dịch thơ, học sinh mới hiểu được. Khó khăn cơ bản là ở chỗ giáo viên và
học sinh phải đối diện trực tiếp với các văn bản, mặc dù có bản dịch nhưng vẫn
còn nhiều chênh lệch; mặt khác, các bài thơ thời này thường ngắn và ý nghĩa
thường ẩn sâu trong ngôn ngữ tác phẩm, đôi khi vượt ra ngoài ngôn ngữ biểu
hiện...Vì vậy, giáo viên thường thụ động dựa vào hướng dẫn và các bản dịch để
giảng cho học sinh mà ít quan tâm đến nguyên tác tác phẩm. Điều này ảnh
hưởng không nhỏ tới việc chuyển tải cái hay,cái đẹp của tác phẩm tới học sinh,
học sinh thường chỉ nhớ "vẹt" ý của bài
1



mà không hiểu sâu sắc tác phẩm, không phát huy được năng lực sáng tạo. Học
sinh không có hứng thú đối với bộ môn văn.
Trước tình hình ấy, để khắc phục những khó khăn đó và đáp ứng yêu cầu
giảng dạy, giáo viên phải tìm hiểu kĩ chương trình, bổ sung thêm kiến thức từ
các sách nghiên cứu, đi sâu tìm hiểu, lựa chọn phương pháp giảng dạy phù
hợp ,vừa sức với học sinh, giúp các em vượt qua những khó khăn trên để cảm
nhận được cái hay, cái đẹp của tác phẩm thơ này. Tiếp nhận thơ trữ tình trung
đại đối với lứa tuổi học sinh trung học cơ sở, đặc biệt học sinh lớp 7 quả là điều
không hề đơn giản. Chính vì vậy người giáo viên phải là chiếc cầu nối giúp các
em cảm nhận được thơ ca trung đại, đặc biệt thơ Đường - một thành tựu của thơ
ca nhân loại.
2. Cơ sở thực tiễn:
- Chương trình Ngữ văn 7 kì I có một số lượng tương đối lớn các văn bản
thuộc thể loại thơ trữ tình trung đại. Đó là các văn bản nghệ thuật được các nhà
thơ Trung Hoa và Việt Nam sáng tác trong thời kì phong kiến. Các tác giả của
các bài thơ trữ tình trung đại phần nhiều là những thi nhân nổi tiếng, tâm hồn
nặng những nỗi đời. Làm thơ với họ là mượn cảnh, mượn việc để kí thác tâm sự,
bày tỏ nỗi lòng nhân thế...
- Thực tế nhiều HS tỏ ra ngại học phần thơ trữ tình trung đại, nhiều học
sinh chưa có thói quen chủ động tìm hiểu khám phá bài học, còn thờ ơ, lãnh đạm
với tác phẩm văn chương, nhất là các văn bản thơ. Không phải em “sợ” thơ, mà
có bài thơ có phiên âm chữ Hán, từ ngữ khó hiểu, điển cố nặng nề gây cho các
em nhiều mệt nhọc, hơn nữa cách giảng của người thầy nhiều lúc cũng chưa làm
cho các em hiểu rõ và thấy hay thêm được chút nào. Từ đó học sinh mất hứng
thú khi học văn và kéo theo chất lượng học văn ngày càng giảm sút
- Với những văn bản thơ chữ Hán, một số giáo viên khi phân tích chủ yếu
hướng dẫn các em phần nhiều bám vào bản dịch thơ mà sao nhãng hoặc quên
lãng bản phiên âm (bản gốc). Vì thế dẫn đến HS không nhớ hoặc không để ý đến
từ ngữ, câu thơ hay trong bản gốc.

2


Hiện nay còn có nhiều ý kiến trao đổi về việc dạy thơ trữ tình trung đại,
chưa đi đến một thống nhất chung. Nhưng bản thân tôi cũng đã mạnh dạn
nghiên cứu đề tài: “ Một số lưu ý khi dạy thơ trữ tình trung đại trong chương
trình ngữ văn 7”. để góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy văn bản thơ trữ tình
TĐ, giúp học sinh ngày một yêu thích giờ học văn hơn.
II. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
1. Mục đích:
Đưa ra hướng giải quyết một số khúc mắc về kiến thức, phương pháp khi
dạy thơ trữ tình TĐ cho học sinh. Từ đó có thêm kinh nghiệm để dạy tốt phần
văn bản thơ trữ tình TĐ trong chương trình ngữ văn 7. Nhằm đáp ứng nhu cầu
đổi mới chương trình ngữ văn THCS hiện nay.
2. Đối tượng.
Một số văn bản thơ trữ tình TĐ trong chương trình ngữ văn 7.
3. Phạm vi.
- Không gian: Trường THCS Hương Sơn, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc
- Thời gian: Nghiên cứu và thực hiện trong 6 tháng (từ tháng 09/2015 – 03/2016)
III. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã vận dụng và phối hợp nhiều phương
pháp trong đó có các phương pháp cơ bản sau:
1.Phương pháp nghiên cứu tài liệu: dẫn chúng ta trong khi đi tìm những
phương pháp cụ thể để giảng các bài thơ muôn hình muôn vẻ.
- Đọc các tài liệu giáo trình có liên quan đến vấn đề thơ và phương pháp
giảng dạy thơ trữ tình
2. Phương pháp điều tra, quan sát: dẫn chúng ta trong khi đi tìm những
phương pháp cụ thể để giảng các bài thơ muôn hình muôn vẻ.
- Thông qua việc dự giờ thăm lớp, qua thưc tế dạy học.
3. Phương pháp tổng kết và đúc rút kinh nghiệm. dẫn chúng ta trong khi

đi tìm những phương pháp cụ thể để giảng các bài thơ muôn hình muôn vẻ.
- Tìm hiểu thực trạng việc dạy học của giáo viên qua các bài thơ trữ tình
trong sách giáo khoa Ngữ văn THCS.
4. Phương pháp đàm thoại: dẫn chúng ta trong khi đi tìm những phương
pháp cụ thể để giảng các bài thơ muôn hình muôn vẻ.
- Trao đổi với giáo viên trong tổ xã hội về vấn đề dạy Ngữ văn nói chung
và dạy thơ trữ tình trung đại 7 nói riêng.
3


5. Phương pháp thực nghiệm:
- Tiến hành thực nghiệm để kiểm nghiệm tính khả thi và tác dụng của các
ý kiến đóng góp về phương pháp giảng dạy thơ trữ tình trung đại, từ đó điều
chỉnh cho hợp lý hơn.
Phần II: NỘI DUNG.
I. Những vấn đề chung :
Dạy đọc hiểu thơ trữ tình, đặc biệt thơ trữ tình trung đại đòi hỏi một cách
tiếp cận riêng khác với dạy các văn bản tự sự, miêu tả hay nghị luận. Cho nên,
trước khi dạy, người thầy cần nắm được hệ thống các bài thơ trữ tình trung đại
trong chương trình Ngữ văn 7 để từ đó có định hướng, cách khai thác riêng cho
từng cụm bài, từng bài. Ta có thể theo dõi các tác phẩm thơ trữ tình trung đại
lớp 7 qua bảng hệ thống sau:
STT
Tác phẩm
1
Sông núi nước Nam

Quốc gia
Việt Nam


2

Việt Nam

3
4
5
6

7
8
9
10

Tác giả
Thể loại
Khuyết danh Thất ngôn tứ
tuyệt
Phò giá về kinh
Trần Quang Ngũ ngôn tứ
Khải
tuyệt
Côn Sơn ca
Nguyễn Trãi Lục bát
Buổi chiều đứng ở phủ Trần Nhân Thất ngôn tứ
Thiên Trường trông ra
Tông
tuyệt
Bánh trôi nước
Hồ

Xuân Tứ tuyệt
Hương
Sau phút chia li
Đặng Trần Song
thất
Côn (Đoàn lục bát
Thị
Điểm
dịch)
Qua đèo Ngang

huyện Thất ngôn
Thanh Quan bát

đường luật
Bạn đến chơi nhà
Nguyễn
Thất ngôn
Khuyến
bát

Đường luật
Xa ngắm thác núi Lư
Lí Bạch
Thất ngôn tứ
tuyệt.
Phong Kiều dạ bạc
Trương Kế
Thất ngôn tứ
tuyệt.


Việt Nam
Việt Nam
Việt Nam
Việt Nam

Việt Nam
Việt Nam
Trung Quốc
Trung Quốc
4


11
12
13

Cảm nghĩ trong đêm thanh
tĩnh
Ngẫu nhiên viết nhân buổi
mới về quê
Bài ca nhà tranh bị gió thu
phá

Lí Bạch

Ngũ ngôn tứ Trung Quốc
tuyệt
Hạ
Tri Thất ngôn tứ Trung Quốc

Chương
tuyệt
Đỗ Phủ
Cổ phong
Trung Quốc

Như vậy, phần chương trình thơ trung đại lớp 7 bao gồm cả phần thơ Việt
Nam và thơ Trung Quốc. Tuy nhiên, giữa chúng có điểm chung bởi các bài thơ
Việt Nam thời kì này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi Phong cách thơ Đường của
Trung Quốc. Chính vì vậy, trong qúa trình dạy, cần bám sát đặc trưng thể loại,
các tín hiệu nghệ thuật (chủ yếu là các thể thơ cổ điển, nghệ thuật đối, ước lệ,
cách sử dụng từ ngữ) để trên cơ sở đó, dẫn dắt HS đi tìm cái hay, cái đẹp trong
tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm.

- Phần nội dung chương trình Ngữ văn 7 kì I có nhiều bài thơ trung đại rất
tiêu biểu, đặc sắc. Trước đây, một số bài thơ này được học trong chương trình 9
nhưng theo quan điểm đổi mới, các tác phẩm này đã được đưa xuống chương
trình văn 7. Vì vậy để học sinh nắm được cái thần của bài thơ, hiểu được ý nghĩa
sâu xa của bài thơ quả là rất khó.
- Với những văn bản thơ chữ Hán, một số giáo viên khi phân tích chủ
yếu hướng dẫn các em phần nhiều bám vào bản dịch thơ mà sao nhãng hoặc
quên lãng bản phiên âm (bản gốc), HS không thể nhớ nổi một từ hay một câu
thơ hay trong bản gốc.
- Tiếp cận với những bài thơ mĩ lệ, mang tính mẫu mực, một số iên
tham phần bình, bình quá nhiều khiến thiếu thời gian để học sinh phát huy năng
lực sáng tạo của mình trong quá trình cảm nhận.
- Một số giáo viên lại lại chỉ chú ý đến hệ thống câu hỏi mà chưa chú ý
đến phần bình, giờ dạy khô khan, điều đó khiến cho năng lực cảm thụ cái hay
cái đẹp của tác phẩm với học sinh chưa hoàn toàn đúng mức.
III.Giải pháp:

5


Đứng trước thực trạng ấy,bản thân tôi là người trực tiếp giảng dạy Ngữ vân 7,tôi
xin mạnh dạn đề xuất một số giải pháp sau:
1.Trước hết GV phải nắm chắc đặc trưng của thơ trữ tinh trung đại trong
chương trình ngữ văn 7:
.
- Để dạy tốt thơ trữ tình trung đại, ta cần hiểu thế nào là thơ trữ tình Trung đại.
Đây là một khái niệm còn nhiều tranh cãi, tuy nhiên, trong phạm vi khuôn khổ
một sáng kiến kinh nghiệm nhỏ, tôi xin được cắt nghĩa ngắn gọn, đơn giản: Thơ
trữ tình trung đại là các văn bản nghệ thuật mẫu mực, đạt đến độ hoàn thiện về
hình thức (kết cấu, nghệ thuật sử dụng ngôn từ) và có giá trị cao ở nội dung
(mượn cảnh hoặc việc để kí thác tâm sự, bày tỏ nỗi lòng nhân thế)
- Thơ trữ tình trung đại ở chương trình Ngữ văn 7 (xét theo phạm vi lãnh
thổ) gồm thơ trữ tình trung đại Việt Nam và thơ trữ tình trung đại Trung Quốc.
+Thơ trữ tình trung đại Việt Nam bao gồm các tác phẩm thơ viết trong
thời kì phong kiến, từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX, bao gồm bộ phận văn học chữ
Hán và văn học chữ Nôm. Bộ phận văn học chữ Hán chịu ảnh hưởng sâu sắc của
văn học Trung Quốc thời Đường. Bộ phận văn học chữ Nôm ra đời sau (từ thế
kỉ XVIII đến nửa cuối thế kỉ XIX) nhìn chung vẫn còn ảnh hưởng bởi phong
cách thơ Đường song đã có nhiều sáng tạo (sự phá cách) về kết cấu bố cục, niêm
luật, ý thơ.
+Thơ trữ tình trung đại Trung Quốc: chủ yếu là các bài thơ thời Đường,
đó là thành tựu tiêu biểu nhất của văn học đời Đường (từ thế kỷ VII đến thế
kỷX). Đối với lịch sử văn học, thơ Đường ra đời trước nền văn học trung đại
Việt Nam gần 3 thế kỷ. Đối với bạn đọc Việt Nam, nhất là học sinh THCS, thơ
Đường là sản phẩm tinh thần vừa xa về khoảng cách thời gian vừa xa về mặt
ngôn từ. Nhưng học thơ Đường không phải chỉ chiêm ngưỡng các sản phẩm “cổ
vật” mà chúng ta vẫn cần phải hiểu được tiếng nói của người xưa và phải biết

rung cảm trước những tâm hồn cao đẹp. Phần văn học đặc sắc đại diện cho một
thời đại hoàng kim của thi ca Trung Quốc này đã góp phần hình thành năng lực
cảm thụ văn học cho học sinh . Thông qua việc tiếp nhận , học sinh sẽ hiểu được
6


những nột độc đáo của thơ ca đời Đường và có tác dụng rất lớn trong quá trình
liên hệ học tập các tác phẩm thơ của dân tộc (đặc biệt là thơ ca thời kì Trung
đại).
- Tuy nhiên, dù là thơ trữ tình trung đại Việt Nam hay Trung Quốc thì đều
mang những nét đặc trưng cơ bản sau:
+ Về nội dung, gồm hai tầng nghĩa: nghĩa bề mặt (nghĩa phản ánh) và
nghĩa hàm ẩn (nghĩa biểu hiện), tương ứng với nó là bức tranh cảnh hoặc việc
và bức tranh tâm trạng, trong đó, tâm trạng con người là mục đích chính của
biểu cảm nghệ thuật
+ Về thể thơ: thơ trữ tình trung đại được tổ chức theo quy ước của các thể
thơ tiêu biểu: lục bát, song thất lục bát, các thể thơ Đường, gồm:
Thất ngôn tứ tuyệt ( Bốn câu, mỗi câu bẩy chữ ), Ngũ ngôn tứ tuyệt ( Bốn câu,
mỗi câu năm chữ ), Thất ngôn bát cú ( Bốn câu, mỗi câu tám chữ ) … Song
chung quy lại , thơ Đường thường gồm 2 loại chính là Ngũ ngôn (mỗi câu 5
chữ) và Thất ngôn ( mỗi câu 7 chữ ). Các câu 1 ,2 , 4 hoặc chỉ có câu 2 , 4 hiệp
vần với nhau ở chữ cuối. Hai thể thơ chính của Thơ Đường là Cổ thể ( gồm Cổ
phong và Nhạc phủ ) và Cận thể ( hay Kim thể, gồm Luật thơ và Tuyệt cú ). Thơ
Cổ thể thường linh hoạt về số câu, không gò bó về niêm luật, về cách gieo vần
…; Thơ Cận thể ( còn gọi là thơ Đường luật ), tuy có gò bó về niêm luật song
lại có cấu trúc cân đối hài hoà, mỗi bài thơ giống như một bài toán giải đáp tình
cảm, cảm xúc hay một vấn đề xã hội bằng hình tượng nghệ thuật. Khai thác thơ
trung đại cần căn cứ vào thể thơ để từ đó tìm hiểu cách biểu đạt đặc sắc của tác
giả trong bố cục của bài.
+ Nhịp thơ, âm điệu: trong thơ trữ tình, nhịp điệu có vai trò quan trọng.

Nó giúp nhà thơ nâng cao khả năng biểu cảm, cảm xúc. Cách ngắt nhịp được
xem là một từ đa nghĩa, có thể biểu hiện được các trạng thái cảm xúc: khi căm
thù tột đỉnh, lúc xao xuyến bâng khuâng, khi cô đơn buồn tẻ, lúc xúc động dâng
trào... Những cung bậc tình cảm ấy nhiều khi không được mô tả bằng chữ nghĩa,
sự ngắt nhịp là một trong những phương tiện hữu hiệu để thể hiện “sự im lặng
không lời”, tạo nên ý tại ngôn ngoại.
7


• Ví dụ:. Trong hai câu đầu bài “Tụng giá hoàn kinh sư” (Trần Quang
Khải), nhịp thơ nhanh thể hiện rõ khí thế chiến thắng, niềm vui sướng của quân
dân nhà Trần.
+ Vần thơ, thanh điệu: tiếng Việt rất giàu tính nhạc, hệ thống vần và thanh
điệu là những yếu tố cơ bản tạo nên tính nhạc của tiếng Việt nói chung và ngôn
từ văn học nói riêng, cho nên cần chú ý đến yếu tố này khi phân tích thơ trữ tình.
Gieo âm a (trong bài “Qua Đèo Ngang”)gợi âm hưởng buồn bã, bâng khuâng,
nỗi buồn như lan tỏa, thấm vào cảnh vật của người nữ sĩ; gieo vần “âu” (trong
bài “Chinh phụ ngâm khúc”) “Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu – ngàn dâu
xanh ngắt một màu...” gợi sự u sầu, đau khổ của người chinh phụ trước cảnh li
biệt. Sự phối hợp các thanh bằng trắc cũng góp phần thể hiện nội dung tư tưởng
của bài thơ.
+Ngôn từ, chi tiết, hình ảnh thơ: văn học là nghệ thuật của ngôn từ, ngôn
từ có giá trị biểu cảm cao trong các bài thơ trữ tình, đặc biệt hệ thống các từ láy;
với các bài thơ mang phong cách cổ điển thì càng cần chú ý đến hệ thống từ
ngữ, những chữ được coi là “nhãn tự” của bài thơ, làm nổi bật được cái thần của
tác phẩm.
• Chẳng hạn như chữ “quải” (trong bài “Xa ngắm thác núi Lư” - Lí Bạch)
đã biến cảnh từ động sang tĩnh, dòng thác ầm ầm đổ xuống núi đã biến thành
một dải lụa trắng rũ xuống, yên ắng và bất động, một vẻ đẹp thiên nhiên kì ảo và
tráng lệ.

• Hay hình ảnh thơ: “mây biếc”, “núi xanh” trong bài “Chinh phụ ngâm
khúc” gợi lên cái mênh mông vô tận của vũ trụ, của nỗi sầu li biệt. Sự cách biệt
và nỗi sầu chia li nặng nề tưởng như phủ lên màu biếc của trời, trải vào màu
xanh của núi. Hình ảnh thơ mĩ lệ, tượng trưng chỉ không gian xa cách vời vợi,
thăm thẳm, con người bé nhỏ, nỗi buồn mênh mông.
+Phép tu từ: điệp từ, điệp ngữ, nhân hóa, đặc biệt phép đối.... là những
biện pháp nghệ thuật góp phần thể hiện nội dung văn bản một cách hiệu quả.
Trong thể thơ thất ngôn bát cú, phép đối phải có ở các câu 3 và 4, 5 và 6; trong
thể thơ tứ tuyệt, phép đối xuất hiện ở câu 3 và 4, cũng có khi xuất hiện ở câu 1
8


và 2, hay ngay trong câu thơ cũng phép đối (gọi là tiểu đối). Phép đối trong thơ
cổ điển thường đối cả ý, từ loại lẫn thanh điệu, điều đó khiến cho ý thơ vượt ra
ngoài tác phẩm, “ý tại ngôn ngoại”.
• Ví dụ trong bài “Qua Đèo Ngang”, nội dung cảm xúc câu trên (Nhớ
nước đau lòng con quốc quốc) đối xứng với nội dung cảm xúc câu dưới
(Thương nhà mỏi miệng cái gia gia); hệ thống thanh điệu câu trên (TT / BB /
BTT) ngược lại với hệ thống thanh điệu câu dưới (BB / TT / TTB).
• Trong bài “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê”, ở lời thơ “Thiếu tiểu
li gia, lão đại hồi” có phép đối từ loại và đối vế câu đã nêu bật ý nghĩa trở về của
tác giả và tạo nhịp điệu cho câu thơ.
• Ở thể thơ song thất lục bát cũng sử dụng triệt để phép đối, ví dụ câu
“Chàng thì đi cõi xa mưa gió / Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn”, phép đối
“chàng thì đi” >< “thiếp thì về”, “cõi xa mưa gió” >< “buồng cũ chiếu chăn”
làm nổi bật thực tế chia li phũ phàng, không gian li biệt của đôi vợ chồng trẻ, nỗi
xót xa cho hạnh phúc bị chia cắt.
+ Không gian và thời gian trong thơ trữ tình: là nơi tác giả hay nhân vật
trữ tình xuất hiện để thổ lộ tấm lòng mình. Không gian thường gắn với các địa
điểm như núi cao, biển rộng, sông dài. Cho nên, cần chú ý xem nhà thơ mô tả

không gian đó có gì đặc biệt, không gian ấy có ý nghĩa gì trong việc phản ánh
nội dung miêu tả và biểu cảm của bài thơ.
Xác định được các đặc trưng cơ bản của thơ trữ tình trung đại để có
phương pháp phù hợp khi hướng dẫn học sinh khai thác, cảm thụ tác phẩm thơ
là điều hết sức quan trọng.
2.Chuẩn bị cho bài dạy:
a.Về phía giáo viên: tìm hiểu bài kĩ lưỡng nhuần nhuyễn đến mức thuộc
thơ, sống với bài thơ, tìm hiểu tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm để hiểu
được thấu đáo nội dung tư tưởng của tác phẩm. Hướng dẫn HS soạn kĩ ở nhà,
kiểm tra kĩ bài soạn của HS, có biện pháp nhắc nhở, phê bình hay báo với giáo
viên chủ nhiệm nếu HS có biểu hiện soạn chống đối như soạn sơ sài, soạn nhưng
chỉ là chép lại mà không hiểu, không nhớ.
9


- Về phía học sinh: cần chuẩn bị bài soạn chu đáo trên cơ sở hướng
dẫn của hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa và sự hướng dẫn của giáo viên.
Với HS học tốt, cần đọc thêm tư liệu để bước đầu hiểu được tác phẩm, sưu tầm
các câu thơ, bài thơ có nét tương đồng với tác phẩm sắp học hay các nhận định
về tác phẩm.
3.Một số lưu ý khi dạy thơ trữ tình TĐ trong chương trình Ngữ văn7
Thơ trữ tình trung đại là một vườn hoa rộng lớn, mỗi bài thơ mang trong mình
một dáng vẻ độc đáo riêng về mặt nội dung, song nếu đi sâu phân tích, bình giá
có tính lí luận, chúng ta có thể thấy được trong mỗi bài thơ vẫn chất chứa những
hơi thở chung, gộp lại thành những nét của một phong cách thơ mẫu mực. Đó là
chất cổ điển trong vẻ đẹp, trong màu sắc không gian và thời gian; là bút pháp
chấm phá như muốn ghi lại linh hồn của tạo vật; là điểm nhấn nghệ thuật rộng
mở, tĩnh trong cái động, động chìm trong tĩnh ... Để giúp học sinh có thể tiếp thu
tốt hơn những tác phẩm thơ trữ tình TĐ trong chương trình ngữ văn 7, tôi xin
trình bày một số cách dẫn dắt để học sinh tiếp cận và cảm thụ tác phẩm thơ theo

hướng tích cực:
a Đối với hoạt động dạy học trên lớp :
a.1.Cần chú ý các bước:
Bước 1: giáo viên nên hết sức coi trọng khâu kiểm tra sự chuẩn bị của
HS, bởi đây chính là tiền đề quan trọng để HS cảm thụ được tác phẩm ngay trên
lớp.

Bước 2: giáo viên cần chú ý khâu vào bài (khám phá)để tạo không khí
phù hợp vớibài học. Có thể là một bài hát, một bản nhạc, một bức tranh... mang
nội dung tư tưởng tương đồng với tác phẩm chuẩn bị học.
• Ví dụ: khi học bài “Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh” của Lí Bạch, giáo
viên có thể cho HS nghe bài hát “Quê hương” của Đỗ Trung Quân. Âm điệu
ngọt ngào cùng lời bài hát đằm thắm, thiết tha khiến HS cảm nhận dễ dàng hơn,
cụ thể hơn về tình yêu quê hương trong mỗi con người, và như vây, cách tiếp
cận với bài thơ sẽ học trở nên dễ dàng hơn.

10


Bước 3:GV chú ý phần đọc văn bản:
- Đọc thơ: Đọc thơ là để tạo tâm thế ban đầu cần thiết cho học sinh cũng
chính là bước đầu tiếp cận hình tượng thơ. Cần đọc cả bản phiên âm, dịch nghĩa
(nếu có), dịch thơ
- Đọc diễn cảm là tạo điều kiện cho cảm xúc của học sinh được khởi động
theo âm-vang của ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ thơ, và ngôn ngữ nhân vật, cái mà
đọc bằng mắt nhiều khi không đạt được. Đọc chính là tạo lên rung động thơ, tạo
lên sự đồng điệu về tâm hồn để rồi tiến tới sự đồng tình và đồng ý với tác giả

Bước 4:GV chú trọng phần phân tích vân bản:
1. Thơ trữ tình Trung đại thường mượn cảnh tả tình, nên nội dung của bài

thường là bức tranh cảnh và bức tranh tâm trạng (nội dung chính). Vì vậy các
văn bản TTTĐ thường đạt giá trị cao về nghệ thuật ngôn từ. Bởi vậy, khi phân
tích, giáo viên cần cho HS phát hiện và phân tích về giá trị nghệ thuật của bài để
hiểu được nội dung tư tưởng mà tác giả gửi gắm kín đáo, giáo viên cần chú ý
khai thác:
+Bố cục của bài (theo đặc trưng thể loại hoặc diễn biến tình cảm, tâm
trạng nhân vật). Giáo viên cần căn cứ vào đó để có cách tìm hiểu linh hoạt:
• Ví dụ, khi dạy bài thơ “Qua Đèo Ngang” (Bà huyện Thanh Quan), đây
là một bài thơ tuân theo các quy định nghiêm ngặt của phong cách thơ Đường,
vì vậy, giáo viên nên hướng dẫn HS khai thác theo bố cục của bài thất ngôn bát
cú, gồm 4 phần đề - thực – luận – kết, ở mỗi phần luôn có sự song hành bức
tranh cảnh và bức tranh tâm trạng, giáo viên cần chú ý hướng dẫn HS khai thác
tìm hiểu.
• Nhưng với bài thơ “Bạn đến chơi nhà” (Nguyễn Khuyến), vẫn là đề thực – luận – kết, vẫn đủ 8 câu với niêm, luật, vần, đối rất chuẩn như luật thơ
Đường quy định nhưng phá cách ở ý tưởng, ở cấu tứ bài thơ. Vì thế, khi dạy bài
thơ này nên đi theo diễn biến tự nhiên quá trình cảm xúc của nhân vật trữ tình,
nên chia bài thơ theo 3 ý như sau: 1-Cảm xúc khi bạn tới chơi (câu 1); 2-Cảm
xúc về gia cảnh (câu 2 đến câu 7); 3-Cảm xúc về tình bạn (câu 8)

11


+Nhịp thơ, vần thơ, thanh điệu, âm hưởng: giáo viên cần chú ý hướng
dẫn HS khai thác các yếu tố này, bởi chúng góp phần thể hiện cảm xúc của chủ
thể hay nhân vật trữ tình.
• Với bài thơ “Nam quốc sơn hà”, cần để HS thấy nhịp thơ chậm thể hiện
nội dung tư tưởng của bài, đó là lời tuyên bố dõng dạc, đanh thép về quyền tự
chủ của dân tộc
• Với bài “Tụng giá hoàn kinh sư”, cần hướng dẫn HS thấy được tác dụng
của việc sử dụng nhịp thơ nhanh, dồn dập nhằm diễn tả khí thế chiến thắng của

tướng sĩ nhà Trần
• Với bài “Thiên trường vãn vọng”, HS cần phát hiện cách gieo vần ở bản
phiên âm (vần “iên”) để thấy được âm hưởng của bài: êm đềm, yên ả.
+Ngôn từ, chi tiết, hình ảnh thơ: khi khai thác bài, giáo viên cần chú ý
đến hệ thống từ ngữ được sử dụng, đó là các tính từ, các từ láy gợi hình gợi cảm,
các động từ, các hình ảnh thơ... để thể hiện sâu sắc, rõ nét bức tranh cảnh và bức
tranh tâm trạng của nhân vật trữ tình.
• Trong bài “Qua Đèo Ngang, đó là hệ thống các từ láy mang giá trị gợi
hình gợi cảm: “lom khom”, gợi lên hình ảnh những tiều phu bóng dáng nhỏ bé,
nhạt nhòa như muốn chìm lắng vào trong không gian núi rừng hui hắt, vắng
lặng; “lác đác” gợi lên sự thưa thớt, vắng vẻ của những ngôi nhà chợ ven
sông...Tất cả đều nhằm làm nổi bật lên bức tranh thiên nhiên đèo Ngang heo hút
lúc chiều tà, ẩn trong đó là tâm trạng buồn bã cô đơn của người “lữ khách”
• Trong bài “Chinh phụ ngâm khúc”, một số tính từ được sử dụng có giá
trị biểu cảm cao: “xanh xanh”, “xanh ngắt”, cần cho HS thấy sự có mặt của các
tính từ này khiến cho mức độ màu xanh ngày càng đậm lại, cả một không gian
như thấm đẫm sắc xanh vời vợi, mênh mông, thăm thẳm. Đó không chỉ là màu
xanh cụ thể mà là màu xanh trừu tượng (màu xanh tâm trạng): màu xanh nhung
nhớ, màu xanh cô đơn, màu xanh của sự chia lìa, buồn khổ và hoàn toàn tuyệt
vọng. Chính màu xanh ấy đã góp phần làm nổi bật tâm trạng cô đơn trĩu nặng
của người chinh phụ.

12


• Trong bài “Tụng giá hoàn kinh sư”, HS cần thấy được dụng ý của việc
dùng các động từ mạnh đứng đầu, “đoạt”, “cầm”, đó là thế chủ động tiến công
mạnh mẽ, là chiến thắng oanh liệt, vẻ vang của quân dân nhà Trần, là đòn thua
thảm hại của giặc.
• Trong bài “Thiên Trường vãn vọng” (Trần Nhân Tông), tìm hiểu 2 câu

cuối, giáo viên nên chú ý hướng HS vào khai thác 2 hình ảnh mà tác giả lựa
chọn: “mục đồng” và “cò trắng”: trên những con đường nhỏ quanh co trở về
thôn xóm, từng đàn trâu nối đuôi nhau trong âm thanh tiếng sáo chiều réo rắt,
văng vẳng; trên những cánh đồng quê yên ả, từng đôi cò trắng bay liệng, nối tiếp
hạ xuống . Ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ đầy âm thanh và màu sắc, thanh tao và
dào dạt sức sống. Bút pháp điểm nhãn, lấy động tả tĩnh, cảnh đồng quê thanh
bình, êm đềm, tĩnh lặng và tràn đầy sức sống.
• Đặc biệt, giáo viên cần chú ý hướng dẫn HS khai thác triệt để những từ
được coi là “nhãn tự” của bài thơ.
+Phép tu từ: điệp từ, điệp ngữ, nhân hóa, đặc biệt phép đối. Nên hướng
dẫn HS phát hiện ra các biện pháp nghệ thuật cơ bản và từ đó cảm nhận được tác
dụng của các biện pháp nghệ thuật đó đem lại.
• Ví dụ, câu thơ “Hương âm vô cải mấn mao tồi” (trong bài “Hồi hương
ngẫu thư”), ta thấy có phép tiểu đối: giọng quê không đổi >< mái tóc đã thay
đổi. Phép đối càng làm nổi bật tình cảm, tâm trạng của nhân vật trữ tình: cho dù
thời gian có làm cho mái tóc thay đổi nhưng tình cảm với quê hương không hề
đổi thay, trước sau như một, vẫn nguyên vẹn, thắm thiết, bền chặt.
• Nghệ thuật so sánh, điệp từ trong bài “Côn Sơn ca” (Nguyền Trãi) khiến
khung cảnh thiên nhiên trở nên thanh cao, khoáng đạt, thanh tĩnh, nên thơ. Thiên
nhiên đã trở thành người bạn tri kỉ, gắn bó, hòa vào tâm hồn Nguyễn Trãi.
+Phân tích tác phẩm phải gắn liền với thân thế, phong cách tác giả và
hoàn cảnh xã hội nảy sinh tác phẩm, điều đó sẽ giúp học sinh hiểu tác phẩm
một cách đúng đắn, sâu sắc hơn.
• Chẳng hạn, phong cách thơ Lý Bạch là phong cách của một thi tiên.
Ông là người thông minh, biết làm thơ từ thuở nhỏ, giao du rộng rãi, thạo kiếm
13


thuật.Từ trẻ ông đã xa gia đình đi du ngoạn tìm đường lập công danh sự nghiệp.
Chính vì điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến phong cách thơ của ông: một

tâm hồn phóng khoáng, tự do, hình ảnh thơ tươi sáng kỳ vĩ ,một người thích
viễn du, thích thưởng ngoạn cái đẹp...Đặc trưng này trong con người ông đã ảnh
hưởng đến các tác phẩm của ông. Vì vậy , dạy thơ ông, giáo viên có thể hướng
dẫn cho học sinh cảm nhận theo hướng trên ,chẳng hạn trong 2 câu thơ :
Phi lưu trực há tam thiên xích
Nghi thị ngân hà lạc cửư thiên
( Vọng Lư Sơn bộc bố )
Dịch thơ : Nước bay thẳng xuống ba ngàn thước
Tưởng dải ngân hà tuột khỏi mây
Lý Bạch đã xây dựng một hình tượng thiên nhiên kì vĩ và diệu xảo nhờ trí
tưởng tượng mạnh mẽ, kì lạ, đạt đến mức điêu luyện. Chính sự lãng mạn, phóng
túng ấy đã tạo nên nét riêng trong thơ Lý Bạch.
Dạy Tĩnh dạ tứ ( Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh) học sinh phải nắmđược:
Thuở nhỏ Lí Bạch thường lên núi Nga Mi ở quê nhà ngắm trăng.Từ 25 tuổi, ông
đã xa quê và xa mãi. Bởi vậy cứ mỗi lần thấy trăng là nhà thơ lại nhớ tới quê
nhà da diết.
• Còn dạy thơ Đỗ Phủ, giáo viên cần hướng học sinh vào chất thánh
trong con người ông, phong cách thơ ông khác hẳn với Lý Bạch, ông viết về mọi
đề tài và không đề tài nào thoát ly thời cuộc vì cuộc đời ông nhiều gian nan vất
vả. Ông đã có một thời gian ngắn làm quan song từ quan vì xảy ra sự biến An
Lộc Sơn, vả lại cũng không được nhà vua tín nhiệm. Gần như suốt cuộc đời ông
sống trong cảnh nghèo đói bệnh tật. Ông là đại diện của khuynh hướng thơ hiện
thực , ngòi bút của ông luôn hướng vào phía dân nghèo:
… Ước được nhà rộng muôn ngàn gian
Che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan,
( Bài ca nhà tranh bị gió thu phá )
Men theo chặng đường thơ Đỗ Phủ sẽ giúp học sinh thấy được bức tranh
hiện thực đời Đường đậm nét. Qua đó hiểu thêm về phong cách thơ của tác giả.
14



+Luôn có sự kết hợp hài hoà giữa phiên âm, dịch nghĩa với dịch thơ
(với những văn bản chữ Hán) để HS hiểu đầy đủ dụng ý nghệ thuật của tác giả:
• Dạy thơ nói chung đã khó, dạy thơ tiếng nước ngoài qua bản dịch ( đặc
biệt là thơ chữ Hán ) lại càng khó hơn. Bởi lẽ một thực tế , giữa nguyên tác và
bản dịch vẫn có độ chênh: Hao hụt hoặc sai lệch ít nhiều … Vì lẽ đó, khi dạy
những tác phẩm loại này, giáo viên thường gặp rất nhiều lúng túng. Cho học
sinh cảm nhận theo hướng nào ? Phân tích bài thơ ra sao ? Bắt đầu khai thác từ
đâu ? ... Kết quả là không ít giáo viên khi dạy mảng văn thơ dịch mới chỉ đưa
học sinh vào những hướng cảm thụ một cách sơ sài, đôi khi còn chưa sát ý.
Việc đối chiếu phần dịch nghĩa và dịch thơ với nguyên âm trong quá trình
giảng văn là một thao tác hết sức cần thiết để giải mã tác phẩm một cách có hiệu
quả. Để tiến hành, trong quá trình dạy giáo viên cần định hướng cho học sinh
vào với không khí của sự so sánh, đối chiếu.
• Chẳng hạn ,dạy bài "Vọng Lư Sơn bộc bố" ( Xa ngắm thác núi Lư ) của
Lí Bạch, giáo viên cần đưa ra cho học sinh các câu hỏi dạng như:
- Ở mỗi câu trong phần dịch thơ có gì khác với bản phiên âm?
- Từ nào, ý nào đã bị mất trong bản phiên âm đã bị mất khi chuyển sang bản
dịch thơ ?
Câu 1 - Phiên âm: Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên
- Dịch nghĩa: Mặt trời chiếu núi Hương Lô, sinh làn khóii tía
- Dịch thơ: Nắng rọi Hương Lô khói tía bay
Chủ thể của hai động từ "chiếu" và "sinh" là mặt trời . Do đó, quan hệ
giữa 2 vế câu là quan hệ nhân - quả. Nghĩa là mặt trời chiếu ánh nắng vào hơi
nước trên đỉnh Hương Lô làm cho hơi nước biến thành màu tía. Tác giả đem đến
cho nó một vẻ đẹp mới: vẻ đẹp dưới ánh nắng mặt trời. Câu thơ vẽ lên một cảnh
tượng thiên nhiên kì vĩ, vừa rực rỡ ,vừa huyền ảo. Trong bản dịch thơ bỏ mất từ
"sinh" làm cho quan hệ nhân- quả này bị phá vỡ, chủ thể là khói tía. Cho nên
cảnh tượng kì vĩ trên cũng bị giảm đi phần nhiều.
Câu 2 - Phiên âm: Dao khan bộc bố quải tiền xuyên

- Dịch nghĩa: Xa nhìn dòng thác treo trên dòng sông phía trước.
15


- Dịch thơ: Xa trông dòng thác trước sông này
Bản dịch thơ đó bỏ đi từ "quải" (treo ) làm mất ảo giác về dòng thác như
một tấm vải treo từ đỉnh núi rủ xuống. Ảo giác này rất phù hợp với vị trí đứng
ngắm dòng thác từ xa của tác giả. Nhìn từ xa dòng thác tuôn trào liên tục giống
như dải lụa trắng rủ xuống, bất động treo trên vách núi rủ xuống phía trước dòng
sông. Bản dịch đã làm cho ấn tượng về dòng thác trở nên mờ nhạt và liên tưởng
ở câu sau ( Nghi thị ngân hà lạc cửu thiên - Tưởng dải ngân hà tuột khỏi mây)
trở nên thiếu cơ sở. Nếu dịch được từ “quải” thì sẽ làm cho dòng thác trở nên
sinh động hơn rất nhiều.
• Hoặc khi dạy văn bản: Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh ( Tĩnh dạ tứ ) của
Lí Bạch:
Phiên âm : Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương.
Dịch nghĩa : Ánh trăng sáng đầu giường ,
Ngỡ là sương trên mặt đất.
Dịch thơ : Đầu giường ánh trăng rọi,
Ngỡ mặt đất phủ sương.
Bản dịch dùng 2 động từ "rọi" và " phủ" chỉ biểu hiện được chủ thể là ánh
trăng, nhưng trong nguyên tác, dùng một động từ "nghi" - đã biểu thị được chủ
thể là con người .Chính điều này ở bản dịch thơ làm cho ý vị trữ tình của bài thơ
trở nên mờ nhạt và tạo cảm giác 2 câu đầu chỉ đơn thuần tả cảnh - Thực ra, chủ
thể ở đây vẫn là con người: con người thấy ánh trăng sáng ngỡ là mặt đất phủ
một lớp sương trắng…điều đó cho thấy việc dịch sát ý và đối chiếu giữa phiên
âm ,dịch nghĩa, dịch thơ là vô cùng quan trọng trong việc cảm thụ cái hay ,cái
đẹp của bài thơ.
Từ những dẫn chứng cụ thể trên , chúng ta rất dễ dàng nhận thấy là giữa

bản phiên âm và bản dịch thơ đôi khi còn có sự chênh lệch khá xa. Nếu chỉ chú
trọng đến việc phân tích bản dịch thơ mà quên đi nguyên tác e rằng học sinh chỉ
hiểu được cái hay trong văn bản thơ của dịch giả mà không hiểu hết những nét

16


riêng, những thông điệp mà nhà thơ muốn gửi tới độc giả qua sáng tạo nghệ
thuật của mình.
• Trong bài “Côn Sơn ca” (Nguyễn Trãi), đây là một bài thơ được viết
bẵng chữ Hán, theo thể điệu ca khúc cổ điển gồm 36 câu thơ chữ Hán, câu ngắn
nhất 4 chữ, câu dài nhất 10 chữ, phần lớn là câu ngũ ngôn và thất ngôn. Tuy
nhiên, khi dịch, dịch giả đã chuyển điệu, chuyển thể thành 26 câu thơ lục bát,
một thể thơ do người Việt Nam sáng tác với số câu trong bài không hạn định,
đây là bản dịch vừa sát ý, vừa thể hiện cái hay của tác phẩm qua phần dịch đầy
sáng tạo. Chính vì vậy, bài thơ “Côn Sơn ca” được độc giả biết nhiều qua bản
dịch hơn.
• Hay trong bài “Thiên Trường vãn vọng”, giáo viên cần cho HS đối
chiếu bản phiên âm với bản dịch thơ để thấy được cái hay trong việc chuyể tải
nội dung tác phẩm của người dịch: Ở câu 1: “Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên” đã
được dịch thoát ý “Trước xóm sau thôn tựa khói lồng”. Hình ảnh “tựa khói
lồng” có hồn hơn. Cảnh xóm thôn chìm trong sắc chiều man mác, có khói sương
bảng lảng hòa quyện, chập chờn hư ảo, cảnh nửa như có, nửa như không.
+Chú ý đến cảnh và tình được thể hiện trong tác phẩm: các thi nhân xưa
thường tức cảnh sinh tình, nhìn cảnh mà nghĩ đến mình, cảnh là cái cớ để bộc lộ
tình cảm trong lòng, tâm cảnh chi phối cái nhìn ngoại cảnh. Cảnh và tình có liên
hệ mật thiết với nhau, vì vậy, khi khai thác, giáo viên cần bám chắc vào đặc
trưng này.
• Dạy bài “Qua Đèo Ngang” (Bà huyện Thanh Quan), cần chú ý hai bức
tranh ngoại cảnh và tâm cảnh song song: ẩn bên trong bức tranh một Đèo Ngang

hoang sơ, hiu hắt, vắng lặng khi chiều tà là nỗi lòng nhớ nước thương nhà của
một con người cô đơn, nặng lòng hoài cổ.
+Cuối cùng một trong những biểu hiện tích cực của đổi mới phương pháp
dạy học trong giờ Đọc – hiểu thơ trữ tình là giảng bình.
Những lời bình giảng, phân tích của giáo viên trong giờ đọc – hiểu văn
bản là rất cần thiết, quan trọng góp phần làm nên dư vị ngọt ngào, khơi gợi cảm
xúc của học sinh khi tiếp nhận các giá trị văn chương. Và có một thực tế là
17


những giáo viên có những lời bình hay, độc đáo sẽ được học sinh nhớ mãi, ấn
tượng mãi.
Khi bình các thủ pháp nghệ thuật cũng phải chú ý lựa chọn. Trong mỗi
khổ thơ hoặc ngay trong một dòng thơ, tác giả cũng đã sử dụng nhiều thủ pháp
nghệ thuật khác nhau. Nếu bình tất cả thì không có thời gian, dẫn tới tình trạng
san bằng một cách bình quân mọi yếu tố nghệ thuật. Như vậy không thể làm nổi
bật cái hay, cái đẹp của các yếu tố nghệ thuật chủ yếu. Khi nhận ra những tín
hiệu nghệ thuật quan trọng phải tiến hành giảng dạy cho mạch lạc ý tứ mà câu
thơ thể hiện sau đó mới đi bình.
1. Cũng có khi bình về tư tưởng, nội dung của bài thơ để thấy được cái hay
của tác phẩm đặt trong hoàn cảnh xã hội đương thời. Có nhiều cách bình, có
thể trực tiếp bình về cách sử dụng ngôn từ trong tác phẩm, có thể so sánh
điểm tương đồng với các tác phẩm khác để thấy được nét đọc đáo riêng của
tác phẩm...Tuy nhiên dù cách nào cũng vậy lời bình phải phù hợp với lời
giảng trước hoặc sau đó, giảng có sâu sắc thì lời bình mới tâm đắc. Nếu
giảng hời hợt, chưa tới, dù có bình tâm huyết đến mấy cũng sẽ thiếu sức
thuyết phục, người đọc sẽ không tin vào những lời bình rộng như thế.
Thêm nữa, lời bình thể hiện rõ nhất ở giọng điệu, cảm xúc, thái độ, độ tinh
nhạy của mĩ cảm. Cho nên nó mang dấu ấn cá nhân người viết rất đậm.
Người được xem là có chất văn, hồn văn hay không chủ yếu thể hiện ở

những lời bình văn này. Và qua lời bình ấy, HS mới cảm nhận được cái hay
của tác phẩm, ngâng cao hiệu quả của giờ học văn.
• Ví du: khi hướng dẫn HS phân tích hết bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của
Nguyễn Khuyến, giáo viên có thể cho HS so sánh cụm từ “ta với ta” trong bài
thơ này với cụm từ “ta với ta” trong bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà huyện
Thanh Quan, trên cơ sở đó giáo viên có thể bình về tình cảm của Nguyễn
Khuyến đối với bạn: Nếu “ta với ta” trong bài “Qua Đèo Ngang” là mình ta đối
diện với chính ta, là sự cực tả nỗi cô đơn đang xâm chiếm toàn bộ cõi lòng
người lữ khách thì “ta với ta” trong bài “Bạn đến chơi nhà” ấm áp tình bạn, ta

18


với ta là tôi với bác, tuy hai mà một, là sự gắn bó thắm thiết của một tình bạn
chân thành, trong sáng, cao đẹp.
*Khi hướng dẫn HS phân tích, cần chú ý xây dựng hệ thống câu hỏi hợp
lí để khai thác nghệ thuật và nội dung của bài:
- Các câu hỏi đàm thoại ngoài tính chất xác định rõ ràng, phải có màu
sắc văn học, có khả năng khêu gợi tình cảm, cảm xúc, xúc động thẩm mỹ cho
học sinh.
- Câu hỏi phải vừa sức học sinh, thích hợp với khuôn khổ một giờ học
trên lớp, vừa phải có khả năng “gợi vấn đề” suy nghĩ tìm tòi sáng tạo cho học
sinh.
- Câu hỏi không tuỳ tiện, phải được xây dựng thành một hệ thống lôgíc,
có tính toán giúp học sinh từng bước đi sâu vào tác phẩm như một chính thể.
- Cần có sự kết hợp cân đối giữa các loại câu hỏi cụ thể và loại câu hỏi
tổng hợp gợi vấn đề. Câu hỏi có khi theo lối diễn dịch, có khi theo lối qui nạp
nhưng đều nhằm cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức vững chắc.
+Khi đặt câu hỏi, chúng ta có thể thực hiện một số giải pháp:
- Suy nghĩ thật kĩ vấn đề mình sắp dạy:

- Tham khảo các câu hỏi gợi ý trong SGK, SGV, sách bài soạn. Xây dựng
hệ thống câu hỏi riêng của mình cho bài soạn.
- Cố gắng sử dụng nhiều hình thức diễn đạt khác nhau để hỏi về cùng một
nội dung;
- Chú ý đón bắt, khơi gợi những ý tưởng mới mẻ của học sinh, từ thực tế
trả lời của các em, điều chỉnh lại cách hỏi cho phù hợp.
a.2. Vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy - học:
Việc chuyển đổi sách giáo khoa Ngữ văn ở trường THCS theo hướng tích
hợp là một yêu cầu mới trong việc giáo dục đào tạo của bộ môn. Đây là sự
chuyển biến có ý nghĩa thời đại chắc chắn sẽ đưa đến chất lượng dạy và học
được nâng lên. Tuy nhiên, việc vận dụng quan điểm tích hợp vào việc dạy - học
Thơ trữ tình trung đại là một vấn đề không dễ dàng và không phải lúc nào cũng
làm được.
19


Trong khi tiến hành tổ chức học sinh tiếp cận văn bản, đặc biệt những bài
thơ có phiên âm chữ Hán, giáo viên có thể khéo léo phá bỏ hàng rào ngôn ngữ
ấy bằng việc tổ chức học sinh vận dụng những kiến thức về "nghĩa của từ" (lớp
6 ) "Từ đồng nghĩa" "từ trái nghĩa" , từ "Hán Việt" (lớp 7) tạo ra một con đường
mới mà học sinh có thể dễ dàng cảm nhận được văn bản Thơ chữ Hán một cách
chủ động sáng tạo.
Ngoài ra , trong các bài thơ đều là sự kết hợp của nhiều phương thức biểu
đạt mà học sinh lớp 7 đã từng học :
- Văn bản tự sự
- Văn bản miêu tả
- Văn bản biểu cảm
Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên giúp học sinh tích hợp các
phương pháp biểu đạt trên vào mỗi văn bản.Từ đó tạo ra tác dụng 2 chiều. Một
mặt học sinh có điều kiện củng cố thêm về các loại văn bản đã học , mặt khác

học sinh nhờ sự lồng ghép liên môn ấy hiểu hơn về nội dung và phương thức
biểu cảm trong Thơ trữ tình trung đại.
Câu hỏi trong dạy - học có vai trò quan trọng đối với việc lĩnh hội kiến
thức và rèn luyện kĩ năng cho học sinh . Ngoài hệ thống câu hỏi tư duy cảm thụ
để phát huy khả năng tích cực của học sinh còn có một hệ thống câu hỏi tích hợp
đáp ứng với yêu cầu tích hợp của chương trình mới, giúp học sinh vận dụng kiến
thức, kỹ năng về tiếng để cảm nhận thuyết giải các văn bản trên cơ sở đã thực
hành tạo lập văn bản.
• Chẳng hạn: Khi dạy văn bản "Xa ngắm thác núi Lư" (Lý Bạch).
Hệ thống câu hỏi tích hợp có thể được xây dựng như sau :
1. Giải thích "Thác" là gì ? Chương trình lớp 6 đã học văn bản nào cũng nói về
đề tài này (Tích hợp: Nghĩa của từ; (lớp 6), với cuộc sống và văn bản "Vượt
thác").
2. Bài thơ làm theo thể thơ nào ? Thể thơ đó giống với thể thơ của bài thơ nào
trong thơ Đường luật Việt Nam em đã học ?
(Tích hợp thơ Đường luật Việt Nam).
20


3. Văn bản này được tạo bởi phương thức miêu tả hay biểu cảm ?
- Đối tượng biểu cảm trong văn bản là gì ? (Tích hợp với văn bản miêu tả,
biểu cảm).
4. Theo em nội dung nào có thể vẽ thành tranh , nội dung nào khó vẽ thành
tranh, chỉ cảm thấy bằng tâm hồn ? (Tích hợp với loại hình nghệ thuật khác).
5. Hãy cho biết vị trí quan sát , miêu tả của tác giả ? Vị trí quan sát ấy có tác
dụng gì ? ( Tích hợp văn bản miêu tả ).
6. Trong bản dịch thơ tác giả viết: " Nắng rọi Hương Lô khói tía bay"
Hãy giải thích từ "rọi" tìm từ có nghĩa tương đương với từ "rọi".( Giải
nghĩa từ, Từ đồng nghĩa).
7. Câu thơ thứ 4 tác giả dựng một nét nghệ thuật rất độc đáo để miêu tả dòng

thác ? Chỉ ra biện pháp nghệ thuật đó ? (Tích hợp Tiếng Việt: So sánh).
8. Có thể thay từ "bay" bằng từ gần nghĩa nào ? (chảy , đổ ) Đối chiếu với từ
đó ? (Tích hợp từ đồng nghĩa).
• Với văn bản: Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh (Lý Bạch).
1. Bài thơ làm theo thể thơ nào ? Giống với thể thơ bài thơ nào trong phần thơ
Đường luật của các tác giả Việt Nam ? (Tích hợp thơ Đường luật Việt Nam đã
học trước đó, văn bản "Phũ giỏ về kinh").
2. Em có nhận xét gì về nghĩa cặp từ: " Đê - Cử" ? (Tích hợp từ trái nghĩa).
4. Nhìn trăng nhớ quê, nhà thơ đã thể hiện đề tài nào quen thuộc trong thơ cổ ?
(Vọng nguyệt hoài hương). (Tích hợp đọc).
5. Văn bản này là sự kết hợp của những phương thức biểu đạt nào ? Trong sự
kết hợp này phương thức nào là phương thức chính, phương thức nào là phương
tiện ?
•Với văn bản"Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê "- Hạ Tri Chương
1. Trong bản dịch thơ tác giả chuyển thành thể thơ nào ? Em hiểu gì về thể thơ
ấy ? (Tích hợp thể thơ lục bát).
2. Ở câu thơ đầu "Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi ", chỉ ra các biểu hiện của phép
đối trên các phương diện: đối vế câu, đối từ loại, đối cú pháp ? (Tích hợp nghệ
thuật đối, từ loại, câu).
21


3. Nhận xét nghĩa các cặp từ: "Đi / về , trẻ / già , vẫn thế / khỏc xưa" (từ trái
nghĩa).
4. Bài thơ viết để kể chuyện về làng hay nhân chuyện về làng mà bày tỏ tình
cảm với quê hương ? Nếu thế phương thức biểu đạt của văn bản này là gì ?
(Tích hợp văn bản biểu cảm, tự sự ).
• Văn bản : Bài ca nhà tranh bị giú thu phá (Đỗ Phủ )
1. Văn bản này có thể chia làm mấy phần ? Xác định phương thức biểu đạt của
mỗi phần ? (Tích hợp ngang Tập làm văn ).

2. Đoạn 1 , tìm những từ đồng âm với từ "thu", "bay", "tranh" ?
3. Đoạn này câu nào là câu tả , câu nào là câu kể ?
4. Đoạn 2, tìm những từ kể cách cướp giật tranh ? Nêu 1 vài từ đồng âm với từ "
xô, cắp " (Tích hợp từ đồng âm).
a.3.Kết hợp với sử dụng công nghệ thông tin trong tiết dạy như: chiếu chân
dung tác giả, tên các tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác tác phẩm, những ý kiến bình
luận về tác phẩm, những trò chơi sáng tạo, đơn giản sẽ góp phần làm cho giờ
học hấp dẫn, sinh động
b.Đối với phần hướng dẫn về nhà:
- Giáo viên có thể yêu cầu HS sưu tầm các câu thơ, bài thơ cùng chủ đề
của chính tác giả đó hoặc của những tác giả khác, cùng thời hoặc khác thời để
mở rộng kiến thức về tác phẩm đã học, phần sưu tầm cần ghi riêng vào một
quyển sổ tay văn học
- Cho HS sưu tầm những ý kiến nhận xét về tác phẩm.
- Yêu cầu HS viết đoạn văn cảm thụ về một chi tiết, hình ảnh hay nội
dung tư tưởng trong tác phẩm.
- Hướng dẫn HS soạn kĩ bài sau.
* Kết luận: để giờ dạy tác phẩm thơ trữ tình trung đại lớp 7 đạt hiệu quả
cao, đòi hỏi người giáo viên cần áp dụng các phương pháp giảng dạy linh hoạt
với từng đối tượng học sinh, với từng bài dạy; bản thân người giáo viên cần tích
22


cực đọc, tìm tòi, nghiên cứu tài liệu để có cái nhìn sâu rộng về tác phẩm, trên cơ
sở đó từng bước hướng dẫn học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc cảm
thụ, đi tìm cái đẹp, cái hay của tác phẩm văn học. Thành công của một giờ dạy
là không chỉ rèn cho HS năng lực cảm thụ văn học, mà quan trọng hơn, những
tác phẩm văn học ấy đã có sự tác động sâu sắc đến tâm hồn, tình cảm của học
sinh.
4. Kết quả thực hiện:

Khi chưa nghiên cứu và ứng dụng đề tài này thì kết quá kiểm tra phần văn
bản thơ trữ tình TĐ như sau:
Khối

Sĩ số

Lớp

Số dự

Điểm

Điểm

Điểm

Điểm

Điểm

Điểm

KS

0,1,2

3,4

5,6


7,8

9,10

trên
TB

7

75

75

5

25

40

4

0

45

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Dạy học thơ trữ tình trung trung đại đòi hỏi một cách tiếp cận riêng khác với dạy
văn bản tự sự hay miêu tả. Cái khó nhất là với mỗi bài thơ, làm sao để học sinh
nắm được cái hồn thơ, nhận ra được vẻ đẹp lung linh rất khó nắm bắt. Vì vậy mà

trong quá trình khai thác, giáo viên cần biết nên hướng dẫn học sinh tìm hiểu
theo bố cục thể loại, theo mạch cảm xúc, trật tự các từ trong câu, biện pháp tu
từ...là điều có ý nghĩa rất quan trọng. Mỗi nhà thơ có cách nói riêng. Vẻ đẹp
trong mỗi bài như mỗi bông hoa mang hương sắc riêng. Có bài đẹp ở tứ, có bài
đẹp ở tình, có bài đẹp ở câu, có bài đẹp ở lời, có bài đẹp ở giọng điệu, có bài lại
đẹp ở tất cả. Việc giáo viên hướng dẫn HS tiếp cận cần phải hết sức linh hoạt để
mang lại giờ học đạt kết quả cao.

23


Do những hạn chế về kinh nghiệm của bản thân, cũng như thời gian nghiên cứu
đề tài chưa nhiều nên không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót, tôi rất mong nhận
được những ý kiến đóng góp của đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn.
2. Kiến nghị:
- Thư viện nhà trường nên bổ sung nguồn tài liệu mới giới thiệu về cuộc
đời, sự nghiệp của các tác giả thơ trữ tình trung đại Việt Nam .
- Các tài liệu văn học giới thiệu về các giai đoạn phát triển của văn học
nước nhà gắn với các giai đoạn lịch sử của dân tộc.

Hương Sơn, ngày 3 tháng3 năm 2016
Người viết

Lê Thị Mỹ Nhàn
PHẦN IV: TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ PHỤ LỤC
IV.1. Tài liệu tham khảo:
- Dạy học văn bản Ngữ văn THCS theo đặc trưng phương thức biểu đạt Tác giả:

Trần Đình Chung


- Sách giáo khoa và sách giáo viên Ngữ văn 7.
- Bồi dưỡng nâng cao Ngữ văn 7.
IV.2. Phụ lục:
I. PHẦN MỞ ĐẦU.....................................................................................1
I.1.Lí do chọn đề tài....................................................................................1
I.1.1. Cơ sở lớ luận......................................................................................1
I.1.2. Cơ sở thực tiễn...................................................................................2
I.2. Mục đích nghiên cứu............................................................................3
I.3. Thời gian và địa điểm...........................................................................4
I.4. Phương pháp nghiên cứu......................................................................4
I.5. Đóng góp mới về mặt lí luận, thực tiễn................................................5
24


II. PHẦN NỘI DUNG................................................................................6
Chương I: Tổng quan..................................................................................6
II.1.1. Nhìn chung về bộ phận thơ trữ tình trung đại lớp 7.........................6
II.1.2. Đặc trưng thơ trữ tình trung đại lớp 7..............................................7
Chương II: Nội dung vấn đề cần nghiên cứu............................................11
II.2.1. Thực trạng......................................................................................11
II.2.2. Đánh giá thực trạng:.......................................................................12
Chương III: Một số biện pháp dạy thơ trữ tình trung đại 7.......................14
III.3.1. Một số biện pháp dạy học thơ trữ tình trung đại 7........................14
Phần III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...................................................29
Phần IV: TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ PHỤ LỤC: ..............................30
Phần V. NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
VÀ PHÒNG GIÁO
V.1. Nhận xét của HĐKH trường:............................................................31
V.2. Nhận xét của HĐKH cấp phòng:......................................................32


25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×