TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
.......................
Đề cương chi tiết
NGHIỆP VỤ NGOẠI THƯƠNG
GV: Ths. Lê Phương Dung
RỦI RO TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU
NHÓM 1
Danh sách thành viên nhóm 1 :
Phùng Cao Chánh
Chế Trung Huy
Nguyễn Văn Lâm
Phạm Hoàng Vũ
Nguyễn Hữu Thịnh
DKQ131335
DKQ131326
DKQ131336
DKQ131328
DKQ131327
__________
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ CHỌN ĐỀ TÀI
1.Lý do chọn đề tài :
Hiện nay , nước ta đang bước vào thời kỳ hội nhập. Xuất nhập khẩu đóng vai
trò quan trọng trong việc tăng trưởng kinh tế . Việc thanh toán qua thư tín dụng
( L/C ) ngày càng phổ biến và hết sức cần thiết , tuy nhiên đi đôi với thuận lợi đó là
rủi ro không thể tránh khỏi. Khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ
đến hoạt động kinh doanh cũng như uy tín của doanh nghiệp. Do tính chất lây lan
của nó, rủi ro tín dụng là đầu mối của mọi khủng hoảng tài chính trong doanh nghiệp
và kể cả ngân hàng.
Mong muốn hiểu rõ hơn về rủi ro tín dụng để tìm ra các giải pháp phòng ngừa
thích hợp cũng là lý do chúng em chọn đề tài này.
2.Mục tiêu nghiên cứu :
-Phân tích nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng từ đó tìm ra các phòng ngừa
đồng thời làm rõ những hạn chế, khó khăn mà doanh nghiệp hay gặp phải .
-Làm sáng tỏ những vấn đề tín dụng trong nền kinh tế thị trường.
-Phản ánh và đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng trong doanh nghiệp xuất
nhập khẩu.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài :
Đối tượng:
Là các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và tác động của rủi ro tín dụng đến
doanh nghiệp.
Phạm vi :
Tập trung chủ yếu vào các vấn đề rủi ro tín dụng của các công ty, doanh nghiệp đang
gặp phải
4.Phương pháp nghiên cứu :
Phương pháp thu thập dữ liệu từ sách báo, tài liệu , thông tin báo chí , internet
và các nghiên cứu trước đây.
Phương pháp phân tích, tổng hợp dữ liệu sơ cấp , so sánh đáng giá trên cơ
sở dữ liệu thực tế.
5. Ý nghĩa :
Xuất nhập khẩu là việc mua hàng hoá của nước ngoài nhằm phát triển sản xuất
kinh doanh và đời sống. Song việc mua hàng ở đây có những nét riêng phức tạp hơn
mua bán trong nước: như giao dịch với những người có quốc tịch khác nhau, thị
trường rộng lớn khó kiểm soát, mua bán qua trung gian chiếm tỷ trọng lớn, đồng tiền
thanh toán là ngoại tệ mạnh, hàng hoá phải vận chuyển qua biên giới, cửa khẩu các
quốc gia khác nhau, phải tuân thủ các tập quán, thông lệ quốc tế cũng như của địa
phương.
Hoạt động xuất nhập khẩu được tổ chức thực hiện với nhiều nghiệp vụ nhiều
khâu từ điều tra nghiên cứu thị trường nước ngoài, lựa chọn hàng hoá nhập khẩu, đối
tác, tiến hành giao dịch đàm phán, ký két hợp đồng và tổ chức thực hiện hợp đồng.
Mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ phải được nghiên cứu thực hiện đầy đủ, kỹ lưỡng và đặt
trong mối quan hệ lẫn nhau.
Vì vậy, các chứng từ trong thanh toán quốc tế rất quan đối với công ty, doanh
nghiệp nhằm tranh thủ nắm bắt được những lợi thế đảm bảo cho hoạt động kinh doanh
nhập khẩu đạt hiệu quả cao nhất, đem lại lợi nhuận cao và phát triển sau này cho
doanh nghiệp.
6. Kết cấu đề tài :
Chương 1 : Tổng quan về đề tài
Chương 2 : Cơ sở lý thuyết.
Chương 3 : Nội dung nghiên cứu
Chương 4 : Kết luận
CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT
I.Tổng quan về tình hình thanh toán tính dụng:
Công cuộc đổi mới nền kinh tế Việt Nam theo hướng mở cửa, chủ động hội nhập
quốc tế đã mang lại những thành tựu quan trọng, tạo ra thế và lực mới cho nước ta để tiếp tục
hội nhập sâu sắc hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Trước yêu cầu đó, hoạt động thanh toán tính dụng cũng phát triển không ngừng về
mạng lưới hoạt động. Các hình thức thanh toán đa dạng và lớn mạnh từng ngày hào nhập vài
xu thế của đất nước nói riêng và khu vực cũng như thế giới nói chung.
Tuy nhiên, thanh toán tính dụng cũng tiềm ẩn khá nhiều rủi với sự phức tạp và đa dạng
của nhiều yếu tố đem đến. Nó đòi hỏi phải có hệ thống các nội dung và biện pháp nhằm quản
lý rủi ro trong thanh toán tính dụng nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động thanh toán tính
dụng. Đó là thực trạng và tổng quan về tình hình thanh toán tính dụng mà ai cũng gặp phải
hiện nay.
II.Khái niệm về thanh toán tính dụng:
Phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ quá trình, cách thức nhận – trả tiền trong
giao dịch mua bán ngoại thương giữa Nhà nhập khẩu và Nhà xuất khẩu. Trong quan hệ ngoại
thương đối với các nước tư bản chủ nghĩa có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau
như: Phương thức chuyển tiền, phương thức ghi sổ, phương thức nhờ thu, phương thức tín
dụng chứng từ… Mỗi phương thức thanh toán đều có ưu và nhược điểm, thể hiện qua sự
mâu thuẫn về quyền lợi giữa các bên tham gia: Nhà nhập khẩu và ngưòi xuất khẩu. Vì vậy,
việc vận dụng phương thức thanh toán nào phải được hai bên bàn bạc thống nhất và ghi vào
hợp đồng mua bán ngoại thương.
Thanh toán tính dụng (TTTD) là việc chi trả các nghĩa vụ và yêu cầu về tiền tệ phát
sinh từ các quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tính dụng giữa các tổ chức kinh tế, giữa các
hãng giữa các cá nhân của các nước khác nhau để kết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh
vực kinh tế bằng các hình thức chuyển tiền hoặc bù trừ trên các tài khoản trong các ngân
hàng.
TTTD là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh
trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ
chức, cá nhân khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế , thông qua quan hệ giữa các
ngân hàng của các nước liên quan. TTTD trong hoạt động kinh tế là việc thực hiện thanh toán
trên cơ sở hàng hóa xuất nhập khẩu và cung ứng dịch vị thương mại cho nước ngoài theo giá
cả của thị trường quốc tế. Cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là hợp
đồng ngoại thương.
III.Vai trò của thanh toán tính dụng:
TTTD có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, được thể hiện
chủ yếu trên các mặt sau:
a. Thúc đẩy và mở rộng hoạt động dịch vụ du lịch, hợp tác quốc tế.
b. Tăng cường thu hút kiều hối và các nguồn lực tài chính.
c. Không chỉ có tác dụng thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng háo và dịch vụ, mà
còn thúc đẩy đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp.
d. Thúc đẩy thị trường tài chính quốc gia hội nhập quốc tế, mở rộng hoạt động
sane xuất ra thị trường thế giới.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới hoạt động
thì thanh toán quốc tế đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất
nước. Một quốc gia không thể phát triển với chính sách đóng cửa, chỉ dựa vào tích luỹ
trao đổi trong nước mà phải phát huy lợi thế so sánh, kết hợp với sức mạnh trong nước với
môi trường kinh tế quốc tế. Hiện nay, khi các quốc gia đều đặt kinh tế đối ngoại lên hàng
đầu, coi hoạt động kinh tế đối ngoại là con đường tất yếu trong chiến lược phát triển kinh
tế đất nước thì vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng được khẳng định.
Thanh toán quốc tế là mắt xích không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh tế
quốc dân.Thanh toán quốc tế là khâu quan trọng của giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ
giữa các cá nhân, tổ chức thuộc các quốc gia khác nhau. Thanh toán quốc tế góp phần giải
quyết mối quan hệ hàng hoá tiền tệ, tạo nên sự liên tục của quá trình sản xuất và đẩy
nhanh quá trình lưu thông hàng hoá trên phạm vi quốc tế. Nếu hoạt động thanh toán quốc
tế được tiến hành nhanh chóng, an toàn sẽ khiến cho quan hệ lưu thông hàng hoá tiền tệ
giữa người mua và người bán diễn ra trôi chảy, hiệu quả hơn.
Thanh toán quốc tế làm tăng cường các mối quan hệ giao lưu kinh tế giữa các quốc
gia, giúp cho quá trình thanh toán được an toàn, nhanh chóng, tiện lợi và giảm bớt chi phí
cho các chủ thể tham gia. Các ngân hàng với vai trò là trung gian thanh toán sẽ bảo vệ
quyền lợi cho khách hàng, đồng thời tư vấn cho khách hàng, hướng dẫn về kỹ thuật thanh
toán trong giao dịch nhằm giảm thiểu rủi ro trong thanh toán và tạo sự an toàn tin tưởng
cho khách hàng.
Với vai trò như vậy hoạt động kinh tế đối ngoại khó mà tồn tại và phát triển nếu không
có hoạt động TTTD. Hoạt động ấy càng “nhanh chóng, an toàn, chính xác “ sẽ giải quyết
được mối quan hệ lưu thông hàng hóa – tiền tệ giữa nhà nhập khẩu và xuất khẩu càng
thuận lợi và có hiệu quả.
IV.Rủi ro trong các phương thức thanh toán tính dụng:
Theo từ điển tiếng việt - Nhà xuất bản Khoa học xã hội 1988 ,- Danh từ "Sự rủi ro"
được giải thích là "Điều không lành , không tốt, bất ngờ xảy ra". Theo tôi đây là khái niệm
chung về sự rủi ro. Trong đời sống kinh tế, danh từ rủi ro " Risk "được rất nhiều học giả và
nhà kinh tế thế giới quan tâm nghiên cứu, định nghĩa khác nhau.
Frank Knight – một học giả người Mỹ đầu thế kỷ 20 định nghĩa “ Rủi ro là sự bất trắc
không đáng có”.
Allam Willet trong tài liệu có định nghĩa “Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến
biến không mong đợi” .
Irving preffer lại cho rằng “ Rủi ro là tổng hợp không những sự ngẫu nhiên có thể đo
lường bằng xác suất” . Ngoài ra học giả người Anh Hurt MrCarty cũng có quan niệm tương
tự. Ông cho rằng “Rủi ro là một tình trạng trong đó các biến số xảy ra trong tương lai có thể
xác định được”.
Trong kinh doanh xuất nhập khẩu, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, nó có thể
tạo ra những tổn thất , mất mát thiệt hại hoặc làm mất đi những cơ hội sinh lời, nhưng cũng có
thể đem đến những lợi ích, những thuận lợi trong lĩnh vực hoạt động này. Rủi ro đối với nhà
xuất nhập khẩu cũng chính là rủi ro của ngân hàng vì chính họ là những người mà ngân hàng
phục vụ.
CHƯƠNG 3 : NỘI DUNG ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
A.CÁC RỦI RO TRONG CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN
QUỐC TẾ :
PHẦN I.RỦI RO KHÁCH QUAN :
1.Rủi ro nền kinh tế không ổn định:
- Quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế: Việc gia nhập vào tổ chức
kinh tế thế giới như WTO, và sắp tới là hiệp định TPP đã đem đến cho Việt Nam
nhiều cơ hội và thách thức.Việt Nam cũng bị ảnh hưởng ít nhiều là điều tất yếu.
- Sự biến động liên tục và khó dự đoán được của nền kinh tế Thế giới: Nền
kinh tế hưng thịnh, khách hàng làm ăn có hiệu quả thì sẽ mua nhiều hàng hóa,
doanh nghiệp xuất nhập khẩu phát triển ổn định. Kinh tế suy thoái, sản xuất bị ngừng
trệ, doanh nghiệp dễ bị thua lỗ, phá sản, mất khả năng thanh toán .
-Rủi ro môi trường pháp lý chưa thuận lợi: Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa
hiệu quả, thụ động và thiếu sót của Nhà nước. Hệ thống thông tin quản lý còn bất
cập. Cho dù cấp tín dụng dưới hình thức nào, doanh nghiệp cũng phải nắm một
lượng thông tin nhất định từ phía khách hàng, vì thiếu thông tin sẽ khó xác định năng
lực hiện có của khách hàng, nếu thông tin không chính xác có thể đưa ra kết quả
phân tích sai lệch.
-Tỷ giá hối đoái biến động : Tỷ giá hối đoái luôn biến động không ngừng do
nhiều yếu tố tác động. Do có sự chênh lệch về kỳ hạn, về loại ngoại tệ phát sinh khi
ngân hàng cho tổ chức xuất khẩu vay ngoại tệ để nhập nguyên liệu của từ nước
ngoài và vì thế làm cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu có thể gánh chịu thua lỗ khi tỷ
giá ngoại hối biến động. Ngoài ra một số quốc gia họ không muốn hoặc không thể
thanh toán một món nợ, số tiền ngoại tệ cho nước ngoài.
-Sự can thiệp của chính phủ: Doanh nghiệp còn gặp rủi ro do sự can thiệp của
chính phủ thay đổi đột ngột chính sách tiền tệ, cơ cấu kinh tế, lĩnh vực ưu tiên,…điều
này có thể dẫn đến thua lỗ cho ngân hàng.
-Dư luận hoặc hoặc đối thủ cạnh tranh : họ cố tình đánh giá xấu về doanh
nghiệp, gây khó khăn cho vấn đề tìm kiếm đối tác hoặc thậm chí đối tác đơn phương
hủy bỏ hợp đồng, uy tín danh nghiệp bị ảnh hưởng khiến họ gặp khó khăn khi làm ăn
với đối tác.
2.Rủi ro môi trường tự nhiên:
Sự biến đổi của môi trường tự nhiên, thay đổi của khí hậu như: hạn hán, lũ
lụt, động đất… ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp và khâu vận chuyển
hàng hóa .
3.Rủi ro đạo đức:
Rủi ro đạo đức là những rủi ro khi một bên tham gia phương thức thanh toán
cố tình không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo qui định và đôi khi họ cố tình
lừa đảo, gài bẫy hoặc gian lận trong kinh doanh , điều đó làm ảnh hưởng tới quyền
lợi của doanh nghiệp.
Trong thanh toán quốc tế, dù có những nguyên tắc rõ ràng và quy định cụ thể
song không phải lúc nào những nguyên tắc đó cũng được tôn trọng. Ví dụ như trong
trường hợp nhà xuất khẩu muốn tăng giá bán mà cố tình làm chậm việc giao hàng
hoặc đôi khi nhà xuất khẩu bị bên vận chuyển hàng hóa lừa đảo nhận hàng, lấy tiền
cước rồi biến mất; đôi khi nhà nhập khẩu cố tình không muốn thanh toán từ chối
nhận hàng và lợi dụng những sai sót trong thanh toán hoặc phát hành những chứng
từ giả mạo.
4.Rủi ro hoạt động của doanh nghiệp :
Gồm toàn bộ rủi ro có thể phát sinh từ cách thức doanh nghiệp điều hành các
hoạt động của mình như quản trị kém các quy trình thanh toán quốc tế, thiếu kế
hoạch khôi phục kinh doanh trong trường hợp có rủi ro xảy ra. Ngoài ra một phần
nguyên nhân còn do nghiệp vụ thanh toán do cán bộ ngân hàng, doanh nghiệp sơ
suất, yếu nghiệp vụ chuyên môn dẫn đến tổn thất không đáng có.
-Chiến lược sai lầm của doanh nghiệp Phát sinh từ các thay đổi trong môi
trường hoạt động của doanh nghiệp trên phạm vi rộng hơn về kinh doanh và tài
chính, việc xâm nhập lĩnh vực mới mà thiếu nghiên cứu đầy đủ và thiếu các nguồn
lực cần thiết để khai thác thị trường này có thể làm cho doanh nghiệp gặp phải khó
khăn và dẫn đế thua lỗ.
PHẦN 2 : RỦI RO CHỦ QUAN:
I.Phương thức chuyển tiền ( Remittance ):
1.Khái niệm chung:
1.1 Khái niệm:
Là phương thức thanh toán trong đó khách hàng yêu cầu ngân hàng phục vụ
mình chuyển một số tiền nhất định cho nhười hưởng lợi tại một thời điểm nhất định
trong một khoản thời gian nhất định.
1.2 Hình thức : Có 2 hình thức chuyển tiền
• Chuyển tiền bằng điện T/T : Telegraphic Transfer
Chuyển tiền bằng điện có bồi hoàn TTR là từ viết tắt của Telegraphic Transfer
Reimbursement, thường được sử dụng trong thanh toán L/c.
Nghĩa là ngân hàng chiết khấu được phép đòi hoàn trả bằng điện. Thực tế cho
thấy rất ít L/C cho phép đòi tiền hoàn trả bằng điện, trừ khi đó là L/C xác nhận bởi
Ngân hàng xác nhận thường yêu cầu điều kiện này nhằm bảo đảm có thể nhận
được tiền hoàn trả sớm hơn so với việc đòi tiền bằng thư kèm chứng từ giao hàng.
• Chuyển tiền bằng thư M/T : Mail Transfer
2.Phương thức chuyển tiền trả sau:
2.1 Khái niệm:
Trong thực tế, người ta có thể thực hiện chuyển tiền theo một trong hai hình
thức: chuyển tiền trả sau và chuyển tiền trả trước. Chuyển tiền trả sau là hình thức
chuyển tiền trả cho Nhà xuất khẩu sau khi nhận hàng.
2.2 Nội dung và quy trình thực hiện:
Ngân hàng chuyển tiền
Ngân hàng đại lý
Nhà xuất khẩu
Nhà nhập khẩu
(1)
(3)
(2)
(5)
(4)
Giải thích quy trình:
(1) Nhà xuất khẩu giao hàng và bộ chứng từ hành hóa cho Nhà nhập khẩu.
(2) Nhà nhập khẩu lập lệnh chuyển tiền yêu cầu ngân hàng phục vụ mình
chuyển tiền cho người thụ hưởng.
(3) Ngân hàng phục vụ Nhà xuất khẩu chuyển tiền cho người thụ hưởng
thông qua ngân hàng đại lý.
(4) Ngân hàng đại lý ghi có và báo có cho Nhà xuất khẩu.
(5) Ngân hàng chuyển tiền báo nợ cho Nhà nhập khẩu.
Như vậy mỗi bên chỉ thực hiện một số khâu nhất định trong quy trình thanh toán.
3.Phương thức chuyển tiền trả trước:
3.1 Khái niệm:
Là hình thức chuyển tiền tương tự như chuyển tiền trả sau chỉ khác ở chỗ
Nhà nhập khẩu lập lệnh chuyển tiền và do đó, Nhà xuất khẩu nhận được tiền trước
khi giao hàng.
3.2 Nội dung và quy trình thực hiện:
NH chuyển tiền
NH đại lý
(2)
(1)
(5)
(3)
(4)
Nhà nhập khẩu
Nhà xuất khẩu
(1) Người nhập khầu lập lệnh chuyển tiền yêu cầu ngân hàng phục vụ mình
chuyển tiền cho người thụ hưởng.
(2) Ngân hàng phục vụ Nhà xuất khẩu chuyển tiền cho người thụ hưởng
thông qua ngân hàng đại lý.
(3) Ngân hàng đại lý ghi có và báo có cho Nhà xuất khẩu.
(4) Nhà xuất khẩu giao hàng và bộ chứng từ cho Nhà nhập khẩu để họ có thể
nhận hàng.
Ngân hàng chuyển tiền, sau ghi nợ, báo nợ cho Nhà nhập khẩu.
4. Ưu điểm và nhược điểm:
4.1 Ưu điểm:
+Thanh toán đơn giản, quy trình nghiệp vụ dễ dàng.
+Tốc độ nhanh chóng ( nếu thực hiện bằng T/T).
+Chi phí thanh toán TT qua ngân hàng tiết kiệm hơn thanh toán LC .
+Nhà nhập khẩu không bị đọng vốn ký quỹ LC .
+Chứng từ hàng hoá không phải làm cẩn thận như thanh toán LC.
+Vì nhà xuất khẩu không phải chịu sức ép về rủi ro phát sinh và có thể thu được tiền
hàng ngay nếu sử dụng phương thức điện chuyển tiền.
+Chuyển tiền trả trước thuận lợi cho nhà xuất khẩu vì nhận được tiền trước khi giao
hàng nên không sợ rủi ro, thiệt hại do nhà nhập khẩu chậm trả.
+Chuyển tiền trả sau thuận lợi cho nhà nhập khẩu vì nhận được hàng trước khi giao
tiền nên không sợ bị thiệt hại do nhà xuất khẩu giao hàng chậm hoặc hàng kém chất
lượng.
+Trong phương thức chuyển tiền, Ngân hàng chỉ là trung gian thực hiện việc thanh
toán theo uỷ nhiệm để hưởng thủ tục phí (hoa hồng) và không bị ràng buộc gì cả.
4.2 Nhược điểm:
Phương thức thanh toán này chứa đựng rủi ro lớn nhất vì việc trả tiền phụ
thuộc vào thiện chí của người mua. Do đó, nếu dùng phương thức này quyền lợi của
tổ chức xuất khẩu không đảm bảo.Vì vậy chỉ sử dụng phương thức này trong trường
hợp hai nhà nhập khẩu bán đã có sự tin cậy, hợp tác lâu dài, tín nhiệm lẫn nhau và
thanh toán các khoản tương đối nhỏ như thanh toán chi phí có liên quan đến xuất
nhập khẩu, chi phí vận chuyển bảo hiểm, bồi thường thiệt hại, hoặc dùng trong thanh
toán phí mậu dịch, chuyển vốn, chuyển lợi nhuận đầu tư về nước…
Phương thức trả tiền trước mang lại nhiều rủi ro cho người mua vì có thể Nhà
xuất khẩu không chuyển hàng ngay cả khi đã được thanh toán, làm cho nhà nhập
khẩu rơi vào tình trạng bị động.
Phương thức này gây nhiều khó khăn về dòng tiền và tăng rủi ro cho nhà
nhập khẩu nên thông thường họ ít khi chấp nhận trả tiền trước khi nhận được hàng.
5.Rủi ro:
5.1 Rủi ro đối với nhà xuất khẩu:
Rủi ro đối với nhà xuất khẩu xảy ra khi nhà nhập khẩu không chịu thanh toán
hoặc vì một lý do náo đó không muốn nhận hàng dẫn đến việc từ chối thanh toán.
Một dố nguyên nhân khiến nhà nhập khẩu không chịu nhận hàng là:
Nhà nhập khẩu không có khả năng chi trả. Trong trường hợp này thì nhà xuất
khẩu có thể thu được tiền nếu như nhà nhập khẩu xin gia hạn thanh toán và chuyển
tiền cho nhà xuất khẩu sau một thời gian nhất định so với thỏa thuận. Rủi ro đối với
bên xuất khẩu là nguồn vốn về chậm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh
như: không quay được vòng vốn, thiếu vốn để đầu tư mở rộng sản xuất, phải bỏ chi
phí cho việc tìm kiếm nguồn vốn thay thế.
Rủi ro chính trị, pháp lý từ phía nhà nhập khẩu. Nhà xuất khẩu có thể không
nhận được khoản tiền từ nhà nhập khẩu, đây là một tường hợp mà nhà xuất khẩu
khó kiện nhà nhập khẩu ra tòa án quốc tế được vì đó là vấn đề bắt nguồn từ nguyên
nhân của một quốc gia.
Nhà nhập khẩu cố tình không trả tiền cho nhà xuất khẩu, đây là rủi ro pháp lý
đối với bên xuất khẩu.Nhà xuất khẩu có thể không lấy được tiền hoặc lấy được tiền
nhưng phải bỏ ra nhiều chi phí như: phí thuê tòa án khi kiện nhà nhập khẩu, chi phí
cơ hội, chi phí chi trả cho nguồn vốn thay thế nguồn vốn chưa thu được.
5.2 Đối với nhà nhập khẩu:
Nhà nhập khẩu có thể gặp rủi ro trong trường hợp nhà nhập khẩu thanh toán
trước hoặc ứng trước một phần tiền hàng mà không nhận được hàng như thỏa
thuận từ nhà xuất khẩu. Các nguyên nhân khiến nhà xuất khẩu không giao hàng là:
Do nhà xuất khẩu cố tình không giao hàng. Khi xảy ra sự việc này nhà nhập
khẩu thường tìm các biện pháp buộc nhà xuất khẩu phải giao hàng đồng thởi bồi
thường thiệt hại do việc chậm trễ này. Nếu không được thì nhà xuất khẩu có thể bị
nhà nhập khẩu kiện ra tòa án kinh tế nếu số tiền lớn. khi kiện nhà xuất khẩu ra tòa thì
nhà nhập khẩu buộc phỉa trả các chi phí để theo đuổi vụ kiện và chi trả cho tòa án.
Nếu thắng kiện thỉ nhà nhập khẩu sẽ thu về một khoản tiền nhất định, ngược lại nếu
thua kiện thì làm cho bêm mua thiệt hại càng nặng nề hơn.
Nhà xuất khẩu chưa sản xuất sản phẩm đúng thời gian, địa điểm, tiêu chuẩn
như trong trường hợp đã đăng ký nên chưa giao hàng. Nhà nhập khẩu có thể sẽ
nhận được hàng hóa tuy nhiên do nhận hàng muộn so với hạn định nên ảnh hưởng
đến sản xuất kinh doanh.
Gặp sự cố trong quá trình vẫn chuyển như: thiên tai, cướp giật, hỏng hóc,
trong quá trình vận chuyển.
Rủi ro chính trị giữa hai nước khiến nhà xuất khẩu không thể chuyển hàng
đi.nhà nhập khẩu thường không thể nhận được hàng hóa từ nhà xuất khẩu do không
thể chuyển hàng đi và thời gian để có thể vận chuyển thì quá lâu dẫn đến hàng hóa
bị hỏng hoặc không cần thiết đối với nhà nhập khẩu nữa.
II.Phương thức ghi sổ( Open account ) :
1.Khái niệm chung :
1.1 Khái niệm :
Đây là phương thức thanh toán, trong đó nhà xuất khẩu sau khi giao hàng thì
ghi nợ tài khoản cho bên nhập khẩu vào một cuốn sổ theo dõi, thanh toán các khoản
nợ này được thực hiện thông thường theo định kỳ như đã thỏa thuận. Như vậy, về
thực chất đây là phương thức thanh toán nợ còn khất lại, ngược với phương thức
ứng trước.
1.2 Nội dung và quy trình:
Ngân hàng chuyển
tiền
(3)
(4)
Ngân hàng trả tiền
(5)
(2)
(1)
Nhà nhập khẩu
Nhà xuất khẩu
Giải thích quy trình :
(1) Người bán giao hàng hoặc dịch vụ cùng với gửi chứng từ hàng hóa cho
người mua
(2) Nhà nhập khẩu thực hiện lệnh chuyển tiền gửi đến ngân hàng chuyển tiền
và yêu cầu ngân hàng chuyển tiền cho người thụ hưởng
(3) Sau khi kiểm tra , Ngân hàng chuyển tiền sẽ trích tài khoản của đơn vị để
chuyển tiền gới giấy báo nợ cho Nhà nhập khẩu.
(4) Ngân hàng chuyển tiền ra lệnh cho ngân hàng trả tiền ở nước ngoài
chuyển trả cho người thụ hưởng
(5) Ngân hàng chuyển tiền sẽ thực hiện việc chuyển tiền cho người thụ hưởng
và gới giấy báo có cho đơn vị
2.Ưu và nhược điểm :
2.1 Ưu điểm:
Đối với nhà nhập khẩu:
Chưa phải trà tiền cho đến khi nhận được hàng hóa
Giảm được áp lực tài chính do được thanh toán chậm
Giảm được công việc giấy tờ, giảm chi phí giao dịch.
Đối với nhà nhập khẩu:
Là phương thức thanh toán đơn giản, dễ thực hiện, chi phí thấp.
Giảm được chi phí, giảm được giá bán.
Giảm được công việc giấy tờ, giảm chi phí giao dịch.
2.2 Nhược điểm:
Chỉ áp dụng khi cả hai bên là các đối tác có mối làm ăn lâu dài , thực sự tin
cậy lẫn nhau, giữa nội bộ công ty với nhau , giữa công ty mẹ với công ty con , sử
dụng trong thanh toán phi mậu dịch như cước phí hoa hồng trong nghiệp vụ môi giới
và ủy thác , lợi tức đầu tư . Để đảm bảo an toàn cho nhà xuất khẩu , các bên có thể
áp dung biện pháp bảo đảm như thư bảo lãnh ngân hàng , tín dụng dự phòng, đặt
cọc.
3.Rủi ro:
3.1 Rủi ro đối với nhà xuất khẩu:
Sau khi nhận hàng hóa, nhà nhập khẩu có thể không thanh toán, hoặc không
thể thanh toán, hoặc chủ tâm trì hoãn kéo dài thời gian thanh toán. Về lý thuyết, cho
dù quyền sở hữu hàng hóa có thể được bảo lưu, nhưng thực tế nhà xuất khẩu khó
lòng mà kiểm soát được hàng hóa một khi đã chuyển cho nhà nhập khẩu. Ngoài ra,
nhà nhập khẩu có thể dàn dựng tranh chấp về chất lượng hoặc khiếu nại về sự
khiếm khuyết hay thiếu hụt háng hóa để yêu cầu giảm giá. Trong tình huống này, nhà
xuất khẩu chỉ còn cách lựa chọn: giảm giá, tìm đối tác mua khác hoặc chở hàng về
nước.
Nếu hóa đơn thanh toán ghi bằng ngoại tệ, nhà xuất khẩu có thể gặp rủi ro tỷ
giá khi ngoại tệ giảm giá.
Nhà xuất khẩu bán hàng theo phương thức ghi sổ phải gánh chịu chi phí kiểm
soát tín dụng và tiền thu.
3.2 Rủi ro đối với nhà nhập khẩu:
Nếu hóa đơn thanh toán ghi bằng ngoại tệ, nhà nhập khẩu có thể gặp rủi ro tỷ
giá khi ngoại tệ lên giá.
Nhà xuất khẩu có thể không giáo hàng, hoặc hàng giao không đúng thời gain,
không đúng chủng loại và chất lượng.
III.Phương thức nhờ thu (collection of payment)
1.Khái niệm chung :
Phương thức nhờ thu là phương thức mà người bán sau khi chuyển hàng hóa
hay cung ứng dịch vụ cho khách hàng, ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ
tiền của người mua trên cơ sở hối phiếu mà người bán lập ra.
Các bên tham gia bao gồm: người ủy thác thu (người hưởng lợi) là nhà xuất
khẩu; người trả tiền là nhà nhập khẩu; ngân hàng nhận ủy thác thu: ngân hàng phục
vụ nhà xuất khẩu; ngân hàng đại lý (ngân hàng thu tiền): ngân hàng phục vụ nhà
nhập khẩu.
Có hai loại nhờ thu: nhờ thu phiếu trơn và nhờ thu có chứng từ.
2.Nhờ thu trơn ( D/A):
2.1 Khái niệm:
Nhờ thu hối phiếu trơn là phương thức nhờ thu trong đó Nhà xuất khẩu ủy
thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở Nhà nhập khẩu căn cứ vào hối phiếu do mình lập
ra còn chứng từ hàng hóa thì gởi thẳng cho Nhà nhập khẩu, không gởi cho ngân
hàng.
2.2 Nội dung và quy trình thực hiện:
Nhà xuất khẩu
Nhà nhập khẩu
Ngân hàng phục vụ Nhà xuất khẩu
Ngân hàng phục vụ Nhà nhập khẩu
(1)
(1)
(2)
(7)
(5)
(4)
(6)
(3)
Quy trình thực hiện:
(1)
Nhà xuất khẩu giao hàng và bộ chứng từ hàng hóa cho Nhà nhập
khẩu.
(2)
Nhà xuất khẩu lập chỉ thị nhờ thu và hối phiếu nộp vào ngân hàng
để ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở Nhà nhập khẩu.
(3)
Ngân hàng nhận ủy thác chuyển chỉ thị nhờ thu và hối phiếu cho
ngân hàng đại lý để thông báo cho Nhà nhập khẩu biết.
(4)
Ngân hàng đại lỳ chuyển hối phiếu cho Nhà nhập khẩu để yêu cầu
chấp nhận hay thanh toán. Nếu hợp đồng thỏa thuận điều kiện thanh toán
D/A (document against acceptance) Nhà nhập khẩu chỉ cần chấp nhận
thanh toán, nếu là D/P (Document against Payment) Nhà nhập khẩu phải
trả tiền ngay cho Nhà xuất khẩu.
(5)
Nhà xuất khẩu thông báo đồng ý trả tiền hay từ chối thanh toán.
(6)
Ngân hàng đại lý trích tiền từ tài khoản của Nhà nhập khẩu chuyển
sang ngân hàng ủy thác thu để ghi có cho Nhà xuất khẩu trong trường
hợp Nhà nhập khẩu đồng ý trả tiền hoặc thông báo cho ngân hàng ủy thác
thu biết trong trường hợp Nhà nhập khẩu từ chối trả tiền.
(7)
Ngân hàng ủy thác thu ghi có và báo có cho Nhà xuất khẩu hoặc
thông báo cho Nhà xuất khẩu biết việc Nhà nhập khẩu từ chối trả tiền.
2.3 Ưu nhược điểm:
Qua toàn bộ quy trình thực hiện nhờ thu trơn, chúng ta thấy rằng trong
phương thức nhờ thu hối phiếu trơn ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian trong
thanh toán bởi vì bộ chứng từ hàng hóa đã giao cho Nhà nhập khẩu nên ngân hàng
đại lý không thể khống chế Nhà nhập khẩu được. Ngân hàng không có cam kết hay
đảm bảo gì đối với Nhà xuất khẩu và Nhà nhập khẩu mà chỉ đơn thuần là hành xử
theo những chỉ dẫn mà Nhà xuất khẩu thể hiện trên chỉ thị nhờ thu và hối phiếu.
Phương thức này chỉ bổ sung cho phương thức chuyển tiền trả sau là Nhà
xuất khẩu có thể chủ động đòi tiền sau khi giao hàng. Tuy nhiên, có đòi được tiền
hay không còn tùy thuộc vào thiện chí và khả năng của Nhà nhập khẩu.
Vì vậy, Nhà xuất khẩu chỉ nên áp dụng phương thức này trong trường hợp có
quan hệ lâu đời và tín nhiệm Nhà nhập khẩu.
2.4 Rủi ro :
Phương thức nhờ thu phiếu trơn thực tế cũng không đảm bảo quyền lợi thực
sự cho nhà xuất khẩu vì việc nhận hàng và thanh toán tiền hàng của nhà nhập khẩu
không có sự ràng buộc nhau. Mặt khác nhà nhập khẩu cũng gặp bất lợi, khi hối
phiếu trả tiền đến trước, người mua phải trả mà chưa biết hàng hóa chuyển đến có
đạt yêu cầu hay không.
Rủi ro chủ yếu trong phương thức nhờ thu phiếu trơn thuộc về nhà xuất khẩu.
Việc trả tiền trong phương thức nhờ thu không căn cứ vào bộ chứng từ hàng
hóa, mà chỉ dựa vào hối phiếu do nhà xuất khẩu ký phát.
2.4.1 Rủi ro nhà xuất khẩu:
Nếu nhà nhập khẩu vỡ nợ, thì nhà xuất khẩu chẳng bao giờ nhận được tiền
thanh toán hoặc năng lực tài chính của nhà nhập khẩu kém, thì việc thanh toán sẽ
dây dưa, chậm trễ và tốn nhiều chi phí.
Đến hạn thanh toán hối phiếu kỳ hạn, mà nhà nhập khẩu không thể thanh
toán hoặc không muốn thanh toán ( do tình hình tài chính, kinh doanh nhà nhập khẩu
trở nên xấu đi, hay nhà nhập khẩu phát sinh chủ tâm lừa đảo ) thì nhà xuất khẩu có
thể kiện ra tòa nhưng rất tốn kém và không phải lúc nào cũng nhận được tiền.
2.4.2 Rủi ro đối với nhà nhập khẩu:
Rủi ro có thể phát sinh khi hối phiếu đòi tiền đến trước và phải thực hiện nghĩa
vụ thanh toán, trong khi hàng hoá không được gửi đi, hoặc đã được gửi đi nhưng
chưa tới, hoặc khi nhận hàng hoá có thể không đảm bảo đúng chất lượng, chủng
loại và số lượng như đã thỏa thuận trong hợp đồng thương mại.
3. Phương thức nhờ thu hối phiếu kèm chứng từ:
3.1 Khái niệm:
Nhờ thu hối phiếu kèm chứng từ là phương thức nhờ thu trong đó Nhà xuất
khẩu sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hay cung ứng dịch vụ tiến hành ủy
thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền ở Nhà nhập khẩu không chỉ căn cứ vào
hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ hàng hóa gởi kèm theo với điều kiện nếu
Nhà nhập khẩu thanh toán hoặc chấp nhận trả tiền thì ngân hàng mới trao bộ chứng
từ cho Nhà nhập khẩu nhận hàng hóa.
3.2. Nội dung và quy trình thực hiện:
Ngân hàng nhận ủy thác thu
Ngân hàng đại lý
Nhà xuất khẩu
Nhà nhập khẩu
(3)
(7)
(2)
(8)
(5)
(4)
(6)
(1)
Quy trình thực hiện
(1) Nhà xuất khẩu giao hàng cho Nhà nhập khẩu nhưng không giao bộ chứng từ
hàng hóa.
(2) Nhà xuất khẩu gởi chỉ thị nhờ thu, hối phiếu và bộ chứng từ hàng hóa đến
ngân hàng nhận ủy thác để nhờ thu hộ tiền ở Nhà nhập khẩu.
(3) Ngân hàng nhận ủy thác chuyển chỉ thị nhờ thu, hối phiếu và bộ chứng từ
hàng hóa sang ngân hàng đại lý để thông báo cho Nhà nhập khẩu.
(4) Ngân hàng đại lý chuyển hối phiếu đến Nhà nhập khẩu yêu cầu trả tiền hoặc
chấp nhận trả tiền.
(5) Nhà nhập khẩu trả tiền trong trường hợp D/P hay ký chấp nhận trả tiền trong
trường hợp D/A.
(6) Ngân hàng đại lý trao bộ chứng từ hàng hóa để người Nhà nhập khẩu nhận
hàng.
(7) Ngân hàng đại lý trích tài khoản Nhà nhập khẩu chuyển tiền sang ngân hàng
nhận ủy thác thu để ghi có cho Nhà xuất khẩu hoặc là thông báo việc từ chối
trả tiền của Nhà nhập khẩu.
(8) Ngân hàng nhận ủy thác báo có hoặc là thông báo việc từ chối trả tiền cho
Nhà xuất khẩu.
Như vậy, nhờ thu kèm chứng từ khác với nhờ thu trơn ở điểm: thứ nhất, Nhà xuất
khẩu không chuyển bộ chứng từ hàng hóa trực tiếp cho Nhà nhập khẩu mà chỉ giao
hàng cho Nhà nhập khẩu còn bộ chứng từ hàng hóa gởi cho ngân hàng kèm với hối
phiếu và chỉ thị nhờ thu. Ở khâu thứ hai, khi nộp chỉ thị nhờ thu và hối phiếu vào
ngân hàng Nhà xuất khẩu có kèm theo bộ chứng từ hàng hóa. Ở khâu thứ tư, khi
xuất trình hối phiếu đòi tiền Nhà nhập khẩu ngân hàng không trao bộ chứng từ mà
giữ vộ chứng từ để khống chế và yêu cầu Nhà nhập khẩu, hoặc là trả tiền ngay nếu
hối phiếu ghi trả tiền theo điều kiện D/P, hoặc là chấp nhận thanh toán nếu hối phiếu
ghi trả tiền theo điều kiện D/A.
3.3 Ưu nhược điểm:
3.3.1 Ưu điểm:
Nhà xuất khẩu ngoài việc ủy thác cho ngân hàng thu tiền còn nhờ ngân hàng
thông qua việc khống chế bộ chứng từ hàng hóa để buộc Nhà nhập khẩu phải trả
tiền hoặc chấp nhận trả tiền, nhờ vậy phương thức này đảm bảo khả năng thu tiền
hơn phương thức chuyển tiền trả sau và nhờ thu hối phiếu trơn.
3.3.2 Nhược điểm:
Nhưng như vậy mới chỉ khống chế được hàng hóa đối với Nhà nhập khẩu,
chưa chắc khống chế được việc trả tiền đối với Nhà nhập khẩu, chẳng hạn như trong
trường hợp thị trường biến động bất lợi cho Nhà nhập khẩu, họ không thiết tha với
việc nhận hàng nên sẽ kéo dài thời gian thanh toán và gây áp lực đối với Nhà xuất
khẩu. Lúc này, Nhà xuất khẩu rơi vào trạng thái bị động, nếu chậm giải phóng tàu sẽ
chịu phạt với đại lý vận tải, hoặc chịu thêm tiền thuê kho bãi để giữ hàng hóa hoặc
nếu chở hàng về sẽ tốn thêm tiền vận chuyển, hoặc là bị Nhà nhập khẩu ép giá. Để
tránh tình huống như vậy, hai bên có thể thương lượng với nhau nên sử dụng
phương thức tín dụng chứng từ.
3.4.Rủi ro:
Trong phương thức này nhà xuất khẩu mất quyền kiểm soát hàng hóa và
chưa được thanh toán cũng như không có bảo lãnh thanh toán ngay từ lúc gửi hàng
đi. Rủi ro thanh toán ngay từ lúc hàng gửi đi. Rủi ro thanh toán hoàn toàn thuộc về
nhà xuất khẩu khi nhà nhập khẩu không trả tiền sau nhận hàng. Ngân hàng lúc này
chỉ đóng vai trò trung gian đơn thuần, cho dù có thu được hay không thì ngân hàng
vẫn tính phí và không chịu trách nhiệm nếu bên nhập khẩu không thanh toán. Nên
nếu là tổ chức xuất khẩu thì ta chỉ nên sử dụng phương thức này khi có tín nhiệm
hoàn toàn với nhà nhập khẩu, hoặc có giá trị xuất khẩu nhỏ , mang tính thăm dò thị
trường hoặc là hàng hóa khó tiêu thụ ….
Phương thức nhờ thu kèm chứng từ này có thủ tục đơn giản và chi phí rẻ,
nhưng mức độ rủi ro đối với nhà xuất khẩu , nhập khẩu vẫn tương đối cao
3.4.1 Rủi ro đối với nhà xuất khẩu:
Chủ yếu là việc không thực hiện thanh toán sau khi giao hàng bao gồm :
Làm trái với lệnh nhờ thu, ngân hàng xuất trình đã giao bộ chứng từ hàng hóa
cho bên nhập khẩu trước khi người này thanh toán hay chấp nhận thanh toán, điều
này thường xảy ra ở một số quốc gia khi mà ngân hàng ưu tiên đặt mối quan hệ
doanh nghiệp trong nước lên trên trách nhiệm và nghĩa vụ của họ đối với doanh
nghiệp ngoài nước . Lúc này nhà xuất khẩu gặp rất nhiều khó khăn trong việc khiếu
nại đối với ngân hàng xuất trình.
Chữ ký thanh toán có thể bị giả mạo hoặc người ký chấp nhận thanh toán
không có đủ thẩm quyền hay chưa đăng ký được mẫu dấu, chữ ký số.
Ngân hàng chuyển chứng từ luôn giữ lập trường rằng nếu ngân hàng xuất
trình có sai sót trong việc thực hiện lệnh nhờ thu,
thì mọi hậu quả đều do nhà
xuất khẩu tự gánh chịu, thậm chí ngay trong trường hợp nhà xuất khẩu không hề liên
quan gì đến việc chỉ định ngân hàng xuất trình.
Bị mất một vài hoặc cả bộ chứng từ.
Số hàng hóa chỉ có thể chuyển giao cho ngân hàng xuất trình với sự đồng ý
của ngân hàng này từ trước, ngoài ra ngân hàng không chịu bất cứ trách nhiệm nào
với việc lưu kho, mua bảo hiểm hay bốc dỡ hàng hóa.
Khi ngân hàng hành động để bảo vệ hàng hóa như dàn xếp việc lưu kho, mua
bảo hiểm hàng hóa thì ngân hàng không chịu bất kỳ cứ trách nhiệm nào về việc tổn
thất hay mất mát hàng hóa.
Nhà xuất khẩu thường phải gánh chịu mọi chi phí liên quan đến việc bảo vệ
hàng hóa của ngân hàng, cho dù ngân hàng không được yêu cầu làm công việc này.
Nhà nhập khẩu đã thanh toán để nhận bộ chứng từ, nhưng ngân hàng xuất
trình không chuyển cho ngân hàng chuyển chứng để trã cho nhà nhập khẩu. Điều
này có xảy ra khi ngân hàng xuất trình không thể hoặc phải chậm trễ thanh toán do
các giải pháp kiểm soát ngoại hối cấm chuyển ngoại tệ ra nước ngoài.
Ngân hàng xuất trình chuyển tiền cho ngân hàng chuyển chứng từ, nhưng
ngân hàng này lại chậm trễ và hay bị mất khả năng thanh toán, do đó nhà xuất khẩu
nhận được tiền chậm hoặc không nhận được tiền.
Nhà nhập khẩu đơn phương hủy thanh toán khi nhà xuất khẩu đã gửi hàng .
Dù nhà xuất khẩu có kiện nhà nhập khẩu vi phạm hợp đồng đi chăng nữa thì việc
này cũng mất nhiều thời gian , công sức trong khi đó hàng hóa không kịp giao, không
có chỗ lưu kho , lúc này này xuất khẩu chỉ có 2 lựa chọn là bán rẻ hàng hóa cho
người khác hoặc chỡ hàng về nước .
Rủi ro về bảo hiểm hàng hóa, nếu xảy ra tổn thất thì nhà xuất khẩu hoàn toàn
chịu trách nhiệm .
Ngân hàng hoàn toàn không chịu trách nhiệm nếu xảy ra trường hợp chậm trễ
hay mất chứng từ.
Nhà xuất khẩu không được hưởng lợi từ biến động tỷ giá cho tới khi nhận
được tiền.
Nhà xuất khẩu sẽ chịu mọi chi phí phát sinh nếu như nhà nhập khẩu từ chối
thanh toán những khoản chi phí này.
3.4.2 Rủi ro với nhà nhập khẩu:
Nhà nhập khẩu đứng trước rủi ro nhà xuất khẩu làm giả bộ chứng từ , có sai
sót hoặc họ cố tình gian lận trong thương mại và ngân hàng không chịu trách nhiệm
nếu sai sót hay gian lận xảy ra hoặc hàng hóa hay phương tiện vận tải không khớp
với chứng từ.
Sau khi thanh toán hối phiếu kỳ hạn , nhà xuất khẩu có thể kiện nhà nhập
khẩu vì không thanh toán khi hối phiếu đến hạn. Thậm chí nhà nhập khẩu không thể
dùng các lý do “chính đáng” để bào chữa cho việc không thanh toán : hàng hóa có
sai sót , hàng chưa giao , hàng hóa sai quy cách v.v…. Điều đó có nghĩa là nhà nhập
khẩu phải thanh toán hối phiếu kỳ hạn vô điều kiện một khi đã ký vào đó .
Không thanh toán đúng hạn sẽ ảnh hưởng lớn uy tín thương mại của nhà
nhập khẩu.
IV.Phương thức giao chứng từ nhận tiền (Cash Against Documents)
1.Khái niệm chung:
• CAD ( Cash against documents ) : Giao chứng từ nhận tiền
• COD ( Cash on delivery ) : Giao hàng nhận tiền.
Là phương thức thanh toán trong đó tổ chức nhập khẩu dựa trên cơ sở hợp
đồng ngọai thương sẽ yêu cầu ngân hàng bên xuất khẩu mở một tài khoản tín thác
(Trust account) để thanh toán tiền cho tổ chức xuất khẩu xuất trình đầy đủ chứng từ
theo thỏa thuận.
2.Nội dung và qui trình thanh toán:
2.1 Qui trình của CAD:
Ngân hàng
(2)
(4)
(1)
(5)
Nhà xuất khẩu
(6)
(3)
Nhà nhập khẩu
Trình bày quy trình
(1) Nhà nhập khẩu yêu cầu ngân hàng mở cho mình một tài khoản tín thác, số
dư tài khỏa bằng 100% trị giá hợp đồng và nó được dùng để thanh toán cho nhà
xuất khẩu, theo đúng bản ghi nhớ (Memorandum) thỏa thuận giữa nhà nhập khẩu và
ngân hàng .
(2) Ngân hàng thông báo cho nhà xuất khẩu biết .
(3)Nhà xuất khẩu giao hàng cho Nhà nhập khẩu theo đúng thỏa thuận trong
hợp đồng .
(4) Nhà xuất khẩu lập chứng từ xuất trình cho ngân hàng.
(5)Ngân hàng kiểm tra chứng từ , đối chiếu với bản ghi nhớ ,nếu phù hợp thì
thanh toán cho nhà xuất khẩu.
(6) Ngân hàng chuyển bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu và quyết toán tài
khoản tín thác.
2.2 Qui trình của COD :
Nhà nhập khẩu Người vận chuyển ( 1,2,n,..)
(2)
Nhà xuất khẩu
(1) Nhà nhập khẩu trả tiền cho Nhà xuất khẩu qua người vận chuyển cuối
cùng.
(2) Người vận chuyển ở kho ngoại giao và trả tiền ngay khi trao đổi hàng .
3 Ưu và nhược điểm:
3.1 Ưu điểm:
Thủ tục thanh toán cho bên xuất khẩu nhanh chóng và đơn giản.
Nhà xuất khẩu có lợi vì giao hàng xong đã được chuyển tiền luôn, bộ chứng
thừ xuất trình đơn giản.
Nhà nhập khẩu không làm việc mua bán hàng hóa được nhà nhập khẩu ủy
thác cho ngân hàng trực tiếp giao dịch với nhà xuất khẩu
3.2 Nhược điểm:
Phương pháp này chỉ được áp dụng trong trường hợp tổ chức nhập khẩu rất
tin tưởng nhà xuất khẩu và tổ chức nhập khẩu có văn phòng đại diện tại nước xuất
khẩu.
4.Rủi Ro:
Phương thức này chủ yếu rủi ro cho nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu có mức
rủi ro thấp nhất
4.1 Rủi ro đối với nhà xuất khẩu:
Những đối tượng xấu, đối thủ cạnh tranh cố tình gài bẫy nhà xuất khẩu bằng
cách không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán, nhà xuất khẩu không thể bán lô hàng
cho nhà nhập khẩu khác và cũng không thể xuất lô hàng ra khỏi nước nhập khẩu và
điều đó thường dẫn đến nhà xuất khẩu mất trắng lô hàng.
4.2 Rủi ro đối với nhà nhập khẩu:
Nhà nhập khẩu phải ký quỷ ở ngân hàng để thực hiện phương thức này, nên
dẫn đến việc ứ đọng vốn. Nếu nhà xuất khẩu không giao hàng thì tiền ký quỹ sẽ
không hưởng được lãi suất.
Mỗi lần nhập hàng, nhà xuất khẩu phải cử đại diện đi kiểm tra hàng gửi để
tránh trường hợp nhà xuất khẩu xuất trình giấy tờ không phù hợp với hàng hóa được
giao , điều đó làm nhà nhập khẩu phải mất chi phí vì mỗi lần nhập hàng là mỗi lần cử
đại diện.
Do không có cam kết nên nhà nhập khẩu sẽ rất rủi ro nếu đối tượng làm ăn cố
tình tỏ ra nguy hiểm, gian lận.
V.Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C):
1.Khái niệm:
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận mà trong đó một ngân
hàng (Ngân hàng mở thư tín dụng) đáp ứng những yêu cầu của khách hàng (người
xin mở thư tín dụng) cam kết hay cho phép ngân hàng khách chi trả hoặc chấp nhận
những yêu cầu của người hưởng lợi khi những điều khoản và điều kiện quy định
trong thư tín dụng được thực hiện đúng và đầy đủ.
Thư tín dụng là cơ sở pháp lý chính của việc thanh toán, nó ràng buộc các
bên hữu tham gia vào phương thức thanh toán tín dụng chứng từ như : nhà nhập
khẩu ( người mở L/C) , ngân hàng phát hành L/C (NHPH) , nhà xuất khẩu ( người
hưởng lợi L/C ), ngân hàng thông báo, ngân hàng thanh toán, ngân hàng chiết
khấu…còn hợp đồng ngoại thương chỉ có giá trị pháp lý ràng buộc về quyền lợi và
nghĩa vụ giữa hai bên nhập khẩu và xuất khẩu.
Nhà nhập khẩu có thể sử dụng L/C để cụ thể hóa, chi tiết hóa hoặc để bổ
sung , đính chính, sữa chữa những điều khoản mà hợp đồng mua bán còn sót.
Ngân hàng mở L/C
Ngân hàng thông báo L/C
Nhà nhập khẩu
Nhà xuất khẩu
(3)
(2)
(11)
(10)
(9)
(6)
(4)
(8)
(7)
(5)
(1)
Sơ đồ: Quy trình thực hiện phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
2.NỘI DUNG VÀ QUY TRÌNH THỰC HIỆN
(1) Hai bên xuất khẩu và nhập ký kết hợp đồng thương mại.
(2) Nhà xuất khẩu làm thủ tục yêu cầu ngân hàng mở L/C mở L/C cho Nhà xuất
khẩu thụ hưởng.
(3) Ngân hàng mở L/C mở L/C theo yêu cầu của Nhà nhập khẩu và chuyển L/C
sang ngân hàng thông báo để báo cho Nhà xuất khẩu biết.
(4) Ngân hàng thông báo L/C thông báo cho Nhà xuất khẩu biết rằng L/C đã mở.
(5) Dựa vào nội dung của L/C, Nhà xuất khẩu giao hàng cho Nhà nhập khẩu.
(6) Nhà xuất khẩu sau khi giao hàng lập bộ chứng từ hàng hóa thanh toán gởi và
ngân hàng thông báo để được thanh toán.
(7) Ngân hàng thông báo chuyển bộ chứng từ thanh toán sang để ngân hàng mở
L/C xem xét trả tiền.
(8) Ngân hàng mở L/C sau khi kiểm tra chứng từ nếu thấy phù hợp thì trích tiền
chuyển sang ngân hàng thông báo để ghi có cho người thụ hưởng. Nếu
không phù hợp thì từ chối thanh toán.
(9) Ngân hàng thông báo ghi có và báo có cho Nhà xuất khẩu.
(10) Ngân hàng mở L/C trích tài khoản và báo nợ cho Nhà nhập khẩu.
(11)
Nhà nhập khẩu xem xét chấp nhận trả tiền và ngân hàng mở L/C trao
bộ chứng từ để Nhà nhập khẩu có thể nhận hàng.
2.Ưu và nhược điểm:
2.1 Ưu điểm:
Trong phương thức tín dụng chứng từ ngân hàng không chỉ là người trung
gian thu hộ, chi hộ, mà còn là người đại diện bên nhập khẩu thanh toán tiền cho bên
xuất khẩu, đảm bảo cho tổ chức xuất khuẩu được khoản tiền tương ứng với hàng
hoá mà họ đã cung ứng, đồng thời đảm bảo cho tổ chức nhập khẩu nhận được số
lượng, chất lượng hàng hoá tương ứng với số tiền mình đã thanh toán.
2.2 Nhược điểm:
Phương thức thanh toán này tốn nhiều thời gian do phải thực hiện qua nhiều
bước, việc lập chứng từ đòi hỏi phải có độ chính xác cao, ít sai sót và kiểm tra chứng
từ tiến hành qua nhiều bên nếu có sai sát phải sửa lại làm cho nhà nhập khẩu lâu
nhận được chứng thừ thanh toán để nhận hàng, tốn kém chi phí cho việc bào quản
hàng hóa ở cảng nhập khẩu; nhà xuất khẩu chập nhận được tiền thanh toán. Chi phi
giao dịch với ngân hàng lớn .
3.Rủi ro:
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán đảm
bảo quyền lợi cao nhất cho nhà sản xuất so với các phương thức thanh toán khác.
Tuy nhiên nó không phải là phương thức thanh toán tuyệt đối an toàn cho các bên
tham gia.Vẫn còn một số rủi ro cho các nhà xuất nhập khẩu và ngân hàng tham gia.
3.1 Rủi ro đối với nhà Xuất khẩu:
Khi tham gia phương thức thanh toán TDCT, nhà XK hay gặp những rủi ro
sau:
Khi nhận được L/C từ NH thông báo, nếu nhà XK kiểm tra các điều kiện
chứng từ không kĩ, chấp nhận cả những yêu cầu bất lợi mà nhà XK không thể đáp
ứng được trong khâu lập chứng từ sau này. Khi các yêu cầu đó không được thoả
mãn, NH phát hành từ chối bộ chứng từ và không thanh toán. Lúc đó, nhà NK sẽ có
lợi thế để thương lượng lại về giá cả nằm ngoài các điều khoản của L/C và nhà XK
sẽ gặp bất lợi.
Trong thanh toán TDCT, ngân hàng mở L/C đứng ra cam kết thanh toán cho
người XK khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp với nội dung của L/C, NH chỉ làm
việc với các chứng từ quy định trong L/C. Phương thức thanh toán TDCT đòi hỏi sự
chính xác tuyệt đối giữa bộ chứng từ thanh toán với nội dung quy định trong L/C. Chỉ
cần một sơ suất nhỏ trong việc lập chứng từ thì nhà XK cũng có thể bị NH mở L/C và
người mua bắt lỗi, từ chối thanh toán. Do đó, việc lập bộ chứng từ thanh toán là một
khâu quan trọng và rất dễ gặp rủi ro đối với nhà XK.
Có thể gặp nhiều khó khăn hoặc không thể thực hiện được các điều khỏan
trong thư tín dụng,nếu như nhà nhập khẩu tinh vi cố tình mở thư tín dụng khác với
nội dung đã thỏa thuận,hoặc đưa thêm vào các điều khoản mà chưa được đồng ý
trước đây chẳng hạn :
Thời gian giao hàng quá gấp không thể đáp ứng được.
Các chứng từ quy định phải xuất trình quá khó khăn hoặc không thể thực hiện
được
Quy định một cước phi vận tải mà nhà xuất khẩu không thể chấp nhận được.
Thời hạn hiệu lực L/C qua ngắn nên không đủ thời gian tập hợp chứng từ để
xuất trình.
Loại thư tín dụng không đúng như đã được thỏa thuận.
Bộ chứng từ phải được xuất trình tại địa điểm qui định trong L/C
Lập chứng từ sai lỗi chính tả, sai tên, địa chỉ của các bên tham gia, của hãng
vận tải
Chứng từ không hoàn chỉnh về mặt số lượng.
Các sai sót trên bề mặt chứng từ : số tiền trên chứng từ vượt quá giá trị của
L/C; các chứng từ không ghi số L/C, các lỗi kỹ thuật mà nhà nhập khẩu cố
tình thêm vào .
Ngoài ra, do sự khác biệt về tập quán, luật lệ ở mỗi nước cho nên dễ dẫn đến
những sai sót khi nhà XK hoàn tất bộ chứng từ hàng hoá để gửi NH xin thanh toán.
Ngay khi nhà xuất khẩu đã chấp nhận điều kiện của thư tín dụng , vẫn phải
gặp rủi ro trong khâu thanh toán : bộ chứng từ không phù hợp và ngân hàng từ chối
thanh toán hoặc NHPH/NH xác nhận mất khả năng thanh toán.
Trong thực tiễn buôn bán giữa các quốc gia trong khu vực gần nhau, hàng
đến cảng trước khi nhà nhập khẩu nhận được chứng từ.Để thuận cho việc nhận
hàng mà không cẩn bảo lãnh của ngân hàng, người mở thư tín dụng yêu cầu một
bảng vận đơn gốc gửi theo hàng hóa hoặc được nhà xuất khẩu gửi trực tiếp cho nhà
nhập khẩu.Chứng từ gốc này sẽ được nhận hàng thay thế cho chứng từ gửi qua
ngân hàng.Trong trường hợp này , nếu như ngân hàng xác định là bất hợp lệ , trong
khi nhà nhập khẩu nhận được hàng và từ chối thanh toán.Như vậy nhà nhập khẩu
phải chấp nhận rủi ro.
3.2 Rủi ro đối với nhà Nhập khẩu:
Không có sự đảm bảo nào cho nhà NK rằng hàng hoá sẽ đúng như đơn đặt
hàng hay không. Nhà NK có thể nhận được hàng kém chất lượng hoặc bị hư hại
trong quá trình vận chuyển mà vẫn phải hoàn trả đầy đủ tiền thanh toán cho NH phát
hành.
Khi nhà NK chấp nhận bộ chứng từ hàng hoá sẽ có nguy cơ gặp rủi ro. Bộ
chứng từ là cơ sở pháp lý đầu tiên về tính đúng đắn của hàng hoá. Nếu nhà NK
không chú ý kiểm tra kỹ bộ chứng từ như :chính tả, câu chữ, số lượng các loại
chứng từ, cơ quan có thẩm quyền cấp các loại giấy chứng nhận… mà chấp nhận bộ
chứng từ có lỗi sẽ bị thiệt hại và gặp khó khăn trong việc khiếu nại sau này.
Một rủi ro mà nhà NK hay gặp là hàng đến trước bộ chứng từ, nhà NK chưa
nhận được bộ chứng từ mà hàng đã cập cảng. Bộ chứng từ bao gồm vận đơn, mà
vận đơn lại là chứng từ sở hữu hàng hoá nên thiếu vận đơn thì hàng hoá không
được giải toả. Nếu nhà NK cần gấp ngay hàng hoá thì phải thu xếp để NH phát hành
phát hành một thư bảo lãnh gửi hãng tàu để nhận hàng. Để được bảo lãnh nhận
hàng, nhà NK phải trả thêm một khoản phí cho NH. Hơn nữa, nếu nhà NK không
nhận hàng theo qui định thì tiền bồi thường giữ tàu quá hạn sẽ phát sinh.
Trong một số trường hợp, hàng đã được giao đến nơi nhưng nhà nhập khẩu
vẫn chưa nhận được các chứng từ thanh toán và như vậy không thể nhận hàng
được.nếu nhà nhập khẩu cần gấp hàng hóa hay sợ chịu chi phí lưu kho thì phải thu
xếp để NHPH phát hành một bảo lãnh hàng gửi tàu để nhận hàng , nhà nhập khẩu
phải chịu thêm chi phí không nhỏ trả cho ngân hàng.
B . GIẢI PHÁP VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ PHÒNG NGỪA RỦI
RO CHO DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU :
Rủi ro trong thanh toán quốc tế một phần là do nhũng nguyên nhân chủ quan từ phía
các đơn vị kinh doanh XNK. Chính những yếu kém về nghiệp vụ đã khiến họ là người phải
gánh chịu những thiệt hại nặng nề nhất. Vì vậy, nhũng biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn ngừa
rủi ro và đẩy mạnh hoạt động thanh toán XNK không thể không xuất phát từ phía 2 bên xuất
khẩu và nhập khẩu. Hiện nay có rất nhiều các đơn vị tham gia hoạt động XNK nhưng có
không ít các giám đốc của các đơn vị này lại chưa sử dụng thành thạo ngoại ngữ do vậy khi
đàm phán ký kết hợp đồng với bạn hàng phải qua phiên dịch. Bên cạnh đó trình độ của cán bộ
cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của thương mại quốc tế. Như vậy, việc nâng cao trình độ
nghiệp vụ ngoại thương và nghiệp vụ thanh toán quốc tế trong các đơn vị kinh doanh XNK
hiện nay mang tính cấp thiết. Cụ thể phải chú trọng những vấn đề sau:
• Các loại rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
(1) Các đon vị khi tham gia XNK phải có cán bộ chuyên trách về XNK. Các cán bộ này
phải qua đào tạo nghiệp vụ ngoại thương, am hiểu luật pháp trong thương mại quốc tế
và thanh toán quốc tế, có năng lực trong công tác và đặc biệt phải có phẩm chất trung
thực trong kinh doanh.
(2) Kiên quyết bài trừ tư tưởng làm ăn kiểu chụp giựt, lừa đảo. Trong kinh doanh, trung
thực là yếu tố quan trọng hàng đầu đảm bảo duy trì quan hệ làm ăn lâu dài với các bạn
hàng và do đó nó cũng chính là cơ sở cho sự tồn tại và phát triên của doanh nghiệp.
(3) Trong quan hệ thanh toán với Ngân hàng, các doanh nghiệp cần giữ vững chữ tín, thực
hiện cam kết với Ngân hàng. Phải luôn giữ quan hệ chặt chè với Ngân hàng, thực hiện