MỤC LỤC
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHẢ THI DỰ ÁN: “SẢN XUẤT GẠCH
KHÔNG NUNG BẰNG CÔNG NGHỆ POLYMER-ĐẤT HÓA ĐÁ”
1
I.
1.
Sự cần thiết và mục tiêu đầu tư của dự án
Sự cần thiết của dự án:
Trên thế giới, trong khi các nước công nghiệp lớn sử dụng vật liệu
không nung từ cách đây gần 40 năm thì ở nước ta mặc dù có rất nhiều cơ
sở sản xuất gạch không nung lớn nhỏ được đưa vào quy trình sản xuất
nhưng cho tới nay việc sản xuất và sử dụng loại gạch này hiện vẫn cần
phải khuyến khích. Theo Quyết định số 121/2008/QĐ-TTg thì tỷ lệ gạch
không nung trên tổng số vật liệu xây dựng vào các năm 2010, 2015, 2020
tương ứng 10%, 20 - 25%, 30 - 40%.
Hiện nay nhà nước đang có nhiều chính sách khuyến khích hỗ trợ
chuyển đổi đầu tư sản xuất vật liệu mới (gạch không nung) như được
miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, được tranh thủ lãi suất ưu đãi của
chương trình kích cầu của Chính phủ. Một trong những lý do quan trọng
để loại gạch này được đưa vào danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư là gạch
không nung được sản xuất theo quy trình thân thiện với môi trường, tận
dụng các nguyên liệu đầu vào chủ yếu là chất thải công nghiệp và đất
thải; trong khi gạch nung phải sử dụng nguồn nguyên liệu chính từ đất
sét, gây lãng phí tài nguyên môi trường và tạo ra lượng lớn khí thải CO từ
các lò nung gạch gây ô nhiễm môi trường và hiệu ứng nhà kính. Hơn nữa
gạch không nung thuyết phục được các nhà đầu tư xây dựng bằng tính
năng công dụng vượt trội của nó như độ chịu lực, chống thấm, cường độ
nén, uốn… không khác gì gạch nung bình thường, viên gạch có màu đỏ
rất đẹp, bề mặt nhẵn, mịn. Cư dân sống trong công trình sử dụng gạch
không nung là người được hưởng lợi nhiều nhất vì họ không phải chịu
2
tiếng ồn từ nhà hàng xóm, lại tiết kiệm được điện năng trong quá trình sử
dụng do các bức tường có tác dụng cách nhiệt.
Ngoài ra, quy trình sản xuất gạch không nung nhanh hơn sản xuất
gạch nung nên có thể nhanh chóng đáp ứng nhu cầu vật liệu xây dựng cho
các công trình lớn hiện nay. Vì vậy gạch không nung là sản phẩm thay thế
hoàn hảo cho gạch nung hiện tại và tương lai lâu dài.
2.
Mục tiêu của dự án
Dự án đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất gạch không nung áp dụng
công nghệ, dây chuyền tiên tiến hiện đại, máy móc thiết bị công suất lớn.
Sản lượng gạch không nung đáp ứng nhu cầu xây dựng công trình tại địa
phương, các vùng lân cận dần thay thế sản phẩm gạch nung trong nước và
xuất khẩu sang các thị trường đang phát triển như Lào, Campuchia; sản
phẩm đạt yêu cầu chuẩn về chất lượng, kích thước hình dáng do Bộ xây
dựng quy định. Cơ sở nhà máy được đặt tại km 39 Lực Điền khu công
nghiệp huyện Yên Mĩ tỉnh Hưng Yên.
Dự án đầu tư góp phần tạo việc làm và thu nhập cho người dân tại
địa phương, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội địa
phương và đóng góp GDP của tỉnh Hưng Yên.
3
II.
1.
Nghiên cứu các điều kiện vĩ mô ảnh hưởng đến dự án đầu tư.
Căn cứ pháp lý
-
Căn cứ vào Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) Căn cứ vào
-
Luật xây dựng ngày 26 tháng 11 năm 2003.
Căn cứ vào Danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư do Chính phủ ban hành theo
-
quy định của Luật Đầu Tư.
Căn cứ vào Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 121/2008/QĐ-TTg
ngày 29 tháng 8 năm 2008 phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển vật
-
liệu xây dựng Việt Nam đến năm 2020.
Căn cứ vào Quyết định số 567/QĐ-TTg ngày 28/04/2010 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình phát triển vật liệu xây không
-
nung đến năm 2020.
Căn cứ vào Công văn 2383/BXD – VLXD ngày 27/11/2008 của Bộ xây
dựng gửi các Sở xây dựng các tỉnh thành phố phát triển vật liệu xây, gạch
-
không nung thay thế cho gạch ngói nung để giảm ô nhiễm môi trường.
Căn cứ vào Nghị định của Chính phủ số 124/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng
12 năm 2008 quy định và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế
-
thu nhập doanh nghiệp.
Căn cứ vào Thông tư 121/2008/TT-BTC ngày 12/12/2008 hướng dẫn cơ
chế ưu đãi và hỗ trợ tài chính đối với hoạt động đầu tư cho quản lý chất
thải rắn đề xuất với Chính phủ một số chính sách để từng bước thúc đẩy
công nghiệp vật liệu không nung ở Việt Nam.
4
-
Căn cứ vào chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư của tỉnh Hưng Yên giai
-
đoạn 2010 – 2020.
Căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế tỉnh Hưng yên ngày 16 tháng 3
-
năm 2010 của sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hưng Yên.
Căn cứ vào quy hoạch phát triển khu công nghiệp huyện Yên Mỹ tỉnh
Hưng Yên giai đoạn 2010 – 2020.
2.
Tình hình kinh tế vĩ mô.
2.1
Tình hình phát triển kinh tế vĩ mô chung của cả nước.
Trong hai năm đầu 2006 – 2007 Việt Nam đã tiến thêm một bước
trên chặng đường phát triển mới, đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ.
Năm 2007 mặc dù lạm phát trong nước bắt đầu tăng cao, tiếp đến là cuộc
khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động không
thuận đến nền kinh tế nước ta, nhưng Việt Nam đã sớm vượt qua và vẫn
giữ vững được ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tốc độ tăng trưởng khá với
mức tăng trưởng bình quân trong cả thời kì 2006 – 2010 khoảng 7%; mặt
bằng kinh tế - xã hội được nâng lên đáng kể. Điều này được chứng minh
qua những chỉ tiêu trong một số lĩnh vực lớn như sau:
Quy mô và năng lực sản xuất của các ngành đều tăng. GDP
(tính theo giá trị so sánh) năm 2010 gấp 2 lần so với năm 2000; (tính theo
giá trị thực tế tính bằng đồng đô la Mỹ) ước đạt trên 101 tỉ USD, gấp hơn
3,2 lần năm 2000 (31,2 tỉ USD); (theo giá thực tế bình quân đầu người)
ước khoảng 1.160 USD, vượt mục tiêu kế hoạch đề ra là 1.050 – 1.100
USD, vượt qua ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp và trở
5
thành nước có mức thu nhập trung bình. Hầu hết các ngành, lĩnh vực của
nền kinh tế đều có bước phát triển khá.
Cấu trúc kinh tế đã có những thay đổi tích cực, hứa hẹn sáng sủa
hơn trong tầm nhìn dài hạn. Giao lưu kinh tế quốc tế phát triển. Kim
ngạch hàng hóa xuất khẩu thời kỳ 2006-2010 đạt 56 tỉ USD/năm, bằng
2,5 lần thời kỳ 2001-2005 và tăng 17,2%/năm. Kim ngạch xuất khẩu các
mặt hàng ngày càng tăng, từ 4 mặt hàng có kim ngạch trên 3 tỉ USD năm
2006 đã tăng lên 8 mặt hàng năm 2010.Thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài và nguồn vốn ODA ngày càng tăng và có nhiều thuận lợi. Vốn FDI
thực hiện năm 2006 đạt 4,1 tỉ USD, năm 2007 đạt 8,0 tỉ, năm 2008 đạt
11,5 tỉ USD, chiếm tới 30,9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, cao hơn rất
nhiều so với năm trước. Năm 2009 và 2010, mặc dù vốn đăng ký giảm
nhưng vốn FDI thực hiện vẫn đạt 10 tỉ USD vào năm 2009 và khoảng 11
tỉ vào năm 2010 (tăng 157,5% so với năm 2006). Thời kỳ 2006-2010, FDI
thực hiện tăng bình quân 25,7%/năm.
Các cân đối kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiềm chế
trong những năm cuối kỳ kế hoạch. Tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà
nước bình quân 5 năm ở mức khoảng 28% GDP, bội chi ngân sách bình
quân chỉ 5,7%. An ninh tài chính quốc gia được bảo đảm, ước tính đến
cuối năm 2010 dư nợ chính phủ chiếm khoảng 44,5% GDP. Dư nợ ngoài
nước của quốc gia so GDP ở mức an toàn cho phép. Chính sách tiền tệ
điều hành linh hoạt theo nguyên tắc thị trường, góp phần tích cực vào
việc kiềm chế lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô. Hệ
thống ngân hàng thương mại có sự phát triển cả về quy mô và chất lượng
6
tín dụng; tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của hầu hết các ngân hàng đều đạt
chuẩn mực quốc tế trên 8%. Cán cân thanh toán quốc tế thặng dư khá cao
trong những năm đầu của kỳ kế hoạch, còn 2 năm cuối (2009-2010) tuy
có mức thiếu hụt, nhưng không bị phá vỡ cân đối.
Tổng vốn đầu tư được huy động đưa vào phát triển kinh tế - xã hội 5
năm qua theo giá hiện hành đạt khoảng 3.062 nghìn tỉ đồng (tăng 14,4%
so với kế hoạch) bằng 42,7% GDP, gấp hơn 2,5 lần so với 5 năm trước đó
(2001 – 2005). Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được cải thiện
đáng kể tạo tiền đề thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
bảo đảm an sinh xã hội. Nhiều nhà máy công nghiệp lớn, kỹ thuật cao,
nhiều khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, cụm công nghiệp được
ra đời và đi vào hoạt động hiệu quả, góp phần xóa đói, giảm nghèo, cải
thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở tất cả các
vùng, miền trong cả nước.
2.2
Hướng phát triển ngành vật liệu xây dựng thành mũi nhọn kinh tế
đất nước.
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký ban hành Quyết định
phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam đến
năm 2020. Theo đó, tiếp tục đầu tư phát triển các loại vật liệu cơ bản như
xi măng; vật liệu ốp lát, sứ vệ sinh; kính xây dựng; vật liệu xây, lợp; đá,
cát xây dựng và vật liệu trang trí hoàn thiện; đồng thời chú trọng phát
triển các loại vật liệu mới, thân thiện với môi trường.
7
Tiềm năng khoáng sản ở Việt Nam rất phong phú, hiện có hơn 3000
mỏ trên 7 vùng kinh tế toàn quốc
Trong 20 năm qua ngành công nghiệp vật liệu xây dựng Việt Nam
đã được đầu tư phát triển mạnh mẽ, đến nay sản phẩm của ngành rất đa
dạng và phong phú, chất lượng sản phẩm ngày được nâng cao đáp ứng
nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
2.3 Phát
triển chung của ngành xây dựng.
Năm 2010, cùng với cả nước, ngành xây dựng bước vào năm cuối
thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (giai đoạn 2006 –
2010) – thời điểm quan trọng để tập trung hoàn thành các mục tiêu và
nhiệm vụ đã đề ra. Vượt qua khó khăn chung, ngành xây dựng tiếp tục
duy trì mức tăng trưởng khá (18.7%), vượt 5% chỉ tiêu kế hoạch; góp
phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi các mục tiêu lớn Chính phủ đề ra.
Năm 2011, năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ XI và năm đầu thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã
hội giai đoạn 2011- 2020 và Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm
2011-2015, Bộ Xây dựng tập trung vào 10 trọng tâm: xây dựng văn bản
quy phạm pháp luật; quy hoạch – kiến trúc; chương trình khung phát triển
đô thị quốc gia; hạ tầng kỹ thuật; phát triển nhà ở; kiểm định chất lượng
công trình xây dựng; vật liệu xây dựng; thanh tra xây dựng; tăng cường
năng lực quản lý; sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp. Trong đó phát triển đô
thị được coi là trọng tâm trong những năm sắp tới.
8
2.4 Tình
hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên trong giai
đoạn 2006-2010
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 13,5%/năm. Trong đó :
Nông nghiệp tăng 5%, Công nghiệp tăng trên 25%, dịch vụ tăng 16%.
Cơ cấu kinh tế : Nông nghiệp 20% - Công nghiệp, xây dựng 47% Dịch vụ 33%.
Thu nhập bình quân đầu người đạt 18,6 triệu đồng (tương đương
1.200 USD theo tỷ giá năm 2005).
Tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 3.000 tỷ đồng, trong đó thu nội
địa từ 1.800 - 2.000 tỷ đồng. Giá trị thu được bình quân trên 1 ha canh tác
đạt trên 45 triệu đồng/năm.Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân
17%/năm, đạt trên 450 triệu USD.
Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên giữ mức dưới 1%. Tỷ lệ hộ nghèo
còn dưới 3% (theo chuẩn mới); tạo thêm việc làm mới bình quân trên 2,2
vạn lao động/năm; có trên 40% lao động được đào tạo.
Hàng năm có 80% cơ sở Đảng đạt trong sạch vững mạnh, 70%
chính quyền cấp xã vững mạnh, 85% đoàn thể vững mạnh.
Trên 70% làng, khu phố văn hoá; 80% cơ quan, đơn vị văn hoá;
85% số hộ đạt gia đình văn hoá Có 25% trường mầm non, 80% trường
tiểu học, 50% trường THCS và 25% trường THPT đạt chuẩn quốc gia.
Có 80% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; trên 90% dân đô thị, 80%
dân nông thôn được dùng nước sạch; 100% đội ngũ cán bộ chuyên trách
và công chức xã, phường, thị trấn đạt chuẩn.
9
Về giao thông vận tải, thông tin và truyển thông: Hệ thống giao
thông của tỉnh được quan tâm cải tạo, nâng cấp, góp phần quan trọng vào
phát triển kinh tế-xã hội và phục vụ tốt nhu cầu đi lại của nhân dân. Nhiều
tuyến đường giao thông huyết mạch của tỉnh đã và đang được triển khai,
đường 200 đang được đẩy nhanh tiến độ thi công, đường 195 đã khởi
công, đường đê tả Sông Hồng đang hoàn thiện thủ tục để triển khai thi
công, đường nối với 2 tuyến đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng và cầu
Giẽ - Ninh Bình đang trình Bộ Giao thông Vận tải thẩm định để phê
duyệt. Dịch vụ vận tải hành khách và hàng hoá phát triển mạnh, chất
lượng được nâng lên rõ rệt. Hành khách vận chuyển tăng 22,2%, hành
khách luân chuyển tăng 30,5%, khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng
11,9%, khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng 4,2%.
Công tác quản lý nhà nước về các hoạt động thông tin truyền thông
được tăng cường. Mạng lưới và dịch vụ Bưu chính, Viễn thông, Internet
phát triển khá mạnh; hạ tầng kỹ thuật được đầu tư, chất lượng sóng, mạng
điện thoại cố định, dịch vụ Internet ADSL tốc độ cao được mở rộng, góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội của địa phương.
An ninh quốc phòng, trật tự xã hội được đảm bảo.
Trong đó huyện Yên Mỹ giai đoạn 2006 – 2010, là một trong những
địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội nhanh nhất của tỉnh
Hưng Yên, bình quân đạt 19,9%, trong đó sản xuất công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp tăng trưởng mạnh, đạt 30,2%. Chỉ tính riêng năm 2010, hoạt
động thương mại, dịch vụ có doanh thu ước đạt trên 2000 tỉ đồng, gấp 3
10
lần so với năm 2005. Nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng
hóa với 233 trang trại, diện tích trồng lúa chất lượng cao chiếm 57%...
Trong nhiệm kỳ tới, Yên Mỹ xác định 13 nhóm giải pháp phát triển
kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện của Đảng bộ
huyện. Phấn đấu thu nhập bình quân đầu người đến năm 2015 đạt trên 50
triệu đồng/ năm.
Như vậy tình hình phát triển kinh tế xã hội đều thuận lợi cho việc
hình thành và phát triển dự án, không thể hơn một nền kinh tế quốc gia
phát triển ổn định bền vững và ngành công nghiệp xây dựng hỗ trợ cho
ngành công nghiệp vật liệu xây dựng phát triển. Hơn nữa, kinh tế địa
phương cũng đang ngày càng được phát triển mở rộng tạo niềm tin lớn
cho các nhà đầu tư và các chủ doanh nghiệp khi đầu tư tại địa phương;
đảm bảo yếu tố đầu vào về cơ sở hạ tầng và môi trường đầu tư tốt.
3.
Điều kiện tự nhiên có thể khai thác cho việc thực hiện dự án
3.1 Vị
trí địa lý
Là cửa ngõ phía Đông của Hà Nội, Hưng Yên có 23 km quốc lộ 5A
và trên 20 km tuyến đường sắt Hà Nội – Hải Phòng chạy qua. Ngoài ra có
quốc lộ 39A, 38 nối từ quốc lộ 5 qua thị xã đến quốc lộ 1A qua cầu Yên
Lệnh và quốc lộ 10 qua cầu Triều Dương, là trục giao thông quan trọng
nối các tỉnh Tây- Nam Bắc bộ (Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Thanh
Hóa…) với Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh.
11
Vì có điều kiện địa lý thuận lợi có quốc lộ số 5 chạy qua, nối Hà
Nội - Hải Phòng, nằm trong khu vực trọng điểm tam giác kinh tế Bắc bộ
nên nên Hưng Yên có nhiều ưu thế để phát triển kinh tế công nghiệp và
dịch vụ. Hưng Yên được ví như Bình Dương của miền Bắc. Năm 2009,
mặc dù khủng hoảng kinh tế thế giới nhưng GDP của Hưng Yên tăng
7,01%. Hưng Yên là một tỉnh công nghiệp phát triển nhanh và mạnh nhất
của miền Bắc. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có rất nhiều các khu công
nghiệp lớn như phố nối A, phố nối B (khu công nghiệp dệt may), khu
công nghiệp Thăng long II (Mitsutomo Nhật Bản), khu công nghiệp Như
Quỳnh, khu công nghiệp Minh Đức, khu công nghiệp nhỏ Kim Động, khu
công nghiệp Quán Đỏ..... Sản phẩm công nghiệp của tỉnh là dệt may, giày
da, ô tô, xe máy, công nghiệp thực phẩm... Cơ cấu theo hướng phát triển
kinh tế công nghiệp và dịch vụ đang là chủ đạo. Nhưng phân hoá kinh tế
không đồng đều giữa các khu vực trong tỉnh đang làm đau đầu cán bộ
lãnh đạo trong tỉnh. Tình hình đó sẽ được cải thiện khi quốc lộ 5B, tỉnh lộ
200 (chạy song song với quốc lộ 39A chạy qua Tiên Lữ, Ân Thi, Yên
Mỹ), quốc lộ 39B (nối từ chợ Gạo đi qua Tiên Lữ, Phù Cừ sang Hải
Dương) đi vào hoạt động. Con đường rộng 8 làn hiện đại bậc nhất Việt
Nam, xuất phát từ cầu Thanh Trì đến thành phố cảng Hải Phòng. Nó chạy
qua các huyện Văn Giang, Yên Mỹ, Ân Thi với tổng chiều dài 29km.
Hiện đang triển khai con đường chạy theo đê sông Hồng bắt đầu từ thành
phố Hưng Yên tới Văn Giang. Sẽ làm cân bằng kinh tế giữa các vùng
trong tỉnh. Hưng Yên gần các cảng biển Hải Phòng, Cái Lân và sân bay
12
quốc tế Nội Bài, giáp ranh với các tỉnh và thành phố là Hà Nội, Bắc Ninh,
Hà Nam, Thái Bình và Hải Dương.
Khu công nghiệp huyện Yên Mỹ nằm liền kề 11 khu công nghiệp
khác của tỉnh Hưng Yên.
3.2 Khí
hậu và thời tiết
Hưng Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Đông Bắc Bộ.
Một năm có bốn mùa rõ rệt. Mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm, mùa xuân,
thu khí hậu ôn hòa. Nhiệt độ trung bình 22 - 23ºC, độ ẩm dao động lớn, từ
80 - 90%.
•
Mưa:
Tổng lượng mưa trung bình năm tại Hưng Yên dao động trong khoảng
1.500mm - 1.600mm.
Lượng mưa trong những tháng mùa mưa trung bình từ 1.200 mm đến
1.300 mm, bằng 80 - 85% tổng lượng mưa năm tại Hưng Yên.
Mùa khô lượng mưa trung bình từ 200 - 300 mm chiếm khoảng 15 - 20%
tổng lượng mưa năm.
Số ngày mưa trong năm trung bình khoảng 140 - 150 ngày, trong đó số
ngày mưa nhỏ, mưa phùn chiếm khoảng 60 - 65 ngày.
13
Ngoài ra ở Hưng Yên còn xuất hiện mưa giông, là những trận mưa lớn
đột xuất kèm theo gió lớn và giông sét. Mưa giông xuất hiện từ tháng 2
đến tháng 11 và tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9.
•
Nắng:
Thời gian chiếu sáng trung bình năm khoảng 1.640 - 1.650 giờ.
Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, số giờ nắng chiếm khoảng 1080
- 1100 giờ.
Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau số giờ nắng chiếm khoảng 500
- 520 giờ.
•
Số giờ nắng tháng cao nhất tuyệt đối 268 giờ.
Số giờ nắng tháng thấp nhất tuyệt đối 6,8 giờ.
Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm của tỉnh Hưng Yên là 23,2ºC phân
bố khá đồng đều trên địa bàn tỉnh.
Mùa hè nền nhiệt độ trung bình nhiều năm 27,3ºC.
Mùa đông nền nhiệt độ trung bình nhiều năm 19,1ºC.
Tổng nhiệt trung bình năm 8.400 - 8.500ºC.
Tổng nhiệt trung bình mùa nóng 4.800 - 5.000ºC.
Tổng nhiệt trung bình mùa lạnh 3.300 - 3.500ºC.
• Độ ẩm:
Độ ẩm trung bình năm từ 80 - 90%.
Độ ẩm cao nhất trong năm xuất hiện vào tháng 2.
Độ ẩm nhỏ nhất trong năm xuất hiện vào tháng 11 và tháng 12.
• Lượng bốc hơi: Lượng bốc hơi phụ thuộc rất nhiều vào chế độ nắng
và gió trên địa bàn Hưng Yên. Tổng lượng bốc hơi theo trung bình
14
nhiều năm là 8730mm, lớn nhất tuyệt đối 144,9 mm, nhỏ nhất tuyệt
•
đối 20,8 mm.
Gió: Hưng Yên có 2 mùa gió chính: Mùa đông có gió mùa đông bắc,
thường từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau. Mùa hè có gió đông nam
thường từ tháng 3 đến tháng 7.
Gió đông nam chiếm ưu thế trong năm, sau đó là gió đông bắc. Các hướng
khác chỉ xuất hiện đan xen nhau với tần xuất thấp không thành hệ thống.
Tốc độ gió cực đại ghi lại tại Hưng Yên là 40 m/s, hướng thổi Tây
•
Nam.
Mưa bão: Hàng năm bão và áp thấp nhiệt đới không đổ bộ trực tiếp
vào Hưng Yên như các tỉnh ven biển, nhưng ảnh hưởng về mưa do
bão gây ra là rất lớn. Lượng mưa do bão gây nên tại Hưng Yên chiếm
tời 15- 20% tổng lượng mưa năm.Mùa bão bắt đầu từ tháng 5 và kết
thúc tháng 11, nhưng ảnh hưởng với tần xuất lớn nhất trong các tháng
7, 8 và 9.
3.3 Tài nguyên thiên nhiên
Hưng Yên, với đặc trưng của một tỉnh đồng bằng, không có đồi,
núi; địa hình tương đối bằng phẳng. Đất nông nghiệp 61.037 ha, cây hàng
năm 55.645 ha (chiếm 91%), còn lại là đất trồng cây lâu năm, mặt nước
nuôi trồng thủy sản, đất chuyên dùng và đất sử dụng cho các mục đích
khác. Đất chưa sử dụng khoảng 7.471 ha, toàn bộ diện tích trên đều có
khả năng khai thác và phát triển sản xuất nông nghiệp.
Hưng Yên là một tỉnh được bao bọc bởi sông Hồng và sông Luộc,
nên có nguồn nước ngọt rất dồi dào. Nguồn nước mặt cũng hết sức phong
phú (sông Hồng có lưu lượng dòng chảy 6.400m3/s). Nước ngầm của
Hưng Yên cũng rất đa dạng với trữ lượng lớn, ở dọc khu vực quốc lộ 5A
15
từ Như Quỳnh đến Quán Gỏi có những mỏ nước ngầm rất lớn, hàng triệu
m3, không chỉ cung cấp nước cho phát triển công nghiệp và đô thị mà còn
có thể cung cấp khối lượng lớn cho các khu vực lân cận.
Như vậy điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho việc xây dựng một nhà
máy chế tạo gạch không nung cũng như đưa nhà máy và vận hành. Vị trí
của nhà máy nằm giữa khu công nghiệp trọng tâm của tỉnh Hưng Yên nên
chất thải công nghiệp là vật liệu đầu vào cho sản xuất gạch được vận
chuyện thuận tiện và dễ dàng. Trên đây đi sâu vào nghiên cứu khía cạnh
khí hậu thời tiết vì đây là khía cạnh liên quan trực tiếp tới sản xuất sản
phẩm, sản phẩm gạch không nung sau khi hoàn thành khâu kĩ thuật cần
phải được phơi từ 7 ngày tới 10 ngày trong thời tiết tự nhiên, điều đó
nhấn mạnh rằng điều kiện khí hậu nơi đây đặc biệt phù hợp cho xây dựng
nhà máy gạch không nung. Đồng thời cũng có những biện pháp khắc
phục khi mùa mưa hay mùa khí hậu ẩm tới. Bên cạnh đó, điều kiện
khoáng sản, đất đá, vị trí địa lý, đặc biệt là các công trình giao thông đảm
bảo cho phương tiện đi lại, vật chuyển các yếu tố đầu vào và đầu ra như
nguyên vật liệu sản xuất gạch. Kết hợp với các điều kiện về kinh tế của
địa phương thì khu công nghiệp huyện Yên Mỹ rất thuận tiện để đảm bảo
các điều kiện sinh hoạt bên trong nhà máy cũng như điều kiện sinh hoạt
cho người lao động. Ngoài ra nguồn nước dồi dào và hệ thống điện đầy
đủ tại đây thuận tiện vận hành nhà máy.
4.
Điều kiện về dân số - lao động.
-
Diện tích tự nhiên là 923,09 km2.
Dân số: 1.126,2 nghìn người (năm 2008)
-
16
-
Mật độ dân số: 1209 người/km2.
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân 1%/năm.
Dân thành thị: 134.400 người.
Dân nông thôn: 991.800 người.
Chênh lệch nam nữ không đáng kể.
Tỷ lệ dân số làm nông nghiệp năm 2008 ước tính còn 50-55%, công
nghiệp 37%, dịch vụ 13% do tốc độ phát triển của công nghiệp, dịch vụ
có xu hướng tăng nhanh trong gần đây. Có 57.000 lao động trong độ tuổi,
trẻ khỏe và có trình độ văn hóa cao, chiếm 51% dân số, lao động đã qua
đào tạo nghề đạt 25%, chủ yếu có trình độ đại học, cao đẳng, trung học và
công nhân kỹ thuật được đào tạo cơ bản, có truyền thống lao động cần cù
và sáng tạo.
Tổ chức hành chính:
Tỉnh Hưng Yên có 10 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 01 thị xã,
09 huyện; có 07 phường, 09 thị trấn và 145 xã. Thị xã Hưng Yên là trung
tâm chính trị, văn hóa của tỉnh. Diện tích, dân số được phân bố ở các
huyện, thị như sau:
Huyện, thị xã
Diện tích
(ha)
Dân số
(người)
Mật độ dân
số
(người/km2)
Tổng số:
92.309
1.116.401
1.209
1. Thị xã Hưng
Yên
4.680
77.398
1.654
2. Văn Giang
7.179
94.763
1.320
17
3. Văn Lâm
7.442
97.108
1.305
4. Mỹ Hào
7.910
84.571
1.069
5. Yên Mỹ
9.100
127.137
1.397
6. Khoái Châu
13.086
186.102
1.422
7. Ân Thi
12.822
130.295
1.016
8. Kim Động
11.465
125.381
1.094
9. Tiên Lữ
9.243
105.632
1.143
10. Phù Cừ
9.382
88.014
938
Qua đó cho thấy tỉnh có tiềm năng về lao động, nguồn nhân lực dồi
dào về số lượng và chất lượng của tỉnh nói chung và của địa phương nói
riêng đảm bảo yếu tố đầu vào cho sản xuất đó là sức lao động.
5.
Quy hoạch và kế hoạch phát triển các dự án đầu tư.
Hiện nay trên địa bàn tỉnh có rất nhiều các khu đô thị mới xây dựng
với quy hoạch rất hiện đại và văn minh đã được phê duyệt như: khu đô thị
Ecopark (Văn Giang), khu đô thị Phố Nối B, khu Việt kiều, khu đô thị đại
18
học Phố Hiến (thành phố Hưng Yên và huyện Tiên Lữ)... Khu Phố Nối là
một khu vực kinh tế phát triển, trung tâm thương mại tài chính ngân hàng
của tỉnh Hưng Yên, hiện đang được đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng để
năng cấp lên thành thị xã Phố Nối. Đây sẽ đơn vị đầu ngành về kinh tế, tài
chính, thương mại của tỉnh Hưng Yên và của vùng Hà Nội. Kinh tế Mỹ
Hào phát triển nhanh, thay đổi theo từng ngày. Các khu vui chơi, mua
sắm mọc lên khắp nơi, đang dần biến nơi đây thành tụ điểm vui chơi
chính của vùng. Đây cũng là nơi tập trung nhiều trường đại học cao đẳng
như trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Hưng Yên, trường Đại Học Chu
Văn An (cơ sở II), trường Cao Đẳng Bách Khoa Hưng Yên ...
Trên đây là các điều vĩ mô ảnh hưởng tới sự hình thành và thực hiện
dự án sản xuất gạch không nung thân thiện với môi trường. Các điều kiện
vĩ mô được đề cập tới là các căn cứ pháp lý, tình hình kinh tế vĩ mô, các
điều kiện tự nhiên, điều kiện dân số lao động và các quy hoạch phát triển
kinh tế vùng, phát triển đô thị và quy hoạch xây dựng là những điều kiện
ảnh hưởng trực tiếp tói sự hình thành và thực hiện dự án. Các yếu tố cốt
lõi trong mỗi điều kiện đều được nhấn mạnh cụ thể, rõ ràng. Vì vậy các
nghiên cứu này khái quát quy mô và tiềm năng của dự án, không những là
căn cứ phát hiện các cơ hội đầu tư mà còn có ý nghĩa quan trọng quyết
định tới chất lượng và hiệu quả đầu tư. Đảm bảo yếu tố đầu vào và đầu ra
trong quá trình sản xuất mà điều kiện vĩ mô có thể ảnh hưởng tới như:
môi trường đầu tư, cơ sở hạ tầng, quản lý vật liệu, thành phẩm, nguồn
nhân lực và tiềm năng tiêu thụ sản phẩm. Các điều kiện vĩ mô này đều là
cơ hội vàng mở ra cho thực hiện dự án đầu tư thành công.
19
III.
Nghiên cứu thị trường.
Trên cơ sở xem xét những điều kiện thuận lợi về kinh tế xã hội, điều
kiện tự nhiên, lao động, các định hướng phát triển ngành vùng cho thấy
việc đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất gạch không nung tại tỉnh Hưng
Yên là cần thiết. Bước tiếp theo của quá trình lập dự án là nghiên cứu thị
trường mục tiêu.
20
Nghiên cứu thị trường sản phẩm của dự án nhằn xác định được thị
phần mà dự án dự kiến sẽ chiếm lĩnh trong tương lai và cách thức chiếm
lĩnh đoạn thị trường đó.Nó cho phép người soạn thảo phân tích đánh giá
cung cầu thị trường ở hiện tại và dự báo cung cầu trong tương lai về sản
phẩm gạch không nung. Kết quả nghiên cứu cho phép người soạn thảo đi
đến quyết định có nên đầu tư không và xác định quy mô đầu tư cho thích
hợp. Để thực hiện mục tiêu và vai trò trên của việc phân tích thị trường
sản phẩm gạch không nung ta cần phân tích những yếu tố sau:
1.
Phân tích đánh giá khái quát thị trường tổng thể.
Muốn có cái nhìn tổng quan về thị trường, trước hết ta phải phân
-
tích tình hình cung cầu hiện tại:
Đối với các nước trên thị trường thế giới:
Trên thế giới, vật liệu xây dựng không nung đã được sử dụng rộng rãi tại
các nước phát triển, nơi đó gạch không nung đã chiếm đến tỷ lệ 70-80%
trong khối lượng gạch xây dựng. Điều này hoàn toàn phù hợp với định
hướng phát triển của toàn cầu, đó là định hướng “ thân thiện và bảo vệ
môi trường sống”
- Người ta đã sử dụng rộng rãi gạch không nung từ rất lâu - thời gian đó
-
là gần 100 năm.
Trên thế giới đã dùng gạch không nung trong xây dựng nhà cao tầng
-
khoảng từ 70%-75%.
Người Trung Quốc đã cấm sử dụng đất canh tác để làm gạch, mặc dù vẫn
sử dụng gạch nung nhung gạch nung lại được sản xuất ra từ các vật liệu
sau: Đá sét nghiền nhỏ, với kích thước hạt là < 3mm và than bùn; đó là
công nghệ hoàn toàn không dùng đất sét, đất canh tác để sản xuất gạch
nung).
21
Đối với Việt Nam:
Theo đại diện Tổng Hội Xây dựng Việt Nam, nước ta hiện nay
tiêu thụ 20 – 22 tỷ viên gạch một năm, đến năm 2020, lượng gạch cần
cho xây dựng ước tính gấp đôi, 40 tỷ viên. Để đạt được lượng gạch
này, cần một lượng đất khoảng 600 triệu m3, tương đương 30.000 ha
đất canh tác. Hay nói nôm na, mỗi năm phải nướng diện tích một xã
vào lò gạch. Gạch nung còn tiêu tốn nhiều năng lượng than, củi.
Những lò gạch thải vào bầu khí quyển một lượng khí độc lớn. Trong
bối cảnh đó, việc sử dụng gạch không nung là xu thế tất yếu.
Thủ tướng vừa ký quyết định phê duyệt Chương trình phát triển vật
liệu xây dựng không nung đến năm 2020 với mục tiêu phát triển sản xuất
và sử dụng loại vật liệu này thay thế gạch đất sét nung đạt tỷ lệ 20-25%
vào năm 2015 và 30-40% vào năm 2020. Theo đó, từ năm 2011, các công
trình nhà từ 9 tầng trở lên sẽ sử dụng tối thiểu 30% vật liệu xây dựng
không nung loại nhẹ có lượng thể tích không lớn hơn 1000 kg mỗi m3
trong tổng số vật liệu xây. 3 chủng loại vật liệu xây dựng không nung
được dùng là gạch xi măng-cốt liệu, gạch nhẹ và các loại gạch khác. Tỷ lệ
gạch xi măng-cốt liệu trên tổng số vật liệu xây không nung khoảng 74%
vào năm 2015 và 70% vào năm 2020. Gạch nhẹ gồm gạch từ bê tông khí
chưng áp và gạch từ bê tông bọt chiếm tỷ lệ 21% vào năm 2015 và 25%
vào năm 2020 trên tổng số vật liệu xây không nung. Quyết định số
567/QĐ-TTg ra ngày 28/04/2010 đã phê duyệt chương trình phát triển
vật liệu không nung đến năm 2020. Để thực hiện mục tiêu đạt 40% vật
liệu xây không nung (VLXKN) đến năm 2020 bằng 16,8 tỷ viên, trung
bình mỗi năm phải đầu tư mới 1,6 tỷ viên.Các loại gạch khác như đá chẻ,
22
gạch đá ong, vật liệu xây không nung từ đất đồi và phế thải xây dựng,
gạch silicát... đạt tỷ lệ khoảng 5% từ năm 2015 trên tổng số vật liệu xây.
Hàng năm, khoảng 15-20 triệu tấn phế thải công nghiệp (tro xỉ nhiệt điện,
xỉ lò cao...) sẽ được sử dụng để sản xuất vật liệu xây dựng không nung.
Việc sử dụng vật liệu xây không nung để thay thế gạch đất sét nung có tác
dụng tiết kiệm đất nông nghiệp, nhiên liệu than giảm thiểu khí phát thải
gây ô nhiễm môi trường. Các dự án chế tạo thiết bị sản xuất vật liệu xây
không nung sẽ được ưu đãi về thuế.
Công nghệ làm gạch không nung rất đơn giản với những thiết bị cơ
khí đơn giản sẽ làm cho chi phí cho 01 viên gạch giảm tối thiểu so với 01
viên gạch nung.
Sau đây là bảng giá thành cho các loại gạch nung và không nung tại
Hà Nội để thấy rõ việc này:
STT
Gạch đất nung Gạch đất không Gạch từ tro, xỉ,
nung
vôi, cát
1
Đất sét
Đất thải
Tro than
than)
2
Than
Cát sông
Xỉ quặng
3
Chi phí
móc
máy Phụ gia khô + Đất hoặc cát
ướt
4
Chi phí
xưởng
nhà Chi phí
móc
máy Ximăng
5
Chi phí
công
nhân Chi phí
xưởng
nhà Vôi bột
6
Chi phí quản lý
Chi
23
phí
nhân Chi
phí
(Xỉ
máy
công
móc
7
Chi phí
nước
điện Chi phí quản lý
8
Vận chuyển + Chi phí
chi phí thương nước
mại
Chi phí
xưởng
nhà
điện Chi phí
công
nhân
9
-
10
-
-
Chi phí
nước
11
-
-
Chi phí thương
mại
+
vận
chuyển
Giá thương mại
tại Hà Nội (chở
đến chân công
trình kích thước
như nhau)
Chi phí thương Chi phí quản lý
mại
+
vận
chuyển
điện
1.400 1.200 đồng/ viên 1.300 viên gạch
đồng/viên gạch gạch lỗ mù
lỗ mù
đặc
1.300
đồng/viên gạch
lỗ (02 lỗ thông)
Như vậy, hiện trạng cầu về gạch không nung hiện nay ở nước ta
càng ngày đòi hỏi càng cao cả về chất lượng lẫn số lượng. các công trình
lớn ở nước ta dã và đang sử dụng gạch không nung là một minh chững
cho hiện trạng về cầu gạch không nung. Đó là các công trình :Keangnam
Hà Nội Landmard Tower (đường Phạm Hùng, Hà Nội), Habico
24
Tower (đường Phạm Văn Đồng, Hà Nội), Khách sạn Horinson (Hà Nội),
Hà Nội Hotel Plaza (đường Trần Duy Hưng, Hà Nội), Sông Giá resort
(Hải Phòng), Sân vận động Mỹ Đình (Hà Nội), Làng Việt Kiều Châu Âu
(Hà Đông, Hà Nội),... Trong giai đoạn phát triển của nền kinh tế hiện nay,
việc sử dụng gạch nung từ đất đã bắt đầu đi vào hồi kết. Mặc dù chỉ tiêu
định hướng của chỉnh phủ đến 2010 tỷ lệ gạch không nung trong thành
phần gach xây dựng có thể không đạt mục tiêu 30% như đã đề ra trong
chiến lược phát triển VLXD được chính phủ phê duyệt ngày 01/08/2001,
nhưng vật liệu XD không nung là lựa chọn không thể khác cho ngành
công nghiệp XD nước ta trong một tương lai gần.
Hiện nay, đã có nhiều cơ sở sản xuất gạch không nung trên cả nước
với chất lượng và số lượng đảm bảo tốt nhu cầu của thị trường trong nước
do đã có công nghệ sản xuất tiên tiến.
Sản phẩm của công ty sản xuất ra được tiêu thụ trong nước và nó
thuộc loại sản phẩm thô.
2.
Phân đoạn thị trường và xác định thị trường mục tiêu.
Nếu có thể thì cơ sở sản xuất gạch không nung tỉnh Hưng Yên rất
muốn chiếm lĩnh tất cả các đoạn thị trường trong nước. Nhưng để đảm
bảo tính đo lường được, tính tiếp cận được và tính quan trọng của việc
phân đoạn thị trường chia thijtr]ơngf tổng thể trên tiêu chí địa lý và hành
vi tiêu dùng. Ở đây cơ sở sản xuất bước đầu sẽ chỉ phân phối gạch cho
các tỉnh ở miền Bắc cho những công trình xây dựng cần gạch không
nung.
25