Tải bản đầy đủ (.pdf) (875 trang)

ăn cầu nguyện yêu của elizabeth gilbert ebook miễn phí

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.26 MB, 875 trang )


Nói sự thật. Chỉ nói sự thật. Elizabeth Gilbert
đã tuyên ngôn vậy, khi cô kể lại câu chuyện cuộc
đời mình trong Ăn, cầu nguyện, yêu. Những đau
khổ rất nhân bản nhưng vẫn quá ngỡ ngàng đã
xuất hiện giữa tuổi ba mưoi đầy xáo động của cô.
Vượt qua tuyệt vọng, Liz tự mình thực hiện một
hành trình dũng cảm để tìm kiếm thanh thản.
Chính vì sự thật mà chuyện kể của một con người
đã đủ sức mở lối cho hàng triệu người khác nhau
trên khắp thế giới tìm được con đường thoát khỏi
trầm cảm, thấy lại niềm vui và sự cân bằng, đồng
thời sẵn sàng yêu nhau lần nữa.
Ăn, cầu nguyện, yêu – cuốn hồi ký xuất sắc
của Elizabeth Gilbert, một bestseller của The New
York Times, được đánh giá là một trong những
cuốn sách có ảnh hưởng lớn tới đời sống tâm lý
Mỹ hiện đại. Tác phẩm đã bán hơn 5 triệu bản và
được dịch ra hàng chục thứ tiếng trên toàn cầu.
Thành công rực rỡ của Ăn, cầu nguyện, yêu
cũng chính là bước ngoặt đưa Elizabeth Gilbert trở
thành một trong bốn nhà văn được tạp chí Time


bình chọn vào danh sách 100 nhân vật có ảnh
hưởng nhất thế giới năm 2008.
- “Món quà tôi mang tặng tất cả bạn gái của
mình.” – Julia Roberts
- “Mọi phụ nữ đều nên đọc cuốn sách này” –
Ellen Macpherson
- “Ăn, Cầu nguyện, yêu thật đáng yêu… Tôi


thấm thía cả nỗi khao khát trải lòng trên từng trang
giấy lẫn ước vọng chữa lành vết thương của tác
giả” – Meg Ryan
- “Một suy ngẫm về yêu dưới muôn dạng thức
– yêu món ăn tinh tế, yêu ngôn ngữ mới mẻ, yêu
con người, yêu thượng đế, và cả thứ tình yêu đã
thực sự cứu rỗi Gilbert, yêu chính bản thân mình”
– Los Angeles Times
- “Một giọng văn ríu rít mà bí ẩn, một tấm
thảm thêu văn hoá cùng cảm xúc, một trạng thái
say mê lẫn nồng nhiệt, một câu chuyện hấp dẫn
kết nối tới cả lịch sử và giai thoại” – Publishers
Weekly.


Giới thiệu tác giả:
Elizabeth Gilbert sinh năm 1969 tại
Connecticut, Mỹ. Cô tốt nghiệp ngành Khoa học
Chính trị tại Đại học New York năm 1991.
Elizabeth Gilbert say mê viết văn từ thuở nhỏ.
Sự nghiệp sáng tác của cô bắt đầu từ khi cô bước
vào nghề báo. Elizabeth là một trong những cây
bút viết toàn diện, xuất sắc nhất của American
GQ. Cô đã hai lần nhận được đề cử Giải thưởng
Tạp chí Quốc gia.
Đến nay Elizabeth Gilbert đã xuất bản được 4
cuốn sách, bao gồm tập truyện ngắn Pilgrims (tác
phẩm lọt vào chung kết giải thưởng
Pen/Hemingway 1997), tiểu thuyết Stern Men
(2000), tiểu thuyết The Last American Man (đề

cử Giải thưởng Sách Quốc gia, và ghi nhận Sách
Tiêu biểu năm 2002 của The New York Times), và
cuốn hồi ký xuất bản năm 2006 Ăn, cầu nguyện,
yêu (Eat, pray, love). Ăn, cầu nguyện, yêu


được độc giả Mỹ cũng như trên khắp thế giới đón
nhận hết sức nồng nhiệt. Tác phẩm hiện đang
được dựng phim với sự tham gia diễn xuất của nữ
minh tinh Julia Roberts.
Thành công rực rỡ của Ăn, cầu nguyện, yêu
đã đưa Elizabeth Gilbert trở thành một trong bốn
nhà văn được tạp chí Time bình chọn vào danh
sách 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất thế giới năm
2008. Hiện cô đang sống giữa Philadelphia (Mỹ)
và Brazil.
Tặng Susan Bowen – người mang lại miền
trú ẩn dù cách xa 12.000 dặm xa.
[1]
Nói sự thật, nói sự thật, nói sự thật.
Sheryl Louise Moller

MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU – hay - QUYỂN SÁCH
NÀY THẾ NÀO – hay - Hạt thứ 109
Ý – hay - “Nói Như Ta Ăn” – hay - Ba Mươi
Sáu Câu Chuyện Về Kiếm Tìm Hạnh Phúc
1



2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23


24
25
26
27
28
29

30
31
32
33
34
35
36
ẤN ĐỘ - Hay - “Hân Hạnh Được Gặp Quý
Vị” – Hay - Ba Mươi Sáu Câu Chuyện Về Theo
Đuổi Tín Ngưỡng
37
38
39
40
41
42


43
44
45
46
47
48
49
50
51
52
53
54

55
56
57
58
59
60
61
62
63
64


65
66
67
68
69
70
71
72
INDONESIA – hay - “Ngay Cả Trong Quần
Lót Của Mình Tôi Cũng Thấy Khác” – hay - Ba
Mươi Sáu Câu Chuyện Về Cuộc Mưu Cầu Cân
Bằng
73
74
75
76
77
78

79
80
81
82


83
84
85
86
87
88
89
90
91
92
93
94
95
96
97
98
99
100
101
102
103
104



105
106
107
108
TRI ÂN CUỐI CÙNG VÀ CAM ĐOAN
LẦN NỮA
10 FREQUENTLY ASKED QUESTIONS
ABOUT EAT, PRAY, LOVE


LỜI GIỚI THIỆU – hay - QUYỂN
SÁCH NÀY THẾ NÀO – hay - Hạt
thứ 109
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

LỜI GIỚI THIỆU
hay
QUYỂN SÁCH NÀY THẾ NÀO
hay
Hạt thứ 109
Khi du lịch ở Ấn Độ - nhất là qua các địa
[2]
điểm linh thiêng và các Ashram , ta sẽ thấy rất
nhiều người đeo tràng hạt ở cổ. Ta cũng sẽ thấy
[3]
rất nhiều bức hình cũ chụp những hành giả
mình trần, gầy trơ xương và dữ tợn (hay đoi khi là
những hành giả béo tròn, hiền lành và rạng rỡ)
cũng đeo tràng hạt. Tràng hạt này được gọi là
japa mala. Ở Ấn Độ, trong nhiều thế kỷ tràng hạt



được dùng để giúp các tín đồ đạo Hindu và Phật
giáo sùng đạo tập trung khi tham thiền cầu
nguyện. Người ta cầm tràng hạt và dùng ngón tay
lần hạt theo vòng tròn – chạm vào một hạt là lặp
lại một câu chú. Khi quân Thập Tự Chinh thời
Trung cổ tràn sang phương Đông tiến hành Thánh
Chiến, chứng kiến các tín đồ dùng những japa
mala này để cầu nguyện, họ đã rất thán phục
cách thức đó và đưa niệm này về quê nhà ở châu
Âu, gọi là chuỗi tràng hạt.
Một xâu japa mala truyền thống có 108 hạt.
Trong giới hiền triết phương Đông thần bí, số 108
được xem là tốt lành nhất, bội số ba chữ số hoàn
hảo của số ba, các thành phần của nó cộng lại
thành chín, là ba lần ba. Và ba, tất nhiên, là con số
tượng trưng cho sự cân bằng tối thương như bất
kỳ ai từng nghiên cứu về Chúa Ba Ngôi linh thiêng
hay chỉ về cái ghế quầy rượu đơn giản đều có thể
thấy rõ ràng. Vì toàn bộ cuốn sách này là về
những cố gắng tìm thấy cân bằng của tôi, tôi quyết
định tạo cho nó kết cấu như một japa mala, chia
thành 108 câu chuyện, hay 108 hạt. Chuỗi 108 câu


chuyện này sẽ được chia tiếp thành ba phần về Ý,
Ấn Độ và Indonesia – ba xứ sở tôi đã ghé thăm
trong năm tự khám phá bản thân này. Sự phân
chia này có nghĩa là một phần có 36 câu chuyện

lôi cuốn tôi trên phương diện cá nhân vì tôi đã viết
tất cả những điều này vào năm tôi ba mươi sáu
tuổi.
Giờ thì trước khi tôi trở nên quá giống Louis
Farrakhan với vấn đề thần số học ở đây này, cho
phép tôi kết luận bằng cách nói rằng nó cũng thích
cái ý tưởng xâu chuỗi những câu chuyện này theo
kết luận của một japa mala vì nó rất... có kết
cấu. Khám phá chân thực về tâm linh là, và luôn
là, một nỗ lực của kỷ luật có phương pháp. Đi tìm
Chân Lý không phải là một thứ ngớ ngẩn miễnphí-cho-tất-cả, ngay cả trong cái thời đại ngớ ngẩn
vĩ đại miễn-phí-cho-tất-cả này. Với tư cách vừa là
một người kiếm tìm vừa là một nhà văn, tôi thấy
cố gắng dựa vào chuỗi hạt là điều hữu ích, phương
pháp tốt nhất giúp tôi tập trung chú ý vào cái mình
đang cố hoàn tất.
Bất luận thế nào, mỗi japa mala đều có một


hạt đặc biệt, hạt thêm vào – hạt thứ 109 – xâu bên
ngoài cái vòng 108 hạt cân xứng như một đối
trọng. Tôi vẫn thường nghĩ hạt thứ 109 là một thứ
dự phòng khẩn cấp như cái khuy áo dự phòng dính
vào chiếc áo len đẹp đẽ, hay người con trai út
trong một gia đình hoàng gia. Nhưng rõ ràng ở
đây có một mục đích cao cả hơn. Khi ngón tay ta
chạm đến dấu mốc này là lúc cầu nguyện, ta phải
ngưng trạng thái thiền định và đa tạ sư phụ mình.
Vậy nên ở đây, ở hạt 109 của riêng mình, tôi dừng
trước cả khi bắt đầu. Tôi xin được dâng lời cảm tạ

đến những người thầy của tôi, những người đã
xuất hiện trước mắt tôi trong rất nhiều thể dạng lạ
lùng trong năm này.
Nhưng lời cảm tạ đặc biệt nhất tôi dành cho
[4]
Sư phụ của tôi, người có lòng bi mẫn trong mỗi
nhịp đập trai tim, và là người đã rất rộng lượng
cho phép tôi học hỏi tại Ashram của bà khi tôi ở
Ấn Độ. Đây cũng là lúc tôi muốn giải thích là tôi
viết về những trải nghiệm của mình ở Ấn Độ
thuần túy từ quan điểm cá nhân chứ không phải


như một học giả thần học hay phát ngôn viên
chính thức của bất kỳ ai. Đấy là lý do tôi sẽ không
nhắc đến tên Sư phụ mình trong cuốn sách này –
vì tôi không thể là người phát ngôn cho bà. Những
giáo huấn của bà tự nó nói lên tất cả. Tôi cũng sẽ
không tiết lộ tên hay địa điểm Ashram của bà, để
nơi đó tránh được sự chú ý của công chúng, một
điều nó không quan tâm mà cũng chẳng có các
nguồn lực để quản lý.
Một biểu hiện cuối cùng của lòng biết ơn: khi
những cái tên rải rác khắp cuốn sách này đã được
thay đổi vì nhiều lý do, tôi quyết định thay đổi tên
của từng người mình gặp tại Ashram này ở Ấn
Độ, cả người Ấn và người Tây phương. Vì tôn
trọng một thực tế là hầu hết mọi người không thực
hiện chuyến hành hương tâm linh để rồi sau đó
xuất hiện như một nhân vật trong sách. (Trừ khi,

tất nhiên, đó là tôi.) Tôi chỉ có một ngoại lệ cho
cách giấu tên tự đặt ra này. Richard từ Texas thực
sự tên là Richard, và đúng là người Texas. Tôi
muốn dùng tên thật của anh ấy vì anh là người rất
quan trọng với tôi khi tôi ở Ấn Độ.


Một điều cuối cùng – khi tôi hỏi Richard nếu
tôi nhắc đến việc anh từng là một người nghiện
rượu và ma túy trong cuốn sách của mình thì có
sao không, anh trả lời là điều đó hoàn toàn được.
Anh nói, “Dù sao thì tôi cũng đã thử tìm cách
nói ra chuyện đó.”
Nhưng đầu tiên – nước Ý...


Ý – hay - “Nói Như Ta Ăn” – hay Ba Mươi Sáu Câu Chuyện Về Kiếm
Tìm Hạnh Phúc
Ý
hay
“Nói Như Ta Ăn”
hay
Ba Mươi Sáu Câu Chuyện Về Kiếm
Tìm Hạnh Phúc


1
Tôi ước gì Giovanni hôn tôi.
Ồ, nhưng có quá nhiều lý do vì sao điều này
sẽ là một ý tưởng khủng khiếp. Đầu tiên, Giovanni

trẻ hơn tôi mười tuổi, và – như hầu hết các chàng
trai Ý ở tuổi hai mươi – anh vẫn còn sống cùng
mẹ. Chỉ riêng những điều này thôi cũng đã khiến
anh khó có thể là một người tình lãng mạn của tôi,
vì thực tế tôi là một phụ nữ Mỹ có nghề nghiệp
khoảng ngoài ba mươi, vừa trải qua một cuộc hôn
nhân thất bại và vụ ly dị tàn hại và bất tận, liền
theo là cuộc tình say đắm có một kết cục làm tan
nát cõi lòng. Mất mát này chồng lên mất mát khác
khiến tôi cảm thấy buồn, mong manh và chừng
như đã già bảy ngàn tuổi rồi. Thuần về nguyên tắc
thì tôi không thể để anh chàng Giovanni trong
sáng, đáng yêu phải chịu đựng một kẻ sầu muộn
già nua đổ vỡ trong hôn nhân là mình. Chưa kể là
rốt cuộc tôi cũng đã tới cái tuổi mà một phụ nữ bắt
đầu hỏi, có thực cách khôn ngoan nhất để vượt


qua nỗi mất mát vì một người đàn ông trẻ đẹp mắt
nâu là mời ngay một người đàn ông khác lên
giường hay không. Đấy là lý do tôi đã đơn độc
nhiều tháng nay. Đấy là lý do, trên thực tế, tôi đã
quyết định sống độc thân suốt năm nay.
Một người quan sát sắc sảo có thể sẽ chất
vấn, “Vậy thì tại sao cô lại đến Ý?”
Và để trả lời, tôi chỉ có thể đáp – nhất là khi
nhìn anh chàng Giovanni đẹp trai ngồi bên bàn –
“Một câu hỏi hay.”
Giovanni là Bạn Giao Lưu Xe đạp đôi của tôi.
Nghe có vẻ như ám chỉ cái gì đấy khác, nhưng

tiếc là không phải. Thật ra tất cả chỉ có nghĩa là
chúng tôi gặp nhau vài tối mỗi tuần ở đây, tại
Roma, để thực hành ngôn ngữ của cả hai. Đầu
tiên chúng tôi nói tiếng Ý anh ấy nhẫn nại với tôi;
rồi chúng tôi nói tiếng Anh, và tôi kiên nhẫn với
anh. Tôi đã phát hiện ra Giovanni vài tuần sau khi
đến Roma, nhờ cái quán cà phê Internet lớn ở
Piazza Barbarini ấy, bên kia đường đối diện đài
phun nước có bức tượng chàng trai người cá gợi
tình đang thổi cái vỏ sò. Anh (là Giovanni, không


phải chàng người cá) đã dán một quảng cáo lên
bảng tin nói là một người Ý bản ngữ đang tìm một
người Anh bản ngữ để thực hành ngôn ngữ đàm
thoại. Ngay dưới yêu cầu giúp đỡ của anh là một
quảng cáo khác với cùng một yêu cầu, giống hệt
nhau từng chữ một, đến cả kiểu chữ. Khác biệt
duy nhất là thông tin liên hệ. Một quảng cáo ghi
địa chỉ email của một ai đó có tên là Giovanni; còn
cái kia thì giới thiệu ai đó tên la Dario. Nhưng
ngay cả số điện thoại nhà cũng là một.
Tôi sử dụng năng lực trực giác nhạy bén của
mình gửi email cho cả hai người một lúc, hỏi bằng
tiếng Ý, “Có lẽ các anh là anh em?”
Chính Giovanni là người viết thư trả lời rất
[5]
provocatio
như sau, “Còn hay hơn nữa. Sinh
đôi!”

Đúng vậy, hay hơn nhiều. Hóa ra đây là hai
anh em sinh đôi tuổi hai mươi lăm giống hệt nhau,
to cao, đẹp trai, rám nắng với đôi mắt Ý to nâu
mơ màng khiến tôi muốn mở lòng. Sau khi đích
thân gặp cả hai người họ, tôi bắt đầu không biết có


nên chỉnh lại chút xíu điều lệ độc thân trong năm
nay của mình hay không. Ví dụ, có lẽ tôi vẫn độc
thân hoàn toàn trừ việc giữ anh em sinh đôi người
Ý hai mươi lăm tuổi đẹp trai này làm nhân tình.
Chuyện này có chút làm nhớ lại chuyện một người
bạn của tôi ăn chay trừ món thịt lợn muối xông
khói, nhưng dù sao thì... Tôi đã bắt đầu viết thư
cho tạp chí Penthouse:
Trong bóng tối lung linh ánh nến của quán
cà phê Roman, chẳng thể nào nói được tay ai
đang vuốt ve...
Nhưng không.
Không và không.
Tôi cắt ngang hình ảnh mộng mị này lưng
chừng câu. Đây không phải là lúc tôi tìm kiếm lãng
mạn và (như ngày tiếp nối đêm) làm cuộc sống đã
nan giải của mình phức tạp thêm. Đây là lúc tôi
tìm kiếm sự hàn gắn và yên tĩnh chỉ có thể có
được từ sự đơn độc.
Dù sao thì, đến lúc này, vào giữa tháng Mười
một, anh chàng Giovanni nhút nhát, siêng năng và
tôi đã trở thành bạn thân. Còn về phần Dario – kẻ



ưa tiệc tùng đàn đúm hơn trong hai anh em – tôi
đã giới thiệu với cô bạn nhỏ Sofie đáng yêu người
Thụy Điển của mình, và họ đã cùng chia sẻ những
buổi tối của họ ở Roma ra sao thì lại hoàn toàn là
một kiểu Bạn Giao Lưu Xe đạp đôi khác. Còn
Giovanni và tôi, chúng tôi chỉ trò chuyện. À không,
ăn uống và chuyện trò. Đã nhiều tuần lễ thú vị
chúng tôi cùng ăn uống và trò chuyện, chia nhau
món pizza và nhẹ nhàng sửa những lỗi văn phạm,
và đêm nay cũng không phải ngoại lệ. Một buổi tối
dễ thương và những thành ngữ mới và món pho
mát tươi mozzarella.
Giờ là nửa đêm và trời mù sương. Giovanni
đưa tôi trở về căn hộ qua những con đường của
Roma hiền hòa lượn quanh các tòa nhà cổ như
những nhánh sông trườn quanh những khoảng
rừng bách mờ ảo. Giờ thì chúng tôi đang đứng
trước cửa, đối diện nhau. Anh trao tôi một cái ôm
ấm áp. Đây là một tiến bộ; trong mấy tuần đầu
tiên anh chỉ bắt tay tôi thôi. Tôi nghĩ nếu mình ở lại
Ý thêm ba năm nữa, rất có thể anh sẽ ghì lấy tôi
mà hôn nồng nhiệt. Tuy nhiên, giá mà anh hôn tôi


ngay lúc này, đêm nay, ngay đây cạnh cửa nhà
tôi... có thể lắm chứ... ý tôi là chúng tôi đang ôm
ghì nhau dưới ánh trăng này... và dĩ nhiên điều đó
sẽ là một sai lầm khủng khiếp... nhưng đó vẫn
thật là một khả năng tuyệt vời nếu anh thật sự có

thể làm điều đó ngay lúc này... rằng giá mà anh
cúi xuống... và... và...
Không.
Anh buông vòng tay.
“Chúc ngủ ngon, Liz yêu dấu,” anh nói.
[6]
“Buona notte, caro mio,” tôi đáp.
Tôi bước lên những bậc thang dẫn đến căn hộ
tầng bốn của mình, hoàn toàn đơn độc. Tôi trôi
vào căn hộ bé xíu xiu của mình, cũng hoàn toàn
đơn độc. Tôi đóng cánh cửa lại sau lưng. Lại một
đêm ngủ một mình nữa ở Roma. Lại một đêm dài
nữa đang đợi, chẳng có ai và chẳng có gì trên
chiếc giường ngoại trừ một chồng sách thành ngữ
Ý và từ điển.
Tôi một mình, tôi cô độc, tôi hoàn toàn cô độc.
Hiểu thấu thực tế này, tôi buông túi xách,


khuỵu xuống và tì trán vào tường. Nơi đây, tôi
dâng lên vũ trụ lời cầu nguyện cảm tạ nhiệt thành.
Đầu tiên là bằng tiếng Anh.
Rồi đến bằng tiếng Ý.
Và rồi – để trình bày rõ ràng hơn – bằng tiếng
Phạn.


×