Tải bản đầy đủ (.pdf) (85 trang)

Trung tâm tin - một yêu cầu tất yếu của phát thanh hiện đại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.16 MB, 85 trang )


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
Khoa Báo chí
_______________________





Luận văn tốt nghiệp Cao học
“ TRUNG TÂM TIN - MỘT YÊU CẦU TẤT YẾU CỦA
PHÁT THANH HIỆN ĐẠI ”
Chuyên ngành : Báo chí học
Mã số : 60.32.01



Học viên : Giang Trung Sơn
Lớp Cao học báo chí K-7
Giáo viên hướng dẫn : PGS – TS Vũ Duy Thông.




Hà Nội - 2006


2

Mục lục


Trang

Mở đầu. 03

Chương 1 : Một số vấn đề lí luận và thực tiễn. 06
1.1. Tin - Trung Tâm Tin. 06
1.2. Thế nào là phát thanh hiện đại ? 10
1.3. Trung Tâm Tin – một yêu cầu tất yếu của
phát thanh hiện đại. 11
1.4. Khái quát lí thuyết hệ thống. 28

Chương 2 : Trung Tâm Tin của Đài phát thanh hiện đại. 32
2.1. Tổ chức, vận hành Trung Tâm Tin ở Đài TNVN. 32
2.2. Trung Tâm Tin ở một số đài phát thanh
trên thế giới và trong nước. 58
2.3. Một số tiêu chí cơ bản của Trung Tâm Tin. 62

Chương 3 : Một số mô hình, đề xuất. 64

3.1. Mô hình chung. 64
3.2. Tổ chức, vận hành trong thực tiễn. 66
3.3. Những tham số cơ bản. 81

Kết luận. 81


3
Mở đầu :



1. Tính cấp thiết của đề tài :
Các Đài phát thanh trên thế giới và ở nước ta trong quá trình hoạt
động đều phải xây dựng bộ phận làm tin, và sau đó ở nhiều nơi đã phát
triển thành Trung Tâm Tin. Tuy nhiên, việc này từ trước tới nay đều
xuất phát từ nhu cầu thực tiễn. Chưa thấy một công trình nào mang tính
lí luận về báo chí học nghiên cứu một cách hệ thống để trả lời cỏc cõu
hỏi : Vì sao phải có Trung Tâm Tin ? Trung Tâm Tin được xây dựng
như thế nào và làm việc gỡ ? Quản lớ, vận hành Trung Tâm Tin ra sao
để đáp ứng tốt những yêu cầu thực tiễn ?

Trong xu thế phát thanh hiện đại ngày nay, Trung Tâm Tin thực
sự đó trở thành một yêu cầu tất yếu, là tiêu chí quan trọng để đánh giá
một Đài phát thanh. Tuy nhiên, việc xây dựng, quản lí và vận hành nú
như thế nào là điều cần được trả lời bằng cách nghiên cứu hệ thống hơn,
trên cơ sở đúc rút kinh nghiệm những cách làm khác nhau từ thực tiễn,
sử dụng lí luận để soi rọi, đối chiếu, khái quát ; từ đú đưa ra những
phương án, giải pháp để xây dựng, vận hành và phát triển Trung Tâm
Tin phù hợp với yêu cầu phát thanh hiện đại.

Việc trả lời cỏc cõu hỏi đú chỉ cú sức thuyết phục khi được gắn
với hoàn cảnh kinh tế - xó hội và điều kiện, nhiệm vụ của từng Đài phỏt
thanh cụ thể. Vỡ vậy, những phương ỏn, giỏi phỏp, mụ hỡnh được đưa
ra trong luận ỏn khi ỏp dụng vào một Đài phỏt thanh cụ thể cần gắn vào
những tham số phự hợp với điều kiện, hoàn cảnh, chức năng, nhiệm vụ
của nú.

4


2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề :


Từ trước tới nay chưa cú cụng trỡnh nào ở trong nước nghiờn cứu
mang tớnh hệ thống và về việc tổ chức hoạt động của Trung Tõm Tin.
Việc tổ chức hoạt động của Trung Tõm Tin ở Đài Tiếng núi Việt Nam
từ năm 1994 đến nay hầu như chỉ dựa trờn kinh nghiệm thực tiễn, vừa
làm vừa học và đỳc rỳt kinh nghiệm. Cỏc bộ phận làm tin ở nhiều đài
phỏt thanh địa phương cũng ở trong tỡnh trạng tương tự.

Ở nước ngoài, chỳng tụi cũng chưa được đọc một tài liệu nào
mang tớnh tổng hợp, hệ thống về vấn đề này. Tuy nhiờn, qua những
chuyến tham quan, khảo sỏt ở nước ngoài, chỳng tụi cũng cú một số tư
liệu và kinh nghiệm mang tớnh tham khảo. Cú một số phương ỏn, đề
xuất, mụ hỡnh tổ chức Trung Tõm Tin được đăng trờn cỏc tạp chớ
chuyờn ngành phỏt thanh ở trong nước và nước ngoài, nhưng chưa
mang tớnh hệ thống và khỏi quỏt, mới chỉ gắn với những yờu cầu cụ
thể, với một mụ hỡnh đài phỏt thanh cụ thể.


3. Mục đích nghiên cứu :

Khẳng định tính tất yếu cần phải có của Trung Tâm Tin ở một
Đài phát thanh hiện đại. Đưa ra tiêu chí, mô hình chung về việc tổ chức
hoạt động của Trung Tõm Tin của Đài phỏt thanh hiện đại ; áp dụng,
vận hành vào một Đài phát thanh cụ thể là Đài Tiếng nói Việt Nam,

5
hướng phỏt triển trong nhiều năm tới phự hợp với yờu cầu phỏt thanh
hiện đại.



4.Phương pháp nghiên cứu :

Khảo sỏt thực tiễn, thống kờ, phõn tớch. Sử dụng lí luận báo chí
học và lớ thuyết hệ thống trong việc khảo sỏt, nhỡn nhận, phõn tớch,
đỏnh giỏ và dự bỏo xu hướng phỏt triển.


Với mục đích, yêu cầu và hướng nghiên cứu như vậy, luận văn
được trình bày đan xen cả phần lí luận và thực tiễn khảo sát, phân tích
trong từng chương mục ; bao gồm 3 chương như mục lục.















6

Chương 1 : Một số vấn đề lí luận và thực tiễn.



1.1. Tin - Trung Tâm Tin :

Tin tức là một thể loại bỏo chớ xung kớch, mũi nhọn. Đặc biệt
đối với loại hỡnh bỏo chớ phỏt thanh, tớnh xung kớch, mũi nhọn đú
càng được thể hiện rừ. Tin tức phỏt thanh khụng chỉ cập nhật, mà hiện
nay phải cập giờ, mà hơn thế nữa là phải đưa vào bất kỡ lỳc nào thớch
hợp, hiệu ớch nhất. Thực tiễn hiện nay ở Đài Tiếng núi Việt Nam đang
sử dụng cỏc loại tin chủ yếu là : tin thụng bỏo, tin sõu, tin cú sự tham
gia của nhõn vật trong cuộc, tin bỡnh. Thông tấn xã Việt Nam và các
loại hình báo chí khác sử dụng các loại tin được phân chia như sau : tin
vắn, tin ngắn, tin có chiều sâu, tin tổng hợp, tin tường thuật, tin bình,
ghi phỏng vấn và tin công báo. Cũn cỏc đài phỏt thanh ở chõu Âu và
nhiều nước khỏc sử dụng cỏch phõn chia tin tức như sau : tin thụng tấn,
tin bỡnh luận, tin chớnh luận nghệ thuật.

Trung Tâm Tin được đề cập trong luận văn này là một khái niệm
sinh ra từ thực tiễn, là nơi tổ chức sản xuất tin ; thu thập, khai thác các
nguồn tin khác nhau ; xử lí, so sánh, đối chiếu, thẩm định, biên tập, tổng
hợp, và thể hiện tin tức trong các bản tin, chương trình thời sự của Đài
phỏt thanh.

Nhỡn chung, đối với một đài phỏt thanh hiện đại, Trung Tõm Tin
cú chức năng, nhiệm vụ chớnh là :
+ Tổ chức nguồn tin.

7
+ Kiểm chứng tin qua cỏc nguồn.
+ Xử lí tin.
+ Cung cấp tin.
Ở nhiều đài phỏt thanh, Trung Tõm Tin đảm nhận trực tiếp nhiệm

vụ thụng tin tuyờn truyền, cú thờm cỏc chức năng :
+ Thiết kế, thể hiện bản tin, chương trỡnh tin tức.
+ Thu thập, xử lớ thụng tin phản hồi.
Nhằm đỏp ứng nhu cầu thụng tin chớnh xỏc, chõn thực, nhanh,
kịp thời, hiện nay Trung Tõm Tin ở nhiều đài phỏt thanh đó tổ chức tốt
việc săn tin, nuụi tin., trao đổi, mua bỏn tin.

Vậy Trung Tâm Tin ở Đài phát thanh giống và khác với Trung
Tâm Tin hay bộ phận làm tin ở các loại hình báo chí khác như thế nào ?
Trung Tâm Tin ở Đài phát thanh giống và khác với Trung Tâm Tin ở
các cơ quan, đơn vị không phải là báo chí như thế nào ? Các câu hỏi
này sẽ được làm rõ hơn trong những phần tiếp theo. Tuy nhiên có thể
nhìn chung như sau :

Thứ nhất, Trung Tâm Tin của Đài phát thanh hay của các loại
hình báo chí khác, của các cơ quan, đơn vị không phải là báo chí đều
phải tổ chức thu thập thông tin, tư liệu qua tất cả các nguồn có thể, đáp
ứng được đầu vào cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.
Tuy nhiên, Trung Tâm Tin của các cơ quan báo chí, trong đó có loại
hình phát thanh, có phạm vi thu thập thông tin, tư liệu phải được mở
rộng hơn do là đơn vị truyền thông đại chúng phải đáp ứng nhu cầu
thông tin thuộc mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội,… Còn Trung
Tâm Tin của các đơn vị không phải là báo chí thường chỉ thực hiện
nhiệm vụ này trong phạm vi những lĩnh vực có liên quan hoặc chuyên
ngành hẹp và sâu. Tuy nhiên, mặc dù đầu vào của Trung Tâm Tin thuộc

8
Đài phát thanh hay các cơ quan báo chí có rộng hơn bao nhiêu cũng
không thể bao trùm đầu vào của Trung Tâm Tin thuộc các đơn vị không
phải là báo chí. Điều này do chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị qui

định, đồng thời phụ thuộc vào chính khả năng tổ chức nguồn đầu vào
của Trung Tâm Tin. Có thể hình dung bằng sơ đồ sau :


Sơ đồ 1.


Thứ hai, Trung Tâm Tin của các đơn vị báo chí có cách thức,
phương pháp xử lí thông tin, tư liệu khác hẳn so với Trung Tâm Tin của
các đơn vị không phải là báo chí. Bởi vì báo chí phải xử lí thông tin, tư
liệu để cùng lúc đưa đến cho đông đảo công chúng cơ hội tiếp nhận tin
tức một cách đồng thời, cùng lúc và nhanh nhất. Cái khó của việc xử lí
thông tin, tư liệu ở đây là cố gắng làm sao cho mọi người thuộc các tầng
lớp khác nhau, với trình độ và khả năng tiếp nhận khác nhau có thể
cùng hiểu đúng một nghĩa. Trong khi đó, Trung Tâm Tin của các đơn vị
không phải là báo chí thì phải xử lí thông tin, tư liệu nhằm mục tiêu
Nguồn, đầu vào của Trung Tâm
Tin thuộc các đơn vị báo chí.
Nguồn, đầu vào của
Trung Tâm Tin thuộc các
đơn vị không phải báo
chí.

9
khác, có thể để các nhà quản lí sử dụng làm căn cứ ra các quyết định
quản lí, hoặc nếu rộng hơn thì chỉ ở mức độ nội san chuyên ngành. Có
thể thấy, Trung Tâm Tin nào cũng có các khâu công việc phải thực hiện
như : thu thập, lựa chọn, xử lí thông tin, tư liệu, phân tích, tổng hợp,
thống kê, báo cáo. Tuy nhiên, trong khâu phát thanh thì khác nhau,
Trung Tâm Tin của các đơn vị không phải là báo chí thì chủ yếu là phát

hành có địa chỉ hoặc trong nội bộ ngành, lĩnh vực ; còn Trung Tâm Tin
của các đơn vị báo chí thì phát hành đại chúng. Có thể hình dung theo
sơ đồ sau :


Sơ đồ 2.


Thứ ba, Trung Tâm Tin của Đài phát thanh phải thu thập, xử lí
thông tin, tư liệu với khối lượng lớn hơn, thời gian gấp gáp hơn so với
nơi thu thập, xử lí thông tin, tư liệu của các loại hình báo chí khác ( kể
cả truyền hình và báo mạng ). Điều này do đặc trưng, đặc điểm của loại
hình phát thanh qui định. Đặc thù riêng của phát thanh là khả năng
Trung
Tâm Tin
của các
đơn vị
báo chí.
Trung Tâm Tin
của các đơn vị
không phải là
báo chí.
Phát hành đại chúng.
- Thu thập, lựa chọn.
- Xử lí thông tin, tư liệu.
- Phân tích, tổng hợp.
- Thống kê, báo cáo.
Phát hành có địa chỉ, nội bộ.

10

thông tin nội dung nhanh, trực tiếp. Thông tin phát thanh có khả năng
cùng lúc phát đi trên diện rộng đến nhiều đối tượng khác nhau, tạo ra
được hiệu ứng xã hội một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, phát thanh có
hạn chế là mức độ xác định của thông tin phụ thuộc vào sự chú ý, tập
trung và cả trình độ thu nhận của người nghe. Thông tin phát thanh xuất
hiện theo chuỗi tuyến tính, nên người nghe chỉ cần một thời điểm không
tập trung là đã có thể hiểu không đúng hoặc không đầy đủ nội dung
thông tin. Một nét riêng nữa là trong phát thanh, từ khâu khai thác thông
tin đến khâu xử lí và trình bày thông tin đều là kết quả của lao động tập
thể. Trong đó, mỗi người đều có nhiệm vụ và chức năng riêng, nhưng
phải am hiểu và phối hợp ăn khớp, đồng bộ và nhịp nhàng với công việc
của người khác. Điều này sẽ tiếp tục được phân tích sâu hơn ở các phần
sau.


1.2. Thế nào là phát thanh hiện đại ?

Đúng là phát thanh hiện đại có thể nhìn thấy ngay ở phương tiện
kĩ thuật hiện đại. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa cứ kĩ thuật hiện
đại là có phát thanh hiện đại. Khái niệm phát thanh hiện đại được sử
dụng ở đây là để chỉ cách thức đáp ứng nhu cầu của cuộc sống hiện đại
bằng phương tiện phát thanh, với tư cách như một kênh truyền thông đại
chúng hữu hiệu, một công cụ báo chí của cá nhân, tổ chức, cộng đồng,
xã hội.

Cuộc sống hiện đại là xã hội thông tin, xã hội công nghiệp hay
nông nghiệp, thì phát thanh hiện đại phải đáp ứng tốt nhu cầu đó. Cuộc
sống hiện đại ở nơi nào có đông người già thì phát thanh hiện đại phải

11

ưu tiên cho người già, đông người trẻ tuổi phải ưu tiên cho người trẻ
tuổi, đông người nghèo phải ưu tiên cho người nghèo,… Như vậy có thể
thấy phát thanh hiện đại trước hết là hiện đại ở định hướng nội dung và
liều lượng thông tin.

Cách thức thông tin theo định hướng đó mà hiện đại. Có cần tăng
tính thời sự và khối lượng thông tin hay phải ưu tiên đưa thông tin tổng
hợp theo chiều sâu ? Có thể thông tin nhanh nhạy hay cần phải kiểm
tra, thẩm định kĩ càng ? Thông tin một chiều hay nhiều chiều ? Rồi
thông tin bằng lời nói của mình hay của nhiều người ? Đó là những
câu hỏi mà phải trả lời được nó mới có thể nhìn nhận đúng về phát
thanh hiện đại.

Đương nhiên là kĩ thuật phải hiện đại mới đáp ứng được yêu cầu
của phát thanh hiện đại. Đến thời đại của phát thanh kĩ thuật số rồi thì
thật khó hình dung nơi nào sử dụng kĩ thuật truyền thanh hay kĩ thuật
phát thanh analog lại có thể đáp ứng tốt nhu cầu của cuộc sống hiện đại
đang không ngừng thay đổi, đi lên.


1.3. Trung Tâm Tin – một yêu cầu tất yếu của phát
thanh hiện đại :

1.3.1. Về lí luận :

Trước hết, với tư cách là một kênh quan trọng của quá trình
truyền thông, báo chí nói chung và một đài phát thanh nói riêng phải
đảm bảo các yêu cầu sau :

12

- Là công cụ hiệu dụng đối với người sử dụng nó để truyền thông
điệp.
- Đảm bảo truyền thông điệp khách quan, trung thực, chính xác
và nhanh nhất đến người nhận thông điệp. Thông điệp, thông tin không
bị nhiễu.
- Đảm bảo tính hiệu quả của quá trình truyền thông điệp, bao gồm
cả việc nhận thông tin phản hồi qua kênh truyền thông.

Đài phát thanh được xem là một kênh truyền thông hiệu dụng.
Trong điều kiện kinh tế phát triển, đời sống được nâng cao, mọi người
bị cuốn vào nhịp sống và làm việc khẩn trương, truyền thông qua đài
phát thanh càng có hiệu quả cao và đại chúng hơn. Mặt khác, với chức
năng của một cơ quan báo chí, không có đài phát thanh nào dừng lại ở
việc truyền thông một chiều. Sự phản hồi thông tin từ người tiếp nhận là
công chúng ngày càng được thực hiện qua kênh báo chí nhiều hơn để
trở lại đối với người sử dụng báo chí. Sự phản hồi đó không chỉ dừng lại
ở việc điểm thư, trích dẫn ý kiến, mà nhiều khi là việc tổ chức cả các
diễn đàn kéo dài ngày hoặc định kì. Người sử dụng báo chí để truyền
thông tin lúc đó lại đóng vai trò người tiếp nhận thông tin. Sự thay đổi
thường xuyên đó làm cho báo chí nói chung và các đài phát thanh nói
riêng trở thành một kênh truyền thông khách quan, đáng tin cậy hơn.

Vấn đề đặt ra ở đây là các thông điệp truyền qua kênh này có
được phép “ chế biến “ không và “ chế biến “ như thế nào ? Nếu nhìn
nhận về truyền thông với đầy đủ các góc độ của nó, đặc biệt là đối với
truyền thông đại chúng, thì việc này là cần thiết, thậm chí có thể nói là
bắt buộc phải làm. Nếu như có một thông điệp nào đó cần truyền đến số
đông người với trình độ, vị trí, điều kiện sống, sở thích khác nhau thì có
nhiều tiêu chí phải đạt được, nhưng quan trong nhất là phải làm cho


13
người tiếp nhận hiểu được thông điệp theo đúng mong muốn của người
truyền thông điệp. Muốn vậy trước hết người truyền thông điệp phải
hiểu được người tiếp nhận. Nếu không đạt được tiêu chí này, đặc biệt là
đối với truyền thông đại chúng thì có thể dẫn đến hiệu ứng ngược.
Trước hết là mỗi nhóm người khác nhau có sự hiểu không giống nhau
về thông điệp, sẽ dẫn đến sự phản ứng, hành vi khác nhau. Nếu điều này
kéo dài vô hình chung đã biến việc tiếp nhận kết quả truyền thông thành
độc quyền của một vài người hoặc một vài nhóm người. Nguy hiểm hơn
là dần dần người tiếp nhận không còn tin vào những thông điệp về sau
nữa.

Vậy nên, chính sự cần thiết phải “ chế biến “ thông điệp như vừa
phân tích đã qui định tính tất yếu phải có Trung Tâm Tin của Đài phát
thanh. Bởi vì Đài phát thanh là sử dụng ngôn ngữ nói, tiếng động và âm
nhạc, nên thông điệp truyền qua kênh này phải có một cách thu thập, xử
lí rất đặc thù, rất riêng.

Thứ hai, ở nước ta hiện nay tuy chưa tới mức “ bùng nổ “ thông
tin, nhưng khối lượng thông tin mà công chúng có khả năng tiếp nhận
cũng không hề ít chút nào. “ Bởi vậy, một vấn đề tất yếu được đặt ra
đối với cả hai quá trình thông tin và tiếp nhận thông tin là lựa chọn
thông tin. Lựa chọn là hành động có tính qui luật trong hoạt động
của con người “ (1).

Lựa chọn thông tin cần phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của
từng phương tiện thông tin, xuất phát từ đối tượng tác động của thông
tin. Việc lựa chọn thông tin không chỉ gắn liền với sở thích, mà còn kèm
theo lợi ích cá nhân của người lựa chọn. Việc lựa chọn thông tin cũng


14
cần coi trọng hiệu quả của thông tin. Đối với Đài phát thanh thì việc này
càng quan trọng.

Lựa chọn thông tin, sau đó “ chế biến “ và truyền ( phát ) nó đi.
Hiệu quả thông tin còn phụ thuộc vào cách thức truyền nó đi như thế
nào, thời điểm truyền nó đi vào lúc nào. Tất cả những công việc này đối
__________________
1) Cơ sở lí luận báo chí truyền thông, Dương Xuân Sơn - Đinh
Văn Hường - Trần Quang, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004 ;
tr186.
với một Đài phát thanh hiện đại cần có một bộ phận thực hiện, đó là
Trung Tâm Tin.

Thứ ba, Trung Tâm Tin của Đài phát thanh như đã trình bày và
phân tích ở trên sẽ cho sản phẩm đầu ra ( công bố ) là những thông tin
đã được xử lí, kiểm chứng, không chỉ có giá trị đối với công chúng tiếp
nhận, mà còn là cơ sở vững chắc để chính những nhà báo ( phóng viên,
biên tập viên ) của Trung Tâm Tin và Đài phát thanh đó xây dựng nên
những tác phẩm báo chí thuộc nhiều thể loại khác như phóng sự, điều
tra, bình luận, chuyên luận,… Bởi vì thông tin đã qua xử lí đảm bảo
tính “ toàn diện chứ không phiến diện, không thổi phồng, tô hồng
hoặc bôi đen ; thông tin có phân tích, có bình luận, có định hướng,
chứ không phải cứ tung ra ai muốn hiểu thế nào thì hiểu. Nói cách
khác, thông tin phải đúng sự thật, tức là nói đúng bản chất sự việc,
hiện tượng, thông tin có cân nhắc hiệu quả xã hội, vì lợi ích chung,
sự nghiệp chung “. (1)


15

Đó là về lí luận, còn về thực tiễn thì đang có một xu hướng tích
hợp các thể loại trong tin phát thanh, cùng với nó là yêu cầu nâng cao
chất lượng thông tin, qui định đài phát thanh phải có Trung Tâm Tin.


1.3.2. Xu hướng tích hợp thể loại trong tin phát thanh và yêu
cầu nâng cao chất lượng thông tin :

a) Xu hướng tích hợp thể loại trong tin phát thanh :
___________________________
1) Thời gian và nhân chứng, GS Hà Minh Đức, NXB Chính trị
quốc gia, 2001 ; tr 592 – 593

Xu hướng báo chí nói chung và phát thanh hiện đại nói riêng đã
và đang có sự tích hợp lẫn nhau giữa các thể loại. Hơn thế, giữa các loại
hình báo chí khác nhau nhiều lúc cũng cần “ vay mượn “ ngôn ngữ,
cách thể hiện của nhau, dần dần tích hợp vào nhau. Người viết thì cố
gắng làm sao mô tả cho ra chân dung của một người anh hùng, hay mô
tả một chiến công nào đó như một bài thơ. Người nói thì cố gắng sao
cho khi nghe xong thính giả còn đọng lại trong đầu một hình ảnh đậm
nét nhất về sự kiện đáng nhớ nào đó. Người quay truyền hình hay người
chụp ảnh lại phải tìm cách làm sao cho nhân vật trong đó nếu có im lặng
thì nét mặt, cử chỉ, ánh mắt, nụ cười, cũng như nói lên rất nhiều điều
muốn nói ; Tất cả những nỗ lực đó đều nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu
của công chúng.

Để hình dung vấn đề này, có thể ví dụ về cách viết bài phản ánh
một thời bị mang ra “ dập khuôn “ trong làng báo nước ta, đó là những
câu “ Tôi đi, tôi đến, tôi thấy, tôi hỏi, tôi nghĩ, ”. Việc đi và đến


16
không cần bàn nhiều nữa. Nhưng còn việc thấy, hỏi và nghĩ, nó tự nhiên
có thứ tự của nó. Cái thứ tự đó cũng xuất phát từ chính các giác quan
cảm nhận của con người. Trước hết là sự kiện, vấn đề, con người, công
trình nào đó tác động vào mắt của nhà báo – có thể gọi đây là giai đoạn
đầu tiên của quá trình tư duy. Sau đó nhà báo hỏi và nghe trả lời để tìm
hiểu thêm về vấn đề đặt ra - đây là giai đoạn thứ hai. Sau đó nhà báo
suy nghĩ, so sánh, đối chiếu, tham khảo thêm nhiều tư liệu rồi mới viết
ra tin, bài phản ánh – giai đoạn thứ ba này có thể coi như đã kết thúc
quá trình lao động sáng tạo trong tư duy của nhà báo ( ở đây là sáng tạo
trong tư duy, vì sau đó còn nhiều sự sáng tạo nữa của nhà báo, và của
tập thể những người làm báo trong các khâu hậu kì và đưa sản phẩm
đến với công chúng ). Đến lượt công chúng, khi tiếp nhận thông tin thì
nhanh nhất cũng là “tôi thấy“, sau đó là “tôi hỏi“ (tự hỏi và “tôi nghe“),
rồi sau nữa là “tôi nghĩ“ ( suy ngẫm ). Như vậy cũng là hoàn tất quá
trình tiếp nhận thông tin trong tư duy của công chúng.

Đối với phát thanh, công chúng chỉ nghe và suy ngẫm. Hơn nữa,
vì nói cho số đông người nghe, việc làm sao để mọi người cùng hiểu
đúng một hướng ngữ nghĩa nhằm tới bản chất của sự vật, hiện tượng,
vấn đề ( theo đúng tiêu chuẩn của tin tức báo chí ) thì không phải là việc
dễ làm. Rõ ràng, tin phát thanh cần có một cách thể hiện đặc thù.

Trên thực tế, tin tức trên làn sóng phát thanh Thời sự của Đài
TNVN mười lăm năm trở lại đây đã có những bước chuyển mạnh theo
xu hướng đó, đặc biệt là những năm gần đây. Sự tích hợp thể loại biểu
hiện như sau :

- Tin phản ánh có tiếng động – có mô tả quang cảnh, nhân vật (tin
tích hợp với ghi nhanh).


17
- Tin thông báo sự kiện – có tiếng nói của người trong cuộc- có
bình luận (tin tích hợp với bình luận).

Ví dụ : Cuối tháng 6/2005, phóng viên ban Thời sự - Đài TNVN
đi theo Thủ tướng Phan Văn Khải sang Mĩ, đêm 25 gửi về một tin
như sau :

Đêm qua theo giờ Hà Nội, Thủ tướng Việt Nam Phan Văn Khải
và các thành viên trong đoàn đại biểu chính phủ nước ta đến thăm
trường đại học Ha-vớt và Viện công nghệ Ma-sa-chu-sét MIT ở thành
phố Bô-xtơn của Mĩ. Theo tin của Hoài Thu, phóng viên Đài Tiếng nói
Việt Nam đi theo đoàn của Thủ tướng vừa điện về thỡ thời tiết lỳc đó ở
Bô-xtơn nắng nhẹ, cây lá xanh tươi.
- Băng Hoài Thu đọc + tđộng NCS VNam ở MIT ( 2 phút
28 giây.8 )
TTTIN/DAXONG/25/6-HThu-PVKhai


Sự mô tả của phóng viên làm cho tin này có chất ghi nhanh. Cũng
đêm đó, người trực Trung Tâm Tin ở nhà cùng với nhận tin của phóng
viên Hoài Thu đã khai thác trên mạng Internet và Đài nước ngoài về dư
luận báo chí quốc tế về chuyến thăm Mĩ của Thủ tướng nước ta, trong
đó có yếu tố bình luận :

Thưa quí vị và các bạn,
Chuyến thăm Mĩ của Thủ tướng Việt Nam Phan Văn Khải tiếp tục
thu hút sự quan tâm của dư luận trên khắp thế giới. Tại Nhật Bản, tờ Japan Times
có bài khẳng định : Nước Mĩ đó mất 2 thập niờn để bỡnh thường hóa

quan hệ với Việt Nam sau khi chiến tranh kết thúc. Cựu Tổng thống Mĩ
Bin Clin-tơn đó cụng nhận rằng những thay đổi ở Việt Nam và khu vực

18
Đông Á khiến cho việc khôi phục quan hệ trở nên thực sự cần thiết.
Thương mại hai chiều Việt – Mĩ từ năm 1995 chỉ đạt 451 triệu đô-la,
nhưng đến năm ngoái đó tăng lên tới 6 tỉ 400 triệu đô-la. Hai nước đó
ký Hiệp định Thương mại song phương vào năm 2001 và Mĩ nhanh
chóng trở thành đối tác thương mại chủ chốt của quốc gia có nền kinh
tế phát triển nhanh vào bậc nhất Đông Nam Á này.
Bỏo Hau-xtơn Crô-ni-cơn của Mĩ ra xó luận về chuyến
thăm Mĩ của Thủ tướng Việt Nam Phan Văn Khải, trong đó có đoạn cho
rằng, tổng thống Mĩ Gioóc-giơ Bu-sơ cần tranh thủ chuyến đi thăm Việt
Nam vào năm sau để khuyến khích người Mĩ nhỡn về tương lai trong
quan hệ 2 nước. Đó sẽ là chuyến thăm chính thức Việt Nam lần thứ hai
của một tổng thống Mĩ.
“ Thủ tướng Việt Nam được tiếp đói như thượng khách",
đó là tựa đề bản tin phát ngày 23/6 của tờ Bưu điện Oa-sinh-tơn ( Mĩ ).
Cũn Thời bỏo Lốt Ăng-giơ-léts bỡnh luận : Tổng thống Gioóc-giơ Bu-
sơ thực sự mong muốn củng cố mối quan hệ an ninh, kinh tế với Việt
Nam. Hóng tin UPI của Mĩ thỡ cho rằng, tốc độ tăng đầu tư và thương
mại của Mĩ tại Việt Nam đó giải thớch tại sao chuyến thăm Mĩ của Thủ
tướng Việt Nam Phan Văn Khải được dư luận Mĩ hoan nghênh./.


- Tin có tiếng nói người trong cuộc – có câu hỏi của phóng viên
(tin tích hợp với phỏng vấn).
- Phản ánh nhanh – có mô tả quang cảnh, nhân vật – có tiếng nói
nhiều chiều của những người khác nhau trong cuộc – có thông tin bên lề
hoặc thông tin liên quan – có luận giải (tích hợp với phóng sự).


Ví dụ :


19
Như tin đó đưa, hôm nay, Đài Tiếng nói Việt Nam và
tỉnh Lạng Sơn công bố chính thức phát sóng phát thanh tần số 101
Mê-ga-héc từ trạm phát 10 ki-lô-oát FM vừa được xây dựng và khánh
thành trên đỉnh núi Mẫu Sơn, thuộc xó Mẫu Sơn, huyện Lộc Bỡnh,
tỉnh Lạng Sơn. Đây là công trỡnh thiết thực chào mừng kỉ niệm 75
năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ; nằm trong chương trỡnh
phủ súng phỏt thanh ở cỏc vựng sõu, vựng xa, vựng lừm mà Đài
Tiếng nói Việt Nam đó và đang thực hiện.
Sau hơn 2 năm khẩn trương thi công, vượt qua nhiều khó
khăn về giao thông và thời tiết khắc nghiệt, một trạm phát sóng phát
thanh 10 ki-lô-oát FM cao 75 mét và nhà điều hành đó mọc lờn trờn
đỉnh núi du lịch Mẫu Sơn nổi tiếng. Đây không chỉ là công trỡnh mang
tớnh kĩ thuật, mà cũn cú ý nghĩa về mặt văn hóa, xó hội đối với đồng
bào các dân tộc ở xó Mẫu Sơn nói riêng, huyện Lộc Bỡnh và tỉnh Lạng
Sơn nói chung. Người dân ở đây thật vui mừng khi được nghe Đài Tiếng
nói Việt Nam với chất lượng sóng tốt hơn trước rất nhiều. Chị Đinh Thị
Phương, người dân tộc Dao ở xó Mẫu Sơn nói:
- Băng chị Phương ( 14 giây )
Trạm phát sóng 10 ki-lô-oát FM tại Mẫu Sơn được đưa
vào hoạt động góp phần đẩy nhanh việc thực hiện mục tiêu của Đài
Tiếng nói Việt Nam là phủ sóng phát thanh với chất lượng tốt trên toàn
bộ lónh thổ trong thời gian sớm nhất. Đối với tỉnh Lạng Sơn và một số
vùng lân cận thuộc các tỉnh khác thỡ đây cũng là một công trỡnh đầy ý
nghĩa. Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn là đồng chí Đoàn Bá
Nhiên cho biết :

- Băng ông Nhiên – P/v hỏi xen ( 40 giõy )
TTTIN/DAXONG/TD TINSONG/
1 CT-TP (THOISU)/27/1-TramFM-MauSon


20
( Thời sự - Đài TNVN phát 27/1/2005 )


- Tin tổng hợp về sự kiện, vấn đề ở nhiều nơi khác nhau, hay tổng
hợp theo dòng thời sự chủ lưu (tích hợp nhiều thể loại khác nhau như
vừa kể).

Ví dụ :
Quớ vị và cỏc bạn thõn mến,
319 tập thể và cá nhân Anh hùng và 689 chiến sỹ thi đua
toàn quốc đó được Nhà nước ta tuyên dương, khen thưởng trong 5
năm qua. Phát biểu hôm qua, trong phiên khai mạc Đại hội thi đua
yêu nước lần thứ 7, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh khẳng định :
“ Đằng sau mỗi tấm gương thi đua là một tấm lũng yờu nước và yêu
chế độ, một nghĩa tỡnh tương thân tương ái với đồng bào, đồng chí và
đồng đội, một quyết tâm làm giàu cho mỡnh và cho đất nước, một ý
chớ vươn lên nắm lấy những hiểu biết mới về khoa học, công nghệ để
lao động có năng suất, chất lượng, hiệu quả ”
Đó là những doanh nhân làm ăn giỏi, thầy thuốc tận tuỵ vỡ người
bệnh, chiến sỹ hy sinh khi làm nhiệm vụ, em học sinh bị chất độc da
cam vượt lên số phận, Huỳnh Anh, phóng viên Đài Tiếng nói Việt
Nam thường trú tại các tỉnh miền Trung phản ánh về vận động viên
khuyết tật Đặng Thị Ngọc Ánh “ với đôi chân tật nguyền từ nhỏ, 9 năm
đi học phải nhờ bạn cừng tới trường, “. Không ai có thể nghĩ Ngọc

Ánh trong Đại hội thể thao Người khuyết tật Đông Nam Á Paragames
năm 2002 lại có thể đoạt được 2 huy chương vàng, 1 huy chương bạc
trong các môn cầu lông và bơi lội. Càng ít người biết đến Ngọc Ánh là
chủ cơ sở may gia công tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, nơi có
hơn năm chục lao động khuyết tật đang ngày đêm góp phần làm đẹp

21
cho cuộc sống, với mức lương chưa phải nhiều nhặn nhưng đảm bảo
thường xuyên và ổn định. Thế nhưng, khi được hỏi về công việc của
mỡnh,chị Đặng Thị Ngọc Ánh chỉ khiêm tốn nói thế này :
- Băng chị Ánh
Trong phong trào thi đua do Đảng và Nhà nước ta phát động và
tổ chức thực hiện thời gian qua, những tấm gương như chị Ánh không
phải là hiếm thấy. Ở đồng bằng sụng Cửu Long, tại thị xó Trà Vinh (
tỉnh Trà Vinh ), nhiều người biết đến thương binh ¼ Lê Văn Tài với
chiếc xe lăn chạy bằng bỡnh ắc qui dành cho người tàn tật. Theo mô tả
của phóng viên Trọng Điển thường trú ở đồng bằng sông Cửu Long thỡ
nguồn gốc sỏng tạo của anh Tài khụng cú gỡ lạ, bởi vỡ nú xuất phỏt từ
chớnh cụng việc sửa chữa xe mỏy hàng ngày, và tấm gương “tàn nhưng
không phế“ của thương binh Lê Văn Tài được nhiều đồng nghiệp nể
phục. Anh Hà Hoàng Khải, một thợ sửa chữa xe hon-đa ở thị xó Trà
Vinh núi : - Băng anh Khải
Không chỉ có những người khuyết tật, thiệt thũi, mà mỗi thành
cụng của một người nông dân, hay anh kĩ sư, cho dù đang lao động sản
xuất ở lĩnh vực nào cũng đều lấp lánh những giọt mồ hôi. Đó là mô tả
của phóng viên Lệ Hằng thường trú tại đồng bằng sông Cửu Long.
Người nông dân được nói đến ở đây là ông Tống Mai Hoa, ở xó Mĩ
Thạnh Đông, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long Anh. Xuất ngũ năm 1982, tài
sản đáng kể của ông Hoa chỉ có một căn lều lợp lá bàng và 2 chiếc
giường tre. Cũn 5 cụng ruộng thỡ nhiễm phốn nặng, làm lỳa chẳng đủ

ăn. Nhờ chịu khó suy nghĩ và quyết tâm, ông Hoa đó nỗ lực thau chua
rửa phốn trờn mảnh đất đầy gian khó này. Bây giờ ông làm lúa mỗi
năm từ 2 đến 3 vụ ; áp dụng nhiều mô hỡnh sản xuất mới như nuôi cá,
tôm càng xanh, trồng sen, chăn nuôi lợn, gà, Hiện nay, trung bỡnh
mỗi năm ông Hoa có thu nhập gần 200 triệu đồng từ mô hỡnh sản xuất

22
kết hợp với chăn nuôi. Về kinh nghiệm vượt khó vươn lên thoát nghèo,
ông Tống Mai Hoa nói : - Băng ông Hoa
Những tấm gương nông dân vượt khó như vậy có thể thấy ở trên
khắp đất nước ta. Chị Hồ Thị Mó, dân tộc Vân Kiều, ở bản Kim Thủy,
huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bỡnh, là người luôn luôn năng động tỡm
hướng đi mới trên mảnh đất quê mỡnh, khụng chỉ làm cho bản thõn mà
cũn gúp phần xúa đói giảm nghèo cho bà con xung quanh. Cộng tác
viên Lê Lựu ở Đài phát thanh và truyền hỡnh Quảng Bỡnh mụ tả : “
Với mụ hỡnh vườn rừng - vườn đồi kết hợp chăn nuôi trâu bũ, làm lỳa
nước, hiện nay tài sản gia đỡnh chị Mú đó lờn tới gần 200 triệu đồng.
Từ sản xuất, gia đỡnh chị thu lói từ 30 đến 35 triệu đồng mỗi năm. Chị
cũn giỳp bà con trong bản giống cõy trồng, vật nuụi và hướng dẫn kĩ
thuật trồng lúa nước, “. Chị Hồ Thị Mó cho biết :
- Băng chị Mó
Cũn nhiều, cũn nhiều những tấm gương như thế, và điển hỡnh về
dự đại hội thi đua yêu nước ở Hà Nội hiện nay có ông Nguyễn Đăng
Nùng, nông dân xó Lam Điền, huyện Chương Mĩ, Hà Tây, từ một nông
dân nghèo vươn lên thành một chủ doanh nghiệp mỗi năm có doanh thu
20 tỉ đồng, giải quyết việc làm cho trên 1.000 lao động nông nhàn, nhân
rộng nghề ra 12 xó, mỗi năm ủng hộ các loại quĩ từ 6 đến 8 triệu đồng.
Hay ông Y Xuân, Uỷ viên Ban chấp hành Hội nông dân xó Đắk Nrung,
huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Lắk, mỗi năm thu 260 triệu đồng sản xuất cà
phê, hồ tiêu và nuôi heo, giúp 12 hộ nghèo vay 70 triệu đồng không lấy

lói để phát triển sản xuất.
Trong lĩnh vực kinh tế, đáng biểu dương là Tổng công ty Khánh
Việt thuộc tỉnh Khánh Hoà tạo việc làm cho 3.300 công nhân, năm
2004 nộp ngân sách hơn 1.000 tỷ đồng, chiếm 1/3 tổng thu ngân sách
trên địa bàn tỉnh. Ông Chu Thế Hưng, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc
Công ty đóng tàu Bạch Đằng, nhiều năm đó lónh đạo tập thể vượt qua

23
nhiều khó khăn, thử thách, trở thành đơn vị đi đầu trong ngành công
nghiệp đóng tàu nước nhà. Kinh nghiệm của Công ty đóng tàu Bạch
Đằng là luôn luôn cố gắng đổi mới công nghệ, phát huy sáng kiến cải
tiến kĩ thuật, đầu tư chiều sâu, ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật. Ông
Chu Thế Hưng cho biết :
- Băng ông Hưng
Trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, nhiều học sinh đó có những
sáng tạo trong học tập và ứng dụng công nghệ mới. Tiêu biểu như em
Nguyễn Khánh Ánh Hoàng, sinh năm 1992 là học sinh lớp 7 A1,
Trường trung học cơ sở Ngô Tất Tố, thành phố Hồ Chí Minh đạt 2 cúp
vàng : Giải thưởng công nghệ thông tin truyền thông chõu Á - Thỏi
Bỡnh Dương tại Băng-cốc ( Thái Lan, năm 2003 ) và Giải thưởng sáng
tạo kỹ thuật dành cho thanh thiếu niên quốc tế tại Tô-ki-ô ( Nhật Bản,
năm 2004 ). Trong lĩnh vực y tế, bác sĩ Nguyễn Thanh Hải là một tấm
gương lớn. Anh là người miền xuôi tự nguyện đến làm việc tại vùng
đồng bào dân tộc thiểu số xó Trà Leng, huyện Bắc Trà Mi, tỉnh Quảng
Nam, đó cứu sống một em bộ sơ sinh, từ đó giúp đồng bào dân tộc xoá
tập tục lạc hậu là khi sinh nở nếu mẹ chết thỡ cựng chụn con theo mẹ.
Cho đến nay anh Hải vẫn khắc phục mọi khó khăn để nuôi cháu bé.
Trong lĩnh vực này cũng phải kể đến thành tích của tập thể cán bộ, y
bác sĩ, nhân viên bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 ( Bộ Y tế ), có nhiều
cố gắng trong việc chăm sóc sức khỏe bệnh nhân. Giám đốc bệnh viện

Nguyễn Văn Thọ cho biết:
- Băng ông Thọ
Lĩnh vực quốc phũng, an ninh, cú những cỏn bộ, chiến sỹ
đó hy sinh thõn mỡnh để hoàn thành nhiệm vụ được giao, giữ yên cuộc
sống của nhân dân. Đó là gương dũng cảm chiến đấu hy sinh của các
liệt sỹ Phạm Xuân Phong, Và Bá Giải, Phạm Văn Điền, Hồ Văn Hà,
Phạm Văn Cường, Hay như tấm gương của trung úy Nguyễn Văn Sơn

24
ở đồn biên phũng Rào Tre, tỉnh Hà Tĩnh, người có nhiều kinh nghiệm
vận động đồng bào dân tộc Chứt ở bản Rào Tre vượt lên khó khăn để
vươn lên trong cuộc sống. Trung úy Nguyễn Văn Sơn nói :
- Băng anh Sơn
Thực tiễn cuộc sống cho thấy, sức thuyết phục mạnh mẽ
của các tấm gương điển hỡnh tiờn tiến thể hiện cụ thể trong nỗ lực vươn
lên vượt qua chính mỡnh, trong công việc hàng ngày, bằng năng suất, chất
lượng, hiệu quả cao trong sản xuất, công tác, chiến đấu, thực hiện thắng lợi nhiệm
vụ kinh tế, xó hội, quốc phũng, an ninh./.

( Thời sự - Đài TNVN phát dịp Đại hội thi đua năm 2005 )


Thực tiễn như vậy là đã và đang đòi hỏi phải mở rộng khái niệm
tin phát thanh. Chưa có sự đúc kết và sự thống nhất về lí luận trong
quan niệm về xu hướng này, nhưng đó là thực tiễn đã và đang diễn ra.
Đã qua lâu rồi cái quan niệm làm tin là dễ nhất, chỉ cần thấy gì nói đấy
là đạt. Và cái khó của người làm tin phát thanh là phải tự rèn luyện
trong thực tiễn và học tập, trau dồi kiến thức để đạt tới cấp độ có thể
hoàn thành lao động sáng tạo trong tư duy ngay ở giai đoạn đầu tiên khi
tiếp xúc với sự kiện, vấn đề đặt ra. Làm thế nào có được một cách

nhanh nhất, chính xác nhất và hiệu quả thông tin đạt mức cao nhất
thông qua các sản phẩm tích hợp như vừa kể ? Đây là việc làm không
phải dễ dàng, đơn giản, càng khó khăn hơn khi đưa tin trực tiếp từ hiện
trường ( tường thuật nhanh, ngắn ; tường thuật tại chỗ ; ). Bởi vì trình
độ dân trí, nhu cầu của công chúng ngày càng phát triển, không thể chỉ
dừng lại ở chỗ nghe thấy là được. Ngay cả nhu cầu đơn giản đó cũng
không phải là nhà báo muốn cho công chúng nghe cái gì cũng được.
Vậy nên, người làm tin phát thanh phải tư duy trước khi tiếp cận sự

25
kiện. Chưa thấy đã phải hình dung trước, rồi suy ngẫm việc hỏi và nghĩ,
nếu không đến nơi không kịp để hỏi và nghĩ nữa ; hoặc hỏi và nghĩ
xong thì thời điểm tiếp cận sự kiện hay nhất đã trôi qua mất rồi.

b) Yêu cầu nâng cao chất lượng thông tin :

Về yêu cầu nâng cao chất lượng thông tin : “ Nhà báo sử dụng
tài liệu, tư liệu gì để viết tin, viết bài thì đó là vấn đề chất lượng “
(1). Vậy nên, có 2 cách nhìn về tác động của việc tăng số lượng thông
tin đầu vào, là việc mà Trung tâm Tin của Đài phát thanh phải thực hiện
thường xuyên và không ngừng : Thứ nhất, việc đó làm tăng khả năng so
______________________
1) Cơ sở hoạt động sáng tạo của nhà báo, Lazutina, NXB Thông
tấn 2003
sánh, lựa chọn, tăng lượng thông tin như là nguồn tài nguyên để mỗi
phóng viên, biên tập viên sản xuất, chế biến ra sản phẩm có chất lượng
hơn. Tuy nhiên, việc này còn tuỳ thuộc khá nhiều vào cách tổ chức sản
xuất và năng lực của phóng viên, biên tập viên ( cả về nhận thức lí luận,
chính trị và kinh nghiệm thực tiễn ). Thứ hai, việc đó làm giảm chất
lượng sản phẩm đầu ra, do cùng một thời gian như trước họ phải nhận,

xử lí, biên tập một số lượng ngày càng tăng, với sức ép của nhu cầu thời
sự ngày càng cao.

Không phải không có quan điểm cho rằng, trước yêu cầu của
nhiệm vụ và sức ép như vậy, công việc làm báo ở Trung tâm Tin không
còn chỗ cho sự sáng tạo. Tuy nhiên, thực tiễn tích hợp thể loại trong tin
phát thanh như vừa phân tích và cả những nghiên cứu lí luận gần đây
đều phủ nhận quan điểm đó. “ Sáng tạo là thuộc tính đặc biệt của
con người, nằm trong khả năng xây dựng một cái gì đó mới một

×