I. Khái quát về tài chính công
1. Khái niệm tài chính công.
Tài chính công là tổng thể các hoạt động thu, chi bằng tiền do Nhà nước tiến hành, nó
phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng các
quỹ công nhằm phục vụ thực hiện các chức năng của Nhà nước và đáp ứng các nhu cầu,
lợi ích chung của toàn xã hội.
2. Đặc điểm của tài chính công.
Tài chính công có 3 đặc điểm chính:
- Gắn liền với sở hữu nhà nước, quyền lực chính trị của nhà nước : Nhà nước là chủ
thể duy nhất quyết định đến quá trình tạo lập và sử dụng quỹ công đặc biệt là quỹ ngân
sách nhà nước. Các quyết định của nhà nước được thể chế bằng luật do cơ quan quyền
lực cao nhất phê chuẩn. Việc tạo lập và sử dụng quỹ công phụ thuộc vào quan điểm của
nhà nước và các mục tiêu kinh tế-xã hội quốc gia đặt ra trong từng thời kì.
- Chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng : Tài chính công phản ánh quan hệ kinh
tế giữa nhà nước với các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế trong việc phân phối
nguồn tài chính quốc gia nên hoạt động tài chính công phản ánh các quan hệ lợi ích giữa
nhà nước với các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế, trong đó lợi ích tổng thể được đặt
lên hàng đầu và chi phối các quan hệ lợi ích khác.
- Hiệu quả của hoạt động thu chi tài chính công không lượng hoá được : Chủ yếu
mang tính chất không hoàn lại trực tiếp nên không thể đánh giá hiệu quả một cách cụ
thể, chính xác. Tuy nhiên, hiệu quả của tài chính công có thể xác định một cách tương
đối thông qua các chỉ tiêu kinh tế-xã hội như tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất
nghiệp, hộ nghèo, tỷ lệ thất học...
3. Vai trò của tài chính công.
Tài chính công hiện đại ngày nay là một phạm trù kinh tế mang tính lịch sử, vì cùng
với quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa – tiền tệ, tài chính công đã tham gia
vào quá trình quản lý nền kinh tế, tức là nhà nước đã khai thác, vận dụng công cụ để
điều hành nền kinh tế - xã hội, thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển.
Chúng ta có thể thấy bản chất của tài chính trong nền kinh tế thị trường là tổng thể hệ
thống những mối quan hệ kinh tế giữa các thực thể tài chính phát sinh trong quá trình
hình thành phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính.
Vai trò của tài chính công luôn gắn liền với vai trò của nhà nước trong từng thời kì
nhất định. Mỗi nhà nước đều có sứ mạng chính trị riêng, có những quan điểm khác nhau
trong việc quản lý điều hành các hoạt động kinh tế xã hội từ đó tài chính công là một
trong các công cụ được nhà nước sử dụng nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của
nhà nước phù hợp với từng thời kì. Có thể khẳng định 1 điều rằng vai trò của tài chính
công là không thể phủ nhận. Xét ở góc độ vĩ mô tài chính có hai vai trò chủ đạo sau :
3.1. Đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước.
- Tài chính công được sử dụng để huy động một phần nguồn tài chính của quốc gia
thông qua đống góp bắt buộc hoặc tự nguyện của cách chủ thể trong nền kinh tế tạo lập
quỹ tài chính công. Tài chính công phân phối sử dụng nguồn tài chính huy động từ các
quỹ công để phục vụ đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu của nhà nước.như: Phân phối sản
phẩm quốc dân theo hướng tích lũy để ổn định và phát triển kinh tế đồng thời cung cấp
các nguồn vốn để thỏa mãn các yêu cầu về hàng hóa và dịch vụ công cộng mà tài chính
của khu vực tư nhân không thể thực hiện được do một số đặc điểm đặc biệt của hàng
hóa công, xây dựng cơ sở hạ tầng , cơ sở pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu
tư trong và ngoài nước, tạo nên một môi trường cạnh tranh lành mạnh giữ a các doạnh
nghiệp giúp nền kinh tế vận hành một cách hiệu quả nhất. ngoài ra từ các quỹ tài chính
công nhà nước có thể tăng cường duy trì bộ máy quản lý nhà nước tăng cường sức mạnh
của nhà nước để đảm bảo giữ vững nền độc lập tự chủ , cũng như an ninh quốc phòng
của đất nước.
- Tài chính công còn được sử dụng để kiểm tra giám sát các hoạt động kinh tế xã hội
thông qua các cơ qua nhà nước có thẩm quyền như : ủy ban chứng khoán nhà nước, các
tổ chức giám sát tài chính quốc gia , .. để từ đó nâng cao hiệu quả quản lý và điều hành
của nhà nước . Từ các hoạt động này tài chính công đã tạo ra nguồn tài chính một cách
kịp thời để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên của nhà nước giúp cho bộ máy nhà
nước được vận hành hiệu quả.
- Tài chính công có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động quản lý xã hội của Nhà
nước :
+ Tài chính công góp phần to lớn vào việc phát triển kinh tế đất nước; điều chỉnh cơ
cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hội nhập. Chính nhờ sử dụng có tính toán một cách
khoa học các nguồn ngân sách sẽ phát huy cao độ vai trò thúc đẩy xã hội đi lên, đặc biệt
là các công trình chung về kết cấu hạ tầng xã hội.
+ Tài chính công góp phần to lớn vào việc nâng cao an sinh phúc lợi cho xã hội, thực
hiện tốt các cam kết về quyền con người của Liên hiệp quốc, xoá dần hố sâu ngăn cách
giàu nghèo phi lý; ổn định xã hội, nâng cao uy tín của nhà nước và sự đồng thuận của xã
hội.
+ Tài chính công góp phần to lớn vào việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nguồn nhân
lực có chất lượng cao của xã hội; cải thiện tốt mối quan hệ quốc tế, góp phần hội nhập
và nâng cao uy tín đất nước trước cộng đồng quốc tế.
+ Tài chính công là thước đo trình độ, bản lĩnh, tầm nhìn, nhân cách của những người
lãnh đạo đất nước; thể hiện ở hiệu lực và hiệu quả quản lý xã hội của Nhà nước.
3.2. Điều tiết vĩ mô các hoạt động kinh tế xã hội.
Vai trò này được thể hiện thông qua việc nhà nước đã khai thác, vận dụng các công cụ
tài chính để điều hành nền KT-XH, thúc đẩy KT-XH phát triển. Nền kinh tế đặc biệt là
kinh tế thị trường với những ưu điểm về khả năng sang tạo ra hàng hóa, dịch vụ phong
phú, thực hiện được sự phát triển thịnh vượng. Về kinh tế, khuyến khích lực lượng sản
xuất phát triển, thức đẩy quá trình tích lũy và tập trung. Trong các công cụ quản lí điều
tiết của nhà nước thì công cụ tài chính đóng vai trò chủ yếu.
1. Thúc đẩy kinh tế tăng trưởng ổn định, bền vững.
Tài chính công đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
đảm bảo kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững. Với chúc năng phân bổ nguồn lực tài
chính thông qua quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tài chính công, tài chính công tác động
đến việc phân bổ và góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính trong toàn
bộ nền kinh tế. Công cụ thuế với các mức thuế suất và ưu đãi khác nhau đối với từng
loại sản phẩm ngành nghề từng vùng lãnh thổ,… tài chính công có vai trò định hương
đầu tư điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế kích thích hoặc hạn chế phát triển sản xuất kinh
doanh theo từng loại sản phẩm. Với việc phân bổ nguồn tài chính cho đầu tư xâu dựng
cơ sở hạ tầng, đầu tư vào các ngành nghề then chột các công trình mũi nhọn, hỗ trơ tài
chính cho các thành phần kinh tế trong các trường hợp cần thiết như trọ giá, trợ cấp…
tài chính công góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh hình
thành và hoàn thiện cơ cấu sản xuất nhằm thúc đẩy kinh tế tăng trưởng. Cùng với việc
thúc đẩy kinh tế tăng trưởng tài chính công còn có vai trò quan trọng trong việc bình ổn
kinh tế vĩ mô như: đảm bảo tốc tộ tăng trưởng kinh tế hợp lí, duy trì việc sử dụng lao
động ở tỉ lệ cao, hạn chế sự tăng giá đột ngột đồng loạt và kéo dài…. Vai trò này đước
thực hiện thông qua các biện pháp như: tạo lập và sử dụng quĩ dự trữ quốc gia, quỹ hỗ
trợ làm việc điều chỉnh thueea, điều chỉnh chi tiêu chính phủ, phát hành trái phiếu,….
2. Thực hiện CBXH và giải quyết các vấn đề XH.
Tài chính công đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện CBXH và giải quyêt các
vấn đề xã hội, Vai trò này được thể hiện thong qua việc sử dụng các công cụ thu, chi
của tài chính công để điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp nhân dân, giảm bớt những
bất hợp lí trong phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng và giải quyết các vấn đề xã hội,
đáp ứng được những vấn đề xã hội của nền kinh tế vĩ mô.
Một trong những tiêu chí để đánh giá mức độ phát triển của nền kinh tế xã hội đó là
mức sống của dân cư, mặt bằng về văn hóa, phúc lợi xã hôi. Nhu cầu vê các hàng hóa
dịch vụ công với chất lượng cao như: giáo dục, y tế, văn hóa và các dịch vụ xã hội khác
ngày càng tăng lên cùng với sự phát trieenrcuar kinh tế, văn minh của xã hội đòi hỏi nhà
nước phải tăng cường đầu tư công. Hằng năm, phân bổ nguồn lực tài chính công để thức
hiện các biện pháp trong sự nghiệp giáo dục đòa tạo (phổ cập giáo dục), sự nghiệp y tế
(chương trình y tế cộng đông). Sự nghiệp văn hóa xã hội được thực hiện thông qua các
khoản chi tiêu công. Ngoài ra nhà nước còn có những khoản chi tiêu công liên quan đến
phúc lợi, an sinh xã hội,… nhằm nâng cao mức sống người dân.
Kinh tế phát triển tăng cường kéo theo sự chênh lệch thu nhập giữa các vùng miền,
vùng dân cư càng tăng. Để thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt khoảng cách giữa
người giàu và người nghèo, chính phủ sử dụng những chính sách tài chính công thong
qua công cụ thuế và chi tài chính công. Thuế trực thu mà cụ thể là thuế thu nhập cá nhân
lũy tiến từng phần có vai trò điều tiết mạnh thu nhập của những người ó thu nhập cao và
điều tiết ở mức hợp lí đối với các cá nhân có thu nhập trung bình hoặc thấp. Bên cạnh
đó cón có thuế gián thu như: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT, thuế xuất nhập khẩu có
vai trò điều tiết thu nhập thực tế, có khả năng thanh toán của dân cư bằng việc đánh
thuwa cao với hàng hóa dịch vụ cao cấp, đánh thuế thấp với các mặt hàng dịch vụ thiết
yếu đảm bảo đời sống dân cư. Với các chính sách trợ ấp trợ giá chi các chương trình
mục tiêu sẽ làm giảm bớt khó khăn của người nghèo, những người thuộc diện đối tượng
khó khăn,… thường phát huy tác dụng cao vì đối tượng được hưởng rất dễ xác định.
Tuy nhiên điều tiết thu nhập của dân cư cần chú ý mức độ chênh lệch vừa phải để tạo
điều kiện cho các cá nhân có thu nhập chính đáng được hưởng thu nhập u của mình,
không cao bằng thu nhập thông qua phân phối tài chính.
Như vậy về mặt xã hội tài chính công là 1 công cụ quan trong đc nhà nước sử dụng để
khắc phục những khuyết tật vốn có của nền kinh tế thị trường, hướng tới việc xây dựng
1 xã hội tiến bộ phát triển, văn minh và lành mạnh.
II.Vai trò của tài chính công ở Việt Nam từ năm 2008 – 2010
2. Điều tiết vĩ mô các hoạt động kinh tế - xã hội.
a) Kinh tế.
- Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững.
Công cụ thuế suất với các mức thuế khác nhau đối với từng loại sản phẩm,
ngành nghề, vùng lãnh thổ, tài chính công có vai trò định hướng đầu tư, điều
chỉnh cơ cấu của nền kinh tế, kích thích hoặc hạn chế phát triển sản xuất kinh
doanh theo từng loại sản phẩm.
Thực hiện chiến lược, hệ thống chính sách thuế được sửa đổi, bổ sung đã
góp phần đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng khá, bình quân 7% năm
Tỷ lệ động viên thu ngân NSNN bình quân đạt 23% GDP (không bao gồm
yếu tố tăng giá, do giá dầu thô ở mức cao và thu từ đất đai) so với mục tiêu
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đặt ra là 21 - 22% GDP, trong đó động
viên từ thuế và phí vào ngân sách nhà nước bình quân đạt 22% GDP so với
mục tiêu Chiến lược cải cách hệ thống đến năm 2010 đặt ra là 20 - 21% GDP.
Tốc độ tăng thu từ thuế, phí và lệ phí vào NSNN bình quân hàng năm đạt
19,6%. Cơ cấu thu NSNN được cải thiện theo chiều hướng tích cực đảm bảo
tính ổn định, bền vững, nguồn thu từ sản xuất kinh doanh trong nước tăng dần
qua các năm và ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu NSNN
Thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay là 25%.
Thuế tiêu thụ đặc biệt với các mức thuế khác nhau tùy thuộc vào từng loại
hàng hóa.
BIỂU THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
STT Hàng hoá, dịch vụ
Thuế suất (%)
I
Hàng hoá
1
Thuốc lá điếu, xì gà và các chế phẩm khác từ cây thuốc lá 65
2
3
Rượu
a) Rượu từ 20 độ trở lên:
Từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 đến hết ngày 31 tháng 12
45
năm 2012
Từ ngày 01 tháng 01 năm 2013
50
b) Rượu dưới 20 độ
Bia
25
Từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 đến hết ngày 31 tháng 12
45
năm 2012
Từ ngày 01 tháng 01 năm 2013
50
Xe ô tô dưới 24 chỗ
a) Xe ô tô chở người từ 9 chỗ trở xuống, trừ loại quy định
tại điểm 4đ, 4e và 4g Điều này”:
Loại có dung tích xi lanh từ 2.000 cm3 trở xuống
45
Loại có dung tích xi lanh trên 2.000 cm3 đến 3.000 cm3
Loại có dung tích xi lanh trên 3.000 cm3
b) Xe ô tô chở người từ 10 đến dưới 16 chỗ, trừ loại quy
định tại điểm 4đ, 4e và 4g Điều này
c) Xe ô tô chở người từ 16 đến dưới 24 chỗ, trừ loại quy
định tại điểm 4đ, 4e và 4g Điều này
d) Xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng, trừ loại quy định
tại điểm 4đ, 4e và 4g Điều này
4
50
60
30
15
15
Bằng 70% mức
thuế suất áp
đ) Xe ô tô chạy bằng xăng kết hợp năng lượng điện, năng dụng cho xe
lượng sinh học, trong đó tỷ trọng xăng sử dụng không quá cùng loại quy
70% số năng lượng sử dụng.
định tại điểm
4a, 4b, 4c và
4d Điều này
e) Xe ô tô chạy bằng năng lượng sinh học
Bằng 50% mức
thuế suất áp
dụng cho xe
cùng loại quy
định tại điểm
4a, 4b, 4c và
4d Điều này
g) Xe ô tô chạy bằng điện
5
Loại chở người từ 9 chỗ trở xuống
25
Loại chở người từ 10 đến dưới 16 chỗ
15
Loại chở người từ 16 đến dưới 24 chỗ
10
Loại thiết kế vừa chở người, vừa chở hàng
10
Xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi lanh
20
trên 125cm3
6
Tàu bay
30
7
Du thuyền
30
8
Xăng các loại, nap-ta, chế phẩm tái hợp và các chế phẩm
khác để pha chế xăng
10
9
Điều hoà nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống
10
10
Bài lá
40
11
II
1
2
3
4
5
6
Vàng mã, hàng mã
Dịch vụ
Kinh doanh vũ trường
Kinh doanh mát-xa, ka-ra-ô-kê
Kinh doanh ca-si-nô, trò chơi điện tử có thưởng
Kinh doanh đặt cược
Kinh doanh gôn
Kinh doanh xổ số
70
40
30
30
30
20
15
+ Công cụ chi tiêu tài chính công, với việc phân bổ nguồn tài chính cho đầu tư
xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư vào các ngành then chốt, các công trình mũi
nhọn, hỗ trợ tài chính cho các thành phần kinh tế trong các trường hợp cần
thiết.
Định hướng đầu tư điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế kích thích hoặc hạn chế phát
triển sản xuất:
Tình hình phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách Nhà nước, giai
đoạn 2007 – 2010: Cụ thể, từ mức 51,7% năm 2007, mức chi đầu tư từ ngân
sách Nhà nước cho lĩnh vực kinh tế so với tổng chi đầu tư phát triển trong năm
2010 đã giảm xuống 46,3%... Đây là tín hiệu đáng mừng vì giảm đầu tư từ ngân
sách vào kinh tế thực chất là điều tiết bớt “rót” tiền ngân sách vào các đơn vị
kinh tế thuộc sở hữu nhà nước - vốn có tỷ lệ đóng góp cho ngân sách chưa tương
xứng với tỷ trọng đầu tư từ ngân sách. Tuy nhiên, riêng các ngành giao thông,
nông, lâm ngư nghiệp vẫn được ưu tiên đầu tư từ ngân sách để hoàn thiện hệ
thống kết cấu hạ tầng yếu kém. Từ mức 18% năm 2007, đầu tư cho nông, lâm,
ngư nghiệp và thủy lợi đã tăng lên, chiếm 20,5% trong tổng chi đầu tư phát triển
năm 2010. Tỷ trọng đầu tư cho giao thông vận tải cũng tăng từ 21% lên 22,6%.
Trái với kinh tế, tỷ trọng chi đầu tư phát triển cho lĩnh vực xã hội đã tăng từ
43,4% năm 2007 lên 49,1% năm 2010. Trong đó, giáo dục và đào tạo tăng từ
12,2% lên 17,4%.
Cũng trong giai đoạn 2007 - 2010, theo phân cấp, tỷ trọng đầu tư do địa
phương quản lý đã tăng từ 60,8% lên 69,8%. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn
ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý được hình thành từ nguồn đầu tư
trong cân đối của các địa phương và các khoản hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách
Trung ương.
Về vấn đề trợ cấp giá xăng dầu: Trước đây, chính phủ thường có chính sách trợ
cấp giá xăng dầu. Nhưng từ nhiều năm gần đây, Chính phủ đã xác định việc xóa
bỏ trợ giá xăng dầu. Đặc biệt từ năm 2008 các biện pháp kiên quyết mới được
áp dụng. Trợ giá đã trở nên gánh nặng quá sức cho ngân sách, những bất công
bằng của trợ giá ngày càng hiện rõ, và những hậu quả của trợ giá đang làm cho
hiệu quả kinh doanh bị biến dạng.
Biện pháp bỏ trợ giá xăng dầu sẽ giải phóng hàng chục ngàn tỉ đồng ngân sách
để chi vào những chương trình mà người nghèo được hưởng nhiều hơn, hoặc ít
nhất cũng được hưởng một cách công bằng hơn.
- Tài chính công với vai trò ổn định kinh tế vĩ mô.
Cùng với việc thúc đẩy kinh tế tăng trưởng tài chính công còn có vai trò quan
trọng trong việc bình ổn kinh tế vĩ mô như: đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế
hợp lý, duy trì việc sử dụng lao động ở tỷ lệ cao, hạn chế sự tăng giá đột ngột
đồng loạt và kéo dài… Vai trò này được thực hiện thông qua các biện pháp như
tạo lập và sử dụng quỹ dự trữ quốc gia, quỹ hỗ trợ việc làm điều chỉnh thuế điều
chỉnh chi tiêu chính phủ, phát hành trái phiếu… Chúng ta có thể thấy vai trò này
thông qua hoạt động dữ trữ quốc gia. Hoạt động dự trữ quốc gia hoàn toàn
không vì mục tiêu lợi nhuận. Nó tác động đến mặt cung hoặc cầu của thị trường.
Khi vào vụ mùa, người trồng lúa được mùa. Nhưng nó lại làm cho giá bán
xuống thấp vì cung tăng mạnh. Chính phủ tung tiền ra mua với mức giá hợp lý
để đảm bảo dự trữ và giá không rớt xuống nữa. Ngày 20-6-2008, Thủ tướng
Chính phủ quyết định giao Bộ Tài chính trích 440 tỷ đồng từ nguồn dự phòng
ngân sách trung ương năm 2008 để mua 70.000 tấn lương thực tăng dự trữ quốc
gia. Ngoài ra, theo website Chính phủ, 11 tỷ đồng từ nguồn chi sự nghiệp kinh
tế năm 2008 sẽ được chi cho phí nhập và bảo quản số lương thực này. Nhờ có
động thái của chính sách tài chính công mà người tiêu dùng hay người sản xuất
có thể yên tâm về lợi ích của mình được đảm bảo.
Khi gia nhập WTO chúng ta nhà nước đã giúp đỡ cho các doanh nghiệp bằng
các bảo hộ mậu dịch thương mại, hàng rào thuế quan… để cho những doanh
nghiệp nhỏ lẻ của chúng ta có thể có điều kiện tạo lập vững mạnh hơn. Có thể
lấy ví dụ cụ thể khi ngành ô tô trong nước của chúng ta mới chỉ dừng lại ở lắp
ráp, nhà nước đã tìm cách để cho nền công nghiệp ô tô của chúng ta có thể
đương đầu với ô tô ngoại nhập. Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu… đã làm
cho nền công nghiệp ô tô có thể vươn vai để phát triển. Nhưng nền công nghiệp
ô tô trong nước vẫn lẹt đẹt, có trách thì trách chính họ khi đã quá dựa dẫm vào
cơ hội mà nhà nước dành cho. Không thể phát huy được ưu thế của mình, làm
cho nền công nghiệp ô tô chưa thể phát triển với những gì mà chúng ta mong
muốn chờ đợi. Hay như trong trường hợp để tạo việc làm cho người lao động
chính phủ đã sử dụng quỹ hỗ trợ việc làm, hộ trợ lãi suất cho vay, hỗ trợ đào tạo
nghề… Liên bộ Tài chính, Lao động-Thương binh và Xã hội vừa có thông tư
liên tịch hướng dẫn thực hiện đề án “Hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất
khẩu lao động giai đoạn 2009-2020”. Theo đó, từ ngày 24-10, người lao động
sinh sống tại huyện nghèo (có hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú đủ 12 tháng trở
lên) được hỗ trợ kinh phí để đi xuất khẩu lao động. Cụ thể, người lao động đã tốt
nghiệp từ bậc tiểu học trở lên, cần bổ túc thêm về văn hóa được hỗ trợ toàn bộ
học phí, tài liệu học tập, chi phí sinh hoạt trong thời gian học. Về hỗ trợ đào tạo
nghề, ngoại ngữ sẽ thực hiện theo hai mức: người dân tộc thiểu số được hỗ trợ
toàn bộ kinh phí; các đối tượng khác được hỗ trợ 50%.
Thông tư cũng quy định người lao động thuộc các hộ nghèo, người dân tộc
thiểu số đi xuất khẩu lao động được vay vốn với lãi suất bằng 50% lãi suất cho
vay hiện hành của Ngân hàng Chính sách xã hội…
Với những chính sách gắn liền với tài chính công nhà nước đã phát huy vai trò
quan trọng trong việc ổn định kinh tế hạn chế đà suy giảm kinh tế trước các tác
động của khủng hoảng tài chính toàn cầu trước đó và vừa qua. Dù chịu tác động
bất lợi của suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng Việt Nam vẫn đạt được tăng trưởng
ở mức 4,5% năm 2009 và hồi phục 6,5% trong năm 2010.
b. Xã hội.
Tài chính công đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã
hội và giải quyết các vấn đề xã hội.
Vai trò thực hiện công bằng xã hội:
Để thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và
người nghèo, chính phủ sử dụng tài chính công thông qua công cụ thuế và chi
tài chính công.
Thuế:
Thuế trực thu mà cụ thể là thuế thu nhập cá nhân với thuế suất lũy tiến từng
phần có vai trò điều tiết mạnh thu nhập của từng người có thu nhập cao và điều
tiết ở mức độ hợp lý đối với các cá nhân có thu nhập trung bình. Thuế thu nhập
doanh nghiệp cũng góp phần điều chỉnh thu nhập của các chủ thể đầu tư thông
qua thuế suất tỉ lệ cố định. Thuế gián thu có vai trò: Điều tiết thu nhập thực tế có
khả năng thanh toán của dân cư bằng việc đánh thuế cao với hàng hóa dịch vụ
cao cấp, đánh thuế thấp với các mặt hàng dịch vụ thiết yếu đảm bảo đời sống
dân cư .
Biểu thuế lũy tiến từng phần áp dụng với thu nhập từ tiền công, tiền
lương:
Bậc
Thuế
Phần thu nhập tính
thuế/năm(triệu
Đồng)
Phần thu nhập tính
thuế/tháng (triệu Đồng)
Thuế Suất
(%)
1
Đến 60
Đến 5
5
2
Trên 60 đến 120
Trên 5 đến 10
10
3
Trên 120 đến 216
Trên 10 đến 18
15
4
Trên 216 đến 384
Trên 18 đến 32
20
5
Trên 384 đến 624
Trên 32 đến 52
25
6
Trên 624 đến 960
Trên 52 đến 80
30
7
Trên 960
Trên 80
35
Chi tài chính công:
- Trợ cấp là việc chính phủ hay bất kì một cơ quan công cộng nào cung cấp
sự giúp đỡ về tài chính hoặc các nhu yếu phẩm cần thiết cho cá nhân hoặc tập
thể nhằm giúp đỡ họ vượt qua khó khăn và đạt được mục tiêu an sinh xã hội.
Một số loại hình trợ cấp phổ biến hiện nay:
+ Trợ cấp thôi việc
+ Trợ cấp người cao tuổi
+ Trợ cấp thương binh liệt sĩ
- Trợ giá là chính sách của nhà nước nhằm khuyến khích doanh nghiệp sản
xuất nhiều hơn và giữ giá cả ít biến động mạnh.
+ Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính thực
hiện tốt chính sách hỗ trợ giá điện cho các hộ nghèo và triển khai thực hiện
ngay chính sách trợ cấp khó khăn cho các đối tượng có thu nhập thấp theo
Quyết định số 471/QĐ-TTg ngày 30 tháng 3 năm 2011 của Thủ tướng Chính
phủ, bảo đảm kịp thời, đúng đối tượng; phối hợp với các bộ, cơ quan, địa
phương quan tâm ổn định đời sống cho công nhân ở các khu kinh tế, khu công
nghiệp, nơi tập trung nhiều lao động; sớm nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính
sách hỗ trợ để người lao động yên tâm sản xuất, bảo đảm cuộc sống trong điều
kiện giá cả tăng cao, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
+ Giá điện đối với hộ nghèo có thu nhập thấp thường xuyên có mức sử dụng
điện không quá 50 kWh/tháng (993đ/kWh chưa có VAT) với mức hỗ trợ 30.000
đồng/hộ/tháng
+ Nếu trong 3 tháng liên tục, các hộ sử dụng điện vượt quá trên 155kWh, bên
bán điện sẽ tự động chuyển hộ đó sang áp dụng giá điện cho hộ bình thường kể
từ tháng tiếp theo với giá từ 1.242 đồng/kWh trở lên
- An sinh xã hội :
Vai trò cuả TCC ở nước ta hiện nay còn được biểu hiện rất rõ qua việc thực
hiện có kết quả bảo đảm an sinh xã hội, quan tâm chăm lo cho người nghèo, các
đối tượng chính sách, những vùng khó khăn; các lĩnh vực văn hóa xã hội có
bước phát triển mới :
+ Chương trình 135
+ Chương trình 134
+ Chương trình 30a
+ Hỗ trợ người nghèo ăn tết
+ Hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo
+ Hỗ trợ lãi suất vay mua vật liệu xây dựng ở khu vực nông thôn
+ Xây dựng các công trình lấp nước trên các đảo có đông dân cư, vùng đồng
bào dân tộc thiểu số.
- Giải quyết các vấn đề xã hội:
Để giải quyết các vấn đề xã hội tài chính công thông qua việc tài trợ cho phát
triển các dịch vụ công cộng thuộc các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, đặc biệt
là tài trợ cho các chương trình chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình,
phòng chống các tệ nạn xã hội, hỗ trợ tài chính cho giải quyết việc làm.
- Dân số :
Tình trạng dân số nước ta vẫn đứng trước những thách thức to lớn:
+ Quy mô dân số lớn .
+ Tốc độ gia tăng dân số nhanh .
+ Kết quả giảm sinh chưa thật vững chắc .
+ Chất lượng dân số thấp .
+ Mật độ dân số cao và phân bố chưa hợp lí .
Dân số trung bình phân theo giới tính và phân theo thành thị, nông
thôn:
Năm
Tổng số
Phân theo giới tính
2008
2009
85118,7
86025,0
Nam
41956,1
42523,4
2010
86927,7
42990,7
Nữ
43162,6
43501,6
43937,0
Phân theo thành thị nông
thôn
Thành thị
Nông thôn
24673,1
60445,6
25584,7
60440,3
26224,4
60703,3
Tốc độ tăng (%)
Năm
2008
Tổng số
1,07
Phân theo giới tính
Phân theo thành thị,
nông thôn
Nam
Nữ
Thành thị
Nông thôn
1,23
0,92
3,90
-0,04
2009
1,06
1,35
0,79
3,69
-0,01
2010
1,05
1,10
1,00
2,50
0,44
Cơ cấu (%)
Năm
Tổng số
Phân theo giới tính
Phân theo thành thị,
nông thôn
Nam
Nữ
Thành thị
Nông thôn
2008
100,00
49,29
50,71
28,99
71,01
2009
100,00
49,43
50,57
29,74
70,26
2010
100,00
49,46
50,54
30,17
69,83
- Phương hướng, biện pháp của chính phủ:
+ Tăng cường công tác lãnh đạo và quản lý, tổ chức tốt bộ máy làm công tác
dân số từ Trung ương đến cơ sở, tăng cường sự lãnh đạo và sự phối hợp giữa
các cấp các ngành đối với công tác dân số.
+ Làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền giáo dục.
+ Nâng cao sự hiểu biết của người dân về vai trò của gia đình, bình đẳng giới,
sức khỏe sinh sản, góp phần nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và
tinh thần.
+ Nhà nước đầu tư đúng mức cho công tác dân số, thực hiện xã hội hóa công
tác dân số.
- Việc làm :
Giải quyết việc làm là một chính sách xã hội cơ bản, là yếu tố quyết định để
phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh hóa xã
hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân, khuyến
khích làm giàu hợp pháp.
+ Năm 2010 quỹ bảo hiểm thất nghiệp đã chi trả trên 550 tỷ đồng
+ So sánh năm 2010 với năm 2009 tỷ lệ thất nghiệp chung đã giảm 0,02%
+ Năm 2010, cả nước chỉ có khoảng 300 người thất nghiệp được hỗ trợ đào tạo
nghề
+ Bảo hiểm thất nghiệp gặp nhiều rào cản
- Thành tựu: Chính phủ đã ban hành những chính sách nhằm mở rộng sản
xuất, dịch vụ, đa dạng hóa ngành nghề nên tạo được nhiều việc làm mới (chỉ
tiêu: giải quyết 1.2 triệu việc làm/năm)
- Hạn chế: tình trạng thiếu việc làm vẫn là vấn đề bức xúc ở nông thôn và
thành thị.
- Phương hướng và biện pháp cơ bản để giải quyết việc làm:
+ Thúc đẩy phát triển sản xuất và dịch vụ
+ Khuyến khích làm giàu hợp pháp, tự do hành nghề
+ Đẩy mạnh xuất khẩu lao động
+ Sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn giải quyết việc làm
- Tiền lương :
Lương tối thiểu đã tăng lên 830.000 đồng/tháng (áp dụng từ 1/5/2011) chẳng
làm cho những đối tượng được hưởng mức tăng có cảm giác vui, mà ngược lại
nhiều người đang cảm thấy lo lắng.
Trên thực tế, mức lương tăng chỉ khoảng 15% lương cơ bản, trong khi đó, từ
nhiều ngày trước thời điểm tăng lương, giá cả hàng hóa đều đã tăng từ 30-80%
với lý do được đưa ra rất ngắn gọn nhưng cũng đầy “thuyết phục”: xăng tăng
giá, lương tăng lên.
- Giải pháp :
+ Nâng cao chất lượng và hiệu quả bộ máy công vụ, các chính sách về giá, đảm
bảo công bằng.
+ Tăng lương một cách hợp lý,Tăng lương phải đi kèm với các giải pháp kiểm
soát thị trường.
+ Quy định mức lương tối thiểu chung, trên cơ sở đó thỏa thuận hình thành
mức lương tối thiểu ngành.
- Y tế :
Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức
khoẻ nhân dân để không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống và chất lượng
nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa.
+ Chi cho công tác phòng bệnh: bao gồm các khoản chi nhằm bảo đảm điều
kiện hoạt động của các viện nghiên cứu, phòng khám, trạm chuyên khoa.
+ Chi cho công tác chữa bệnh: là khoản chi quan trọng nhất nhằm duy trì sự
hoạt động của hệ thống các bệnh viện, bệnh xá, nhà điều dưỡng.
+ Chi cho các chương trình quốc gia về y tế: chương trình phòng chống bướu
cổ, phòng chóng sốt rét, dân số và kế hoạch hóa gia đình
+ Các khoản chi sự nghiệp y tế khác.
- Thành tựu :
+ Đưa ra các đề án thích hợp: ví dụ như Đề án 1816 "Cử cán bộ chuyên môn
luân phiên từ bệnh viện tuyến trên về hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới nhằm
nâng cao chất lượng khám chữa bệnh".
+ Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại các vùng nghèo ngày càng phát triển dưới
nhiều hình thức như thiết lập các tổ, đội y tế lưu động đi khám, chữa bệnh, các
hoạt động phòng bệnh theo định kỳ ở các thôn, bản.
+ Việt Nam đã được biết đến như một điểm sáng trong phòng, chống
HIV/AIDS, đạt được mục tiêu của Chiến lược quốc gia phòng, chống
HIV/AIDS đề ra là tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư ở mức dưới 0,3%
và từng bước hoàn thành một cách vững chắc mục tiêu thiên niên kỷ.
+ Việt Nam được Tổ chức Y tế Thế giới và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc đánh
giá là quốc gia có tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em giảm nhanh nhất trong khu vực.
Bảng tỷ lệ chi cho YTDP giai đoạn 2008 - 2010
Tỷ lệ chi cho YTDP
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
TT
Nội dung chi
cho YTDP
1
Không bao gồm chi trạm y tế xã
12,9 %
18 %
15,6 %
2
Bao gồm chi trạm y tế xã
14,2 %
26,1 %
25,7 %
- Thực trạng hiện nay:
+ Thực trạng hiện nay các cơ sở y tế khu vực đã xuống cấp, không đáp ứng
được nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe của người dân.
+ Tình trạng quá tải giường bệnh (đặc biệt tại các bệnh viện trung ương) đã bất
cập từ rất lâu nhưng chưa được giải quyết.
+ Trong khi các bệnh dịch” cổ điển “ như : tiêu chảy cấp, sốt xuất huyết vẫn
hoành hành thì y tế dự phòng lại được đầu tư rất thấp chỉ chiếm 10-12% trong
đầu tư y tế trong khi khuyến cáo của WHO là tối thiệu 30%.
+ Việc quản lí thực hiện các chính sách nhà nước chưa được thực hiện đúng và
kiểm tra thường xuyên.
- Giáo dục :
Chính phủ nước ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến giáo dục, không ngừng
nâng cao phương pháp đào tạo để có nguồn nhân tài cho xã hội.
Đưa ra các loại hình ĐT - GD hiệu quả, tiên tiến, phù hợp với từng thời kì và
đáp ứng được nhu cầu hiện tại của đất nước và thế giới.
Chính sách phổ cập giáo dục, theo đó các đối tượng được ưu tiên sẽ được
hưởng chính sách hỗ trợ; ví dụ như học sinh thuộc diện chính sách được miễn
hoặc giảm 100% học phí…
Chính sách cho sinh viên vay vốn với lãi suất thấp.
Cải thiện cơ sở hạ tầng, đầu tư trang thiết bị học tập, tạo điều kiện học tập hiệu
quả.
Năm
Tổng chi
ngân sách
nhà nước
(tỉ đồng)
2008
2009
398980
491300
23,14
54060
67300
2010
582200
18,5
84700
Tỉ lệ tăng chi
NSNN (%)
Chi cho sự
nghiệp giáo
dục
(tỉ đồng)
Tỉ lệ tăng
chi NSNN
cho giáo
dục
Tỉ lệ phần
trăm trên
tổng chi
(%)
24,55
13,55
13,7
25,8
14,55
2011
725600
22,9
110130
30
15,18
Cả nước hiện nay đang có 1,7 triệu sinh viên đại học và cao đẳng thì đã có tới
800.000 em đựơc Nhà nước cho vay để đi học (47%), trong khi tỷ lệ người
nghèo trên cả nước là 15%.
Năm 2010, 1,9 triệu lượt HS, SV được vay vốn hỗ trợ học tập. Việt Nam thuộc
nhóm nước có tỷ lệ chi cho giáo dục cao nhất trế giới
- Bất cập trong chi tiêu tài chính công cho giáo dục :
+ Định mức phân bổ NSGD chưa gắn chặt với việc đảm bảo chất lượng đào tạo
(đội ngũ nhà giáo, điều kiện về cơ sở vật chất...).
+ Một số chính sách về miễn, giảm học phí và học bổng hiện nay đã thể hiện là
không còn hợp lý.
+ Mức chi đầu tư xây dựng cơ bản còn rất thấp so với nhu cầu rất lớn của
ngành.
+ Việc quản lý ngân sách giáo dục rất phân tán, ko đánh giá được hiệu quả đầu
tư.
Đề án Đổi mới cơ chế tài chính cho giáo dục:
+ Đổi mới phương thức xây dựng và giao kế hoạch ngân sách, cơ cấu lại chi
ngân sách nhà nước cho các mục tiêu của giáo dục.
+ Xác định trách nhiệm và quyền hạn hợp lý của các cơ quan quản lý nhà nước
Trung ương và địa phương trong việc lập và thực hiện kế hoạch ngân sách giáo
dục.
+ Xây dựng cơ chế thích hợp để huy động các nguồn lực cho giáo dục
+ Đổi mới chính sách học phí và hỗ trợ người học
+ Các chính sách đối với giáo viên
- Trách nhiệm của các cơ sở giáo dục trong quản lý tài chính :
+ Giám sát tài chính giáo dục
+ Xác định học phí và hỗ trợ của Nhà nước và địa phương
- Môi trường :
+ Chi tài chính công: với chính sách hỗ trợ, chi cho các chương trinh mục
tiêu… xây dựng các tổ chức thanh tra, điều tra, tổ chức quản lí và bảo vệ môi
trường; chi cho hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ BVMT; sử
dụng truyền thông tác động đến ý thức bảo của mọi người…
+ Sử dụng công cụ thuế: đánh vào những mặt hàng không được khuyến khích
sản xuất gây ảnh hưởng nghiêm trọng với đến môi trường.
+ Nộp phí xả thải, tiền phạt: với những doanh nghiệp hay công ty mà hoạt động
sản xuất xả chất thải ra sông, hồ (trong mức độ cho phép)… phải nộp phí xả.Với
những chất thải vượt quá mức cho phép gây ảnh hưởng tới xã hội sẽ phải nộp
phạt theo quy định.
Bảng chi NSNN cho hoạt động môi trường:
Năm 2009
Năm 2010
Chi Ngân sách trung ương cho
hoạt động môi trường
Chi Ngân sách địa phương cho
hoạt động môi trường
Chi Ngân sách nhà nước cho hoạt
động môi trường
850 000
980 000
4 413 836
5 610 000
5 263 836
6 590 000
Trong 2 năm (2009-2010) Nhà nước dành 0,368% tổng chi ngân sách nhà
nước để chi sự nghiệp Bảo vệ môi trường trong khi đó ô nhiễm môi trường ở
mức báo động đang là thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế bền
vững của Việt Nam trong thời gian tới
- Thực trạng :
+ Các dòng sông và lưu vực sông thường bị ô nhiễm nghiêm trọng.
+ Công tác quy hoạch, bảo vệ hồ, sông, kênh mương nội thành của các TP lớn
còn nhiều bất cập, tình trạng lấn chiếm, san lấp diễn ra phổ biến và nghiêm
trọng.
+ Một số KCN có hệ thống XLNT nhưng hầu như không vận hành, hoặc vận
hành nhưng chỉ mang tính chất đối phó khi có đoàn kiểm tra, giám sát đến.
- Giải pháp :
+ Xây dựng và thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về khắc phục suy
thoái và cải thiện môi trường.
+ Xây dựng và thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về khắc phục suy
thoái và cải thiện môi trường, áp dụng các biện pháp xử lý nghiêm đối với các
hành vi vi phạm theo Nghị định số 117/2009/NĐ-CP của Chính phủ.
+ Kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải
+ Nâng cao vai trò điều phối của cơ quan quản lý môi trường các cấp trong
quản lý, sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường ở trung ương và địa
phương.
- Văn hóa :
Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh
kiên cường dựng nước và giữ nước, nó hun đúc nên tinh thần, khí phách, bản
lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc.
- Lễ hội :
+ VN có gần 8000 lễ hội đang tồn tại, hàng năm có gần 500 lễ hội cổ truyền lớn
nhỏ.
+ Sự phát triển của các lễ hội ở VN có những mặt tích cực mà nhiều nhà báo,
nhà nghiên cứu văn hóa dân gian đã chỉ ra như khuyến khích người dân trở về
với cội nguồn, gắn bó với cộng đồng, cân bằng giữa đời sống tâm linh và vật
chất, bảo tồn văn hóa Việt…
- Hạn chế :
+ Tính chất kinh doanh vụ lợi rất rõ, cho nên phần hội hè vui chơi mê tín bát
nháo thì nhiều mà phần văn hóa, tâm linh thì nhạt nhòa.
+ Trật tự an ninh và vệ sinh môi trường không được đảm bảo.
+ Trình độ tổ chức và quản lý rất kém.
+ Các lễ hội có chiều hướng thương mại hóa, các dịch vụ tràn lan.
- Ví dụ :
+ Lễ hội chùa hương:
+ Thịt thú rừng được bày bán công khai tại bến đò Thiên Trù ở chùa Hương
+ Hàng ngàn người chen lấn xô đẩy hòng vượt rào xông vào xin ấn đền Trần
+ Hàng quán và rác xả khắp nơi tại chùa Hương
+ Các công trình chào mừng đại lễ 1000 năm:
+ Bảo tàng Hà Nội, cả tầng 4 của bảo tàng vẫn đang để trống, nhiều tủ trưng
bày trống trơn, không có bóng dáng khách tham quan
+ Bốn người chết, ba người bị thương trong vụ nổ hàng chục tấn pháo hoa tại
Mỹ Đình
+ Tình trạng xuống cấp của Con đường gốm sứ Hà Nội.
Kết luận chung về vai trò của tài chính công với vai trò điều tiết xã hội của
Việt Nam:
Tài chính công ở Việt Nam chưa thực sự phát huy được hết vai trò của nó
trong nền kinh tế xã hội do tài chính công Việt Nam còn mờ nhạt, chính sách
còn lỏng lẻo, chưa kiểm soát được thị trường đã làm cho giá cả một số mặt hàng
vẫn chưa được ổn định điển hình như: giá sữa cao gấp 5 lần, giá ô tô cao gấp 3
lần các nước khác trên thế giới hoặc điển hình nhất là giá xăng dầu khi giá xăng
dầu thế giới tăng cao thì giá trong nước cũng tăng theo nhưng khi giá thế giới đã
giảm thì giá trong nước vẫn chưa được bình ổn…
Điều này là do tổ chức tài chính nước ta vẫn chưa được thực hiện tốt không
kiểm soát chặt chẽ được giá cả trên thị trường nói riêng cũng như nền kinh tế
nói chung làm cho sự phân hóa nghiêm trọng giữa các ngành kinh tế, các vùng
kinh tế hay giữa các doanh nghiệp sản xuất, làm cho kinh tế rối loạn và mất ổn
định,…nền kinh tế sẽ bị lũng đoạn và trì trệ. Việc điều hành ngân sách nhà nước
còn khó khăn, hạn chế do đó chưa phát huy hết vai trò của tài chính công như:
chất lượng công tác dự báo chưa cao, việc triển khai đồng thời chính sách tài
khóa và chính sách tiền tệ nới lỏng đã làm tăng áp lực lạm phát năm 2008, mức
dư nợ chính phủ và dư nợ Quốc gia tăng cao (tuy vẫn nằm trong giới hạn an
toàn) gây khó khăn cho việc điều hành chính sách tài chính, tiền tệ.
Nếu tài chính công không vững mạnh kéo theo hành loạt những vấn đề kinh tế
sẽ không được giải quyết làm dẫn tới sự mất cân đối trong hệ thống tài chính
quốc gia, nền kinh tế của ta sẽ bị mất tự chủ trên thị trường quốc tế và ngày
càng trở nên rối loạn, trì trệ và suy thoái. Chúng ta có thể thấy vai trò của tài
chính công trong xã hội là không thể phủ nhận dù đôi khi nó mang lại một số
vấn đề chưa tích cực trong xã hội ( độc quyền giá điện, nước,…) nhưng tài
chính công là cái đảm bảo lợi ích cho tất cả mọi người đều được công bằng như
nhau. Vì vậy, ta có thể thấy tài chính công có ảnh hưởng rất lớn đối với nền
kinh tế vì nói đến tài chính công là nói đến trách nhiệm đối với xã hội ở từng
góc độ vững vàng và là trụ sở vững chắc để điều tiết và tác động đến các cấu
trúc tài chính trong nước nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển.