BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VÕ MINH SƠN
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI HỌ GỪNG (ZINGIBERACEAE)
Ở BA XÃ NGA MY, XIỀNG MY VÀ BÌNH CHUẨN THUỘC KHU BẢO
TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HUỐNG, TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Vinh, năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VÕ MINH SƠN
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI HỌ GỪNG (ZINGIBERACEAE)
Ở BA XÃ NGA MY, XIỀNG MY VÀ BÌNH CHUẨN THUỘC KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN PÙ HUỐNG, TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Thực vật
Mã số: 60.42.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM HỒNG BAN
Vinh, năm 2015
LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của
PGS. TS. Phạm Hồng Ban. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy.
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến ThS. Lê Thị Hương, Khoa Sinh
học, Đại học Vinh đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu. Tôi xin chân thành
cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Sinh học, phòng Đào tạo Sau đại học,
trường Đại học Vinh. Ban Giám đốc Khu BTTN Pù Huống, Trạm Kiểm lâm
Nga My, Bình Chuẩn, các bạn đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ trong quá
trình thực hiện đề tài.
Tôi thành thật cảm ơn gia đình và người thân đã tạo điều kiện trong suốt
thời gian học tập và hoàn thành luận văn.
Vinh, ngày 01 tháng 10 năm 2015
Tác giả
Võ Minh Sơn
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Dân số ở 3 xã Bình Chuẩn, Nga My, Xiềng My
Bảng 3.1. Danh lục các loài họ Gừng ở ba xã Nga My, Xiềng My và
Bình Chuẩn thuộc Khu BTTN Pù Huống
Bảng 3.2. Số lượng các chi và loài ở các xã nghiên cứu
Bảng 3.3. Số lượng loài trong các chi
Bảng 3.4. So sánh số lượng chi, loài tại địa điểm nghiên cứu với Pù Mát
Bảng 3.5. So sánh số lượng chi, loài tại địa điểm nghiên cứu với Việt Nam
Bảng 3.6. Giá trị sử dụng của họ Gừng (Zingiberaceae) ở 3 xã Bình
Chuẩn, Nga My và Xiềng My
Bảng 3.7. Môi trường sống của các loài họ Gừng ở khu vực nghiên cứu
Bảng 3.8. Yếu tố địa lý của các loài trong họ Gừng ở Bình Chuẩn, Nga
My, Xiềng My
Bảng 3.9. Các loài mới phát hiện phân bố ở tỉnh Nghệ An
Trang
18
26
28
29
30
31
32
36
37
39
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Bản đồ xã Bình Chuẩn, Nga My và Xiềng My
Hình 3.1. Phân bố các chi, loài ở các xã nghiên cứu
Hình 3.2. So sánh chi, loài ở khu vực nghiên cứu với Pù Mát
Hình 3.3. So sánh chi, loài ở khu vực nghiên cứu với Việt Nam
Hình 3.4. Giá trị sử dụng của các loài họ Gừng ở khu vực nghiên cứu
Hình 3.5. Môi trường sống của các loại họ Gừng ở khu vực nghiên cứu
Hình 3.6. Yếu tố địa lý chính của họ Gừng ở khu vực nghiên cứu
Trang
20
29
31
32
35
36
38
DANH MỤC CÁC ẢNH (PHẦN PHỤ LỤC)
Ảnh 1. Thu mẫu thực địa ở Nga My
Ảnh 2. Thu mẫu thực địa Xiềng My
Ảnh 3. Thu mẫu thực địa Bình Chuẩn
Ảnh 4. Phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm
Ảnh 5. Sinh cảnh rừng thứ sinh
Ảnh 6. Sinh cảnh rừng hỗn giao tre nứa
Ảnh 7. Sinh cảnh trảng cây bụi
Ảnh 8. Sinh cảnh ven suối
Ảnh 9. Alpinia conchigera Griff.
Ảnh 10. Alpinia galanga (L.) Willd.
Ảnh 11. Alpinia malaccaensis (Burm.f.) Rosc.
Ảnh 12. Alpinia blepharocalyx K. Schum.
Ảnh 13. Alpinia gagnepainii K. Schum.
Ảnh 14. Alpinia officinarum Hance
Ảnh 15. Alpinia kwangsiensis T.L.Wu & S.J. Chen
Ảnh 16. Alpinia macroura K. Schum.
Ảnh 17. Alpinia menghaiensis S.Q. Tong & Y.M. Xia
Ảnh 18. Alpinia oblongifolia Hayata
Ảnh19. Alpinia pinnanensis T. L. Wu & Senjen
Ảnh 20. Alpinia tonkinensis Gagnep.
Ảnh 21. Amomum villosum Lour.
Ảnh 22. Amomum gagnepainiiT. L. Wu, K. K. Larsen &Turland
Ảnh 23. Amomum muricarpum Elmer
Ảnh 24. Amomum longiligulare T. L. Wu
Ảnh 25. Amomum xanthoides Wall. ex Baker
Ảnh 26. Curcuma zedoaria (Berg.) Roscoe
Ảnh 27. Amomum biflorum Jack
Ảnh 28. Amomum mengtzense H. T. Tsai ex P. S. Chen
Ảnh 29. Curcuma alismatifolia Gagnep.
Ảnh 30. Curcuma longa L.
Ảnh 31. Curcuma stenochila Gagnep.
Ảnh 32. Distichochlamys rubrostriana W. J. Kresss & Rehse
Ảnh 33. Distichochlamys orlowii K. Larsen & M. F. Newman
Ảnh 34. Hedychum flavum Roxb.
Ảnh 35. Globba marantina L.
Ảnh 36. Hedychium gardnerianum Rosc.
Ảnh 37. Hedychium stenopetalum Lodd.
Ảnh 38. Hedychium villosum Wall.
Ảnh 39. Kaempferia rotunda L.
Ảnh 40. Kaempferia galanga L.
Ảnh 41. Zingiber monophyllum Gagnep.
Ảnh 42. Slisiquamommum tonkinensis Baill
Ảnh 43. Zingibersp.
Ảnh 44. Zingiber gramineum Blume
Ảnh 45. Zingiber officinale Rosc.
Ảnh 46. Zingiber montanum (Koenig) Link ex A. Dietr
Ảnh 47. Zingiber collinzii J.Mood & I. Theilade
Ảnh 48. Zingiber zerumbet Sm.
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BTTN:
Bảo tồn Thiên nhiên
VQG:
Vườn quốc gia
YTĐL: Yếu tố địa lý
2. Liên nhiệt đới
3.1. Cổ nhiệt đới châu Á và châu Úc
4. Nhiệt đới Châu Á
4.1. Đông Dương – Malêzi
4.3. Lục địa Đông Nam Á
4.4. Đông Dương - Nam Trung Quốc
4.5. Đông Dương
5.3. Ôn đới Địa Trung Hải-Châu Âu-Châu Á
5.4. Đông Á
6. Đặc hữu
6.1. Cận đặc hữu
8. Chưa xác định
GTSD: Giá trị sử dụng
M: Cây làm thuốc
F: Cây ăn được
Or : Cây làm cảnh
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong ngành thực vật hạt kín thì họ Gừng (Zingiberaceae) không phải là họ
lớn, chỉ có khoảng 45 chi, 1.300 loài, phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới
trong đó chủ yếu ở Nam và Đông nam châu Á [69]. Ở Việt Nam hiện biết 19 chi và
144 loài và thứ, trong đó có nhiều cây có giá trị như: Riềng (Alpinia officinarum
Hance) làm gia vị và làm thuốc, Nghệ (Curcuma domestica Val.) làm thuốc chữa
bệnh đau dạ dày, bệnh vàng da, Gừng (Zingiber officinale Rosc) làm mứt, làm
thuốc, có hưng phấn, dễ tiêu...[8].
Nói chung họ Gừng có số lượng lớn các loài được sử dụng trong nhiều lĩnh
vực: y học, dược phẩm, công nghệ thực phẩm. Do vậy, nghiên cứu họ Gừng để có
cơ sở khoa học nhằm khai thác, sử dụng và bảo tồn bền vững nguồn tài nguyên
thực vật đã và đang là mối quan tâm lớn của nhiều nhà khoa học.
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu họ Gừng như: Lê Trần
Chấn (1999) đã công bố hệ thực vật Việt Nam có 124 loài thuộc 12 chi [15],
Phạm Hoàng Hộ (2000) công bố ở Việt Nam có 115 loài của 11 chi [22], Võ
Văn Chi (2012) công bố 41 loài của 8 chi, trong họ Gừng là cây làm thuốc [12]
và rất nhiều tác giả khác nữa...
Hiện nay ở Nghệ An chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về họ
Gừng, mà mới chỉ có các công trình nghiên cứu về tính đa dạng hệ thực vật ở
một số khu vực trong đó các tác giả có đề cập đến thành phần loài thuộc họ
gừng như: Phạm Hồng Ban (2000) khi nghiên cứu thành phần loài thực vật ở Pù
Mát công bố 6 loài, thuộc 6 chi của họ Gừng [1]. Nguyễn Nghĩa Thìn và
Nguyễn Thanh Nhàn (2004) đã công bố 32 loài, của 8 chi họ Gừng ở vườn Quốc
gia Pù Mát [43]...
Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống được thành lập năm 2001 với diện
tích 49.806 ha, nằm ở phía Bắc của dải Trường Sơn, có toạ độ nằm trong khoảng
19015’ - 19029’ vĩ độ Bắc, 104013’ - 105016’ kinh Đông, nằm trong địạ phận của
10
12 xã thuộc 5 huyện: Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Tương Dương và huyện
Con Cuông, với địa hình đồi núi dốc và hiểm trở. Điều kiện khí hậu nơi đây
mang đặc điểm chung của vùng là có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Chịu ảnh hưởng
của điều kiện khí hậu và địa hình mà khu hệ động vật, thực vật nơi đây phát
triển vừa mang tính chất chung của vùng nhưng đồng thời có những đặc điểm
riêng của khu vực. Ba xã Nga My, Xiềng My và Bình Chuẩn nằm tiếp giáp nhau
và thuộc vùng lõi của khu bảo tồn, do đó mang đặc điểm chung của khu vực nơi
đây. Hiện nay mới chỉ có điều tra đa dạng sinh học chung của Khu bảo tồn thiên
nhiên Pù Huống nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về tính đa dạng của
các loài cây họ Gừng nói riêng ở đây. Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi
chọn đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài thực vật họ Gừng (Zingiberaceae) ở
ba xã Nga My, Xiềng My và Bình Chuẩn thuộc khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù
Huống, Nghệ An”.
2. Mục tiêu
Xác định thành phần các loài thực vật, đánh giá tính đa dạng, lập phổ
dạng sống và các yếu tố địa lý thực vật của họ Gừng (Zingiberacceae) ở 3 xã
Nga My, Xiềng My và Bình Chuẩn thuộc khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống,
Nghệ An.
11
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu về thực vật
1.1.1. Trên thế giới
Nghiên cứu thực vật là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, bởi thực vật là mắt xích đầu tiên cung cấp năng
lượng cho mọi sinh vật khác cũng như đảm bảo sự phát triển bền vững cho hệ
sinh thái toàn cầu.
Những công trình đầu tiên nghiên cứu về thực vật cách đây hơn 3000 năm
TCN ở Ai Cập, Trung Quốc cổ đại vào khoảng 2200 năm TCN và các nước La
Mã, Hy Lạp cổ đại. Tuy nhiên các công trình này nghiên cứu hệ thực vật chỉ
dừng lại bằng việc quan sát và mô tả.
Théophraste (371 - 286 TCN) là người đầu tiên đề xướng ra phương pháp
phân loại thực vật. Phân biệt một số tính chất cơ bản trong cấu tạo và quan sát sinh
cảnh sống của thực vật trong 2 tác phẩm: “Lịch sử thực vật” và “Cơ sở thực vật”,
đã mô tả được khoảng 500 loài cây trồng và cây hoang dại [theo 13]. Plinus (79 24TCN) viết bộ “Lịch sử tự nhiên” đã mô tả gần 1.000 loài cây làm thuốc và cây ăn
quả. Sau đó Dioseoride (20 - 60) một thầy thuốc của Tiểu Á đã viết cuốn sách
“Materia media” (Dượcliệu học), trong đó ông nêu được hơn 500 loài cây và đã
xếp chúng vào các họ khác nhau [theo 13].
Thời kỳ Trung cổ khoa học nói chung và ngành thực vật học nói riêng không
phát triển được do bối cảnh xã hội lúc bấy giờ, giáo hội thống trị.
Đến thời kỳ Phục Hưng(XV - XVI) khi mà xã hội biến chuyển, cácngành
khoa học kỹ thuật phát triển mạnh kèm theo đó là sự phát triển của các ngành
khoa học cơ bản, trong đó có ngành phân loại học thực vật, được đánh dấu bởi 3
sự kiện quan trọng đó là: Sự phát sinh tập bách thảo (Herbier) thế kỷ XVI; việc
thành lập các vườn bách thảo (TKXV - XVI) và biên soạn cuốn “Bách khoa
12
toàn thư về thực vật”. Các sự kiện đó là những cơ sở cho các nhà nghiên cứu
thực vật tiếp theo sau này. Từ đây xuất hiện các công trình như của Andrea
Caesalpino (1519 - 1603), một trong những nhà thực vật học đầu tiên đưa ra
bảng phân loại và được đánh giá cao bởi quan điểm phân loại thực vật dựa trên
đặc điểm quan trọng của chúng và hạt là đặc điểm ông lựa chọn để làm tiêu
chuẩn phân loại thực vật [theo 13]. Nhà tự nhiên học người Anh, J. Ray (1628 1705) trong quyển “Historyaplantarum- Lịch sửthực vật” gồm 3 tập mô tả
18.000 loài thực vật [theo 13]. Tiếp sau đó Linnee (1707 - 1778) là người được
mệnh danh là “Ông tổ” của phân loại học, nhà tự nhiên học Thụy Điển (1707 1778), trong tác phẩm “Hệ thống tự nhiên” của mình ông đã mô tả khoảng
10.000 loài cây thuộc 1.000 chi, 116 họ và sắp xếp vào một hệ thống nhất định.
Ông đã đưa ra cách đặt tên sinh vật rất chặt chẽ và thuận tiện, mỗi tên cây được
gọi bằng tiếng La tinh gồm 2 từ ghép lại mà ngày nay chúng ta còn sử dụng.
Ông cũng là người xây dựng nên hệ thống phân loại gồm 7 đơn vị: giới, ngành,
lớp, bộ, họ, chi, loài [76].
Vào những năm cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX phân loại thực vật được
dựa trên cơ sở các mối quan hệ tự nhiên của thực vật, dựa vào phần lớn tính chất
chung của chúng. Có rất nhiều hệ thống phân loại ra đời: Hệ thống phân loại của
Bernard Jussieu (1699 - 1777) và Decandol (1778 - 1836) đã mô tả được 161 họ
và đưa phân loại trở thành một môn khoa học [theo 13]. Robert Brown(1773 1858) đã chia thực vật thành 2 nhóm là hạt trần và hạt kín [theo 13]. Gophmeister
đã phân chia thực vật có hoa và không có hoa xác định được vị trí hạt trần nằm
giữa quyết và thực vật hạt kín.
Thế kỷ XIX việc nghiên cứu các hệ thực vật đã thực sự phát triển mạnh
mẽ ở tất cả các quốc gia. Phân loại học ngày càng đi sâu nghiên cứu bản chất
của sinh vật. Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị các cuốn thực vật chí lần
lượt ra đời: Thực vật chí Hồng Kông (1861), Thực vật chí Autralia (1866), Thực
vật chí Anh (1869), Thực vật chí Tây Bắc và trung tâm Ấn Độ (1874), Thực vật
chí Ấn Độ 7 tập (1872 - 1897), Thực vật chí Miến Điện (1877), Thực vật chí
13
Malayxia (1922 - 1925), Thực vật chí Hải Nam (1972 - 1977), Thực vật chí Vân
Nam (1977)...
Năm 1993, Watters và Hamilton đã thống kê được trong các tác phẩm
nghiên cứu thì trong suốt 2 thế kỷ qua đã có 1,4 triệu loài thực vật đã được mô tả
và đặt tên. Cho đến nay vùng nhiệt đới đã xác định được khoảng 90.000 loài,
trong đó vùng ôn đới Bắc Mỹ và Âu - Á có 50.000 loài được xác định [theo
40].Càng ngày các công trình nghiên cứu về thực vật không chỉ dừng lại bằng
việc quan sát mô tả mà đi sâu hơn nữa như: Tìm hiểu về công dụng của các loài
cây để phục vụ mục đích của con người về chữa bệnh, lương thực, thực phẩm...
1.1.2. Ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, rất thuận lợi cho
sự sinh trưởng và phát triển của thực vật, có thể nhận thấy thành phần loài thực
vật ở nước ta là khá phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, lịch sử phát triển môn
phân loại thực vật ở Việt Nam diễn ra chậm hơn so với các nước khác.
Ban đầu chỉ có các nhà nho, thầy lang sưu tập các cây có giá trị làm thuốc
chữa bệnh như Tuệ Tĩnh (1623 - 1713) trong 11 quyển “Nam dược thần hiệu”
đã mô tả được 759 loài cây thuốc, Lê Quý Đôn (thế kỷ XVI) trong “Vân Đài
loại ngữ” 100 cuốn đã phân ra cây cho hoa, quả, ngũ cốc…Lê Hữu Trác (1721 1792) dựa vào bộ “Nam dược thầnhiệu” đã bổ sung thêm 329 vị thuốc mới trong
sách “Hải Thượng Y tôn tâm linh” gồm 66 quyển. Ngoài ra trong tập “Lĩnh nam
bản thảo” ông đã tổng hợp được 2.850 bài thuốc chữa bệnh [theo 12].
Đời nhà Lê có Nguyễn Trữ trong tác phẩm “Việt Nam thực vật học” cũng
đã mô tả được nhiều loài cây trồng. Lý Thời Chân (1595) xuất bản “Bản thảo
cương mục” đề cập đến trên 1.000 vị thuốc thảo mộc.
Đến thời kỳ Pháp thuộc tài nguyên rừng nước ta còn rất phong phú và đa
dạng, thu hút nhiều nhà khoa học phương Tây nghiên cứu. Do đó, việc phân loại
thực vật được đẩy mạnh và nhanh chóng. Điển hình như công trình của Loureiro
năm 1790 “Thực vật ở Nam Bộ” ông đã mô tả gần 700 loài cây.
14
Pierre (1879) trong “Thực vật rừng Nam Bộ” đã mô tả khoảng 800 loài
cây gỗ. Công trình lớn nhất là “Thực vật chí ĐôngDương” do H.Lecomte cùng
một số nhà thực vật người Pháp biên soạn (1907 - 1951) gồm 7 tập. Trong công
trình này, các tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khóa mô tả các loài
thực vật có mạch trên toàn lãnh thổ Đông Dương. Sau này Aubreville và cs
(1960-1996), đã xuất bản được 29 tập thực vật chí Đông Dương. Năm 1965,
Pócs Tamás đã thống kê ở miền Bắc có 5.190 loài và năm 1969, Phan Kế Lộc
thống kê và bổ sung nâng số loài của miền Bắc lên 5.609 loài, 1.660 chi và 140
họ xếp theo hệ thống của Engler [32]. Song song với sự thống kê đó ở Miền Bắc
từ 1969-1976, Lê Khả Kế (chủ biên) đã xuất bản bộ sách “Cây cỏ thường thấy ở
Việt Nam” gồm 6 tập đã mô tả rất nhiều loài thực vật có mặt ở Việt Nam [25].
Thái Văn Trừng (1963 - 1978) trên cơ sở “Thực vật chí Đông Dương” đã thống
kê được hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc
1.850 chi và 298 họ [45]. Năm 1969-1989, Viện điều tra quy hoạch rừng đã
công bố 7 tập sách về cây gỗ rừng Việt Nam, sau này được dịch ra tiếng Anh
năm 1996[53].Năm 1984 Bộ Lâm nghiệp đã thống kê các loài thực vật có ở Tây
Nguyên trong “Danh lục thực vật Tây Nguyên” [10]. Ngoài ra, năm 1997,
Nguyễn Tiến Bân đã giới thiệu quyển sách “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các
họ thực vật hạt kín ở Việt Nam” [3].
Đáng chú ý nhất phải kể đến bộ “Cây cỏViệt Nam” của Phạm Hoàng Hộ
(1991- 1993) xuất bản tại Cadana với 3 tập, 6 quyển và tái bản năm 2000 đã mô tả
được khoảng 10.500 loài thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam [21], [22]. Có thể
nói đây là bộ sách đầy đủ nhất về thành phần loài thực vật bậc cao ở Việt Nam,
tuy nhiên theo tác giả thì một số loài thực vật ở hệ thực vật Việt Nam có thể lên
tới 12.000 loài.
Năm 1998, Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời đã công bố cuốn “Đa
dạng thực vật có mạch vùng núi cao Sa Pa Phansipan” giới thiệu 2.024 loài thực
vật bậc cao thuộc 771 chi và 200 họ thuộc 6 ngành của vùng núi cao Sa Pa - Phan
Si Pan [41].Phùng Ngọc Lan và cs (1996) đã công bố cuốn Đa dạng thực vật Cúc
15
Phương [28].Năm 2003, Nguyễn Nghĩa Thìn, Mai Văn Phô đã công bố cuốn “Đa
dạng thực vật VQG Bạch Mã”với 332 loài Nấm thuộc 123 chi và 1548 loài thực
vật,703 chi thuộc 165 họ [42]. Khi công bố cuốn “Đa dạng thực vật ở Vườn quốc
gia Pù Mát”, Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thanh Nhàn đã công bố với 1.251
loài thuộc 604 chi và 159 họ [43].Năm 2006, Nguyễn Nghĩa Thìn và Đặng Quyết
Chiến đã công bố cuốn đa dạng thực vật khu BTTN Na Hang, Tuyên Quang
[44].Gần đây, Trần Minh Hợi và cs (2008) đã công bố cuốn Đa dạng sinh học
VQG Xuân Sơn, Phú Thọ [23]. Đỗ Ngọc Đài và cs (2007) đã công bố 492 loài có
mặt trên núi đá vôi VQG Bến En, Thanh Hóa [19].
Lê Trần Chấn (1999) với trong công trình “Một số đặc điểm cơ bản của hệ
thực vật Việt Nam” đã công bố 10.440 loài thực vật [15]. Dựa trên những công
trình nghiên cứu trong nước và trên thế giới đã công bố, Nguyễn Nghĩa Thìn
(2007) thống kê toàn bộ hệ thực vật Việt Nam bao gồm 11.373 loài thực vật bậc
cao trong đó có 10.580 thực vật bậc cao có mạch [40]. Năm 2000-2005, các nhà
khoa học Việt Nam đã thống kê tất cả các loài thực vật Việt Nam trong 3 tập
“Danh lục các loài thực vật Việt Nam” với hơn 13.000 loài được xác định [5].
Trên cơ sở các công trình nghiên cứu trên để phục vụ cho công tác bảo tồn
nguồn gen thực vật, từ năm 1996 các nhà thực vật Việt Nam đã cho xuất bản cuốn
“Sách đỏ Việt Nam” phần thực vật đã mô tả 356 loài thực vật quý hiếm ở Việt Nam
có nguy cơ tuyệt chủng, được tái bản và bổ sung năm 2007 với tổng số loài lên đến
464, tăng 108 loài đang bị đe dọa ngoài thiên nhiên [9].
Hiện nay, các nhà khoa học đang đi theo hướng là nghiên cứu các họ thực
vật dưới dạng thực vật chí các công trình như: họ Na - Annonaceae của Nguyễn
Tiến Bân (2000) [4], họ Hoa môi – Lamiaceae của Vũ Xuân Phương (2000)
[36], họ Cúc - Asteraceae của Lê Kim Biên - tập 7 (2007) [7], họ Thầu dầu Euphorbiaceae của Nguyễn Nghĩa Thìn (2006) [68], họ Cói-Cyperaceae của
Nguyễn Khắc Khôi (2002) [26], họ Đơn nem - Myrsinaceae của Trần Thị Kim
Liên (2002) [29], họ Trúc Đào - Apocynaceae của Trần Đình Lý (2007) [35], họ
Cỏ roi ngựa- Verbenaceae cảu Vũ Xuân Phương (2007) [37], họ Rau răm của
16
Nguyễn Thị Đỏ (2007) [20]… Đây là những tài liệu quan trọng nhất để làm cơ
sở đánh giá hệ thực vật Việt Nam và thống kê một cách đầy đủ về thành phần
loài thực vật có mặt tại Việt Nam.
1.1.3. Ở Nghệ An
Nghệ An là một tỉnh có diện tích rừng lớn, các khu rừng chạy dọc theo dãy
Trường Sơn tạo nên khu dự trữ sinh quyển miền Tây với tổng diện tích
1.303.285ha; là hành lang xanh nối kết 3 vùng lõi gồm: VQG Pù Mát, Khu BTTN
Pù Huống và Khu BTTN Pù Hoạt. Nơi đây được đánh giá là một trong những
trung tâm về đa dạng sinh học trong đó VQG Pù Mátlàm trung tâm đang lưu giữ
nhiều nguồn gen quý về động, thực vật với đầy đủ đại diện của 4/5 lớp quần hệ
(rừng thưa, rừng kín, cây bụi và cây thảo). Rừng Nghệ An mang nhiều nét điển
hình của thảm thực vật rừng Việt Nam. Theo thống kê ở Nghệ An có đến 153 họ,
522 chi và 986 loài cây thân gỗ, chưa kể đến loại thân thảo, thân leo và cây bụi,
trong số đó có 23 loài thân gỗ và 6 loài thân thảo được ghi vào sách đỏ Việt Nam.
Việc điều tra thành phần loài thực vật của các khu rừng đã được quan tâm
nhiều trong những năm gần đây. Điển hình có các công trình: Năm 1993, Viện
điều tra quy hoạch rừng thuộc Bộ Lâm nghiệp đã tiến hành điều tra sơ bộ hệ
thực vật Pù Mát và đã xác định được 986 loài thực vật bậc cao thuộc 522 chi và
153 họ, đây là danh lục thực vật đầu tiên của Pù Mát.Năm 1998, Nguyễn Thị
Quý trong công trình “Góp phần điều tra thành phần loài Dương xỉ Khu BTTN
Pù Mát” đã thống kê và mô tả được 90 loài thuộc 42 chi của 23 họ [38]. Cũng
năm này, trong đề tài “Thực trạng thảm thực vật trong phương thức canh tác
của người Đan Lai vùng đệm Pù Mát- Nghệ An” Nguyễn Văn Luyện (1998) đã
công bố 251 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 178 chi, 77 họ ở vùng đệm Pù
Mát, tác giả cũng đã đưa ra một danh lục tập đoàn cây trồng của người Đan Lai
[33]. Năm 1999, Đặng Quang Châu và cộng sự với đề tài cấp bộ: “Bước đầu
điều tra thành phần loài thực vật núi đá vôi Khu bảo tồn Thiên nhiên Pù Mát,
Nghệ An” thống kê được 883 loài thực vật bậc cao thuộc 460 chi và 144 họ, tác
giả cũng đưa ra phổ dạng sống của hệ thực vật Pù Mát, đồng thời bước đầu đã
17
có nhận xét về tính chất và quy luật phân bố của thảm thực vật [11]. Năm 2001,
Nguyễn Nghĩa Thìn và cs trong công trình nghiên cứu cây thuốc của đồng bào
dân tộc Thái vùng tây nam Nghệ An, tác giả đã mô tả 544 loài thực vật bậc cao
làm thuốc thuộc 363 chi của 121 họ và đã công bố nhiều bài thuốc hay của đồng
bào dân tộc [39]. Cũng trong năm 2000, Phạm Hồng Ban đã công bố 586 loài
thực vật bậc cao thuộc 334 chi và 105 họ ở vùng đệm Pù Mát - Nghệ An trong
công trình “Nghiên cứu tính đa dạng sinh học của các hệ sinh thái sau nương
rẫy ở vùng Tây Nam - Nghệ An”, ngoài sự đánh giá về đa dạng thành phần loài
tác giả còn đánh giá sự đa dạng của các quần xã thực vật và đã xác định được
diễn thế của thảm thực vật sau nương rẫy tại khu vực nghiên cứu [1]. Năm 2001,
trong công trình điều tra đa dạng sinh học ở VQG Pù Mát rất quy mô của SFNC
do cộng đồng Châu Âu tài trợ, Nguyễn Nghĩa Thìn và cs đã thống kê được 1.208
loài thực vật, trong đó có 1.144 loài thuộc 545 chi của 159 họ đã được xác định và
công bố. Đây được xem là danh lục thực vật đầy đủ nhất từ trước tới nay của Vườn
quốc gia Pù Mát [theo 43].Năm 2002, Nguyễn Anh Dũng với đề tài “Thành phần
loài thực vật bậc cao có mạch ở xã Môn Sơn vùng đệm vườn quốc gia Pù Mát” đã
công bố 496 loài 391 chi [16].Năm 2004 vườn Quốc gia Pù Mát cho xuất bản
cuốn sách "Đa dạng thực vật Vườn Quốc gia Pù Mát" công bố với 2.494 loài
thực vật có mạch [43]. Hệ sinh thái rừng ở Nghệ An đã được nhiều tác giả đề cập
đến, nhưng các tác giả chỉ đề cập theo từng chuyên đề riêng lẻ không tính đến
luận chứng kinh tế cũng như khoa học và kỹ thuật để xây dựng các KBT, VQG
một cách có hệ thống.Phạm Hồng Ban và cộng sự (2009), nghiên cứu hệ thực
vật bắc Quỳnh Lưu đã xác định được sự có mặt của 516 loài thuộc 304 chi, 98
họ [2].Năm 2010, Nguyễn Đức Linh và cs đã công bố khu hệ thực vật núi đá vôi
vùng Đông Bắc Nghĩa Đàn [30]. Gần đây, khi nghiên cứu hệ thực vật Pù Hoạt
thì Lê Thị Hương và cs (2012) đã công bố 821 loài, 441 chi và 156 họcó mặt ở
đây [18].
18
1.2. Tình hình nghiên cứu họ Gừng (Zingiberaceae)
1.2.1. Trên thế giới
Người đầu tiên nghiên cứu về họ Gừng (Zingiberaceae) là Engelbert
Kaempfer, một bác sĩ người Đức, từ những mẫu vật mà Engelbert Kaempfer thu
được C. Linnaeus (1753) đã đặt tên và mô tả 2 loài là Kaempferia galanga và
Kaempferia rotunda, cũng trong thời gian trên C.Linnaeus đã đặt tên và mô tả 4
chi: Amomum, Alpinia, Curcuma và Costus với 10 loài sau này được xếp trong
họ gừng, cùng với một số chi và loài thuộc các họ khác nhau có chung đặc điểm
nhị hữu thụ và 1 vòi nhuỵ. Sau C.Linnaeus, còn có một số tác giả khác mô tả các
chi và các loài sau này được xếp vào họ gừng,cũng theo quan điểm trên J.G.
Koenig (1783) mô tả 21 loài và 4 chi mới: Hura (Globba), languas (Alpinia),
Hedychium và Banksea (Costus.) [56]. Đến năm 1807, William Roscoe đã mô
tả 66 loài gừng, phần lớn được trồng ở Liverpool (Anh) [62]. Năm 1815, W.
Roxburgh đã mô tả 8 chi với 47 loài thuộc họ Gừng ở Ấn Độ, trong đó hầu hết
được minh hoạ bằng hình vẽ [63], C.L.Blume (1823) nghiên cứu hệ thực vật ở
Borgor (Indonexia) đã mô tả 8 chi và 20 loài, đến năm 1827 ông đã công bố 12
chi với 57 loài [50].
Lindley (1835) đã đặt tên cho họ Gừng là Zingiberaceae được lấy từ tên
chi Zingiber làm chi chuẩn [59]. Kể từ khi công trình của Lindley được công bố,
họ Gừng chính thức được coi là một taxon bậc họ riêng biệt, làm cơ sở cho các
nhà thực vật nghiên cứu và sắp xếp các taxon vào họ Gừng. Năm 1883,
G.Bentham &J.D.Hooker đã nâng số chi của họ Gừng lên 21 chi với đặc điểm:
nhị hữu thụ 1, vòi nhuỵ 1 [47]. J.G.Baker (1894) dựa vào hệ thống của
G.Bentham &J.D.Hooker (1883) khi nghiên cứu họ gừng ở Ấn Độ đã mô tả 19
chi với 219 loài [49].
K. Schumann (1904), dựa vào cách sắp xếp của lá thành xếp xoắn, bẹ lá
mở 1 bên hay hình ống, vào cấu tạo của các cơ quan như: đài, tràng, nhị hoa,
bầu hoa đã công bố 38 chi, xếp trong 2 phân họ là Zingiberoideae và
19
Costoideae[64]. R.E.Holttum (1950), nghiên cứu họ Gừng ở Malesia đã mô tả
và công bố 22 chi với 156 loài [54].
Đến năm 1959, J.Hutchinson đã xây dựng hệ thống phân loại họ gừng
gồm có 45 chi, được xếp trong 4 tông là: Costeaa, Hedychieae, Globbeae và
Zingibereae. Với đặc điểm chính là nhị lép phát triển thành dạng cánh tràng,
dính hay không dính với cánh môi và số lượng ô trong bầu [55].H.Melchior
(1964) đã công bố 49 chi được xếp trong 2 phân họ là phân họ Zingiberoideae
với 3 tông là Hedychieae, Globbeae và Zingibereavà phân họ Costoideae chỉ với
1 tông là Costeae [60]. C.A. Backer (1968), nghiên cứu hệ thực vật Java, đã mô
tả 13 chi với 55 loài [49]. B.L.Burt và R.M.Smith (1972) đã công bố 48 chi
được xếp vào 2 phân họ. Trong đó phân họ Zingiberoideae gồm 4 tông:
Hedychieae, Globbeae, Alpiniaea và Zingibereae, và phân họ Costoideae chỉ có
1 tông Costeae [52], [65]. T.L. Wu &S.J.Chen (1981) khi nghiên cứu họ Gừng ở
Trung Quốc đã mô tả 19 chi với 144 loài [69].
A. Takhtajan (1987), cũng căn cứ vào các đặc điểm của nhị lép bên phát
triển thành dạng cánh tràng hay tiêu giảm thành dạng dùi, trung đới kéo dài bao
lấy vòi nhuỵ, số lượng các ô trong bầu cũng như cách sắp xếp của lá đã công bố
khoảng 47 chi được xếp trong 4 tông là Hedychieae, Globbeae, Alpiniaea và
Zingibereae, Tách tông Costeae trong hệ thống của J.Hutchinson ra khỏi họ
gừng và thành 1 họ riêng biệt là họ Costaceae (Họ Mía dò) [66].
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học
đã hỗ trợ rất tích cực cho việc nghiên cứu thực vật, bên cạnh các phương pháp
truyền thống là phương pháp hình thái so sánh, còn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu ở các cấp độ phân tử như phân tích sinh học phân tử, hay phương
pháp phân tích bằng AND, với những thành tựu này thì các kêt quả nghiên cứu
đảm bảo độ chính xác cao hơn. J.Kress và cộng sự (2002), đã công bố 53 chi
được xếp trong 4 phân họ là: Siphonochiloideae, Tamijoideae, Alpinioideae và
Zingiberoideae với 6 tông [57].
20
1.2.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, công trình đầu tiên đề cập đến các taxon họ Gừng là của J.
Loureio (1793).Tác giả đã mô tả 3 chi với 13 loài có ở Miền Nam Việt
Nam.Những nghiên cứu về họ Gừng ở Việt Nam đáng kể nhất phải kể đến công
trình nghiên cứu của Gagnepain (1908) với công trình “Thực vật chí đại cương
Đông Dương”(Flore Generale de L’Indo-chine). Tác giả đã lập khoá định loại và
mô tả 13 chi, 118 loài ở Đông Dương, trong đó ở Việt Nam có 13 chi và 63 loài.
Sau công trình này còn có một số công trình nghiên cứu về họ Gừng ở Việt Nam
như trong cây cỏ thường thấy Việt Nam của Lê Khả Kế và cs (1975), tác giả đã
lập khoá định loại và mô tả 8 chi, 25 loài thường thấy ở Việt Nam [25]. Phạm
Hoàng Hộ năm 1993, trong cây cỏ Việt Nam đã lập khoá định loại và mô tả 24
chi, 112 loài thuộc cây họ Gừng ở Việt Nam. Công trình này được xuất bản lại
vào năm 2000 có bổ sung, chỉnh sửa đã đưa tổng số chi là 25 chi với số loài là
115 loài [21], [22].Nghiên cứu đầy đủ và có tính hệ thống nhất về họ Gừng ở
Việt Nam phải kể đến công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quốc Bình
(2011). Với công trình này tác giả đã công bố ở Việt Nam có 19 chi với 144 loài
và thứ được xếp trong 2 phân họ: Alpinoidea và Zingiberoidea, 3 tông:
Alpinieae, Zingibereae và Globbeae. Trong 19 chi thì có 14 chi với 64 loài được
sử dụng trong các lĩnh vực như làm thuốc, làm gia vị, làm cảnh và cho tinh dầu
[8].Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu khác ở Việt Nam về họ Gừng,
tuy nhiên chỉ là các nghiên cứu về 1 số chi riêng lẻ, hay những công bố về các
chi, loài mới bổ sung cho hệ thực vật trên thế giới và ở Việt Nam trên các tạp
chí trong và ngoài nước như của Theilade &J.Mood (1999) [67], K.Larsen &
M.F.Newman (2001) [58], T. Rehse & J. Kress (2003) [61], Nguyễn Quốc Bình
[48].
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về phân loại và hệ thống học, còn
có một số công trình nghiên cứu về giá trị tài nguyên của họ Gừng như Võ Văn
Chi (2012) trong “Từ điển cây thuốc Việt Nam” đã giới thiệu 45 loài thuộc 12
chi làm thuốc [12], [14]. Lê Trần Đức (1997) đã giới thiệu 112 loài thuộc 5 chi
21
có tác dụng làm thuốc [17]. Đỗ Tất Lợi (1995) đã mô tả 13 loài thuộc 5 chi làm
thuốc [31]. Đỗ Huy Bích và các tác giả (2004) đã mô tả 16 loài thuộc 7 chi làm
thuốc [6]. Trần Đình Lý (1993) trong 1900 loài cây có ích ở Việt Nam đã giới
thiệu 8 chi với 24 loài được sử dụng làm thuốc, làm gia vị, cho tinh dầu [34].
Triệu Văn Hùng (2007) trong “Lâm Sản ngoài gỗ ở Việt Nam” đã giới thiệu 13
loài được sử dụng trong lĩnh vực làm thuốc và cho tinh dầu [24].
1.2.3. Ở Nghệ An
Nghiên cứu họ Gừng ở Nghệ An chưa có công trình nào chuyên sâu mà
chỉ có các công trình công bố về điều tra đa dạng ở các khu vực khác nhau
như: Phạm Hồng Ban (2000) khi nghiên cứu thành phần loài thực vật ở Pù Mát
công bố 6 loài, thuộc 6 chi của họ Gừng [1]. Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn
Thanh Nhàn (2004) đã công bố 32 loài, của 8 chi họ Gừng ở vườn Quốc gia Pù
Mát... [43]. Gần đây khi nghiên cứu hệ thực vật Pù Hoạt, Lê Thị Hương và cs
đã công bố có 13 loài và 6 chi thuộc họ Gừng[18]. Như vậy các nghiên cứu về
họ Gừng ở Nghệ An đang còn rất ít mặc dù tiềm năng về tính đa dạng và giá trị
sử dụng là rất lớn.
1.3. Nghiên cứu về yếu tố địa lý
Mỗi hệ thực vật bao gồm nhiều yếu tố địa lý thực vật khác nhau, thể hiện
ở yếu tố đặc hữu và yếu tố di cư, các loài thuộc yếu tố đặc hữu biểu hiện ở sự
khác biệt giữa các hệ thực vật với nhau, còn các loài thuộc yếu tố di cư sẽ chỉ
ra sự liên hệ giữa các hệ thực vật đó hay nói cách khác đó chính là sự du nhập
của các loài bằng những con đường khác nhau tạo thành ổ sinh thái trong khu
hệ thực vật.
Các yếu tố địa lý thực vật của Việt Nam mang bản sắc của các yếu tố địa lý
Đông Dương, vì thế để phân tích và đánh giá các yếu tố cấu thành hệ thực vật
Việt Nam về mặt địa lý trước tiên phải kể đến các công trình của Gagnepain:
“Góp phần nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương” (1924) và “Giới thiệu về hệ
thực vật Đông Dương” [theo 40].Theo tác giả, hệ thực vật Đông Dương bao gồm
các yếu tố:
22
Yếu tố Trung Quốc
33,8%
Yếu tố Xích Kim - Himalaya
18,5%
Yếu tố Malaysia và nhiệt đới khác
15,0%
Yếu tố đặc hữu bản địa
11,9%
Yếu tố nhập nội và phân bố rộng
20,8%
Trong các yếu tố địa lý trên, yếu tố địa lý đặc hữu bẩn địa là quan trọng
nhất, vì yếu tố này thể hiện bản chất riêng biệt của khu hệ thực vật tại địa
phương và sự độc đáo về loài.
Theo Pócs Tamás (1965), khi nghiên cứu hệ thực vật Bắc Việt Nam, đã
phân biệt 3 nhóm các yếu tố như sau:
- Nhân tố bản địa đặc hữu
39,90 %
+ Của Việt Nam
32,55 %
+ Của Đông Dương
7,35 %
- Nhân tố di cư từ các vùng nhiệt đới:
55,27 %
+ Từ Trung Quốc
12,89 %
+ Từ ấn Độ và Himalaya
9,33 %
+ Từ Malaysia - Indonesia
25,69 %
+ Từ các vùng nhiệt đới khác
7,36 %
- Nhân tố khác
4,83 %
+ Ôn đới
3,27 %
+ Thế giới
1,56 %
Năm 1978, Thái Văn Trừng [45] căn cứ vào bảng thống kê các loài của hệ
thực vật Bắc Việt Nam đã cho rằng ở Việt Nam có 3% số chi và 27,5% số loài
đặc hữu. Nhưng khi thảo luận tác giả đã gộp các nhân tố di cư từ nam Trung
Hoa và nhân tố đặc hữu bản địa Việt Nam làm một và căn cứ vào khu phân bố
hiện tại, nguồn gốc phát sinh của loài đó đã nâng tỷ lệ các loài đặc hữu bản địa
lên 50% (tương tự 45,7% theo Gagnepain và 52,79% theo Pócs Tamás), còn yếu
tố di cư chiếm tỷ lệ 39% (trong đó từ Malaysia - Indonesia là 15%, từ Hymalaya
- Vân Nam - Quý Châu là 10% và từ Ấn Độ - Miến Điện là 14%), các nhân tố
23
khác theo tác giả chỉ chiếm 11% (7% nhiệt đới, 3% ôn đới và 1% thế giới), nhân
tố nhập nội vẫn là 3,08%.
Năm 2008 Nguyễn Nghĩa Thìn căn cứ vào các khung phân loại của Pócs
Tamás (1965), tác giả đã xây dựng thang phân loại các yếu tố địa lý thực vật cho
hệ thực vật Việt Nam và áp dụng cho việc sắp xếp các chi thực vật Việt Nam
vào các yếu tố địa lý như sau [40]:
1- Yếu tố toàn cầu
2- Yếu tố Liên nhiệt đới
3- Yếu tố Cổ nhiệt đới
4- Yếu tố nhiệt đới châu Á
5- Yếu tố ôn đới
6- Yếu tố đặc hữu Việt Nam
7- Yếu tố cây trồng.
Từ khung phân loại các yếu tố địa lý đó Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự
đã lần lượt xác định các yếu tố địa lý thực vật của hệ thực vật các VQG và
KBTTN trong cả nước. Tài liệu mới nhất về các yếu tố địa lý thực vật của hệ
thực vật chính ở VQG Bạch Mã (2003) [42] được chỉ ra như sau:
Yếu tố toàn cầu:
0,61 %
Yếu tố nhiệt đới:
62,93 %
Yếu tố ôn đới:
3,76 %
Yếu tố đặc hữu Việt Nam:
25,12 %
Yếu tố cây trồng:
1,64 %
Đối với VQG Pù Mát [43], năm 2004 các yếu tố địa lý thực vật chính đã
được tác giả và cộng sự chỉ ra như sau:
Yếu tố toàn cầu:
2,40 %
Yếu tố nhiệt đới:
65,05 %
Yếu tố ôn đới:
5,35 %
Yếu tố đặc hữu Việt Nam:
14,19 %
Yếu tố cây trồng:
5,56 %
24
Năm 2006, khi nghiên cứu hệ thực vật Na Hang [44], Nguyễn Nghĩa Thìn
đã đưa ra các yếu tố địa lý như sau:
Yếu tố toàn cầu:
2,58 %
Yếu tố nhiệt đới:
80,21 %
Yếu tố ôn đới:
5,25%
Yếu tố đặc hữu Việt Nam:
8,87 %
Yếu tố cây trồng:
0,34 %
1.4. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại khu vực nghiên cứu
1.4.1 Điều kiện tự nhiên
1.4.1.1. Vị trí địa lý
Xã Bình Chuẩn (huyện Con Cuông); xã Nga My, Xiềng My (huyện
Tương Dương) thuộcKhu BTTN Pù Huống cách thành phố Vinh 180 km về phía
Tây Tây Bắc, có tọa độ địa lý như sau:Từ 19o15'5” đến 19o28'31”vĩ độ Bắc;Từ
104o44'27’’ đến 105o1'9”kinh độ Đông.Phía Bắc giáp xã Quang Phong, huyện
Quế Phong; xã Châu Hoàn, Diễn Lãm huyện Quỳ Châu. Phía Namgiáp xã Đôn
Phục của huyện Con Cuông. Phía Đông giáp xã Châu Cường, Nam Sơn của
huyện Quỳ Hợp. Phía Tây giáp xã Yên Tĩnh, Yên Hòa, Yên Thắng của huyện
Tương Dương.
1.4.1.2. Địa hình
Khu BTTN Pù Huống nằm trải dài ở 2 mái dông chính từ tam giác Pù
Huống đến Pù Lòn với chiều dài 43km, có các đỉnh núi cao như Pù Lon cao
1.447m, Pù Pâng cao 1.302m, Pù Huống cao 1.200m, Pa Hồng cao 1.022m, Pa
Cẩu cao 959m, Cô Tầng cao 957m, Pù Tèn Be cao 931m,... và nhiều đỉnh núi
khác có độ cao trên 900m. Khu vực có rừng trên núi đá vôi ở các xã Bình Chuẩn
và Nga My, nhìn chung khu vực có độ cao giảm dần từ Tây sang Đông, từ Tây
Bắc xuống Đông Nam. Độ cao trung bình 750m, độ dốc trung bình 25 0, nhiều
nơi có độ dốc trên 400,… Địa hình hiểm trở, dốc lớn với hệ thống chia cắt mạnh
của sông suối đã tạo nên vùng có tính đa dạng sinh học cao và giàu tài nguyên
thiên nhiên.
25