Tải bản đầy đủ (.doc) (33 trang)

Một số hạn chế về chính sách tỷ giá của việt nam hiện nay, dự báo tình hình kinh tế năm 2012 và giải pháp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (395.12 KB, 33 trang )

Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế

MỤC LỤC
I. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI TỶ GIÁ VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU CHỈNH
TỶ GIÁ ....................................................................................................................3
a. Các nhân tố tác động tới tỷ giá...........................................................................3
i. Các nhân tố ngắn hạn............................................................................................3
ii. Các nhân tố dài hạn..............................................................................................4
b. Các hình thức can thiệp, điều hành tỷ giá.........................................................6
I.1.1. Nghiệp vụ thị trường mở .................................................................................6
I.1.2. Chính sách lãi suất chiết khấu........................................................................7
I.1.3. Quỹ dự trữ bình ổn hối đoái.............................................................................7
I.1.4. Phá giá tiền tệ..................................................................................................8
I.1.5. Nâng giá tiền tệ...............................................................................................8
c. Các chế độ tỷ giá..................................................................................................9
I.1.1. Chế độ tỷ giá cố định......................................................................................9
I.1.2. Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn.......................................................................9
I.1.3. Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết....................................................................10
II. BÀN VỀ TỶ GIÁ Ở VIỆT NAM.....................................................................10
I.2. Tỷ giá Việt Nam qua các giai đoạn................................................................10
I.2.1. Giai đoạn cố định tỷ giá hối đoái từ 1955 - 1989..........................................10
I.2.2. Giai đoạn thả nổi tỷ giá hối đoái 1989 - 1992...............................................13
I.2.3. Giai đoạn cố định tỷ giá hối đoái 1993 - 1999...............................................16
I.2.4. Giai đoạn thả nổi có sự điều tiết của Nhà nước từ 1999 đến nay..................19
I.3. Phân tích sự biến động tỷ giá USD/VND trong thời gian qua .....................21
I.3.1. Diễn biến tỷ giá trong thời gian qua..............................................................21
I.3.2. Sự cần thiết phải điều chỉnh tỷ giá.................................................................23
I.3.3. Phân tích tác động từ sự điều chỉnh tỷ giá của NHNN...................................25
I.4. Một số hạn chế về chính sách tỷ giá của Việt Nam hiện nay, dự báo tình
hình kinh tế năm 2012 và giải pháp .....................................................................26
Nhóm 6



1

Cao học 20S


Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế
I.4.1. Một số hạn chế về chính sách tỷ giá của Việt Nam hiện nay..........................26
I.4.2. Dự báo tình hình kinh tế thế giới và kinh tế Việt Nam năm 2012..................29
I.4.3. Một số giải pháp............................................................................................31

Nhóm 6

2

Cao học 20S


Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế

I.
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI TỶ GIÁ VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU
CHỈNH TỶ GIÁ
a. Các nhân tố tác động tới tỷ giá
i. Các nhân tố ngắn hạn
Điều kiện ngang giá tiền lãi:
Rd = Rf
Hay:
+
Trong đó:


I d = If

Et+1 -

Et

Et

- Rd ; Rf lần lượt là lợi tức tiền gửi nội tệ và ngoại tệ
- Id ; If lần lượt là lãi suát tiền gửi nội tệ và ngoại tệ
- Et+1 là tỷ giá dự tính trong tương lai
- Et là tỷ giá trong ngắn hạn

Theo sách “Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính” của Frederic S.
Mishkin, về ngắn hạn có hai nhân tố chính sau:
 Thay đổi trong lãi suất
Lãi suất là một biến số kinh tế tổng hợp tác động đến nhiều chỉ tiêu khác
nhau trong đó tỷ giá và lãi suất có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với nhau.
Nếu lãi suất tiền gửi nước ngoài tăng lên, giữ nguyên mọi yếu tố khác
không đổi, thì lợi tức dự tính về những khoản tiền gửi đó cũng phải tăng theo.
Như vậy tại tỷ giá đã cho, việc tăng của lợi tức dự tính về tiền gửi nước ngoài
làm cho người dân muốn mua ngoại tệ và bán nội tệ, do vậy giá trị của đồng
nội tệ phải sụt xuống. Nếu lãi suất tiền gửi nước ngoài giảm thì ngược lại.
Tương tự như vậy, nếu lãi suất trong nước (lãi suất tiền gửi nội tệ) tăng
trong điều kiện mọi yếu tố khác không đổi làm tăng lợi tức dự tính về tiền gửi
nội tệ, tạo nên cầu vượt quá đối với tiền gửi nội tệ tại tỷ giá cân bằng ban đầu,
dẫn tới việc mua tiền gửi nội tệ và làm đồng nội tệ tăng giá. Nếu lãi suất trong
nước giảm thì ngược lại.
Trên đây là bàn về sự thay đổi của lãi suất trong điều kiện mọi yếu tố

khác như lạm phát không thay đổi nghĩa là bàn về sự thay đổi của lãi suất
Nhóm 6

3

Cao học 20S


Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế

thực tế. Còn khi lãi suất danh nghĩa tăng do một sự tăng lên trong lạm phát dự
tính trong nước dẫn đến mức tăng giá dự tính của đồng nội tệ giảm xuống,
mức này điển hình được cho là lớn hơn mức tăng của lãi suất trong nước. Kết
quả là, với một tỷ giá đã cho, bất kỳ lợi tức dự tính về tiền gửi nước ngoài
tăng nhiều hơn lợi tức dự tính về tiền gửi nội tệ, dẫn đến sự giảm giá của đồng
nội tệ.
 Thay đổi trong cung tiền tệ
Giả định rằng Ngân hàng trung ương quyết định tăng mức cung tiền tệ
bằng nội tệ. Cung tiền tệ cao hơn sẽ dẫn đến mức giá cả trong nước cao hơn
về dài hạn, từ đó dẫn đến tỷ giá tương lai dự tính thấp hơn. Kết quả sụt xuống
trong sự tăng giá dự tính của nội tệ làm tăng lợi tức dự tính về tiền gửi nước
ngoài với bất kỳ một tỷ giá hiện hành đã cho nào. Hơn nữa cung tiền tệ cao
hơn sẽ dẫn đến một mức cung tiền tệ thực tế cao hơn, bởi vì mức giá không
lập tức tăng lên ngay trong thời gian ngắn. Như vậy, kết quả tăng lên trong
cung tiền tệ thực tế làm cho lãi suất trong nước sụt xuống, điều này làm giảm
thấp lợi tức dự tính về tiền gửi trong nước, và làm cho đồng nội tệ giảm giá.
ii. Các nhân tố dài hạn
Theo sách “Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính” của Frederic S.
Mishkin, về dài hạn có bốn nhân tố chính sau:
 Mức giá cả tương đối - tỷ lệ nghịch với e (hay giá đồng tiền)

Sự tăng lên mức giá của một nước (tương đối so với mức giá nước
ngoài) làm cho đồng tiền nước đó giảm giá, trong khi một sự giảm xuống của
mức giá tương đối của một nước làm cho đồng tiền của nước đó tăng giá.
 Thuế và Cô-ta - tỷ lệ thuận với e
Những hàng rào ngăn cản tự do buôn bán như thuế quan (thuế hàng
nhập) và cô – ta (những hạn chế về số lượng hàng ngoại có thể được nhập
khẩu) có thể tác động đến tỷ giá.
Sự tăng lên của thuế hoặc Cô-ta dẫn đến tăng cầu hàng trong nước và
làm tăng giá của đồng nội tệ, làm cho giá đồng tiền trong nước tăng lên. Tuy
nhiên, với một quốc gia sử dụng hàng rào thuế và Cô-ta nhiều thì tỷ giá không
có nhiều ý nghĩa.
Nhóm 6

4

Cao học 20S


Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế

 Sự ưa thích hàng nội so với hàng ngoại
Cầu với hàng xuất khẩu của một nước tăng lên về lâu dài làm cho đồng
tiền của nước đó tăng giá trong khi cầu về hàng nhập tăng lên làm cho đồng
tiền của nước đó giảm giá.
 Năng suất lao động - tỷ lệ thuận với e
Nếu năng suất lao động của một nước cao hơn các nước khác, thì những
nhà kinh doanh trong nước đó có thể hạ giá hàng nội tương đối so với hàng
ngoại và vẫn thu được lãi. Kết quả là cầu về hàng nội tăng lên và đồng nội tệ
có xu hướng tăng giá bởi vì hàng nội sẽ tiếp tục được bán tốt với một trị giá
cao hơn của đồng nội tệ. Mặt khác nếu năng suất lao động của nước đó kém

hơn các nước khác thì hàng nước đó trở nên tương đối đắt hơn và đồng tiền
của nó có xu hướng giảm giá. Về lâu dài, do năng suất lao động của một nước
cao hơn tương đối so với nước khác nên đồng tiền của nước đó tăng giá.
Ngoài bốn nhân tố chính nêu trên, hiện nay người ta còn đề cập tới ba
nhân tố nữa là: yếu tố tâm lý, tỷ lệ lạm phát, cán cân thương mại cũng là
những nhân tố tác động tới tỷ giá về dài hạn.
 Yếu tố tâm lý
Phần lớn các nước đang phát triển phải đối mặt với tình trạng “đô la
hoá” trong nền kinh tế. Đó là sự mất niềm tin vào đồng bản tệ, người dân và
các tổ chức kinh tế găm giữ đôla và chỉ tín nhiệm đồng tiền này trong thanh
toán, trao đổi. Do vậy cầu đôla rất lớn và giá các đồng bản tệ xuống thấp làm
cho các nước luôn trong tình trạng căng thẳng về dự trữ ngoại hối.
 Tỷ lệ lạm phát
Nếu tỷ lệ lạm phát ở nước A cao hơn ở nước B. Nước A cần nhiều tiền
hơn để đổi lấy một lượng tiền nhất định ở nước B và như vậy giá đồng tiền
nước A giảm xuống.
 Cán cân thương mại - tỷ lệ thuận với e
Cán cân thương mại tăng lên, xuất khẩu tăng làm cho cung về ngoại tệ
tăng lên, do vậy đồng nội tệ tăng giá.

Nhóm 6

5

Cao học 20S


Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế

b. Các hình thức can thiệp, điều hành tỷ giá

Ngày nay, tỷ giá đã trở thành một công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của
mỗi quốc gia và là vũ khí lợi hại trong cuộc chiến tranh thương mại hết sức
khốc liệt trên thế giới. Nhằm đạt được một số mục tiêu kinh tế, chính trị nào
đó, ngân hàng trung ương các nước thường can thiệp vào thị trường hối đoái
để làm dịch chuyển tỷ giá hối đoái đến mức phù hợp theo mục đích đề ra của
họ.
Ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển, mục đích can thiệp
của ngân hàng trung ương là để duy trì một cách hợp lý các quan hệ thị
trường có tổ chức và khắc phục những biến động lớn của tỷ giá.
Trong khi đó ở nhiều nước khác, đặc biệt là những nước đang phát triển,
mục tiêu can thiệp của ngân hàng trung ương lại là tạo ra một chế độ tỷ giá
hối đoái phù hợp, đáp ứng các mục tiêu ổn định, phát triển kinh tế của đất
nước, và giảm đến mức thấp nhất những rủi ro, thiệt hại do biến động của tỷ
giá gây ra. Đối với những nước này, vai trò điều tiết vĩ mô của Chính phủ là
rất quan trọng.
Hoạt động can thiệp của ngân hàng trung ương đến tỷ giá thường được
thực hiện dưới các hình thức sau:
I.1.1. Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện thông qua các nghiệp vụ mua
bán ngoại tệ điều chỉnh tỷ giá hối đoái và đây là một trong những biện pháp
rất quan trọng nhằm giữ vững sự ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia.
Biện pháp này tác động trực tiếp vào tỷ giá hối đoái.
Có hai dạng can thiệp của ngân hàng trung ương lên thị trường ngoại hối
là: (1) can thiệp hữu hiệu, và (2) can thiệp vô hiệu. Can thiệp hữu hiệu là sự
can thiệp của ngân hàng trung ương trên thị trường hối đoái thông qua việc
mua, bán ngoại tệ làm thay đổi cung tiền tệ. Nếu ngân hàng trung ương mua
ngoại tệ, làm cho cầu về ngoại tệ tăng, dẫn tới sự tăng giá của đồng ngoại tệ
và giảm giá của đồng nội tệ. Nếu ngân hàng trung ương bán ngoại tệ thì
ngược lại. Can thiệp vô hiệu là sự can thiệp của ngân hàng trung ương trên thị
trường hối đoái mà không làm thay đổi cung tiền tệ. Can thiệp vô hiệu được

thực hiện bằng cách tiến hành đồng thời hai giao dịch: một giao dịch trên thị
Nhóm 6

6

Cao học 20S


Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế

trường hối đoái và một giao dịch trên thị trường trái phiếu kho bạc. Như vậy,
can thiệp vô hiệu là ngân hàng trung ương tham gia vào các nghiệp vụ thị
trường tự do bù trừ, nên không có ảnh hưởng đến cơ số tiền tệ và cung ứng
tiền tệ, và như vậy không có ảnh hưởng đến tỷ giá.
Việc mua bán ngoại tệ được thực hiện trên nguyên tắc diễn biến giá cả
ngoại tệ trên thị trường và ý đồ can thiệp chủ quan của nhà nước. Do vậy việc
lựa chọn thời điểm cần mua bán ngoại tệ trên thị trường với tỷ giá nào để đạt
mục tiêu điều chỉnh có ý nghĩa quyết định. Để nắm được một cách đầy đủ tình
hình cung cầu ngoại tệ trê thị trường, ngày nay nhiều nước trên thế giới đã và
đang tổ chức các thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Để thực hiện hiệu quả biện pháp này, một trong những điều kiện không
thể thiếu cho bất kỳ quốc gia nào là cần phải thường xuyên có một lượng dự
trữ ngoại tệ đủ sức để can thiệp vào thị trường khi cần thiết.
I.1.2. Chính sách lãi suất chiết khấu
Đây là phương pháp thường được sử dụng để điều chỉnh tỷ giá trên thị
trường. Khi tỷ giá hối đoái (e) cao ở mức báo động cần phải can thiệp thì
Ngân hàng trung ương nâng cao lãi suất chiết khấu. Do lãi suất chiết khấu
tăng làm lãi suất cho vay trên thị trường cũng tăng lên, kết quả là vốn vay
ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ dồn vào để thu lãi cao hơn. Nhờ đó, sự
căng thẳng về nhu cầu ngoại tệ sẽ bớt đi, tỷ giá hối đoái không có cơ hội tăng

nữa. Trong trường hợp ngược lại, Ngân hàng trung ương sẽ thực hiện chính
sách ngược lại. Từ năm 1971 đến năm 1973, đồng USD rơi vào khủng hoảng,
Tổng thống Mỹ, Nich – xon, đã phải áp dụng những biện pháp khẩn cấp để
cứu nguy cho đồng USD bằng cách tăng lãi suất chiết khấu lên rất cao để thu
hút vốn ngắn hạn trên thị trường tiền tệ quốc tế.
Tuy nhiên, phương pháp lãi suất chiết khấu cũng có những hạn chế nhất
định, vì quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá chỉ là tác động qua lại gián tiếp, chứ
không phải là quan hệ trực tiếp nhân quả.
I.1.3. Quỹ dự trữ bình ổn hối đoái
Trong điều kiện tình hình giá cả thị trường luôn không ổn định, thậm chí
xảy ra những biến động lớn, các nước thường sử dụng quỹ dự trữ bình ổn hối
đoái như là một trong những công cụ để điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Nguồn
Nhóm 6

7

Cao học 20S


Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế

vốn để hình thành quỹ dự trữ bình ổn hối đoái thường là phát hành trái khoán
kho bạc bằng tiền quốc gia hoặc sử dụng vàng để lập quỹ.
Trong trường hợp thành lập quỹ bằng cách sử dụng vàng, khi cán cân
thanh toán quốc tế bị thâm hụt, quỹ sẽ đưa vàng ra bán, thu ngoại tệ về để cân
bằng cán cân thanh toán, duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái. Còn trong
trường hợp thành lập quỹ bằng phát hành trái khoán kho bạc, khi ngoại tệ vào
nhiều thì sử dụng quỹ này để mua nhằm hạn chế mức độ mất giá của đồng
ngoại tệ; ngược lại, trong trường hợp vốn vay chạy ra nước ngoài, quỹ bình
ổn hối đoái tung ngoại tệ ra bán và tiếp tục mua các trái khoán đã phát hành

để ngăn chặn giá ngoại tệ tăng.
I.1.4. Phá giá tiền tệ
Phá giá đồng tiền là việc hạ thấp sức mua của đồng tiền đối với các
ngoại tệ hay nâng tỷ giá hối đoái của một đơn vị ngoại tệ. Kết quả của phá giá
đồng tiền sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá hối đoái. Trên thế giới, việc phá
giá đồng tiền thường được sử dụng ở những nước có tiềm lực kinh tế dồi dào,
nhưng phải đối đầu với suy thoái kinh tế đi đôi với lạm phát trầm trọng. Khi
tiến hành phá giá đồng tiền, cần một lượng vốn nhất định để thực hiện các
biện pháp giảm tác động do phá giá đem lại.
I.1.5. Nâng giá tiền tệ
Nâng giá tiền tệ là việc nâng giá chính thức đơn vị tiền tệ nước mình so
với ngoại tệ. Tỷ giá của ngoại tệ so với đồng tiền nâng giá bị sụt xuống nghĩa
là hạ thấp tỷ giá hối đoái xuống.
Ảnh hưởng của nâng giá tiền tệ đối với ngoại thương của một nước hoàn
toàn ngược lại với phá giá tiền tệ. Nâng giá tiền tệ trong điều kiện hiện nay có
thể xảy ra dưới áp lực của nước khác – khi mà các nước này muốn tăng khả
năng cạnh tranh của hàng hoá nước mình với các nước có cán cân thanh toán
và cán cân thương mại dư thừa. Ngoài ra, những nước có nền kinh tế phát
triển quá “nóng”, muốn làm “lạnh” nền kinh tế để tránh khủng hoảng thì sẽ
dùng biện pháp nâng giá tiền tệ để giảm đầu tư vào trong nước, tăng xuất
khẩu vốn, và giảm xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài.
Một số công cụ trên được Chính phủ các nước sử dụng để tác động vào
tỷ giá hối đoái nhằm mực đích cao nhất đó là duy trì sự ổn định của tỷ giá hối
Nhóm 6

8

Cao học 20S



Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế

đoái, ổn định sức mua của đồng tiền, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, góp phần
vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội đã đề ra.
c. Các chế độ tỷ giá
Tỷ giá hối đoái có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng và ổn định
của nền kinh tế, do vậy chính sách tỷ giá hối đoái của bất kỳ một quốc gia nào
cũng được coi như một trong những bộ phận cấu thành quan trọng của chính
sách tiền tệ quốc gia. Duy trì, giữ vững ổn định của nền kinh tế vĩ mô là yêu
cầu cấp thiết để tăng trưởng kinh tế và là mục tiêu hàng đầu và tập trung của
của các chính sách kinh tế của chính phủ, trong đó có chính sách tỷ giá. Một
quốc gia tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh và thời điểm sẽ xác định cho mình một
chính sách tỷ giá thích hợp.
Trên thế giới hiện nay các nước theo đuổi các cách điều hành tỷ giá khác
nhau, song tựu chung lại đều đi theo xu hướng hoặc là chế độ tỷ giá cố định,
hoặc là chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn hoặc là thả nổi có điều tiết.
I.1.1. Chế độ tỷ giá cố định
Tỷ giá do ngân hàng trung ương ấn định ở một mức nào đấy. Tỷ giá cố
định có thể cao hơn hoặc thấp hơn tỷ giá cân bằng trên thị trường ngoại hối.
Để giữ vững được tỷ giá ở mức cố định, ngân hàng trung ương phải mua bán
ngoại tệ trên thị trường ngoại hối, và như vậy cung tiền tuột khỏi sự kiểm soát
của ngân hàng trung ương. Ngân hàng trung ương chỉ có thể đạt được một
trong hai mục tiêu: hoặc giữ vững cho tỷ giá cố định, hoặc kiểm soát được
mức cung tiền chứ không thể đồng thời thực hiện được cả hai mục tiêu đó.
I.1.2. Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn
Tỷ giá do cung cầu trên thị trường ngoại hối quyết định, không có sự
can thiệp của chính phủ. Trong chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn, sự biến động
của tỷ giá luôn phản ánh những thay đổi của tỷ giá, luôn phản ánh những thay
đổi trong quan hệ cung - cầu trên thị trường ngoại hối. Chính phủ tham gia thị
trường ngoại hối với tư cách là một thành viên bình thường, nghĩa là Chính

phủ có thể mua vào hay bán ra một đồng tiền nhất định để phục vụ cho mục
đích hoạt động của Chính phủ chứ không nhằm mục đích can thiệp, gây ảnh
hưởng lên tỷ giá hay cố định tỷ giá.

Nhóm 6

9

Cao học 20S


Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế

I.1.3. Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết
Đây là một chế độ hỗn hợp giữa chế độ tỷ giá cố định và chế độ tỷ giá
thả nổi hoàn toàn. Quan điểm của các nhà kinh tế trường phái chính hiện đại
coi trọng cả vai trò kinh tế của Chính phủ và quy luật “bàn tay vô hình”. Tỷ
giá được hình thành trên cơ sở thị trường theo quy luật cung cầu, cơ quan điều
hành chính sách tiền tệ chỉ tác động lên tỷ giá bằng các công cụ mang tính thị
trường nhằm tác động lên thị trường ngoại hối.
Thế giới đã chuyển từ chế độ tỷ giá cố định được thực hiện từ sau chiến
tranh thế giới lần thứ II đến đầu năm 1973, sang chế độ tỷ giá thả nổi, linh
hoạt, thay đổi hàng ngày. Nhưng vào cuối những năm 80, chế độ tỷ giá thả
nổi hoàn toàn bộc lộ tác động tiêu cực đến các nền kinh tế, và người ta bắt
đầu nghĩ đến một chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết nhằm hạn chế những tác
động của chế độ tỷ giá linh hoạt. Hiện nay, các chính phủ đều muốn can thiệp
để hạn chế những biến động mạnh mẽ lên xuống của tỷ giá, một mặt là cần
thiết để cân bằng cung cầu trong thời gian ngắn, nhưng mặt khác lại gây ra
những biến động không mong muốn của giá cả và đầu ra ở trong nước.
II.


BÀN VỀ TỶ GIÁ Ở VIỆT NAM

I.2.

Tỷ giá Việt Nam qua các giai đoạn

Đặc trưng chính sách tỷ giá của một quốc gia chủ yếu phụ thuộc vào cơ
chế xác định và cơ chế can thiệp lên tỷ giá. Do vậy, kể từ khi Việt Nam chính
thức có đồng tiền quốc gia (VND) từ năm 1955 cho đến nay diễn biến về tỷ
giá có thể được chia làm bốn giai đoạn.
I.2.1. Giai đoạn cố định tỷ giá hối đoái từ 1955 - 1989
Giai đoạn từ năm 1955 đến 1989, kinh tế cả nước vận hành theo cơ
chế kế hoạch hóa tập trung, nhà nước luôn can thiệp mạnh vào mọi hoạt
động kinh tế, trong đó có vấn đề tỷ giá. Tỷ giá hối đoái của Việt Nam giai
đoạn này là tỷ giá cố định và đa tỷ giá theo cơ chế can thiệp trực tiếp của Nhà
nước bằng cách ấn định tỷ giá chính thức như là một tỷ giá trung tâm cùng
với việc định ra biên độ tỷ giá. Tuy nhiên, do quan hệ kinh tế của Việt Nam
trong giai đoạn này chủ yếu là với Liên Xô và Trung Quốc nên tỷ giá hối

Nhóm 6
20S

10

Cao học


Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế


đoái cố định mới tập trung trong khuôn khổ giữa đồng VND với đồng Rúp
SUR của Liên Xô và nhân dân tệ CNY của Trung Quốc.
Ngày 25/11/1955, tỷ giá hối đoái chính thức của VND và CNY của
Trung Quốc chính thức được công bố E(CNY/VND) = 1.470. Tỷ giá này
được xác định trên việc so sánh giá bán lẻ của 34 mặt hàng tiêu dùng tại một
số tỉnh lớn của hai nước. Cùng thời điểm, E(CNY/SUR) = 2 nên tỷ giá chéo
E(SUR/VND) = 735.
Năm 1959 đổi tiền đợt đầu tiên của Việt Nam, 1 đồng mới bằng 1000
đồng mới thì tỷ giá hối đoái thay đổi tương ứng với sự thay đổi mệnh giá của
đồng tiền. Theo đó E(SUR/VND) = 0,735. Đến năm 1961, do hàm lượng
vàng trong đồng SUR được điều chỉnh tăng 4,44 lần nên tỷ giá hối đoái
E(SUR/VND) cũng tăng 4,44 lần, tương ứng: 1SUR=3,27VND.
Năm 1977, các nước xã hội chủ nghĩa thỏa thuận thanh toán với nhau
bằng tiền SUR chuyển nhượng có hàm lượng vàng quy định là 0,98712 gam
trên mỗi đồng SUR chuyển nhượng. Bên cạnh tỷ giá chính thức (tỷ giá mậu
dịch), nhà nước còn sử dụng tỷ giá kết toán nội bộ E(SUR/VND) = 5,64
được xác định từ năm 1958 trên cơ sở so sánh giá cả hàng hóa xuất khẩu
của Việt Nam bằng đồng SUR với giá hàng hóa đó bằng đồng VND. Tỷ
giá kết toán nội bộ này dùng để thanh toán giữa các tổ chức và đơn vị kinh
tế.
Năm 1985, sau khi có chủ trương thu hút vốn
vấn đề luồng ngoại tệ bằng USD vào Việt Nam phải
xác định một cách chủ quan theo tỷ giá hiện tại
tương quan E(SUR/USD) được xem là bằng 1. Do
E(USD/VND) cũng bằng 18.

đầu tư nước ngoài thì
được tính đến và được
E(SUR/VND) và mối
vậy, tỷ giá chính thức


Có thể nói, trước năm 1987, toàn bộ chính sách tỷ giá hối đoái của Việt
Nam thời kỳ này tập trung vào việc ấn định trực tiếp tỷ giá hối đoái theo chế
độ tỷ giá hối đoái cố định. Việc điều chỉnh tỷ giá giai đoạn này chủ yếu là do
sự thay đổi bên ngoài như: mệnh giá đồng tiền, sự thay đổi hàm lượng vàng
của các đồng ngoại tệ có liên quan…

Nhóm 6
20S

11

Cao học


Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế

Từ năm 1987 đến 3/1989, có một số sự điều chỉnh tỷ giá hối đoái như
sau:


Tại Quyết định số 290-CT ngày 10/10/1987, E(SUR/VND) = 150 thay

cho 5,64 từ năm 1959 (SUR mậu dịch); E(USD/VND) = 225 thay cho 18 từ
năm 1985. Các tỷ giá này áp dụng để quyết toán nội bộ giữa đồng VND với
SUR và USD. Còn đối với các đồng tiền của các nước khác XHCN, Ngân
hàng Nhà nước căn cứ vào tỷ giá kết toán nội bộ trên và mối tương quan với
USD trên thị trường quốc tế để quy định tỷ giá kết toán nội vụ cụ thể cho từng
đồng tiền.
Tuy nhiên, tỷ giá kết toán nội bộ trên chỉ được áp dụng trong các giao

dịch có tính chất nội bộ về các khoản thu, chi ngoại tệ với 5 nhóm: Các hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu bằng nguồn vốn mậu dịch, vay nợ, viện trợ;
Cước phí vận tải, bảo hiểm và các chi phí liên quan hàng hóa xuất, nhập khẩu;
Các khoản thu, chi ngoại tệ thuộc lĩnh vực hoạt động kinh doanh dịch vụ đối
ngoại khác; Các khoản thu, chi ngoại tệ thuộc vay nợ, viện trợ quốc tế Ngân
hàng Nhà nước thanh toán với Ngân sách Nhà nước; Các khoản thanh toán
thu, chi ngoại tệ có tính mậu dịch khác, không thuộc phạm vi áp dụng của tỷ
giá hối đoái chính thức. Tỷ giá kết toán nội bộ trên được quy định không áp
dụng đối với các xí nghiệp liên doanh với nước ngoài.
Trong trương hợp hệ thống giá cả trong nước hoặc quốc tế có sự biến
động với tổng mức tăng hay giảm giá vượt 20% so với tổng mức giá dùng làm
cơ sở tính tỷ giá thì các ngành cùng nhau xem xét, kiến nghị sửa đổi.
Như vậy, mặc dù có điều chỉnh tỷ giá hối đoái song phạm vi điều chỉnh
vẫn rất nhỏ, chỉ quy định tỷ giá cố định mới và phạm vi áp dụng đối với 2 loại
ngoại tệ chính là SUR và USD. Tỷ giá hối đoái với các đồng ngoại tệ khác chỉ
được đề cập ở việc giao trách nhiệm tổ chức xác định khi cần thiết.


Tại Quyết định số 326-CT ngày 30/11/1987, đã xác định thêm tỷ giá phi

mậu dịch đối với đồng SUR là 204; tỷ giá chính thức E(USD/VND) = 638
thay cho 225 như trên.

Nhóm 6
20S

12

Cao học



Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế

Có thể nói, trong vòng 1,5 tháng Nhà nước đã tiến hành điều chỉnh tỷ giá
chính thức với USD lên gần gấp 3 lần và đưa thêm một loại tỷ giá mới vào thị
trường, đó là tỷ giá phi mậu dịch.


Tại Quyết định số 43-CT ngày 3/3/1989, Hội đồng Bộ trưởng đã quyết

định không áp dụng tỷ giá kết toán nội bộ đồng SUR và USD trong việc hạch
toán, thanh toán và quyết toán tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh trong
nước và xuất nhập khẩu mà sử dụng tỷ giá do Ngân hàng Nhà nước công bố.
Trong giai đoạn 1985 - 1988, tỷ giá trên thị trường là E(SUR/VND) =
1500, E(USD/VND) = 3000. Rõ ràng, 1 Rup nhập khẩu Nhà nước phải bù lỗ
số tiền là 1.350 đồng và 1 Đôla phải bù lỗ 2.775 đồng (năm 1987) và 2.362
đồng từ đầu tháng 12/1987. Tổng số tiền phải bù lỗ cho kim ngạch năm 1987
lên đến 900 tỷ VND. Tình hình này dẫn đến một thực trạng là những địa
phương, những ngành nghề nào đó càng xuất khẩu thì ngân sách càng phải bù
lỗ nhiều, nếu bù lỗ không đủ hay chậm trễ sẽ dẫn đến tình trạng nợ chồng chất
lẫn nhau và thiếu vốn kinh doanh. Do tỷ giá chính thức E quy định thấp, các
tổ chức kinh tế và cá nhân có ngoại tệ tìm cách không bán cho ngân hàng, các
tổ chức đại diện nước ngoài hoặc cá nhân nước ngoài cũng hạn chế việc
chuyển tiền vào tài khoản để chi tiêu mà thường đưa hàng từ nước ngoài vào
hay sử dụng trực tiếp tiền mặt trên thị trường.
I.2.2. Giai đoạn thả nổi tỷ giá hối đoái 1989 - 1992
Trong giai đoạn này, nét nổi bật đầu tiên đó là sự sụp đổ lần lượt của các
nước XHCN bắt đầu từ đầu năm 1989, Chính phủ đã cam kết thực thi ổn
định hoá nên kinh tế- tài chính- tiền tệ, dẫn đến việc cơ cấu lại tổ chức hoạt
động kinh doanh của hệ thống Ngân hàng. Trong đó, vấn đề tỷ giá hối đoái

được xem là khâu đột phá, có vai trò cực kỳ quan trọng đối với quá trình cải
cách, chuyển đổi cơ chế quản lý và mở cửa nền kinh tế.
Tỷ giá áp dụng trong việc thanh toán, mua bán và chuyển đổi ngoại tệ
được thực hiện theo tỷ giá kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương hoặc
Ngân hàng được uỷ quyền công bố trên cơ sở tỷ giá do NHNN Việt Nam
công bố. Như vậy, thế độc quyền trong kinh doanh ngoại hối đã được dỡ bỏ,
các NHTM có thể kinh doanh ngoại hối khi được cấp phép bởi NHNN.
Nhóm 6
20S

13

Cao học


Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế

Nhóm 6
20S

14

Cao học


Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế

Bảng 2.1: Tỷ giá và lạm phát của Việt Nam giai đoạn 1989 - 1992
Năm


1989

Tỷ giá E(USD/VND)
Giá chính thức Giá thị trường Tăng giảm %
nhà nước
tự do
4.200.200
4.570
+8,80
+34,70

1990

6.650

7.550

+13,50

+67,50

1991

12.720

12.550

-0,02

+68,00


1992

10.720

10.550

-0,02

+17,50

(Nguồn: Ngân hàng nhà nước)
Theo Bảng 2.1, tỷ giá hối đoái E(USD/VND) biến động mạnh theo xu
hướng giá trị đồng USD tăng liên tục kèm theo các cơn sốt, các đột biến với
biên độ rất lớn. Đỉnh cao là mức tăng tỷ giá USD là cuối năm 1991, khi giá
USD trên thị trường tư nhân tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đạt mức 14.450,
cao hơn hẳn tỷ giá chính thức (12.720) và tỷ giá năm trên thị trường (12.550).
Tình trạng này đã kích thích tâm lý nắm giữ đồng USD nhằm đầu cơ, kiếm
chênh lệch giá. Ngoại tệ khan hiếm lại không được dùng cho hoạt động xuất,
nhập khẩu mà còn bị buôn bán vòng vèo giữa các tổ chức trong nước. Các
doanh nghiệp tiến hành nhập khẩu theo hình thức trả chậm và phải chịu một
lãi suất cao do thiếu USD, USD đã thiếu lại càng thiếu nên dẫn đến các cơn
sốt Đôla theo chu kỳ vào giai đoạn này.
Phản ứng chính sách trong giai đoạn này có nhiều thay đổi, như chuyển
từ hình thức quản lý theo tỷ giá kết toán nội bộ bình quân cho tất cả các nhóm
hàng hóa và duy trì tương đối ổn định các tỷ giá này, hoặc nếu có thay đổi thì
cũng chỉ ở mức nhỏ nhằm ổn định hệ thống giá vật tư xuất, nhập khẩu nên tỷ
giá công bố vẫn có khoảng cách nhỏ. Đến đầu năm 1992, Chính phủ mới có
một số cải cách trong việc điều chỉnh tỷ giá như buộc các doanh nghiệp có
USD phải gửi vào ngân hàng, bãi bỏ hình thức quy định tỷ giá theo nhóm

hàng… đã làm cho giá USD bắt đầu giảm.

Nhóm 6
20S

15

Cao học


Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế

I.2.3. Giai đoạn cố định tỷ giá hối đoái 1993 - 1999
Bảng 2.2: Tỷ giá và lạm phát của Việt Nam giai đoạn 1993 -1996

Năm

Tỷ giá
E(USD/
VND)

So
sánh
với
năm

Tốc độ
tăng lạm
phát


Xuất
khẩu
(triệu
USD)

Nhập
khẩu
(triệu
USD)
3.924

Nhập
siêu
(triệu
USD)

1993

10.835

+1,07%

5,2%

2.985

939

1994


11.050

+1,98%

14,4%

4.054

5.825

1.771

1995

11.040

0,00

12,7%

5.448,9

8.155,4

2.706,5

1996

10.060


+0,18%

4,5%

7.255

11.143

3.888

(Nguồn: Ngân hàng nhà nước)
Bảng dữ liệu cho thấy, tốc độ tăng tỷ giá hối đoái chậm hơn tốc độ tăng
của lạm phát vì phụ thuộc vào cung cầu ngoại tệ, cụm các nhân tố đối ngoại.
Việc duy tỷ giá ổn định trong thời gian dài đã góp phần tích cực vào việc điều
hoà cung cầu ngoại tệ, bình ổn tỷ giá kích thích đầu tư, tăng trưỏng kinh tế.
Tuy nhiên, với nhu cầu phát triển kinh tế nói chung và thị trường nói riêng thì
hai trung tâm giao dịch ngoại tệ đã không đáp ứng được nhu cầu giao dịch
ngoại tệ của toàn quốc gia, làm cho ngoại thuơng kém phát triển. Nhập siêu
ngày càng tăng lên, từ 939 triệu USD năm 1993 lên 3.888 triệu USD năm
1996. Mặt khác, sự hoạt động tách biệt của hai trung tâm giao dịch này bị chi
phối bởi nhiều yếu tố khác của địa bàn dẫn đến càng khó khăn hơn cho việc
thống nhất điều hành tỷ giá theo chỉ đạo của NHNN trong giai đoạn này.
Do kết quả của sự can thiệp Ngân hàng Nhà nước vào thị trường ngoại
tệ, tỷ giá dần ổn định khiến cho lượng ngoại tệ đầu cơ trong các doanh nghiệp
được tung ra, hướng mạnh vào kinh doanh xuất, nhập khẩu. Đồng thời, có
một số lượng ngoại tệ được chuyển về do người Việt Nam ở nước ngoài gửi
cho người thân làm cho cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ, kéo tỷ giá
E(USD/VND) giảm mạnh. Sự vận động của tỷ giá hối đoái trong giai đoạn
này cho thấy tỷ giá hối đoái của Việt nam khá nhạy cảm trước những thay đổi
của tình hình kinh tế từ bên ngoài và yếu tố tâm lý, cán cân thương mại luôn

Nhóm 6
20S

16

Cao học


Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế

là những yếu tố có trọng số lớn. Tỷ giá hối đoái tự do chỉ dao động trong
phạm vi từ 10.200 đến 10.400, thậm chí có lúc tỷ giá tụt xuống mức 9.750.
Mức tỷ giá trên thị trường chính thức cũng không có nhiều sự chênh lệch
so với tỷ giá trên thị trường tự do, là minh chứng cho thấy mặc dù chế độ tỷ
giá theo hướng cố định nhưng được xác định tương đối phù hợp với quy luật
của thị trường.
Trong giai đoạn này, tình hình giá USD trên thị trường tiền tệ quốc tế
thường xuyên có sự biến động mạnh so với hàng loạt các đồng tiền chủ chốt
khác nhưng lại khá ổn định trên thị trường Việt Nam. Như vậy, rõ ràng đồng
Việt Nam đã có sự tăng giá mạnh.
Trước giai đoạn này, phản ứng chính sách là tương đối chậm. Trước hết,
việc Ngân hàng Nhà nước khống chế chênh lệch giữa tỷ giá mua và giá bán
làm cho tỷ giá vận hành thoát ly hoàn toàn quan hệ cung cầu và không khuyến
khích các tổ chức tín dụng, các ngân hàng thương mại hoạt động theo đúng
quan hệ nội tại của nó và thực tế không ít ngân hàng thương mại đã phá rào.
Việc sử dụng các công cụ hành chính trong can thiệp vào tỷ giá là cần thiết
đối với những lực lượng cung cầu, ngoại tệ mất cân bằng nhưng phải đủ mạnh
để yếu tố tâm lý không có khả năng phát huy tác động xấu.
Trước những tồn tại của việc không kiểm soát được tỷ giá, chính phủ đã
thay đổi cơ chế điều hành tỷ giá với những nội dung cụ thể:

- Quy định biên độ giao động của tỷ giá thị trường với tỷ giá chính thức
bởi Ngân hàng Nhà nước; tăng cường sức mạnh của các biện pháp hành chính
mà cụ thể là buộc các đơn vị kinh tế có ngoại tệ phải bán cho Ngân hàng theo
tỷ giá nhất định (kết hối ngoại tệ).
- Bãi bỏ hoàn toàn hình thức quy định tỷ giá nhóm hàng trong thanh toán
ngoại thương giữa ngân sách với các đơn vị kinh tế tham gia vào hoạt động
ngoại thương. Thay vào đó là việc áp dụng tỷ giá chính thức do Ngân hàng
Nhà nước công bố.
- Tăng cường công tác thông tin, cho công khai hóa một cách nhanh
chóng và chính xác chỉ số kinh tế quan trọng như tỷ giá chính thức, tỷ giá thị
trường, chỉ số giá, sự biến động giá vàng… Nhờ vậy hạn chế được hoạt động
Nhóm 6
20S

17

Cao học


Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế

đầu cơ, giải phóng tâm lý hoang mang trong kinh doanh. Đồng thời, Chính
phủ thông qua nhiều hình thức với mức độ khác nhau để can thiệp để dập tắt
nguy cơ bùng nổ lạm phát trong nền kinh tế. Thực hiện tăng cường mạnh mẽ
ngoại tệ, lập quỹ bình ổn giá với một lượng khá lớn tiền từ nền kinh tế.
- Đẩy mạnh hoạt động của trung tâm giao dịch ngoại tệ để cho các đơn vị
kinh tế và các tổ chức tín dụng trao đổi, mua bán ngoại tệ với nhau theo giá tự
thỏa thuận, tạo ra môi trường điều kiện để cung cầu thực sự gặp nhau. Sau đó,
tiến dần tới việc thành lập thị trường ngoại tệ liên ngân hàng vào tháng
9/1994.

Kết quả phân tích cho thấy biện pháp can thiệp của Chính phủ đã thật sự
phát huy tác dụng. Tuy nhiên, khi đánh giá về mối quan hệ giữa tỷ giá hối
đoái và ngoại thương của Việt Nam trong giai đoạn này thì theo ngang giá sức
mua đồng tiền, giá VND đã tăng 9%, còn cán cân thương mại của Việt Nam
đã có sự thâm hụt ngày càng lớn hơn (năm 1993 thâm hụt là 547 triệu USD,
năm 1994 là 1.170,năm 1995 là 2.345, năm 1996 là 3.510). Và do vậy mức
thâm hụt so với tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu cũng có chiều hướng tăng lên
tương ứng là 8,4%; 12,8%; 18,4% và 17,7%.
Bên cạnh đó, sự thâm hụt trong cán cân thương mại của Việt Nam còn
chịu tác động trực tiếp của việc Trung Quốc phá giá mạnh đồng CNY vào đầu
năm 1994. Như vậy, thực tế chỉ ra rằng sự điều hành chính sách tỷ giá hối
đoái và chính sách ngoại thương của Việt Nam đôi khi quá thụ động vì trong
suốt giai đoạn này hoàn toàn không có bất kỳ điều chỉnh nào trong tỷ giá hối
đoái và biên độ giao dịch nhằm phản ánh hay đối phó với tình hình này.
Do tác động của khủng hoảng tài chính khu vực, ngay đầu năm 1997
Ngân hàng Nhà nước đã nâng biên độ giao dịch từ 1% lên 5% và tiếp sau đó
là nhiều lần thay đổi với một số mốc chính như sau:
Ngày 13/10/1997, biên độ giao dịch được nâng lên đến mức 10%. Ngày
16/2/1998 nâng tỷ giá chính thức E(USD/VND) từ 11.175 lên 11.800. Đến
ngày 7/8/1998, Ngân hàng nhà nước quyết định thu hẹp biên độ giao dịch
xuống còn 7% đồng thời nâng tỷ giá chính thức lên 12.998. Thời gian tiếp sau
đó tỷ giá dao động gần sát mức này và đến 15/1/1999 thì tỷ giá chính thức
còn ở mức 12.980.
Nhóm 6
20S

18

Cao học



Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước cũng ban hành những quyết định về
nguyên tắc ấn định tỷ giá mua bán ngoại tệ kỳ hạn, hướng dẫn quy đổi ngoại
tệ ra đồng VND, xử lý vi phạm chế độ quản lý ngoại tệ và tỷ giá, hướng dẫn
xác định tỷ giá và thanh toán hàng hóa xuất khẩu và dịch vụ trả nợ nước
ngoài, hướng dẫn áp dụng tỷ giá tính thuế… Đặc biệt là việc công bố tỷ giá
giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ Liên Ngân hàng thay cho tỷ giá
chính thức và tỷ giá bình quân mua vào, bán ra thực tế trên thị trường Liên
Ngân hàng (Quyết định số 64/1999/QĐ-NHNN ngày 25/2/1999 của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc công bố tỷ giá hối đoái của đồng
Việt Nam với các đồng ngoại tệ).
Việc Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh liên tục tỷ giá chính thức cùng
biên độ trong giai đoạn này cho thấy sự khởi đầu của cơ chế tỷ giá thả nổi có
kiểm soát được tiếp tục áp dụng cho đến nay.
I.2.4. Giai đoạn thả nổi có sự điều tiết của Nhà nước từ 1999 đến nay
Đây là giai đoạn nền kinh tế vận động mạnh hơn theo cơ chế thị trường
với sự xuất hiện của đồng EUR nên việc Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá
hàng ngày để các tổ chức tín dụng được phép mua bán trong biên độ nhất
định không còn thích hợp với quan hệ cung cầu trên thị trường và thông lệ
quốc tế. Từ 26/2/1999, tỷ giá hối đoái chính thức công bố hàng ngày được xác
định trên cơ sở bình quân mua bán thực tế trên thị trường ngoại tệ Liên Ngân
hàng của ngày giao dịch gần nhất trước đó, đồng thời biên độ giao dịch cũng
rút xuống còn ±0,1% (Quyết định số 64/1999/QĐ-NHNN7 và 65/1999/QĐNHNN7). Qua tỷ giá áp dụng cơ chế này, tỷ giá giao dịch bình quân mà Ngân
hàng Nhà nước công bố xoay quanh mức 13.888, còn tỷ giá mua bán thực tế
của các Ngân hàng Thương mại khoảng 13.902. Tỷ giá thị trường tự do chênh
lệch không đáng kể so với mức công bố của Ngân hàng Nhà nước.
Bước đổi mới này rất quan trọng không những trong quan niệm, tư duy
mà còn có ý nghĩa lớn trong cả thực tiễn quản lý. Cơ chế này làm cho tỷ giá

hối đoái trên thị trường vận động một cách khách quan hơn, phản ánh đúng
hơn các quan hệ cung cầu về ngoại tệ trên thị trường, đồng thời cũng phù hợp
với cơ chế điều hành tỷ giá của nhiều nước trên thế giới.
Biểu đồ 2.1: Tỷ giá VND/USD từ ngày 26/2/1999 đến ngày 29/12/2011
Nhóm 6
20S

19

Cao học


Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế

(Nguồn: www.sbv.gov.vn)

Nhóm 6
20S

20

Cao học


Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế

I.3.

Phân tích sự biến động tỷ giá USD/VND trong thời gian qua


I.3.1. Diễn biến tỷ giá trong thời gian qua
Biểu đồ 2.2: Diễn biến tỷ giá từ T2/2008 tới T6/2011

(Nguồn: www.sbv.gov.vn)
Các mốc biến động tỷ giá USD/VND đáng chú ý từ năm cuối năm 2009
– 2011:
+ Ngày 26/11/2009: Tỷ giá bình quân liên ngân hàng được điều chỉnh
tăng lên 17.961 (tăng 5,16%), đồng thời biên độ giao động bị giảm từ ±5%
xuống còn ±3%.
+ Ngày 10/02/2010: NHNN phá giá VND thêm 3,3% từ 17.941 lên mức
18.544.
+ Ngày 18/08/2010: NHNN điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng
lên mức 18.932 (tăng 2%).
+ Ngày 11/02/2011: Tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng từ mức 18.932
VND/USD lên mức 20.693 VND/USD - tức tăng hơn 9,3 % đồng thời giảm
mức biên độ giao động xuống còn ±1%.
Trong nhiều năm trở lại đây, Ngân hàng nhà nước (NHNN) kiên trì
chính sách ổn định đồng tiền Việt Nam so với đồng đô la Mỹ. Diễn biến tỷ
giá trong quãng thời gian từ 2008 tới đầu năm 2011 là khá phức tạp. Khoảng
Nhóm 6
20S

21

Cao học


Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế

cách giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường tự do luôn ở mức cao. Tỷ

giá chính thức có thời điểm thấp hơn tỷ giá trên thị trường tự do tới 10%. Đến
cuối tháng 11 năm 2010, tỷ giá trên thị trường tự do đã đạt mức 21.500 đồng
USD.
Hình vẽ trên cho thấy về cuối năm 2010 cho tới đầu năm 2011 tỷ giá
càng biến động và mất giá mạnh, thị trường ngoại hối luôn có biểu hiện căng
thẳng. Những bất ổn về tỷ giá có nguyên nhân sâu xa từ những bất ổn về kinh
tế vĩ mô đó là bội chi cao, nhập siêu lớn và hiệu quả đầu tư công thấp… làm
cho cầu ngoại tệ luôn lớn hơn cung ngoại tệ. Bên cạnh đó hiện tượng đầu cơ
và tâm lý cũng gây áp lực mạnh mẽ lên tỷ giá. Những bất ổn trên thị trường
ngoại hối và tỷ giá hối đoái đã tiếp tục gây ra những khó khăn cho hoạt động
xuất nhập khẩu. Hơn nữa, đồng tiền mất giá còn ảnh hưởng đến lạm phát
trong nước do giá hàng nhập khẩu tăng mạnh. Trong bối cảnh lạm phát có xu
hướng gia tăng và tính không ổn định trên thị trường tiền tệ, sự lựa chọn linh
hoạt cơ chế điều hành tỷ giá để đạt được mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn
định thị trường tiền tệ là điều hết sức cần thiết.
NHNN đã 4 lần liên tục phải nâng tỷ giá bình quân liên ngân hàng kể từ
năm 2009 tới nay. Đáng kể nhất là vào ngày 11/02/2011 vừa qua, NHNN đã
nâng tỷ giá USD/VND từ 18.932 lên mức 20.293 (tương đương với việc giảm
giá VNĐ tới 9,3%) đi cùng với việc siết biên độ từ ±3% xuống còn ±1%. Bên
cạnh đó, NHNN đã áp dụng cơ chế áp và siết trần lãi suất huy động USD,
thực hiện kết hối và mở rộng đối tượng kết hối, xử lý hàng loạt giao dịch bất
hợp pháp trên thị trường tự do. Tín dụng ngoại tệ tăng cao tạo một nguồn
cung thương mại từ vốn chuyển đổi cho thị trường; sự chuyển đổi vốn ngoại
tệ sang VND ở các ngân hàng thương mại khi chênh lệch lãi suất cho vay quá
hấp dẫn với khoảng 300% càng tạo cung cho thị trường… Với những yếu tố
trên tới đầu tháng 4 năm 2011 tỷ giá bắt đầu có dấu hiệu ổn định. Giá USD
liên tục giảm, từ 20.940 VND/USD xuống còn 20.590 VND/USD. Để rồi
ngày 29/04 trở thành mốc sự kiện quan trọng khi Sở Giao dịch Ngân hàng
Nhà nước bất ngờ tăng mạnh giá mua vào USD. Điểm đánh dấu quan trọng
cho sự ổn định của tỷ giá trong hơn 7 tháng còn lại của năm 2011. Sự ổn định

này một lần nữa cho thấy sự đúng đắn trong biện pháp điều chỉnh tỷ giá của
Nhóm 6
20S

22

Cao học


Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế

NHNN. Sau đây chúng ta sẽ phân tích sâu hơn về sự điều chỉnh tỷ giá trong
năm 2011 vừa qua.
I.3.2. Sự cần thiết phải điều chỉnh tỷ giá
Từ cuối năm 2010, các nhà đầu tư và doanh nghiệp đã chuẩn bị tinh thần
cho việc điều chỉnh tỷ giá của NHNN, đặc biệt là các ngân hàng thương mại
(NHTM), tuy nhiên, giới đầu tư và doanh nghiệp tỏ ra khá bất ngờ vì sự
“mạnh tay” của NHNN trong việc điều chỉnh tỷ giá cao nhất từ nhiều năm
qua. Với mức điều chỉnh lần này, mức giá trần bán ra của USD theo biểu
niêm yết ngày 11/2/2011 của các NHTM là 20.900 VND và giá sàn là 20.486
VND. Vậy đâu là nguyên nhân của sự điều chỉnh này:
Trước hết, Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng lạm phát hai con
số và có xu hướng tăng cao trở lại, lạm phát tháng 01/2011 đã ở mức 1,74%.
Trong thời gian đầu năm 2011, nền kinh tế liên tục đón nhận các “cú sốc” về
giá xăng dầu (Xăng A92 tăng 2.900 đồng/lít, tức lên thành 19.300 đồng/lít;
dầu diesel tăng 3.550 đồng/lít, lên thành 18.300 đồng/lít), giá bán điện bình
quân tăng thêm 15,28% so với giá năm 2010, dịch bệnh trên gia súc, gia cầm
diễn biến phức tạp và lan rộng, thiên tai khắp nơi trên thế giới đẩy nhu cầu
lương thực lên cao, gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng giá gây áp lực lên giá
lương thực, thực phẩm trong nước tăng, (nhóm hàng lương thực thực phẩm

chiếm tỷ trọng 42,85% trong “rổ” hàng hóa tính CPI của Việt Nam). Cộng
thêm sự kỳ vọng về việc giảm giá tiền đồng trong thời gian tới, giá vàng tăng
liên tục thiết lập các mức kỷ lục mới, sự bất ổn của nền kinh tế toàn cầu khiến
cho tâm lý găm giữ vàng và USD của người dân và doanh nghiệp tăng cao.
Thứ hai, thâm hụt thương mại hàng hóa, nhập siêu tuy đạt mức dưới
20% kim ngạch xuất khẩu nhưng số tuyệt đối dự kiến vẫn là 13,5 tỷ USD,
tăng 5% so với năm 2009 (năm 2009 là 12,85 tỷ USD). Riêng quý I/2011 ước
tổng kim ngạch xuất đạt 18,8 tỷ USD, tăng khoảng 29,7%, trong khi tổng kim
ngạch nhập khẩu đạt khoảng 21,8 tỷ USD, tăng 23,9% so với cùng kỳ năm
2010, nhập siêu ở mức 3 tỷ USD, chiếm 16% kim ngạch xuất khẩu ba tháng
đầu năm 2011. Đây là yếu tố chính làm cán cân vãng lai thâm hụt khoảng
10% so với GDP. Theo tiêu chí của IMF, tỷ lệ thâm hụt cán cân vãng lai trên
8% GDP sẽ ảnh hưởng đến cân đối vĩ mô của quốc gia. Mặt khác nhập siêu
Nhóm 6
20S

23

Cao học


Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế

kéo dài trong nhiều năm đã làm sụt giảm nguồn dự trữ ngoại hối, tăng nợ
quốc gia và gây sức ép giảm giá đồng nội tệ. Thâm hụt cán cân vãng lai lớn
cùng với thâm hụt ngân sách cao, nợ công có xu hướng tăng nhanh (từ 45%
GDP năm 2008 lên gần 60% GDP dự kiến vào năm 2011) sẽ là những trở
ngại lớn cho sự phát triển kinh tế trong những năm tới đây.
Thứ ba, dự trữ ngoại tệ của nước ta giảm xuống mức thấp đáng báo
động do tình trạng nhập siêu cao và kéo dài, có thể làm mất khả năng nhập

khẩu và trả nợ, đồng thời khó có thể can thiệp vào thị trường ngoại hối khi
cần thiết. Theo Citigroup, dự trữ ngoại hối của Việt Nam, yếu tố cho đến nay
khiến nhiều người lo lắng, giảm xuống 13,6 tỷ USD tính đến cuối năm 2010
so với mức 20,3 tỷ USD của năm 2009 (theo tính toán của IMF) và cũng chỉ
tăng lên mức 13,8 tỷ USD trong năm 2011

Bảng 2.2: Thâm hụt ngân sách và nợ công của Việt Nam trên GDP
Thứ tư, lãi suất huy động vốn của các NHTM có xu hướng tăng, các
NHTM đua nhau “xé rào” lãi suất bằng nhiều hình thức làm cho VND tăng
giá so với USD, dẫn tới tình trạng nhập siêu ngày càng nghiêm trọng hơn.
Trong khi USD có xu hướng yếu đi so với các đồng tiền khác để nền kinh tế
xuất khẩu hàng đầu thế giới cân bằng cán cân thương mại với các nước trên
thế giới, đặc biệt là Trung Quốc. Đồng USD yếu đi làm cho hoạt động xuất
khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Mỹ (thị trường xuất khẩu chủ lực) bị suy
giảm khả năng cạnh tranh.
Nhóm 6
20S

24

Cao học


Thảo luận nhóm Tài chính quốc tế

Thứ năm, từ lâu ở Việt Nam tồn tại cơ chế hai tỷ giá, chính thức và thị
trường tự do (“chợ đen”) khiến cho các doanh nghiệp và người dân gặp khó
khăn, việc quản lý thị trường ngoại hối của Nhà nước gặp nhiều trở ngại. Các
nhà đầu tư nước ngoài e ngại đầu tư vào Việt Nam vì lo ngại rủi ro tỷ giá,
ngoại tệ “chạy ngầm từ thị trường chính thức sang thị trường chợ đen vì giá

cao hơn), ngoại tệ trở nên khan hiếm. Trong khi dự trữ ngoại hối của nước ta
mỏng, Chính phủ nhiều khi bất lực trước việc đầu cơ, thao túng giá USD trên
thị trường tự do. Các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc hạch toán chi phí
vì phải mua ngoại tệ ở thị trường tự do với giá cao nhưng lại phải “phù phép”
làm hợp lý hóa chi phí thực phải bỏ ra (vì tỷ giá giao dịch chính thức do
NHNN quy định thấp hơn làm cho thị trường tài chính và báo cáo tài chính
của các doanh nghiệp Việt Nam thiếu minh bạch và tin cậy).
I.3.3. Phân tích tác động từ sự điều chỉnh tỷ giá của NHNN
Trong thời gian đầu và ở mức độ cục bộ, sự điều chỉnh tỷ giá này có thể
ít nhiều làm tăng giá USD trên thị trường tự do (thực tế, giá USD trên thị
trường tự do cả nước giao động nhẹ ở mức 21.450 - 21.550 đồng mỗi USD);
cũng như làm tăng giá của hàng hoá và nguyên liệu nhập khẩu, do đó làm
tăng chi phí sản xuất của doanh nghiệp nhập khẩu hàng hoá, cũng như làm
giảm lượng hàng nhập khẩu, từ đó có thể làm gia tăng áp lực lạm phát cungcầu và chi phí đẩy; đồng thời, có thể tạo ra cái gọi là rủi ro tỷ giá trong hoạt
động kinh doanh và tín dụng của những doanh nghiệp vay VND lãi suất cao
và phải nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào sản xuất...
Sự điều chỉnh tỷ giá cũng ít nhiều tạo xung lực tăng giá vàng trong nước.
Tuy vậy, thực tế chứng tỏ, sau khi tăng mạnh gần 200.000 đồng mỗi lượng
theo sự điều chỉnh tỷ giá USD, giá vàng trong nước sẽ giảm nhẹ theo giá vàng
quốc tế (tại thị trường châu Á sáng 11/2/2011, giá mỗi ounce vàng tương
đương với 1.333,20 USD. Nếu căn cứ theo tỷ giá USD/VND tự do 21.500
đồng, mỗi lượng vàng quy đổi hiện có giá 34,6 triệu đồng). Xu hướng tăng
giá USD trên thị trường tiền tệ quốc tế sẽ hỗ trợ tích cực cho sự ôn hòa của
giá vàng trong thời gian tới (Chỉ số đô la Mỹ đã tăng thêm 0,76% lên 78,23
USD, trong khi đồng euro trượt 0,97% xuống tương ứng 1 EUR đổi được
1,35 USD).
Nhóm 6
20S

25


Cao học


×