Tải bản đầy đủ (.doc) (15 trang)

CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ CỦA VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (164.3 KB, 15 trang )

PHN 1: CHNH SCH T GI CA VIT NAM
1. Lý lun chung v t giỏ.
Định nghĩa tỷ giá hối đoái: là quan hệ tỷ lệ về giá trị giữa đồng tiền nớc
này với nớc khác. Hay nói khác đi tỷ giá là giá cả của một đơn vị của một đơn
vị tiền tệ của một nớc tính bằng tiền tệ của một nớc khác.
Thông thờng, thuật ngữ "Tỷ giá hối đoái" đợc ngầm hiểu là số lợng đơn vị
tiền nội tệ cần thiết để mua đơn vị ngoại tệ. Riêng ở Mỹ và Anh thuật ngữ này
đợc sử dụng theo nghĩa ngợc lại. Số lợng đơn vị ngoại tệ (nớc ngoài) cần thiết
để mua một đồng đôla hoặc một đồng bảng.
Hu ht cỏc quc gia trờn th gii u cú ng tin riờng. Thng mi,
u t v cac quan h ti chớnh quc t ũi hi cỏc quc gia phi thanh
toỏn vi nhau. Thanh toỏn gia cỏc quc gia dn n vic mua bỏn cỏc ng
tin khỏc nhau, ng tin ny ly ng tin kia. Hai ng tin c mua bỏn
vi nhau theo mt t l nht nh, t l ngy gi l t giỏ. Nh vy, chỳng ta
cú th hiu t giỏ l giỏ c ca mt ng tin c biu hin thụng qua ng
tin khỏc.
Trong t giỏ cú hai ng tin, mt ng tin úng vai trũ l ng tin
yt giỏ, cũn ng tin kia úng vai trũ l ng tin yt giỏ. ng tin yt giỏ
l ng tin cú s n v c nh v bng 1 n v, ng tin nh giỏ l ng
tin cú s n v thay i v ph thuc vo quan h cung cu trờn th trng.
Bt k mt quc gia no cng cú mt c ch iu hnh chớnh sỏch t
giỏ, c ch iu hnh chớnh sỏch t giỏ bao gm:
1
- Tỷ giá chính thức: là tỷ giá do ngân hàng TW công bố, nó phản ánh
chính thức về giá trị đối ngoại của đồng nội tệ. Tỷ giá chính thức được áp
dụng để tính thuế xuất nhập khẩu và một số hoạt động liên quan đến tỷ giá
chính thức. Ngoài ra, ở Việt Nam tỷ giá chính thức còn là cơ sở để các Ngân
hàng thương mại xác định tỷ giá kinh doanh trong biên độ cho phép.
Hiện nay, ở Việt Nam không còn áp dụng tỷ chính thức nữa mà là tỷ
giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng.
- Tỷ giá chợ đen: là tỷ giá được hình thành bên ngoài hệ thống ngân


hàng nhà nước, do quan hệ cung cầu trên thị trường chợ đen quyết định
- Tỷ giá cố định: là tỷ giá do NHTW công bố cố địnhtrong một biên độ
giao động hẹp. Dưới áp lực cung cầu của thị trường để duy trì tỷ giá cố định,
buộc NHTW phải thường xuyên can thiệp do đó làm cho dự trữ ngoại hối
quốc gia thay đổi.
- Tỷ giá thả nổi hoàn toàn: là tỷ giá được hình thành hoàn toàn theo
quan hệ cung cầu trên thị trường, NHTW không hề can thiệp.
- Tỷ giá thả nổi có điều tiết: là tỷ giá được thả nổi, nhưng NHTW có
can thiệp để tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho nền kinh tế.
2. Chính sách tỷ giá của Việt Nam.
Có thể nói, điểm mốc đầu tiên đánh dấu cải cách tỷ giá của Việt Nam
là cuối năm 1998, khi Việt Nam tiến hành công bố tỷ giá chính thức gần với
tỷ giá thị trường tự do, đồng thời chấm dứt chế độ đa tỷ giá ( tỷ giá mậu dịch,
phi mậu dịch, kết toán nội bộ và kiều hối) chuyển sang chế độ đơn tỷ giá.
2
Tiếp theo, vào cuối năm 1991, việc công bố tỷ giá chính thức dựa vào
tỷ giá hình thành tại hai Trung tâm giao dịch ngoại tệ là Hà Nội và TP Hồ Chí
Minh đã đánh dấu lần đầu tiên về việc tỷ giá của VND được hình thành có
căn cứ chính thức vào các yếu tố thị trường. Mặc dù tỷ giá hình thành tại hai
Trung tâm chứa đựng yếu tố cung cầu ngoại tệ nhưng chưa phản ánh được
cân đối cung cầu ngoại tệ của cả nền kinh tế như một tổng thể, do đó tỷ giá
vẫn mang nặng tính chất chỉ đạo. Tuy nhiên, đây được xem là bước cải cách
có tính đột phá theo hướng thị trường sâu sắc.
Tháng 10 năm 1994, NHNN đã thành lập thị trường ngoại tệ liên ngân
hàng, đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong cơ chế xác định tỷ giá và hình thành
thị trường ngoại hối có tổ chức ở Việt Nam.
Tháng 2 năm 1999, NHNN bãi bỏ việc công bố tỷ giá chính thức và
thay vào đó là chỉ “thông báo” tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường
ngoại tệ liên ngân hàng.
Chính sách tỷ giá VND qua các thời kỳ:

Căn cứ vào cơ chế xác định và cơ chế can thiệp lên tỷ giá, chính sách tỷ
giá của Việt Nam được chia thành bốn thời kỳ như sau:
a. Thời kỳ thứ nhất: 1955-1989: Đặc trưng của thời kỳ này là Nhà nước
độc quyền về ngoại thương và ngoại hối, do đó, tỷ giá cũng do Nhà nước độc
quyền xác định, không tính đến yếu tố cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Đây
là thời kỳ chế độ tỷ giá cố định, đa tỷ giá với tính chất phi thị trường sâu sắc.
3
b. Thời kỳ thứ hai: 1989-1991: Đặc trưng của thời kỳ này là bãi bỏ chế
độ đa tỷ giá, chuyển sang áp dụng chế độ đơn tỷ giá ( tỷ giá chính thức) và
được điều chỉnh mạnh theo tín hiệu thị trường. Chính vì vậy, nhiều người coi
thời kỳ này là thời kỳ “thả nổi” tỷ giá, Nhà nước không có khả năng kiểm
soát.
c. Thời kỳ thứ ba: 1992-tháng 2/1999: Đặc trưng của thời kỳ này là tỷ
giá chính thức được ấn định trên cơ sở:
- Đấu thầu tại Trung tâm giao dịch ngoại tệ từ 10/1991 đến
31/12/1994. Do đó, nội dung tỷ giá đã hàm chứa yếu tố cung cầu
ngoại tệ trên thị trường.
- Tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng từ
1/1995 đến 2/1999. Chính vì vâỵ, nội dung tỷ giá đã hàm chứa yếu
tố cung cầu ngoại tệ toàn diện và khách quan hơn so với trước.
- Ngoài ra, trong giai đoạn này đã nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính -
tiền tệ Đông Nam Á 1997-1998.
d. Thời kỳ thứ tư: Từ 3/1999 đến nay. Đặc trưng cơ bản của thời kỳ này
là thay vì ấn định và công bố tỷ giá chính thức, NHNN bây giờ chỉ “ thông
báo” tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng. Đây là thời điểm chuyển từ
chế độ tỷ giá cố định ( tỷ giá chính thức) sang chế độ tỷ giá thả nổi có điều
tiết.
4
PHẦN 2: TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ TỚI HOẠT ĐỘNG
XUẤT KHẨU

1. Sự tác động của tỷ giá tới hoạt động xuất khẩu qua các thời kỳ.
Tỷ giá chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan như: lãi suất, lạm
phát… nhưng đồng thời nó cũng tác động tới nhiều mặt khác nhau của nền
kinh tế trong đó quan trọng nhất là tới hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư tín
dụng quốc tê. Tuy nhiên, ở đây chúng ta chỉ quan tâm tới sự tác động của tỷ
giá tới hoạt động xuất khẩu.
Sự biến động của tỷ giá ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngoại
thương thông qua kênh giá cả. Dựa trên tỷ giá, chúng ta có thể tính được giá
xuất nhập khẩu của một loại hàng hoá của một nước theo tiền tệ của một nước
khác. Vì vậy, tỷ giá thay đổi kéo theo sự thay đổi của giá cả hàng hoá xuất
nhập khẩu. Chúng ta hãy cùng xem xét tình huống sau. Chẳng hạn khi tỷ giá
tăng, đồng nội tệ mất giá. Sự biến động này có lợi cho hoạt động xuất khẩu vì
giá xuất khẩu của hàng hoá và dịch vụ của nước đó sẽ giảm đi tương đối trên
thị trường nước ngoài, với điều kiện giá cả hàng hoá và dịch vụ đó giữ ở mức
ổn định trên thị trường nội địa. Do đó, sẽ góp phần làm tăng khả năng cạnh
tranh của hàng hoá, dịch vụ của nước đó. Khi tỷ giá tăng, giá cả hàng nhập
khẩu sẽ đắt lên tương đối trên thị trường nội địa với điều kiện giá nhập khẩu
ổn định. Chính vì vậy mà một số nước sử dụng chính sách phá giá đồng nội tệ
để hạn chế nhập khẩu và muốn khuyến khích xuất khẩu.
Cũng như hầu hết các nước trên thế giới, ở Việt Nam, sự biến động
của tỷ giá ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động xuất nhập khẩu. Trong thời gian
qua, do tỷ giá VND luôn được gắn với USD, đồng thời do tập quán giao dịch,
thanh toán quốc tế và tâm lý ưa chuộng USD của người dân trong nước, nên
tỷ giá VND/USD luôn luôn có ý nghĩa quan trọng và có ảnh hưởng đến hầu
5
hết các hoạt động kinh tế đối ngoại, mà chủ yếu là hoạt động xuất nhập khẩu
hàng hoá. Trong bài viết này, chúng ta cũng chỉ đề cập tới ảnh hưởng của tỷ
giá VND/USD đối với hoạt động xuất khẩu hàng hoá.
Chính sách tỷ giá VND ảnh hưởng đối với hoạt động xuất khẩu hàng
hoá qua các thời kỳ:

- Thời kỳ 1955-1989: Với đặc điểm là áp dụng tỷ giá chính thức và nền
kinh tế nằm trong tình trạng tự cấp tự túc, kinh tế nông nghiệp giữ vai trờ chủ
đạo. Đồng tiền Việt Nam được định giá quá cao so với các đồng tiền khác, tỷ
giá chính thức ngày càng chênh lệch xa tỷ giá thị trường làm cho hoạt động
xuất khẩu gặp khó khăn. Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu rơi vào
tình trạng thua lỗ nặng.
- Thời kỳ 1989-1991: Nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới của đất nước,
Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách dần dần dỡ bỏ thế dộc quyền trong
kinh doanh ngoại hối song song với việc cải cách tỷ giá. Cơ chế tỷ giá ổn định
được thay thế bằng cơ chế tỷ giá Nhà nước điều tiết theo quan hệ cung cầu.
Tuy nhiên, trong thời kỳ này xảy ra tình trạng leo thang USD đã kích thích
tâm lý nắm giữ ngoại tệ, dẫn đến tình trạng khan hiếm ngoại tệ. Vì vậy, cho
dù có những bước tiến rõ rệt nhưng thời kỳ này vẫn thiếu vắng một thị trường
ngoại hối chính thức hoàn chỉnh để tạo cơ sở xác định tỷ giá chính thức một
cách khách quan sát với quan hệ cung cầu trên thị trường, do đó không thúc
đẩy được hoạt động xuất khẩu.
- Thời kỳ 1992-2/1999: Việc thành lập hai trung tâm giao dịch ngoại tệ
đã giúp cho NHNN kịp thời nắm bắt cung cầu ngoại tệ trên thị trường để điều
hành chính sách tiền tệ cũng như tỷ giá phù hợp với tín hiệu thị trường và
hướng nhu cầu ngoại tệ vào các mục tiêu thiết yếu của nền kinh tế. Tỷ giá
6

×