DỌN BÃI ĐÁNH CÁ
Các sông hồ tự nhiên ở vùng đồng bằng do đã
hình thành lâu năm, đáy tương đối bằng phẳng thuận
lợi cho việc thả lưới đánh cá không cần cải tạo hay
khối lượng cải tạo không đáng kể. Qua phần đặc
điểm hình thái hồ chứa nước chúng ta đã thấy rõ hầu
hết các hồ chứa đều được xây dựng ở phần trung du,
miền núi, địa hình đáy hồ phức tạp nếu không xử lý
thích đáng thì rất khó đạt hiệu quả khai thác tốt. Vì
vậy dọn bãi khai thác cá là một trong những biện
pháp lớn về cải tạo vùng nước ở các hồ chứa. Do đặc
điểm thủy văn quyết định công tác cải tạo đáy hồ về
cơ bản là phải tiến hành xong trước khi cho hồ ngập
nước. Trên thế giới ở các nước Âu, Mĩ có lịch sử xây
dựng hồ sớm và có nghề nuôi cá hồ tương đối sớm
đều khẳng định ở các hồ chứa không thực hiện việc
dọn đáy trước khi ngập thì sẽ gây khó khăn rất lớn
cho việc đánh bắt cá sau này. Mặc dầu kỹ thuật khai
thác phát triển đến đâu chăng nữa cũng chỉ đánh bắt
được không quá 5-10% trữ lượng cá trong hồ. Trung
Quốc lịch sử phát triển nghề cá ở hồ chứa phát triển
trước nước ta khoảng trên 10 năm với những đối
tượng cá nuôi khác nhiều so với các nước trên thế
giới, qua kinh nghiệm thực tiễn cũng đã khẳng định
tầm quan trọng của công tác dọn lòng hồ và việc dọn
đáy như thế nào có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất
và sản lượng cá sau này. Nhiều nước đã coi việc dọn
lòng hồ là một trong những hạng mục công tác xây
dựng cơ bản không những cho nghề cá hồ chứa mà cả
mục đích kinh doanh tổng hợp đối với công trình xây
dựng hồ chứa.
Thời gian đầu do chưa có kinh nghiệm và chưa
có sự chú ý đúng mức, chúng ta đã để một số công
trình hồ chứa đến khi ngập không dọn đáy được, gặp
khó khăn rất lớn cho việc đánh cá và kinh doanh
nghề cá sau này. Sau thời gian rút kinh nghiệm chúng
ta đã liệt kê công tác dọn đáy vào hạng mục công
trình xây dựng cơ bản và xác định rõ trách nhiệm,
quan hệ giữa hai ngành thủy lợi và thủy sản đối với
vấn đề này từ khi qui hoạch đến khi thi công xây
dựng hồ chứa. Qua thực tế sản xuất chúng ta đã có
một số kinh nghiệm nhất định để giải quyết được một
số vấn đề, nhưng vẫn còn một số tồn tại chưa giải
quyết được, đòi hỏi phải nghiên cứu rút kinh nghiệm
để dẫn tới hoàn chỉnh.
* Xác định tổng diện tích bãi cá cần dọn.
Nếu có khả năng dọn sạch toàn bộ lòng hồ thì đó
là một vấn đề lý tưởng nhất, xong trong thực tiễn
không thể áp dụng được yêu cầu này với tất cả các hồ
và tại nhiều hồ chúng ta vừa không có khả năng vừa
không cần thiết phải dọn sạch toàn bộ. Đối với các hồ
chứa cỡ nhỏ có điều kiện nuôi cá tốt dựa vào kinh
nghiệm các nước và thực tế của mình chúng ta đề ra
yêu cầu cố gắng dọn sạch toàn bộ lòng hồ để tạo chủ
động nuôi và khai thác cá sau này có năng suất cao.
Về vấn đề này thì Liên Xô (cũ) là một nước có nhiều
kinh nghiệm và đã qui định mức độ dọn đáy hồ là 20-
40%, có khi tới 50% tổng diện tích lòng hồ. Vì vậy
mặc dù có những hồ chứa rất lớn diện tích hàng vạn
ha, do dọn đáy tốt vẫn có thể khai thác được tới 50%
trữ lượng cá trong hồ. Nhiều hồ chứa ở TQ qui hoạch
dọn bãi từ 24,4-32% có khi tới 40% diện tích vùng
ngập của hồ.
Ở một số hồ chứa nước đã xây dựng ở nước ta,
theo qui hoạch mức độ dọn khoảng 30-40%. Ví dụ hồ
Thác Bà diện tích dọn bãi là khoảng gần 1/3 đáy hồ
(7200ha); ở hồ Quỳnh Tam, Vân Trục diện tích dọn
bãi là từ 30-40% vùng ngập của hồ. Nhìn chung ở các
hồ chứa có diện tích dọn bãi thuận lợi chúng ta có xu
hướng dọn bãi với tổng diện tích càng nhiều càng tốt.
* Xác định các khu vực dọn bãi đánh cá
Trong khi xác định tổng diện tích bãi cần dọn
chúng ta cũng đồng thời nghiên cứu việc phân bố các
vị trí hay khu vực dọn bãi như thế nào để tạo điều
kiện cho hoạt động khai thác sau này phát huy được
hiệu quả cao nhất. Mỗi vị trí dọn bãi cũng đã bao
hàm mục đích phục vụ một hay vài loại ngư cụ mà
chúng ta sẽ sử dụng sau này. Tuy nhiên qui mô diện
tích bãi dọn cũng như những yêu cầu cụ thể về kỹ
thuật dọn bãi cần phải dựa theo nhưng căn cứ chủ yếu
sau đây.
Những khu vực dự đoán có lượng cá tập trung
đông nhất. Ví dụ các bãi cá đẻ, các khu vực giàu
thức ăn, các khu vực cá trú đông.
Những vị trí là cửa ngõ bắt buộc cho sự di động
của các đàn cá từ khu vực này đến khu vực khác
trong hồ.