Tải bản đầy đủ (.doc) (9 trang)

đối chiếu từ chỉ giới tiếng Nga và tiếng Việt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (137.33 KB, 9 trang )

Đối chiếu nhóm từ chỉ giới ...

1

ĐỐI CHIẾU NHÓM TỪ CHỈ GIỚI TRONG
TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG NGA
Trịnh Thị Hà
Bài báo này nhằm mục đích so sánh đối chiếu đặc điểm cấu tạo và
ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ giới trong tiếng Việt và tiếng Nga. Từ
đó tìm ra những nét tương đồng và dị biệt trong hai ngôn ngữ,
giúp nâng cao chất lượng quá trình học tiếng Nga và tiếng Việt
như một ngoại ngữ.

1. Đặt vấn đề
Ngôn ngữ mang tính dân tộc, thể hiện bản sắc văn hóa riêng của mỗi
cộng đồng. Vì vậy, việc nghiên cứu so sánh đối chiếu ngôn ngữ giúp cho
người nghiên cứu hiểu sâu sắc về việc sử dụng "công cụ giao tiếp", "công
cụ tư duy" của mỗi cộng đồng. Trong quá trình học ngoại ngữ, tiếng mẹ
đẻ ảnh hưởng rất nhiều tới kết quả học tập với những tác động tiêu cực và
tích cực. Chuyển di tích cực xảy ra khi tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ có sự
giống nhau hoàn toàn, còn chuyển di tiêu cực gây cản trở và làm chậm
quá trình học tập xảy ra khi có sự nhầm lẫn giữa cấu trúc của hai thứ tiếng
có sự khác biệt. Chính vì vậy, so sánh đối chiếu giúp chúng ta nhận ra sự
khác biệt trong cấu trúc của hai ngôn ngữ để khắc phục hiện tượng chuyển
di tiêu cực, nâng cao chất lượng quá trình học tập và nghiên cứu ngôn
ngữ.
Trong kho tàng từ vựng của mỗi ngôn ngữ thì nhóm từ chỉ giới là
nhóm từ căn bản, việc nghiên cứu đặc điểm ngữ nghĩa, phân loại nhóm từ
này rất quan trọng trong việc sử dụng ngôn ngữ. Việc nghiên cứu so sánh
đối chiếu tiếng Việt và tiếng Nga giúp người nghiên cứu, người học hiểu
rõ và sử dụng tốt tiếng Nga và tiếng Việt như một ngoại ngữ, đồng thời


hiểu thêm về hai ngôn ngữ, cũng như những nét văn hóa và nền văn học
của hai dân tộc Việt - Nga.

THÔNG BÁO KHOA HỌC - ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - SỐ 01(27)/2015


Đối chiếu nhóm từ chỉ giới ...

2

2. Thống kê nhóm từ chỉ giới trong tiếng Việt và tiếng Nga
Việc thống kê những từ thuộc nhóm từ chỉ giới trong tiếng Việt và
tiếng Nga được thực hiện theo hai tiêu chí là: nhóm từ chỉ giới theo quan
hệ thân tộc và nhóm từ chỉ giới không theo quan hệ thân tộc. Trong nhóm
từ chỉ giới theo quan hệ thân tộc chúng tôi thống kê theo hai nhóm gồm
nhóm từ chỉ quan hệ huyết thống và không cùng huyết thống.
2.1. Nhóm từ chỉ giới theo quan hệ thân tộc
Những từ ngữ chỉ giới theo quan hệ thân tộc là những từ ngữ sản
sinh trong quá trình giao tiếp giữa những thành viên trong gia đình, theo
giới tính, tuổi tác và mối quan hệ có thứ bậc khác nhau. Nhóm từ này
được chia thành hai nhóm: nhóm từ chỉ quan hệ huyết thống và không
cùng huyết thống.
2.1.1. Cùng huyết thống
Nhóm từ chỉ giới theo quan hệ thân tộc có cùng huyết thống được
lựa chọn dựa trên những căn cứ sau đây:
- Tính thân tộc theo huyết thống có mặt ở cả 7 thế hệ (3 thế hệ trên
bản thân, 3 thế hệ dưới bản thân và thế hệ của bản thân).
- Tính thực tiễn: từ chỉ những người họ hàng ở điều kiện bình
thường có thể cùng tồn tại đồng thời.
- Tính kế tiếp của dòng họ trong nhưng quan hệ xa hơn, ví dụ: thuộc

dòng thẳng có cụ, ông bà, bố mẹ, con, cháu và chắt.
Qua thống kê trong tiếng Nga nhóm từ chỉ giới theo quan hệ thân
tộc có cùng huyết thống có 37 từ, trong đó có 20 từ thuộc giới nam và 17
từ thuộc giới nữ; trong tiếng Việt có 67 từ, trong đó có 34 từ thuộc giới
nam và 33 từ thuộc giới nữ.
2.1.2. Không cùng huyết thống
Nhóm từ chỉ giới theo quan hệ thân tộc không cùng huyết thống là
nhóm từ biểu thị những quan hệ nhân đạo, quan hệ qua lại, thông gia của
gia đình.

THÔNG BÁO KHOA HỌC - ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - SỐ 01(27)/2015


Đối chiếu nhóm từ chỉ giới ...

3

Khi thực hiện khảo sát nhóm từ chỉ giới trong tiếng Việt và tiếng
Nga theo quan hệ thân tộc không cùng huyết thống chúng tôi thu được
trong tiếng Nga có 30 từ trong đó có 15 từ thuộc giới nam và 15 từ thuộc
giới nữ; trong tiếng Việt có 63 từ trong đó có 33 từ thuộc giới nam và 30
từ thuộc giới nữ.
2.2. Nhóm từ chỉ giới không theo quan hệ thân tộc
Nhóm từ chỉ giới không theo quan hệ thân tộc được thống kê dựa
trên những từ chỉ vai vế, địa vị trong xã hội, độ tuổi của đối tượng thông
qua hoạt động giao tiếp, cách xưng hô xã giao thường ngày.
Kêt quả thống kê cho thấy trong tiếng Nga nhóm từ chỉ giới không
theo quan hệ thân tộc có 20 từ trong đó có 10 từ thuộc giới nam và 10 từ
thuộc giới nữ; trong tiếng Việt có 39 từ trong đó có 20 từ thuộc giới nam
và 19 từ thuộc giới nữ.

Nhận xét: Trong tiếng Việt có 169 từ chỉ giới, trong đó có 130 từ
chỉ giới theo quan hệ thân tộc và 39 từ không theo quan hệ thân tộc; tiếng
Nga có 87 từ chỉ giới, trong đó có 67 từ chỉ giớ theo quan hệ thân tộc và
20 từ không theo quan hệ thân tộc. Trong nhóm từ chỉ giới trong tiếng
Việt có 87 từ chỉ giới nam và 82 từ chỉ giới nữ; trong tiếng Nga có 45 từ
chỉ giới nam và 42 từ chỉ giới nữ.
Kết quả khảo sát cho thấy số lượng từ chỉ giới trong tiếng Việt
phong phú hơn trong tiếng Nga. Tuy nhiên trong các mối quan hệ thân tộc
hay không thân tộc thì số lượng từ thuộc giới nam và số lượng từ thuộc
giới nữ trong mỗi ngôn ngữ đều bằng nhau hoặc có sự chênh lệch rất nhỏ.
3. Phân loại nhóm từ chỉ giới trong tiếng Việt và tiếng Nga
Trên cơ sở tập hợp các từ chỉ giới được khảo sát chúng tôi tiến
hành phân loại chúng theo các tiêu chí như xét theo độ tuổi, cấu tạo từ và
đặc điểm từ loại.
3.1. Xét theo độ tuổi
Nhóm từ chỉ giới trong tiếng Việt và tiếng Nga được phân loại theo
3 nhóm tuổi: trẻ em, thanh niên và người lớn tuổi. Xét từ góc độ này ta có:

THÔNG BÁO KHOA HỌC - ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - SỐ 01(27)/2015


Đối chiếu nhóm từ chỉ giới ...

4

- Trong tiếng Nga và tiếng Việt số lượng từ chỉ giới ở hai nhóm
tuổi thanh niên và người lớn tuổi nhiều hơn so với số từ chỉ giới ở nhóm
tuổi trẻ em.
- Nhóm từ chỉ giới ở lớp tuổi trẻ em trong tiếng Nga đề là từ đơn,
còn ở những nhóm khác trong tiếng Việt và tiếng Nga đều bao gồm cả từ

đơn, từ ghép và cụm từ.
- Ở mỗi nhóm tuổi lượng từ chỉ giới nam và giới nữ có tỉ lệ ngang
bằng nhau.
3.2. Xét theo cấu tạo
Căn cứ vào cấu tạo từ trong tiếng Nga các từ chỉ giới được thống
kê trong bảng chủ yếu là từ đơn và cụm từ: tất cả có 69 từ đơn và 15 cụm
từ. Trong tiếng Việt, các từ thuộc nhóm từ chỉ giới trong tiếng Việt trong
bảng thống kê được chia thành từ đơn và từ phức: tất cả có 29 từ đơn và
119 từ phức.
Như vậy, trong tiếng Nga từ chỉ giới chủ yếu là những từ đơn; còn
đối với tiếng Việt số lượng từ được cấu tạo phần lớn là những từ phức, từ
đơn chỉ chiếm số lượng nhỏ. Do vậy số lượng gốc từ chỉ giới trong tiếng
Nga sẽ nhiều hơn trong tiếng Việt.
3.3. Xét về từ loại
Về từ loại, tất cả các từ thuộc nhóm từ chỉ giới trong tiếng Việt
được hoặc thuộc đại từ xưng hô hoặc danh từ. Các danh từ được dùng
như là phương tiện để xưng hô. Chúng được chia thành 3 nhóm:
+ Nhóm 1: gồm những từ mang sắc thái địa phương như: mệ, cụ, ba,
tía, thầy, cậu, cha, dượng, má, u, bần, mợ, mạ, o, dì, thím,...
+ Nhóm 2: gồm các từ: anh, chị, em, bố, mẹ, ông, bà, cô, dì, chú,
bác, cậu
+ Nhóm 3: gồm các từ chỉ mối quan hệ thân tộc: ông chú, ông bác,
anh họ, em họ,...

THÔNG BÁO KHOA HỌC - ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - SỐ 01(27)/2015


Đối chiếu nhóm từ chỉ giới ...

5


Những từ thuộc nhóm 1 và nhóm 2 thì có thể được dùng để xưng
hô, nhóm 3 thì không thể dùng để xưng hô được. Nhưng nhóm từ thứ nhất
không dùng để miêu tả mối quan hệ, nhóm thứ ba chỉ dùng để miêu tả mối
quan hệ, nhóm thứ hai vừa dùng để miêu tả quan hệ vừa dùng để xưng hô.
Ngoài ra trong nhóm từ chỉ giới trong tiếng Việt có các từ chuyên dùng để
xưng hô (vay mượn từ Hán): quý ông, quý ngài, phu nhân, đức cha.
Trong tiếng Nga những từ thuộc nhóm từ chỉ giới được thống kê
trong bài đều là danh từ. Danh từ được chia thành danh từ giống đực,
giống cái và giống trung. Trong tiếng Việt không có khái niệm về giống
của danh từ.
Những từ chỉ giới trong tiếng Nga đã được thống kê là những danh
từ chỉ người nên hoặc thuộc giống đực hoặc giống cái và không có danh
từ giống trung: Giống đực là tất cả những từ chỉ giới nam, còn giống cái là
tất cả những từ chỉ giới nữ.
4. Đối chiếu nhóm từ chỉ giới trong tiếng Việt và tiếng Nga
Trên cơ sở phân loại nhóm từ chỉ giới chúng tôi tiến hành chúng từ 3
góc độ vế số lượng, cấu tạo và ngữ pháp.
4.1. Về số lượng
Theo kết quả thống kê, có 87 từ thuộc nhóm từ chỉ giới trong tiếng
Nga và 169 từ thuộc nhóm từ chỉ giới trong tiếng Việt, như vậy số lượng
từ chỉ giới trong tiếng Việt phong phú hơn trong tiếng Nga. Sở dĩ có sự
khác nhau về số lượng vì trong tiếng Việt một mặt danh từ (từ thân tộc)
thường được dùng để xưng hô. Cách xưng hô này tùy thuộc vào mối quan
hệ (gia đình,thân sơ...), bối cảnh giao tiếp (trang trọng, thân mât,...) nên
người nói lựa chọn lối xưng hô phù hợp nhằm mục đích biểu cản, tạo lạp
quan hệ. Ngoài ra mỗi từ vựng còn có các từ đồng nghĩa rất phong phú.
Ví dụ: từ "mẹ" - người phụ nữ thân sinh ra mình. Trong tiếng Nga
có 3 từ: Мама, мамочка, мать; còn trong tiếng việt có 12 từ: mẹ, me, má,
mạ, u, vú, bu, bầm, mợ, đẻ, mẹ ruột, mẹ đẻ.


THÔNG BÁO KHOA HỌC - ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - SỐ 01(27)/2015


Đối chiếu nhóm từ chỉ giới ...

6

4.2. Về cấu tạo
Sự khác biệt về cách cấu tạo từ trong tiếng Nga và tiếng Việt là:
tiếng Nga thuộc ngôn ngữ biến hình, dùng các phụ tố như tiền tố, trung tố,
hậu tố để cấu tạo từ mới; còn trong tiếng Việt thường dùng cách ghép, láy
để tạo từ mới.
Ví dụ: - Trong tiếng Nga: Мальчик (-чик là hậu tố giống đực),
девочка ( -к(a) là trung tố giống cái), правнук ( пра- là tiền tố), предок
( -ок là hậu tố giống đực ), старец (-ец là hậu tố giống đực)
- Trong tiếng Việt: Ông nội, bố chồng, con gái, bà nội, mẹ
vợ, con gái, con trai, con riêng,... là những từ ghép.
4.3. Về ngữ pháp
Dưới cấp độ ngôn ngữ học đối chiếu hệ thống ngữ pháp là hệ thống
bao trùm lên tất cả các cấp độ ngôn ngữ nên việc đối chiếu hệ thống ngữ
pháp có thể được thực hiện trên nhiều cấp độ khác nhau.
4.3.1. Ý nghĩa ngữ pháp
Xét về ý nghĩa ngữ pháp có 3 loại ý nghiã ngữ pháp: ý nghĩa hình
thái, ý nghĩa chức năng và ý nghĩa từ loại. Ý nghĩa hình thái cho ta biết
kiểu cấu tạo và hệ biến đổi hình thái của từ, ý nghĩa chức năng cho ta biết
chức năng ngữ pháp của từ trong cụm từ và câu. Ý nghĩa từ loại cho ta
biết khả năng đảm nhận các chức năng ngữ pháp của từ. Trong tiếng Việt
và tiếng Nga có sự khác tương đối lớn về cách thể hiện ý nghĩa ngữ pháp
của ngôn ngữ. Trong tiếng Việt không có sự biến đổi hình thái của các

hình vị học từ để thể hiện các ý nghĩa như giống, số, cách, thời, ngôi,
thức. Đối với tiếng Nga thì các từ được sử dụng trong câu phải phù hợp về
giống, số, cách, thời, ngôi, thức.
Trong các ngôn ngữ biến hình như tiếng Nga ý nghĩa từ loại thường
được thể hiện thông qua hình vị ngữ pháp. Những ngôn ngữ không biến
hình như tiếng Việt chỉ có thể xác định từ loại thông qua khả năng kết hợp
của từ với từ khác.
4.3.2. Phương thức ngữ pháp

THÔNG BÁO KHOA HỌC - ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - SỐ 01(27)/2015


Đối chiếu nhóm từ chỉ giới ...

7

Xét về phương thức ngữ pháp, trong tiếng Nga để biểu thị ý nghĩa
ngữ pháp của câu thường dùng phương thức phụ tố, biến hình trong từ
căn, thay từ căn. Trong tiếng Việt thường dùng phương thức hư từ, từ láy
và khi thay đổi trật tự từ thì dẫn tới sự thay đổi ý nghĩa ngữ pháp.
Sự khác biệt về cách thể hiện ý nghĩa ngữ pháp là cơ sở quan trọng
nhất để phân biệt loại hình ngôn ngữ. Loại hình ngôn ngữ được coi là tiêu
chí quan trọng để đánh giá mức độ khó khăn trong việc học một ngoại
ngữ, người học ngoại ngữ cùng loại hình với tiếng mẹ đẻ sẽ dễ hơn so với
ngoại ngữ khác loại hình.
5. Kết luận
Đối chiếu ngôn ngữ là một bộ môn ra đời muộn hơn so với các bộ
môn khác trong ngành ngôn ngữ học. Tuy nhiên những kết quả nghiên
cứu của nó đã nhanh chóng được ứng dụng rộng rãi trong quá trình dạy và
học ngoại ngữ. Đối chiếu nhóm từ vừng của các ngôn ngữ cùng hay khác

loại hình gián tiến giúp tìm hiểu về nền văn hóa của các dân tộc, tránh
việc sốc văn hóa trong giao tiếp với người nước ngoài.
Kết quả đối chiếu nhóm từ chỉ giới trong tiếng Nga và tiếng Việt
đã là rõ được những nét tương đồng và dị biệt ở nhóm từ này. Nét tương
đồng giữa hai ngôn ngữ được lí giải bởi những nguyên lí chung mà bộ
môn Ngôn ngữ học đại cương đã chỉ ra: Mỗi ngôn ngữ đều có nét đặc
trưng riêng, thể hiện không chỉ ở cách gọi tên sự vật hay hiện tượng trong
thực tế khách quan mà còn ở cách khai thác kết hợp, sắp xếp các âm thành
từ, các từ thành câu... Tuy nhiên, trong tất cả các ngôn ngữ người ta đều
có thể rút ra cái chung gọi là phổ niệm ngôn ngữ. Chẳng hạn như trong tất
cả các ngôn ngữ đều có các phụ âm và nguyên âm; các từ loại danh từ,
tính từ, động từ; có các hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa, đa nghĩa. Hầu
hết từ chỉ giới trong tiếng Việt và tiếng Nga là danh từ, bao gồm cả từ đơn
và từ ghép. Số lượng từ chỉ giới ở nhóm tuổi thanh niên và người lớn tuổi
nhiền hơn so với nhóm tuổi trẻ em, và ở mỗi nhóm thì tỉ lệ từ chỉ giới nam
và giới nữ chênh lệch không đáng kể.

THÔNG BÁO KHOA HỌC - ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - SỐ 01(27)/2015


Đối chiếu nhóm từ chỉ giới ...

8

Sự khác nhau cơ bản giữa hai ngôn ngữ này đó là sự khác biệt về
loại hình ngôn ngữ: tiếng Nga thuộc loại hình ngôn ngữ biến hình - phụ
tố, còn tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập. Trong tiếng Nga có
hiện tượng biến đổi nguyên âm và phụ âm trong hình vị - "biến tố bên
trong", sự biến đổi này mang ý nghĩa ngữ pháp. Ý nghĩa từ vựng và ngữ
pháp được dung hợp trong từ nhưng không thể tách ra từng phần riêng

biệt.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Bùi Hiền, Từ điển Giáo khoa Việt - Nga, NXB Giáo Dục, năm
2007.
[2].

Bùi Hiền, Từ điển Việt - Nga, NXB bách khoa Hà Nội, năm 2011.

[3]. Đinh Thị Hường - Phan Thị Thu, Văn phạm tiếng Nga, NXB từ
điển bách khoa, năm 2008
[4]. I.M. Punkina, Ngữ pháp tiếng Nga, NXB bách khoa Hà Nội, năm
2011.
[5]. K.M. Alikanop - V.V Ivanop I.A Malkhanova, Từ điển Nga Việt (2
tập), NXB Tiếng Nga, năm 1979.
[6]. Kỳ Duyên - Ngọc Hằng - Đức Bốn, Từ điển tiếng việt, NXB thanh
niên, năm 2012.
[7]. Nguyễn Thiện Giáp, Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục, năm
2006.
[8]. Nguyễn Văn Khang, Ngôn ngữ học xã hội - Những vấn đề cơ bản,
NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000.
[9]. />[10]. />%E1%BB%8Dc-d%E1%BB%91i-chi%E1%BA%BFu/
THÔNG BÁO KHOA HỌC - ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - SỐ 01(27)/2015


Đối chiếu nhóm từ chỉ giới ...

[11]. />a=d&d=TTkGGSfAGnFa1996.1.29&e=-------vi-20--1--img-txIN%C4%91%E1%BB%91i+chi%E1%BA%BFu+t%E1%BB%AB+v%E1%BB
%B1ng------#


[12]. />a=d&d=TTjGQyWoBHZq1988.1.1&srpos=1&e=-------vi-20--1--img-txIN%C4%91%E1%BB%91i+chi%E1%BA%BFu+t%E1%BB%AB+v%E1%BB
%B1ng------#

COLLATING THE WORD GROUP OF SEX IN
VIETNAMESE WITH RUSSIAN
The purpose of this paper is to compare and collate the compositions
and semantic features of the group of words related to gender in
Vietnamese and Russian. In order to find out the similarities and
differences in two languages, which help to enhance the quality of
studying Russian and Vietnamese as a foreign language.

Trịnh Thị Hà. Sinh viên lớp Nga-Anh K9, Khoa tiếng Nga Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế.

THÔNG BÁO KHOA HỌC - ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - SỐ 01(27)/2015

9



×