Tải bản đầy đủ (.pdf) (120 trang)

Các biểu đạt ngôn ngữ của hành vi trì hoãn trong tiếng anh và tiếng việt luận văn ths ngôn ngữ học 60 22 01 pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.26 MB, 120 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
……………………………

ĐINH VÂN ANH

CÁC BIỂU ĐẠT NGÔN NGỮ CỦA HÀNH VI TRÌ HOÃN
TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI - 2009


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------

ĐINH VÂN ANH

CÁC BIỂU ĐẠT NGÔN NGỮ CỦA HÀNH VI
TRÌ HOÃN TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

CHUYÊN NGÀNH:
MÃ SỐ:

NGÔN NGỮ HỌC
602201

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS ĐINH VĂN ĐỨC



HÀ NỘI - 2009


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẤU ............................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT ................................................................. 6
1. Hành động ngôn từ ........................................................................................ 6
2. Các hành vi tại lời ......................................................................................... 8
2.1. Điều kiện sử dụng hành vi tại lời............................................................ 8
2.2. Các loại hành vi tại lời .......................................................................... 10
3. Phát ngôn ngôn hành, biểu thức ngôn hành và động từ ngôn hành ............ 11
4. Hành vi trì hoãn ........................................................................................... 13
4.1. Khái niệm và điều kiện để thực hiện hành vi trì hoãn .......................... 13
4.2. Các loại hành vi trì hoãn ....................................................................... 14
5. Chiến lược giao tiếp – Phép lịch sự ............................................................ 18
5.1. Lịch sự .................................................................................................. 18
5.2. Chiến lược giao tiếp .............................................................................. 20
Tiểu kết ............................................................................................................ 23
CHƯƠNG 2: CÁC BIỂU ĐẠT NGÔN NGỮ CỦA HÀNH VI TRÌ HOÃN
TRONG TIẾNG ANH .................................................................................... 25
1. Dẫn nhập ..................................................................................................... 25
2. Biểu đạt hành vi trì hoãn bằng biểu thức ngôn hành tường minh ............... 27
3. Biểu đạt hành vi trì hoãn bằng biểu thức ngôn hành hàm ẩn ...................... 29
3.1. Các từ ngữ chuyên dùng ....................................................................... 29
3.2. Các kiểu kết cấu .................................................................................... 36
3.2.1. Kết cấu câu nghi vấn Yes/No ......................................................... 36
3.2.2. Kết cấu câu hỏi đuôi - Tag questions ............................................. 39
3.2.3. Kết cấu câu khẳng định. ................................................................. 40
3.2.4. Kết cấu câu cầu khiến .................................................................... 44


1


3.2.5. Kết cấu câu đề nghị ........................................................................ 46
3.2.6. Kết cấu câu mệnh lệnh ................................................................... 53
4. Các chiến lược giao tiếp – Phép lịch sự ...................................................... 55
Tiểu kết ............................................................................................................ 59
CHƯƠNG 3: CÁC BIỂU ĐẠT NGÔN NGỮ CỦA HÀNH VI TRÌ HOÃN
TRONG TIẾNG VIỆT .................................................................................... 61
1. Dẫn nhập ..................................................................................................... 61
2. Biểu đạt hành vi trì hoãn bằng biểu thức ngôn hành tường minh ............... 61
3. Biểu đạt hành vi trì hoãn bằng biểu thức ngôn hành hàm ẩn ...................... 63
3.1. Các từ ngữ chuyên dùng ....................................................................... 63
3.2. Các kiểu kết cấu .................................................................................... 74
3.2.1 Kết cấu câu mệnh lệnh phủ định ..................................................... 74
3.2.2. Kết cấu câu đề nghị bằng từ cứ: .................................................... 76
3.2.3. Kết cấu câu từ chối......................................................................... 82
3.2.4. Kết cấu câu van xin ........................................................................ 88
3.2.5. Kết cấu câu cảm thán ..................................................................... 90
3.3. Các chiến lược giao tiếp – Phép lịch sự............................................... 93
3.3.1. Phạm trù xưng hô và chiến lược sử dụng từ xưng hô .................... 93
3.3.2. Chiến lược từ chối khéo ............................................................... 100
3.3.3. Chiến lược hòa giải nhằm làm dịu hóa không khí giao tiếp ........ 101
3.3.4. Chiến lược tìm kiếm sự tán đồng ................................................ 103
Tiểu kết .......................................................................................................... 105
KẾT LUẬN ................................................................................................... 107

2



PHẦN MỞ ĐẤU
1. Lý do chọn đề tài
Khi chúng ta giao tiếp, cụ thể là khi nói chúng ta thực hiện những hành
vi ngôn ngữ khác nhau. Theo thời gian và sự phát triển của xã hội, giao tiếp
của con người ngày càng trở nên tinh tế, phức tạp hơn. Điều này đã khiến cho
số lượng các hành vi ngôn ngữ ngày càng trở nên đa dạng, phong phú hơn.
Để xác định con số chính xác các hành vi ngôn ngữ là một điều rất khó.
Từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu cũng mới chỉ đưa ra những kết quả tạm
thời dựa trên các tiêu chí nào đó. Trong lịch sử ngành ngôn ngữ học đã có
nhiều công trình của các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước nghiên cứu
về hành vi ngôn ngữ.
Từ những gợi mở của các nghiên cứu đã xuất hiện và mong muốn được
tìm hiểu sâu hơn về lĩnh vực này, chúng tôi đã chọn hành vi trì hoãn làm đối
tượng khảo sát nghiên cứu cho luận văn của mình. Đó là lý do vì sao chúng
tôi chọn đề tài: "Các biểu đạt ngôn ngữ của hành vi trì hoãn trong tiếng
Anh và tiếng Việt (trên tư liệu truyện ngắn hiện đại Anh – Việt)". Hy vọng
rằng, kết quả nghiên cứu này sẽ có những đóng góp nhất định vào công việc
nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ.
2. Mục đích và nhiệm vụ
2.1. Mục đích
Thông qua việc tiếp cận, khảo sát và đối chiếu các biểu đạt ngôn ngữ
của hành vi trì hoãn trong tiếng Việt và tiếng Anh, mục đích luận văn hướng
đến là:
- Góp thêm một cách nhìn vào lý thuyết hành động ngôn từ nói chung
và hành vi trì hoãn nói riêng. Từ đó giúp thấy được rõ nét, sâu sắc về hành
động ngôn từ, hành vi trì hoãn cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn.

3



- Góp phần tìm hiểu lý luận để nâng cao hiệu quả trong công tác giảng
dạy và học tập tiếng ở Việt Nam, và để ứng dụng vào công tác dịch thuật.
2.2. Nhiệm vụ
Với mục đích nêu trên, luận văn đề ra các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu một số vấn đề lý thuyết về hành động ngôn từ nói chung và
hành vi trì hoãn nói riêng.
- Khảo sát các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực tại lời của hành vi trì hoãn,
cụ thể là các động từ ngôn hành, các từ ngữ chuyên dùng trong biểu thức
ngôn hành, các kiểu kết cấu biểu đạt hành vi trì hoãn của các kết cấu này.
- Khảo sát lối xưng hô trong các phát ngôn chứa hành vi trì hoãn.
- Khảo sát các chiến lược giao tiếp đi kèm với hành vi trì hoãn.
3. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu
3.1. Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các biểu đạt ngôn ngữ của hành
vi trì hoãn trong các tác phẩm văn học. Do đó, phạm vi nghiên cứu chỉ giới
hạn trong các tác phẩm văn học của Việt Nam và Anh/Mỹ.
3.2. Phương pháp nghiên cứu:
- Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp quy nạp. Sau khi tổng hợp,
phân tích và nhận xét các ví dụ cụ thể về hành vi trì hoãn trong tiếng Anh và
tiếng Việt, chúng tôi tiến tới các nhận xét có tính khái quát, tìm ra quy luật
chung trong hai ngôn ngữ.
- Bên cạnh phương pháp quy nạp, luận văn cũng sử dụng phương pháp
so sánh đối chiếu nhằm tìm ra những nét tương đồng và khác biệt giữa hai
ngôn ngữ và hai nền văn hóa Việt – Anh.

4


4. Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn chia
thành 3 chương như sau:
Chương 1. Cơ sở lý thuyết
1. Hành động ngôn từ
2. Các hành vi tại lời
3. Phát ngôn ngôn hành, biểu thức ngôn hành và động từ ngôn hành
4. Hành vi trì hoãn
5. Chiến lược giao tiếp - Phép lịch sự
Chương 2. Các biểu đạt ngôn ngữ của hành vi trì hoãn trong tiếng Anh
1. Dẫn nhập
2. Biểu đạt hành vi trì hoãn bằng biểu thức ngôn hành tường minh
3. Biểu đạt hành vi trì hoãn bằng biểu thức ngôn hành hàm ẩn
4. Các chiến lược giao tiếp
Chương 3. Các biểu đạt ngôn ngữ của hành vi trì hoãn trong tiếng Việt
1. Dẫn nhập
2. Biểu đạt hành vi trì hoãn bằng biểu thức ngôn hành tường minh
3. Biểu đạt hành vi trì hoãn bằng biểu thức ngôn hành hàm ẩn
4. Các chiến lược giao tiếp

5


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1. Hành động ngôn từ
Thuật ngữ tiếng Anh "Speech act" khi vào Việt Nam đã được các nhà
ngôn ngữ học chuyển dịch bằng nhiều tên gọi khác nhau: hành động nói (Diệp
Quang Ban), hành vi ngôn ngữ (Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân), hành vi
nói năng (Nguyễn Văn Khang), hành động ngôn từ (Cao Xuân Hạo). Trong
luận văn này chúng tôi sử dụng tên gọi hành vi ngôn ngữ.

Khi chúng ta nói năng tức là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện
một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ. Người đầu tiên khởi
xướng và xây dựng lý thuyết hành động ngôn từ là J. Austin. Trong tác phẩm
nổi tiếng "How to do things with word" ("Người ta làm nên các sự vật bằng từ
ngữ như thế nào?" – Nguyễn Đức Dân) của mình, xuất bản năm 1962, ông đã
đề cập đến vấn đề lý thuyết hành động ngôn từ như sau: Một hành động ngôn
ngữ được thực hiện khi một người nói (hoặc viết) Sp1 nói ra một phát ngôn U
cho người nghe (hoặc người đọc) Sp2 trong ngữ cảnh C.
Austin đưa ra 3 loại hành động ngôn từ là: Hành động tạo lời, hành
động tại lời và hành động mượn lời.
Hành động tạo lời là những hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ
như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu …. để tạo ra một phát ngôn về
hình thức và nội dung.
Hành động tại lời là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói
năng. Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là
chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận. Ví
dụ về hành động tại lời: hành vi hỏi, hành vi yêu cầu, hành vi ra lệnh, hành vi
mời, hành vi hứa hẹn, hành vi khuyên bảo, hành vi nghi ngờ …Khi chúng ta

6


hỏi ai về một cái gì đó thì người được hỏi có nhiệm vụ phải trả lời chúng ta,
cho dù trả lời không biết. Không trả lời, không đáp lại câu hỏi, người nghe bị
xem là không lịch sự. Khác với các hành động mượn lời, hành động tại lời có
ý định (có đích ) quy ước và có thể chế dù rằng quy ước và thể chế của chúng
không hiển ngôn mà quy tắc vận hành chúng được mọi người trong một cộng
đồng ngôn ngữ tuân theo một cách không tự giác. Có thể nói, nắm được ngôn
ngữ, không chỉ có nghĩa là nắm được âm, từ ngữ, câu …. của ngôn ngữ đó mà
còn là nắm được những quy tắc điều khiển các hành động tại lời trong ngôn

ngữ đó, có nghĩa là biết các quy tắc để “hỏi”, “hứa hẹn” … sao cho đúng lúc,
đúng chỗ cho thích hợp với ngữ cảnh, với người được hỏi….
Hành động mượn lời là những hành vi “mượn” phương tiện ngôn ngữ,
nói cho đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn
ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói. Ví dụ nghe một
phát ngôn:"ở đây tối quá". Sp2 có thể mở cửa sổ. Hành động mở cửa sổ thuộc
hành động mượn lời. Chức năng hành động của giao tiếp được thực hiện nhờ
các hiệu quả mượn lời của phát ngôn. Có những hiệu quả mượn lời là đích
của một hành động tại lời như trong ví dụ nêu trên: Hành động mở cửa sổ là
hiệu quả của hành động tại lời đề nghị. Cũng có những hiệu quả không thuộc
đích của hành động tại lời: Chẳng hạn Sp2 trong ví dụ trên mở cửa sổ một
cách khó chịu, gắt gỏng thì hành vi đó không phải là đích của hành động tại
lời. Những hiệu quả mượn lời, rất phân tán, không thể tính toán được. Chúng
không có tính quy ước (trừ hành động mượn lời đích của hành động tại lời).
[1, 88-89]

7


2. Các hành vi tại lời
2.1. Điều kiện sử dụng hành vi tại lời
Các hành vi tại lời, cũng như các hành vi khác, các hành vi sinh lí cũng
như vật lí, không phải được thực hiện một cách tùy tiện. Nếu là một hành vi
xã hội thì các điều kiện để cho nó có thể thực hiện được lại càng chặt chẽ đa
dạng hơn nữa. Mà các hành vi tại lời như đã biết, về cơ bản là hành vi xã hội.
Điều kiện sử dụng các hành vi tại lời là những điều kiện mà một hành vi tại
lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn
ra nó.
J. Austin xem các điều kiện sử dụng các hành vi tại lời là những điều
kiện "may mắn" nếu chúng được đảm bảo thì hành vi mới "thành công", đạt

hiệu quả. Nếu không nó sẽ thất bại. Những điều kiện may mắn của J.Austin là
như sau:
A- (i) Phải có thủ tục có tính chất quy ước và thủ tục này phải có hiệu quả
cũng có tính quy ước.
(ii) Hoàn cảnh và con người phải thích hợp với những điều quy định trong
thủ tục.
B- Thủ tục phải được thực hiện (i) một cách đúng đắn và (ii) đầy đủ.
C- Thông thường thì (i) những người thực hiện hành vi ở lời phải có ý nghĩ,
tình cảm và ý định đúng như đã được đề ra trong thủ tục và (ii) khi hành động
diễn ra thì ý nghĩ, tình cảm, ý định đúng như nó đã có. [1, 112]
J. Searle là người đầu tiên vạch ra hạn chế chỉ phân loại các động từ
ngôn hành của bảng phân loại của Austin. J. Searle còn cho rằng, vì J. Austin
không định ra các tiêu chí phân loại do đó kết quả phân loại có khi dẫm đạp
lên nhau. Ông cho rằng trước hết là phải phân loại các hành vi tại lời chứ
không phải phân loại các động từ gọi tên chúng và nếu xác lập được một hệ
các tiêu chí thích hợp với các hành động ngôn từ thì có thể giải tỏa được thái

8


độ bi quan của Wittenstein cho rằng không thể phân loại được các “trò chơi
ngôn ngữ” và tránh được tình trạng dẫm đạp lên nhau giữa các phạm trù, các
nhóm trong từng phạm trù hành vi tại lời.
J. Searle liệt kê 12 điểm khác biệt giữa các hành động ngôn từ có thể
dùng làm tiêu chí phân loại như sau:
1. Đích ở lời
2. Hướng khớp ghép lời với hiện thực mà lời đề cập đến
3. Trạng thái tâm lí được thể hiện
4. Sức mạnh mà đích được trình bày ra
5. Tính quan yếu của mối quan hệ liên cá nhân giữa Sp1 và Sp 2

6. Định hướng
7. Câu hỏi và câu trả lời là hai thành phần của một cặp kế cận còn sai
bảo

thì không

8. Nội dung mệnh đề
9. Hứa hẹn chỉ có thể thực hiện bằng lời, tức thực hiện như một hành vi
ở lời trong khi đó phân loại có thể được thực hiện bằng phương thức
khác không phải bằng lời
10. Đặt tên thánh và rút phép thông công đòi hỏi phải có thể chế xã hội
mới có hiệu lực nhưng trần thuật thì không đòi hỏi như vậy.
11. Không phải tất cả các động từ gọi tên hành vi tại lời đều là động từ
ngôn hành. Thí dụ: khoe và dọa không phải là động từ ngôn hành.
12. Phong cách thực hiện hành vi tại lời.
J. Searle chỉ dùng có 4 trong số 12 tiêu chí trên để phân lập 5 loại hành động
ngôn từ là: Tiêu chí đích ở lời; tiêu chí hướng khớp ghép; tiêu chí trạng thái
tâm lí và tiêu chí nội dung mệnh đề.
Searle đưa ra bốn điều kiện. Mỗi điều kiện lại được biểu hiện khác
nhau tùy theo từng phạm trù, từng loại và từng hành vi tại lời cụ thể.

9


a. Điều kiện nội dung mệnh đề: Chỉ ra bản chất nội dung của hành vi.
Nội dung mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản (đối với các hành vi khảo
nghiệm, xác tín, miêu tả), hay một hàm mệnh đề (đối với các câu hỏi khép
kín, tức những câu hỏi chỉ có hai khả năng trả lời, có hoặc không; phải, không
phải ....). Gọi là hàm mệnh đề vì phát ngôn ngôn hành tương ứng với hành vi
hỏi đưa ra hai khả năng, người trả lời chọn một và trả lời. Nội dung mệnh đề

có thể là một hành động của người nói hay một hành động của người nghe.
b. Điều kiện chuẩn bị bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn về
năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa người nói và
người nghe.
c. Điều kiện chân thành chỉ ra các trạng thái tâm lí tương ứng của
người phát ngôn. Xác tín, khảo nghiệm đòi hỏi niềm tin vào điều mình xác
tín,...
d. Cuối cùng là điều kiện căn bản, đây là điều kiện đưa ra kiểu trách
nhiệm mà người nói hoặc người nghe bị ràng buộc khi hành vi tại lời đó được
phát ra. Trách nhiệm có thể rơi vào hành động sẽ được thực hiện (lệnh, hứa
hẹn) hoặc đối với tính chân thực của nội dung (một lời xác tín buộc người nói
phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của điều nói ra). [1, 116]
2.2. Các loại hành vi tại lời
Trong giao tiếp, người nói luôn mong muốn truyền đạt được nhiều nhất
tư tưởng và mục đích của mình tới người nghe. Do đó một hành vi tại lời đôi
khi không chỉ thể hiện tính chất của chính nó mà còn thể hiện tính chất của
những hành vi tại lời khác. Chẳng hạn, hành vi hỏi không phải lúc nào cũng
mang mục đích hỏi mà có khi nhằm mục đích chào hay trì hoãn, đe dọa..
Cuộc sống ngày càng phát triển thì hoạt động giao tiếp theo đó cũng trở nên
sâu sắc, tinh tế hơn. Để có thể thống kê con số chính xác các hành động ngôn
từ mà ở đây là các hành vi tại lời thật là khó bởi số lượng khá lớn.

10


Luận văn xin nêu ra hai cách phân loại theo J. Austin và J.Searle dựa
trên những tiêu chuẩn đã nêu trên cùng một số tiêu chuẩn khác.
Theo J. Austin, ông phân chia hành vi tại lời thành 5 loại lớn:
Phán xét, hành xử, cam kết, ứng xử và bày tỏ.
J.Searle cũng chia thành 5 nhóm lớn nhưng có một số khác biệt như

sau:
Tuyên bố, biểu hiện, cầu khiến, hứa hẹn, bày tỏ.
Trong mỗi nhóm lại bao chứa những hành vi tại lời nhỏ, cụ thể hơn.
Như vậy, danh sách các hành vi tại lời rất phong phú. Điều đó phù hợp với
nhu cầu giao tiếp ngày càng tinh vi, sâu sắc của con người.
Tùy thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, hành vi tại lời có thể chia
thành hành vi tại lời trực tiếp và hành vi tại lời gián tiếp. Bản thân trong khi
giao tiếp không phải con người chỉ đơn thuần sử dụng hành vi tại lời trực tiếp
mà đôi khi vì mục đích, hoàn cảnh giao tiếp phải sử dụng hành vi tại lời gián
tiếp.
3. Phát ngôn ngôn hành, biểu thức ngôn hành và động từ ngôn hành
Các phát ngôn ngôn hành là sản phẩm, và cũng là phương tiện của các
hành vi tại lời. Phát ngôn ngôn hành là phát ngôn – sản phẩm của một hành vi
tại lời nào đó khi hành vi này được thực hiện một cách trực tiếp, chân thực.
Phát ngôn ngôn hành có một kết cấu lõi đặc trưng cho hành vi tại lời tạo ra
nó. Kết cấu lõi đó được gọi là biểu thức ngôn hành. Ví dụ: Phát ngôn trì hoãn
sau đây: Ông ở ngoài ấy chờ tôi xong việc đã.” có biểu thức ngôn hành: Chờ
tôi xong việc đã
Biểu thức ngôn hành là những thể thức nói năng đặc trưng cho một
hành vi tại lời. Nói như vậy có nghĩa là về nguyên tắc, trừ những trường hợp
được sử dụng gián tiếp, còn thì có bao nhiêu hành vi tại lời thì có bấy nhiêu
kiểu biểu thức ngôn hành. Biểu thức ngôn hành là dấu hiệu ngữ pháp – ngữ

11


nghĩa của các hành vi tại lời. Nhờ các biểu thức ngôn hành chúng ta nhận biết
được các hành vi tại lời.
Mỗi biểu thức được đánh dấu bằng các dấu hiệu chỉ dẫn, nhờ những
dấu hiệu này mà các biểu thức ngôn hành phân biệt với nhau. J. Searle gọi các

dấu hiệu này là các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời:
- Các kiểu kết cấu: Kết cấu cũng tức là các kiểu câu hiểu theo ngữ pháp
truyền thống. Cần mở rộng khái niệm kết cấu, cũng tức là mở rộng khái niệm
kiểu câu để nó có thể bao gồm những kết cấu cụ thể ứng với từng hành vi tại
lời (hoặc phạm trù hành vi tại lời). Kết cấu không chỉ là những kiểu câu có
mục đích nói hết sức sơ lược và khái quát như trần thuyết, hỏi, cầu khiến, cảm
thán với những dấu hiệu hình thức rất chung chung mà còn bao gồm cả những
kết cấu cụ thể ứng với những hành vi tại lời.
- Những từ ngữ chuyên dùng trong biểu thức ngôn hành. Những từ ngữ
này dùng để tổ chức các kết cấu và là các dấu hiệu nhờ chúng chúng ta biết
được hành vi nào đang thực hiện. Đó là những từ ngữ chuyên dùng trong các
biểu thức hỏi như: có … không, có phải … không? Ai, cái gì, bao giờ, mấy
…? Đó là các từ ngữ như nên, không nên trong các biểu thức ngôn hành
khuyên...; Các từ thế à, thật không, liệu, sao... trong các biểu thức ngôn hành
ngờ vực .
- Ngữ điệu. Cùng một tổ chức từ vựng, ngữ pháp cụ thể nếu được phát
âm với những ngữ điệu khác nhau sẽ cho các biểu thức ngôn hành khác nhau
tương ứng với những hành vi ở lời khác nhau.
Quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc vị từ - tham thể tạo nên nội
dung mệnh đề được nêu trong biểu thức ngôn hành với các nhân tố của ngữ
cảnh. Các đặc tính ngữ nghĩa như tự nguyện hay cưỡng bức, tích cực hay tiêu
cực, có lợi hay có hại … của hành động đối với người tạo ra hành vi và người
nhận hành vi cũng có giá trị như những phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời.

12


Có một phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời đặc biệt, đánh dấu cho một
số biểu thức ngôn hành tường minh là các động từ ngôn hành. Đó là những
động từ có thể được thực hiện trong chức năng ngôn hành, tức thực hiện trong

chức năng ở lời. Những động từ này được gọi tên là động từ ngôn hành
(performative verbs – động từ ngữ vi). Động từ ngôn hành là những động từ
mà khi phát âm chúng ra cùng biểu thức ngôn hành (có khi không cần biểu
thức ngôn hành đi kèm) là người nói thực hiện luôn cái hành vi ở lời do chúng
biểu thị. [1, 91]
Theo Austin, các biểu thức có động từ ngôn hành là biểu thức ngôn
hành tường minh; Và gọi những biểu thức tuy vẫn có hiệu lực ở lời nhưng
không có động từ ngôn hành là biểu thức ngôn hành nguyên cấp hay biểu
thức ngôn hành hàm ẩn.
Trong thực tế giao tiếp bằng ngôn ngữ, phổ biến và thường xuyên được
dùng là các biểu thức ngôn hành hàm ẩn. Như thế các biểu thức ngôn hành
hàm ẩn với các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời đặc trưng tương ứng với
từng hành vi ở lời là cơ sở để lí giải các phát ngôn nghe được, đọc được.
4. Hành vi trì hoãn
4.1. Khái niệm và điều kiện để thực hiện hành vi trì hoãn
Theo định nghĩa trong “Từ điển tiếng Việt”: Trì hoãn là để chậm lại,
kéo dài thời gian hay lần lựa, dần dà. Ví dụ như: bị trì hoãn mà trễ tàu. Như
vậy hành vi trì hoãn được hiểu là hành vi làm chậm lại thời gian, nhằm níu
kéo thời gian để thực hiện sự việc nào đó.
Theo bảng phân loại của J. Austin, hành vi ngôn ngữ trì hoãn thuộc
nhóm 5. Đây là nhóm những hành vi phản ứng với cách xử sự của người
khác, đối với các sự kiện có liên quan, chúng cũng là cách biểu hiện thái độ
đối với hành vi hay số phận của người khác. Do đó điều kiện để có hành vi trì
hoãn theo ông là phải có Sp1 nói (viết) một phát ngôn về một sự kiện, Sp2

13


đưa ra phản ứng trì hoãn. Như vậy phải có Sp1 đưa ra một phát ngôn xác tín
về một sự việc hành động đã xảy ra (có thể của Sp 1 hoặc người thứ 3). Sp2

đưa ra phát ngôn thể hiện phản ứng của mình – trì hoãn tính xác thực của sự
kiện, hành động đó. Hoặc một người đưa ra phát ngôn trước một sự kiện,
hành động đã xảy ra mà mình đã biết.
Còn theo bảng phân loại của J. Searle: Hành vi trì hoãn thuộc nhóm
điều khiển: Đích ở lời là đạt người nghe vào trách nhiệm thực hiện một hành
động tương lai; hướng khớp ghép hiện thực – lời; trạng thái tâm lí là mong
muốn của Sp1 và nội dung mệnh đề là hành động tương lai của Sp2.[ 1, 126].
Là nhóm hành động thể hiện cái mà người nói không thể phân biệt giá trị
chân ngụy hay đúng sai, vì nó không có giá trị đúng sai. Hành vi trì hoãn xét
đến ở đây là người nói – Sp1 không tự trì hoãn hành vi của mình mà Sp1 phát
ngôn ra hành vi trì hoãn nhằm trì hoãn hành vi thực hiện hành động nào đó
sắp xảy ra của đối tượng giao tiếp – Sp2.
Các điều kiện để thực hiện hành vi trì hoãn theo Searle là:
Nội dung mệnh đề: Sự kiện hành động của Sp1, hoặc của người thứ 3 mà cả
Sp1 và Sp2 đều biết.
Điểu kiện chuẩn bị: Có những bằng chứng thuyết phục Sp2 tin
Điều kiện chân thành: Sp2 ngạc nhiên, không chắc chắn hay phỏng đoán về
sự kiện, hành động mà Sp1 nêu ra trước đó, hoặc thậm chí là phủ nhận, bác bỏ
chúng..
Điều kiện căn bản: Phản ứng của người Sp2 trước phát ngôn của Sp1
4.2. Các loại hành vi trì hoãn
Phát ngôn trì hoãn có thể chia thành phát ngôn trì hoãn trực tiếp và
phát ngôn trì hoãn gián tiếp. Phát ngôn trì hoãn trực tiếp là phát ngôn có chứa
biểu thức trì hoãn tường minh, phát ngôn trì hoãn gián tiếp là phát ngôn chức
biểu thức ngôn hành trì hoãn hàm ẩn.

14


Ngoài ra, khi giao tiếp ngoài việc thể hiện hành vi trì hoãn , người nói

còn đưa ra thái độ quan điểm của mình về sự việc. Người nói thể hiện thái độ
của mình như thế nào là tùy thuộc vào ngữ cảnh; vào mối quan hệ giữa người
nói và người nghe; vào trạng thái tâm lý của mình khi sự kiện hành động
được nêu ra. Chúng tôi xin nêu ra một số kiểu hành vi trì hoãn phổ biến như
sau:
- Trì hoãn để từ chối: Trước một sự việc, hành động đề nghị nào đó mà
người nghe thấy thực không thể thực hiện ngay hành động đó nhưng ngại
không dám từ chối thẳng thì người nghe dùng hành vi trì hoãn nhằm mục đích
từ chối làm theo lời yêu cầu hay đề nghị của người nói. Nhưng chỉ mang tính
chất trì hoãn tạm thời cho việc thực hiện hành động.
“She’s pretty bitter right now. I don’t know. You phone me at the bank
tomorrow.” “I couldn’t explain any thing to her now,”
Charlie got up. He took his coat and hat and stared down the corridor. Then
he opened the door of the dining room and said in a strange voice, “Good
night, children,”
[F. Scott Fitzgerald, Babylon Revisited]
Ví dụ trong tiếng Việt
- Thím Thư, tôi có chuyện.
- Ửa anh Hải. Chuyện chi mà trái đường trái gió rứa.
- Là... cũng chuyện quan trọng. - Ông Hải nhè nhẹ đặt cày xuống đất, xắm
rắm lựa thế ngồi - Thím nghỉ tay lên bờ tôi nói rõ.
Ai thấy thì chết. Chị ngượng nghịu dúi dúi cây cuốc.
- Thôi trưa về nhà hãy nói. Ruộng còn ngồn ngộn cả cỏ. Anh thông cảm.

15


- Không, thím Thư, là tôi muốn nói cái chuyện mộ chú Ngộ ấy mà. Tiện đây
gặp thím, tôi cũng không có ý tìm.
Rứa thì được. Thanh thiên bạch nhật. Mình cứ thói xấu hổ đa nghi, trách gì

già rồi như kẻ nít.
- Dạ để tôi rửa tay.
[Hàn Nguyệt, Trinh nguyên]
- Trì hoãn nhằm kéo dài thời gian : Đi kèm hành vi trì hoãn với mục
đích là kéo dài thời gian thực hiện hành động. Người nói nêu ra ý kiến chủ
quan của mình, kéo dài thời gian thực hiện hành động được đề nghị làm hay
yêu cầu phải làm ngay tại thời điểm nói, giải thích cho sự kéo dài thời gian và
đưa ra cái mốc thời gian cụ thể cho việc trì hoãn thực hiện hành động như một
đảm bảo là hành động này chỉ bị tam ngừng thực hiện chứ không phải bị hủy
bỏ hay từ chối không làm, hiệu lực tiếp theo của sự việc hành động.
Ví dụ trong tiếng Anh:
When I went into the bathroom, there was a woman there. She was cleaning,
and she seemed worried when I appeared. She started to pick up her cleaning
things.
“It’s all right,” I said, “I’m not in a hurry. I can wait until you’ve finished
” (Tôi không vội. Tôi có thể chờ đến khi bà xong việc). But she had already
risen, with some difficulty. I saw then that she was not old, …
[The Moonspinners, Mary Stewart]
Ví dụ trong tiếng Việt
Đáp lại bao nhiêu lời bóng bảy, xa xôi ấy, ông bố vợ chỉ trả lời gọn lỏn
một câu :
- Vâng. Mời bà cứ ngồi chơi thư thả xơi nước, xơi trầu đã.
Rồi ông lại cất cao giọng bảo con :

16


- Hễ được nước thì bắc lên đây, con nhé ?

[Một đám cưới - Nam Cao]

- Trì hoãn để thương lượng: Khi người nói thấy vấn đề gây bất lợi cho
mình, thì hành vi trì hoãn của người nói còn có ý để thương lượng cho việc
giải quyết vấn đề, nhằm làm dịu hóa sự việc diễn ra. Hành vi trì hoãn của
người nói đã chuyển thành hành vi đề nghị, thương lượng.
Ví dụ trong tiếng Anh:
Rosa said. “I’m going to call the police. Now!”
“Oh no, please!” Dorothy Burns said. “I’m very, very sorry but not the
police, please! Listen, I can help you. I can drive you home and _”
“I’m not getting in that car with you!” Rosa said. “You’re drunk”.
“No!” Dorothy Burns said. “Just one small whisky, that’s all.”
“Oh, yes? Tell that to the police.” Rosa stood up, holding her leg. “What’s the
number of your car?”.
“No, please!” Dorothy Burns said. “Not the police. Listen, I want to help
you. Take a taxi to the hospital. I can give you the money for it. Go to the
accident _?”
“How much money?” said Rosa.
“Um, er, twenty pounds?” Dorothy Burns said.
[Hush Money, Eskine Childers]
Ví dụ trong tiếng Việt
Cụ Bá cười nhạt, nhưng tiếng cười giòn giã lắm ; người ta bảo cụ hơn người
cũng chỉ bởi cái cười :
- Cái anh này nói mới hay ! Ai làm gì mà anh phải chết ? Đời người
chứ có phải con ngóe đâu ? Lại say rồi phải không ?
Rồi đổi giọng, cụ thân mật :

17


- Về bao giờ thế ? Sao không vào tôi chơi ? Đi vào nhà uống nước.
Thấy Chí Phèo không nhúc nhích, cụ tiếp luôn :

- Nào đứng lên đi. Cứ vào đây uống nước đã. Có cái gì, ta nói
chuyện tử tế với nhau. Cần gì mà phải làm thanh động lên như thế,
người ngoài biết, mang tiếng cả.
Rồi vừa xốc Chí Phèo, cụ vừa phàn nàn :
- Khổ quá ! Giá có tôi ở nhà có đâu đến nỗi. Ta nói chuyện với nhau,
thế nào cũng xong. Người lớn cả, chỉ một câu chuyện với nhau là
đủ. Chỉ tại thằng Lý Cường nóng tính không nghĩ trước, nghĩ sau.
Ai,chứ anh với nó còn có họ cơ đấy.
[Chí Phèo, Nam Cao]
Ngoài các kiểu hành vi trì hoãn phổ biến nêu trên, có thể xuất hiện những
kiểu hành vi trì hoãn khác nữa bởi giao tiếp trong xã hội bị chi phối bởi nhiều
yếu tố. Những yếu tố chi phối đó bao gồm ngữ cảnh với các vai giao tiếp, các
quan hệ liên cá nhân; hiện thực ngoài diễn ngôn; hoàn cảnh giao tiếp; tâm lý
khi tham gia giao tiếp. Nhưng do khuôn khổ có hạn của luận văn, chúng tôi
chỉ đề cập tới những dạng phổ biến nói trên của hành vi trì hoãn .
5. Chiến lược giao tiếp – Phép lịch sự
5.1. Lịch sự
Lịch sự là một nhân tố quan trọng trong giao tiếp xã hội, Nó có tác
động chi phối không những đối với quá trình giao tiếp mà cả đối với kết quả
giao tiếp. Nhiều người nghiên cứu ngữ dụng học coi lịch sự như một nguyên
tắc giao tiếp bên cạnh nguyên tắc hợp tác trong hội thoại và gọi là nguyên tắc
lịch sự.
Trước hết, người ta có thể coi lịch sự như một chuẩn mực xã hội. Các
nhà nghiên cứu thuộc nhiều dân tộc khác nhau đã quan niệm lịch sự là hành vi
xã hội có lễ độ hay là phép xã giao trong phạm vi văn hóa. Người ta cũng có

18


thể quan niệm lịch sự là những nguyên tắc chung trong tương tác xã hội của

mỗi nền văn hóa. Những nguyên tắc đó có thể bao gồm sự tế nhị, sự khoan
dung, sự khiêm tốn, sự cảm thông đối với người khác.Trong những hoàn cảnh
giao tiếp nào đó, người ta không tiện nói thẳng mà phải nói bóng gió, xa xôi.
Hoặc tránh gọi tên trực tiếp của sự vật hiện tượng cũng là một cách nói tế nhị.
Khi chính kiến hoàn toàn khác nhau, người ta vẫn cố tìm những nét khả thủ
trong suy nghĩ của đối phương, tránh phủ định sạch trơn, gây mâu thuẫn căng
thẳng. Đó chính là nguyên tắc cảm thông với người khác trong giao tiếp.
Tuy nhiên, trong giao tiếp còn có một kiểu lịch sự nữa được thực hiện.
Để miêu tả kiểu lịch sự này cần biết khái niệm thể diện (face). Thể diện là
hình ảnh bản thân trước công chúng của một cá nhân, nó liên quan đến ý thức
xã hội và tình cảm mà mỗi cá nhân có và mong muốn người khác tri nhận.
Trong giao tiếp, phép lịch sự có thể được định nghĩa là phương tiện được
dùng để thể hiện hiểu biết về thể diện của người khác. Như thế, phép lịch sự
thực hiện trong các tình huống có khoảng cách xã hội và có sự thân hữu.
Khi có khoảng cách xã hội thì người ta thể hiện sự hiểu biết về thể diện
của người khác bằng cách sử dụng những từ ngữ tôn trọng, chiều lòng.
Khi có sự thân hữu thì người ta thể hiện bằng việc dùng các từ ngữ có tính
thân tình, đoàn kết.
Trong giao tiếp hàng ngày người ta cư xử y như mong muốn của họ về
nhu cầu thể diện sẽ được tôn trọng. Nếu một người nói cái gì đó có biểu hiện
đe dọa sự mong đợi của người khác về mặt thể diện thì đó là hành động đe
dọa thể diện (face threatening act). Nếu người nói nói thế nào để làm giảm
khả năng đe dọa thể diện thì hành động đó gọi là hành động giữ thể diện (face
saving act).
Trước hết, cần phân biệt thể diện âm tính (negative face) và thể diện dương
tính (positive face). Thể diện âm tính của một người là nhu cầu được độc lập,

19



được tự do hành động và không bị người khác áp đặt. Thể diện dương tính
của một người là nhu cầu được người khác chấp nhận, thậm chí được người
khác yêu mến đối xử như người cùng nhóm.
Nói cách khác, thể diện âm tính là nhu cầu được độc lập còn thể diện
dương tính là nhu cầu được quan hệ.
Như vậy, một hành động giữ thể diện hướng vào thể diện âm tính của
một người sẽ phải thể hiện sự tôn trọng, nhấn mạnh tầm quan trọng của thời
gian và quan hệ của người khác, thậm chí bao gồm cả việc xin lỗi về sự áp đặt
hoặc làm gián đoạn. Cái đó được gọi là phép lịch sự âm tính. Một hành động
giữ thể diện hướng vào thể diện dương tính của người khác sẽ phải thể hiện
tình đoàn kết, nhấn mạnh nguyện vọng chung, mục đích chung của hai người.
Cái đó được gọi là phép lịch sự dương tính. [1, 100]
5.2. Chiến lược giao tiếp
Chiến lược giao tiếp là phương châm và các biện pháp sử dụng các
hành vi ngôn ngữ trong giao tiếp nhằm giữ thể diện và tránh đe dọa thể diện
của người tham gia giao tiếp. Lựa chọn cách xưng hô nào là phụ thuộc vào
chiến lược giao tiếp; lựa chọn cách nói thẳng hay nói vòng là tùy thuộc vào
tình huống giao tiếp và văn hóa của cộng đồng; Tránh hành động đe dọa thể
diện được thể hiện bằng hành động giữ thể diện. Hành động giữ thể diện dùng
chiến lược lịch sự dương tính và chiến lược lịch sự âm tính.
Chiến lược lịch sự dương tính cần phải chú ý đến mục đích chung,
đến tình thân hữu, vì thế có thể coi chiến lược lịch sự dương tính là chiến lược
đoàn kết. Các hình thức lịch sự dương tính nhấn mạnh sự gần gũi giữa người
nói và người nghe. Từ xưng hô là một phương tiện thể hiện lịch sự dương
tính. Để xưng hô người ta có thể dùng các đại từ nhân xưng, tên riêng, các từ
chỉ quan hệ họ hàng và các từ chỉ chức tước, địa vị. Tùy thuộc vào quan hệ
giữa người nói và người nghe mà người ta lựa chọn từ xưng hô cho thích hợp.

20



Trong quan hệ bình đẳng, dùng tên riêng để xưng hô sẽ tạo ra không khí thân
mật. Trong quan hệ không bình đẳng, chẳng hạn người dưới nói với người
trên, không thể hô gọi chỉ bằng tên riêng. Nếu dùng các từ chỉ chức vụ thì tuy
bảo đảm sự lễ độ nhưng không thân mật. Để tạo không khí thân hữu giữa
người nói và người nghe, người Việt thường sử dụng các từ chỉ quan hệ họ
hàng để xưng hô.
Lựa chọn các vị từ thích hợp cũng là một cách tạo sự gắn bó giữa
người nói và người nghe. Các tiểu từ tình thái cũng là một phương tiện
thể hiện lịch sự dương tính. Trong các phương tiện lịch sự dương tính còn
có những thành phần bổ trợ thể hiện mục đích chung, sự thân thiện của
người nói và người nghe.
Trong Đại cương ngôn ngữ học, tập II - Ngữ dụng học, Đỗ Hữu Châu
đã đưa ra một danh sách các chiến lược lịch sự dương tính (theo C.K
Orecchioni, Brown và Levinson)[1, 272] như sau:
1. Bày tỏ cho Sp2 sự chú ý của mình đối với Sp2
2. Nói quá sự tán dương, thiện cảm của mình đối với Sp2
3. Gia tăng sự quan tâm của mình đối với Sp2
4. Sử dụng những dấu hiệu báo mình cùng nhóm với Sp2 (dùng những từ
xưng hô kiểu anh trai ơi, em gái ơi, ...)
5. Tìm kiếm sự tán đồng (tìm những đề tài đôi bên cùng quan tâm)
6. Tránh sự bất đồng
7. Nêu ra những lẽ thường (chung cho cộng đồng của Sp1 và Sp2)
8. Hãy biết nói đùa, nói vui.
9. Quan tâm tới sở thích của Sp2
10. Mời, hứa hẹn
11. Hãy tỏ ra lạc quan
12. Lôi kéo Sp2 cùng với mình làm chung một việc

21



13. Nêu ra lý do của hành động
14. Đòi hỏi sự có đi có lại
15. Trao tặng cho Sp2 cái gì đó
Chiến lược lịch sự âm tính đòi hỏi phải nói hay làm một cái gì đó để
tỏ ra anh không muốn can thiệp vào quyền tự do hành động và quyền không
bị áp đặt của người khác. Chiến lược lịch sự âm tính thể hiện ở những hình
thức xin lỗi, viện lí do, trao cho người nghe quyền lựa chọn của mình. Trong
hội thoại chúng ta còn gặp chiến lược âm tính ở cách nói ngập ngừng, lưỡng
lự.. Khuynh hướng dùng hình thức lịch sự âm tính nhấn mạnh quyền tự do
của người nghe, có thể được coi là chiến lược tôn trọng. Đó có thể là chiến
lược tôn trọng của cả nhóm hoặc chỉ là sự lựa chọn trong tình huống đặc biệt.
Chiến lược lịch sự âm tính bao gồm cả những hình thức nói vô nhân xưng
như: "Ở đây không hút thuốc". Cách biểu hiện này, hướng cả người nói lẫn
người nghe. Vì thể diện của người nghe có nguy cơ bị đe dọa khi bản thân
việc yêu cầu làm cái gì đó làm liên lụy đến người nghe. Nguy cơ lớn nhất là
đặt người nghe vào tình thế khó xử. Để tránh nguy cơ này, người nói tạo ra lời
ướm trước chứ không nêu trực tiếp. Đỗ Hữu Châu cũng đưa ra các chiến lược
giao tiếp lịch sự âm tính như sau trong Đại cương Ngôn ngữ học tập 2:
1. Dùng lối nói gián tiếp thành quy ước
2. Dùng các yếu tố rào đón hay tình thái hóa
3. Hãy tỏ ra bi quan
4. Giảm thiểu sự áp đặt
5. Tỏ ra kính trọng
6. Xin lỗi
7. Phi cá nhân hóa cả Sp1 và Sp2, tức là dùng những diễn ngôn phiếm chỉ,
không có chủ thể rõ ràng.
8. Trình bày hành vi đe dọa thể diện như một quy tắc chung


22


9. Định danh hóa.
10.Bày tỏ bằng lối nói trắng rằng mình mang ơn Sp2 hoặc nói trắng ra
rằng Sp2 không phải chịu ơn mình vì mình đã giúp cho Sp2. [1, 273]
Tiểu kết
Hành vi trì hoãn thuộc hệ thống các hành vi tại lời, là một hành vi ngôn
ngữ. Nội dung mà luận văn muốn đề cập tới là tìm hiểu những biểu đạt ngôn
ngữ của hành vi trì hoãn của người Anh/Mỹ và người Việt trong các bối cảnh
giao tiếp xã hội.
Trên cơ sở lý thuyết của hành động ngôn từ, chúng tôi chia phát ngôn
trì hoãn thành hai loại: phát ngôn trì hoãn tường minh và phát ngôn trì hoãn
hàm ẩn. Phát ngôn trì hoãn tường minh được đánh dấu bằng việc xuất hiện
các động từ ngôn hành của hành vi trì hoãn. Phát ngôn trì hoãn hàm ẩn là các
phát ngôn không có động từ ngôn hành.
Hành vi trì hoãn được chia thành hành vi trì hoãn trực tiếp và hành vi
trì hoãn gián tiếp. Hành vi trì hoãn trực tiếp được thể hiện ở những phát ngôn
có quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng. Do đó, hành vi trì
hoãn trực tiếp được thể hiện qua các phát ngôn trì hoãn tường minh. Hành vi
trì hoãn gián tiếp là hành vi được thực hiện ở những phát ngôn có chứa quan
hệ gián tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng. Vì thế, các phát ngôn trì
hoãn hàm ẩn là các phát ngôn thể hiện hành vi trì hoãn gián tiếp.
Phát ngôn chứa hành vi trì hoãn gián tiếp được nhận biết thông qua các
phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời. Các phương tiện chỉ dẫn đó là: Các từ ngữ
chuyên dùng để biểu đạt hành vi trì hoãn, các kiểu kết cấu câu với trọng âm
và ngữ điệu của chúng.
Xét trong mối quan hệ với quan điểm, thái độ của người phát ngôn, bên
cạnh trì hoãn do muốn dừng lại việc thực hiện hành động nào đó, hành vi trì


23


×