Thập niên lạm phát mục tiêu trên thế giới PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
I. Mục tiêu nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu những kinh nghiệm của các nước về thực hiện lạm phát mục tiêu ,
những thành tích đạt được khi thực hiện lạm phát mục tiêu và công tác điều hành chính sách tiền
tệ của NHTW. Ngoài ra, bài này còn nghiên cứu xem liệu các quốc gia theo đuổi lạm phát mục
tiêu có khác biệt gì về cấu trúc so với các quốc gia không theo đuổi lạm phát mục tiêu, và nghiên
cứu thực tế thành công của lạm phát mục tiêu. Trên cơ sở đó, bài nghiên cứu kết thúc bằng cách
tập trung nhấn mạnh những vấn đề còn tồn tại trong mô hình và quá trình thực hiện lạm phát
mục tiêu cũng như mối quan hệ giữa chúng tới công tác điều hành chính sách tiền tệ - mở ra
những vấn đề cần phải quan tâm về lạm phát mục tiêu trong thập niên tới.
II. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp hồi quy định tính: Sử dụng mô hình probit đa biến, dựa trên những quan sát của
các biến xác định (mục tiêu mở rộng tiền tệ (MT), mở cửa mậu dịch (Open), tỷ lệ thặng dự tài
khóa so với GDP (Fiscal), biên độ tỷ giá hối đoái (BW), và tính độc lập trong công cụ điều hành
chính sách tiền tệ(CBII) và tương quan nghịch nhưng không nhiều với lạm phát danh nghĩa (Inf),
tính độc lập về hình thức của ngân hàng trung ương(CBFI) và độc lập mục tiêu của ngân hàng
trung ương (CBGI).
Phương pháp phân tích thống kê: phân tích để tìm hiểu xem liệu các quốc gia theo đuổi lạm phát
mục tiêu có khác biệt gì về cấu trúc so với các quốc gia không theo đuổi lạm phát mục tiêu, và
nghiên cứu thực tế thành công của lạm phát mục tiêu
III. Các công trình nghiên cứu trước đó
Bernanke, Laubach, Mishkin và Posen, 1999: Có 2 nhóm: một nhóm theo đuổi lạm phát mục
tiêu (kinh tế công nghiệp và mới nổi) và một nhóm không theo đuổi lạm phát mục tiêu (kinh tế
công nghiệp).
Tuy nhiên có 2 quốc gia (Đức và Thụy Sĩ- kinh tế công nghiệp) có mục tiêu chính sách tiền tệ rõ
ràng trong suốt thập niên 1990 nên được xem là theo đuổi lạm phát mục tiêu ẩn.
(Bernanke và cộng sự 1999) Quyết định thời gian chính xác để ứng dụng lạm phát mục tiêu
cũng rất khó khăn. Sau khi tham khảo ý kiến các viên chức tại nhiều ngân hàng trung ương thì
nhận xét rằng họ đưa ra thời gian ứng dụng lạm phát mục tiêu
(Mishkin và Savastano, 2000): Ngân hàng Trung ương của Peru và Colombia thực hiện công
bố chỉ tiêu lạm phát mục tiêu, nhưng chính sách tiền tệ của họ không có những đặc tính của cơ
chế lạm phát mục tiêu
(Bernanke và cộng sự. năm 1999, Corbo và cộng sự năm 2000) cho rằng hầu hết các nước
mới nổi thông qua mục tiêu lạm phát như là một cách thức để kéo lạm phát xuống mức thấp.
Nhóm 4 - TCDN Đêm 3
Trang 1
Thập niên lạm phát mục tiêu trên thế giới PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
Theo Almeida và Goodhart (1998) và ông Bernanke và cộng sự. (1999), lạm phát mục tiêu đã
không kỳ vọng lạm phát giảm xuống nhanh chóng, chỉ dần dần theo thời gian.
(Haldane và Salmon 1995, và Stevens và Debelle 1995) sự thành công trong lạm phát mục tiêu
có thể giảm đi độ bất ổn trong lạm phát kỳ vọng.
Bruno và Easterly (1996):
Nghiên cứu mối tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng và chỉ ra rằng mối tương quan nghịch
biến giữa lạm phát và tăng trưởng yếu khi tỷ lệ phát thấp.
Martin Feldstein (1997) và William Poole (1999)
Martin Feldstein (1997) và William Poole (1999) ủng hộ cho lạm phát mục tiêu 0%. Vì họ lo
ngại rằng mục tiêu lạm phát lớn hơn 0% có thể dẫn đến sự suy giảm lòng tin vào ngân hàng TW
và sự bất ổn về kỳ vọng lạm phát, điều này dẫn đến làm tăng sự sợ hãi lạm phát.
Bernanke và các cộng sự (1999)
Bernanke và các cộng sự (1999) cho rằng duy trì một mục tiêu lạm phát trên 0% nhưng không
quá cao ( dưới 3%), trong khoảng thời gian dài không dẫn đến sự bất ổn trong kỳ vọng lạm phát
của công chúng hoặc làm giảm sự tín nhiệm của NHTW.
Akerlof, Dickens và Perry (1996): ủng hộ lạm phát mục tiêu dài hạn trên 0%
Akerlof, Dickens và Perry (1996) cho rằng thiết lập tỷ lệ lạm phát ở mức quá thấp là không hiệu
quả và kết quả là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên cao hơn. Họ cho rằng việc giảm một cách cứng nhắc
của lương danh nghĩa, cho thấy rằng việc giảm mức lương thực có thể xảy ra không chỉ trong
thời kỳ lạm phát. Hệ quả là một tỷ lệ lạm phát rất thấp có thể ngăn chặn việc điều chỉnh giảm
tiền lương thực trong việc đối phó với việc nhu cầu lao động giảm trong các ngành công nghiệp
hoặc lĩnh vực nhất định, do đó dẫn đến gia tăng thất nghiệp và cản trở việc phân phối lại lao
động từ các lĩnh vực suy giảm sang các lĩnh vực mở rộng.
Carruth và Oswald (1989), Ingrams (1991), Maclaughlin (1994) và Yates (1995): nghiên cứu
tác động của lạm phát lên thất nghiệp và phân phối nguồn nhân lực.
Carruth và Oswald (1989), Ingrams (1991), Maclaughlin (1994) và Yates (1995) tìm thấy một ít
bằng chứng trong việc cắt giảm cứng nhắc tiền lương danh nghĩa ở Mỹ và Anh. Groshen và
Schweitzer(1996, 1999) cũng chỉ ra rằng, lạm phát không chỉ có thể tạo điều kiện thuận lợi cho
thị trường lao động và cho phép tiền lương thực giảm xuống đáp ứng việc cắt giảm nhu cầu theo
như Akerlof-Dickens-Perry (1996), mà còn có thể gây khó khăn bởi việc gia tăng độ nhiễu liên
quan tới tiền lương thực. Độ nhiễu này là giảm lượng thông tin về tiền lương danh nghĩa và do
đó làm giảm hiệu quả của tiến trình phân phối lao động trên mọi nghề nghiệp và lĩnh vực.
Nhóm 4 - TCDN Đêm 3
Trang 2
Thập niên lạm phát mục tiêu trên thế giới PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
Mishkin( 1991, 1997),
Cho rằng lạm phát mục tiêu dài hạn cao hơn 0% làm cho nền kinh tế ít có khả năng trải qua giai
đoạn giảm phát. Một nhân tố chính được nhận thấy để thúc đẩy giai đoạn bất ổn tài chính là giảm
phát (Mishkin, 1991, 1997). Bởi vì các hợp đồng nợ trong các nước công nghiệp hóa thường có
kỳ hạn dài, một sự giảm phát dẫn đến sự gia tăng số tiền nợ thực của các công ty và hộ gia đình,
điều này dẫn đến sự giảm sút giá trị ròng và sự giảm giá trị trong bảng cân đối kế toán. Irving
Fisher (1933) gọi hiện tượng này là “ giảm phát nợ” (nhưng điều này cũng có thể được đề cập
đến một cách chính xác hơn là “ lạm phát nợ trong giá tiền thực thông qua giảm phát”) và thấy
rằng nó là nhân tố chính làm kinh tế suy thoái trong suốt thời kỳ “ Đại suy thoái”. Với tài sản
ròng ít hơn, vấn đề lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức gia tăng đối với người cho vay và vì vậy họ
phải giảm cho vay. Sự sụt giảm giá trị ròng làm giảm giá trị tài sản thế chấp mà người cho vay
có thể nắm được nếu việc đầu tư của những người đi vay trở nên tồi tệ và sự giảm sút tài sản thế
chấp bởi vậy gia tăng hậu quả lựa chọn nghịch bởi vì trường hợp tổn thất vỡ nợ của các khoản
vay này có thể xấu hơn. Ngoài ra giá trị ròng giảm làm gia tăng động cơ rủi ro đạo đức đối với
những người đi vay khi nhận quá nhiều rủi ro bởi vì bây giờ họ có ít hơn để mất nếu việc đầu tư
của họ trở nên xấu đi. Lập luận này ngụ ý rằng giảm phát thức đẩy bất ổn tài chính tại các nước
công nghiệp hóa thông qua cơ chế “giảm phát nợ” , một ví dụ mới đây là những gì đã xảy ra tại
Nhật Bản trong những thập niên cuối (Mishkin 1998 và Bernanke 1999).
Meltzer (1995) và Mishkin (1996b).
Chứng minh rằng chính sách tiền tệ vẫn có hiệu quả khi lạm phát mục tiêu 0%. Chính sách tiền
tệ hoạt động thông qua nhiều loại tài sản khác nhau cùng với các chứng khoán nợ ngắn hạn, và vì
vậy thậm chí khi lãi suất ngắn hạn xuống 0%, chính sách tiền tệ vẫn còn hiệu quả,
Ficher (1986), Feldstein (1997) và Feldstein (1999)
Nhận thấy rằng việc làm giảm tỷ lệ lạm phát đến 0% trong các nước công nghiệp so với mức lạm
phát hiện nay làm giảm sự bóp méo bởi tác động của lạm phát lên hệ thống thuế, và điều này có
thể làm mức phúc lợi xã hội thực tăng, khoảng 1% so với GDP. Tuy nhiên sự bóp méo này có
thể bị loại trừ bởi sự thay đổi mã thuế và vì vậy nó không rõ ràng họ đã mang lại một sự diều
chỉnh vì chọn mục tiêu lạm phát dài hạn 0%.
Fischer (1994),
Lập luận rằng mức giá mục tiêu tạo ra nhiều sự biến động đầu ra hơn so với lạm phát mục tiêu
bởi vì những cú sốc bất ngờ đến mức giá không được xem như là chuyện đã qua và phải được bù
đắp. Mức giá mục tiêu yêu cầu mục tiêu quá mức hoặc dưới mức phải được đảo ngược và điều
Nhóm 4 - TCDN Đêm 3
Trang 3
Thập niên lạm phát mục tiêu trên thế giới PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
này có thể ảnh hưởng đáng kể hơn đến tính không ổn định của chính sách tiền tệ, đến giá cố
đinh, đến nền kinh tế thực tế trong ngắn hạn.
Black, Macklem, and Rose 1997, King 1999, và Battini và Yates 1999
Mục tiêu lạm phát có thể được thông báo cùng với sự cố gắng khắc phục một số lỗi trong đó sẽ
được bù đắp mở rộng trong tương lai. Những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng một mục tiêu
lạm phát với số lượng nhỏ việc sửa lỗi có thể giảm sự không chắc chắn về mức giá trong dài
hạn, nhưng nó vẫn tạo ra một ít giai đoạn giảm phát
Bernanke và Mishkin (1997), Mishkin (1999b), Bernanke et al (1999),
Sự thành công trong chính sách lạm phát mục tiêu cung cấp phương tiện cho việc giao tiếp hiệu
quả ra công chúng. Công chúng sẽ không hiểu rõ biệt ngữ chuyên môn của những mô hình sửa
lỗi. Tuy nhiên đặc điểm sửa lỗi trong mục tiêu lạm phát có thể dễ dàng giao tiếp bởi không chỉ là
mục tiêu lạm phát trung hạn mà còn chỉ ra rằng có ty lệ lạm phát trung bình cho thời kỳ dài, 5
năm.
IV. Nội dung nghiên cứu
1. Tóm lược
Tính cấp thiết của lạm phát mục tiêu trong suốt mười năm qua đã ngày càng nhấn mạnh vai trò
quan trọng của ngân hàng trung ương trong công tác điều hành chính sách tiền tệ. Sau lần đầu
tiên được áp dụng tại New Zealand vào năm 1990, lạm phát mục tiêu trở thành lựa chọn hàng
đầu của ngày càng nhiều ngân hàng trung ương thuộc các nền kinh tế công nghiệp và kinh tế mới
nổi, nhiều quốc gia khác cũng đang trong quá trình xem xét áp dụng công cụ tiền tệ mới này.
Thập niên của lạm phát mục tiêu trên thế giới đã để lại những bài học về mô hình và tiến trình
thực hiện lạm phát mục tiêu, quản lý chính sách tiền tệ, cùng những thành tích đạt được khi thực
hiện lạm phát mục tiêu. Bài nghiên cứu nhận xét ngắn gọn những đặc tính quan trọng về mô hình
của 18 trải nghiệm lạm phát mục tiêu, phân tích thông kê để tìm hiểu xem liệu các quốc gia theo
đuổi lạm phát mục tiêu có khác biệt gì về cấu trúc so với các quốc gia không theo đuổi lạm phát
mục tiêu, và nghiên cứu thực tế thành công của lạm phát mục tiêu. Mối tương tác giữa các đặc
tính về mô hình lạm phát mục tiêu và kiểm soát chính sách tiền tệ hướng đến kiềm chế lạm phát.
Bài nghiên cứu kết thúc bằng cách tập trung nhấn mạnh những vấn đề còn tồn tại trong mô hình
và quá trình thực hiện lạm phát mục tiêu cũng như mối quan hệ giữa chúng tới công tác điều
hành chính sách tiền tệ - mở ra những vấn đề cần phải quan tâm trong thập niên lạm phát mục
tiêu tới.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1 Mẫu nghiên cứu
Nhóm 4 - TCDN Đêm 3
Trang 4
Thập niên lạm phát mục tiêu trên thế giới PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
Chúng tôi xin giới thiệu 2 nhóm quốc gia thuộc phân tích kinh nghiệm của chúng tôi trong thập
niên 1990 (bảng 1) – một nhóm theo đuổi lạm phát mục tiêu và một nhóm không theo đuổi lạm
phát mục tiêu. Nhóm thứ nhất theo đuổi lạm phát mục tiêu (gọi là nhóm lạm phát mục tiêu) bao
gồm 18 nền kinh tế công nghiệp và mới nổi.: Úc, Brazin, Canada, Chile, Colombia, Cộng Hòa
Czech, Phần Lan, Israel, Hàn Quốc, Mexico, Thụy Điển, Peru, Ba lan, Nam Phi, Tây Ban Nha,
Thụy Sĩ, Thái Lan, và Anh (Phần Lan và Tây Ban Nha rút khỏi nhóm này khi từ bỏ chính sách
tiền tệ dựa trên đồng Euro vào năm 1999)
Nhóm thứ hai gồm 9 nền kinh tế công nghiệp không theo đuổi lạm phát mục tiêu suốt thập niên
1990: Đan Mạch, Pháp. Đức, Ý, Nhật, Nauy, Bồ Đào Nha, Thụy Sĩ và Mỹ). Trong số các quốc
gia này, có 2 quốc gia (Đức và Thụy Sĩ) có mục tiêu chính sách tiền tệ rõ ràng trong suốt thập
niên 1990 nên được xem là theo đuổi lạm phát mục tiêu ẩn (theo như tranh luận của Bernanke,
Laubach, Mishkin và Posen, 1999), 2 quốc gia không có mục tiêu rõ ràng (Nhật Bản và Mỹ) và 5
quốc gia châu Âu còn lại thực hiện mục tiêu cố định tỷ giá hối đoái theo đồng Mác Đức trước
khi đồng Euro ra đời năm 1999)
Nhóm 4 - TCDN Đêm 3
Trang 5
Thập niên lạm phát mục tiêu trên thế giới PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
2.2 Đặc tính thiết kế và thực thi lạm phát mục tiêu
(i) Lạm phát mục tiêu dựa trên 5 yếu tố : neo danh nghĩa, nỗ lực ổn định giá cả, chính sách
tài khóa, tính độc lập trong chính sách, tính minh bạch rõ ràng trong chính sách.
Các nhân tố từ thứ 2 đến thứ 5 giúp công cuộc điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả hơn
dưới bất kỳ cơ chế nào, là những điều kiện tiên quyết của một chính sách lạm phát mục tiêu
hiệu quả. Nguyên nhân là lạm phát mục tiêu có thành công hay không phụ thuộc mạnh mẽ
vào niềm tin của người dân đối với chính sách của ngân hàng trung ương nhằm đạt được mục
tiêu đề ra. Niềm tin được tạo ra từ 5 nhân tố trên.
(ii) Vận dụng từ cải thiện lạm phát sang những thay đổi to lớn
Nhiều quốc gia đã ứng dụng lạm phát mục tiêu mà không đáp ứng một hoặc nhiều hơn một
điều kiện được đề cập ở trên. Chilê và Israel theo đuổi tỷ giá hối đoái mục tiêu trong suốt
thập niên 1990 (ngày nay Israel vẫn còn theo đuổi). Ngân hàng Anh áp dụng tốt lạm phát
mục tiêu trước khi đạt được tính độc lập trong công cụ quản lý. Hầu hết các quốc gia đều áp
dụng lạm phát mục tiêu tốt trước khi đạt được tính minh bạch cao trong chính sách ( bao gồm
việc xuất bản các báo cáo lạm phát, dự đoán lạm phát, biên bản hội nghị về chính sách tiền
tệ) và giải trình đầy đủ. Một số quốc gia – bao gồm Colombia, Israel, Hàn Quốc, Mêxicô,
Pêru và Nam Phi – vẫn chưa xuất bản những dự báo về lạm phát. Một ví dụ khác là Brazil,
thực hiện lạm phát mục tiêu ở mức cao nhất ngay thời điểm khởi đầu.
Trải nghiệm chỉ ra rằng ứng dụng lạm phát mục tiêu trong suốt thập niên 1990 tương đương
với tiến trình tìm hiểu về chính sách tiền tệ. Hiện nay đã có sự nhất trí các điều để kết quả
thực hiện lạm phát mục tiêu đạt được hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, những dự đoán này ít rõ
ràng trong nửa đầu thập niên 1990, khi các chỉ tiêu lạm phát giúp hoàn thiện cơ cấu quốc gia
hơn bằng cách rút kinh nghiệm từ chính bản thân quốc gia mình cũng như kinh nghiệm tích
lũy từ các quốc gia khác.
(iii) Lạm phát từ mức cao giảm xuống mức rất thấp khi ứng dụng lạm phát mục tiêu
Một số quốc gia ứng dụng lạm phát mục tiêu khi tỷ lệ lạm phát cao hơn điểm cân bằng, sử
dụng lạm phát mục tiêu như là công cụ chính để xây dựng lòng tin, giảm lạm phát kỳ vọng.
Đây là trường hợp lạm phát mục tiêu của một số nước mới nổi bắt đầu ở mức 15-45% và các
nước mới nổi khác với mức lạm phát mục tiêu ban đầu 7-20% (Cộng Hòa Séc, Colombia,
Mexico, BaLan). Các chỉ tiêu này trái ngược lại với các nước công nghiệp và một số nước
mới nổi khác áp dụng mức lạm phát mục tiêu ban đầu gần sát với mức lạm phát thấp ổn định.
Các bước chuyển đổi qua nhiều năm áp dụng lạm phát mục tiêu nhằm hướng đến ổn định
lạm phát gặp rất nhiều thách thức và khó khăn, bao gồm việc thông báo các chỉ tiêu lạm phát
hàng năm (cực kỳ khó để tính được) trong điều kiện lạm phát kỳ vọng cao và độ tin cậy vào
Nhóm 4 - TCDN Đêm 3
Trang 6
Thập niên lạm phát mục tiêu trên thế giới PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
chính sách còn thấp. Chúng tôi sẽ tiếp tục thảo luận các vấn đề liên quan đến quá trình
chuyển đổi để hướng đến lạm phát thấp này vào phần 3 bên dưới.
(iv) Các chỉ tiêu lạm phát mục tiêu khác nhau về cách thức thực thi lạm phát mục tiêu,
gồm có chỉ số giá mục tiêu, bề rộng mục tiêu, phạm vi mục tiêu, điều khoản miễn thực
trách, giải trình những mục tiêu không đạt được, tính độc lập của mục tiêu, tính minh
bạch và giải trình rõ ràng dựa trên công cuộc điều hành chính sách kiểm soát lạm phát
mục tiêu.
Một số trong những khác khác biệt này là do những khác biệt về thể chế và lịch sử, số còn lại
khác phản ảnh sự khác nhau giữa lạm phát mục tiêu trong thời kỳ chuyển đổi hướng đến lạm
phát thấp ( như được thảo luận dưới đây). Hơn nữa, một số khác biệt về mô hình lạm phát
mục tiêu cũng phản ánh các quan điểm khác nhau giữa các nhà hoạch định chính sách và giới
học thuật trong công cuộc điều hành chính sách tiền tệ khi áp dụng lạm phát mục tiêu.
Nhóm 4 - TCDN Đêm 3
Trang 7
Thập niên lạm phát mục tiêu trên thế giới PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
Nhóm 4 - TCDN Đêm 3
Trang 8
Thập niên lạm phát mục tiêu trên thế giới PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
2.3 Mô hình hồi quy định tính
Bảng 3 thể hiện số liệu thống kê và mối tương quan giữa lạm phát mục tiêu với các biến liên
quan giữa các quốc gia. Số liệu thể hiện sự khác biệt giữa các nước trong mẫu gồm 27 nước. Các
Nhóm 4 - TCDN Đêm 3
Trang 9
Thập niên lạm phát mục tiêu trên thế giới PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
quốc gia thường có tương quan đơn khác với tương quan chéo. Đây là kết quả công bố dữ liệu
hàng năm của các quốc gia – do đó chúng tôi tập trung vào mối tương quan chéo giữa các quốc
gia.
Theo đuổi lạm phát mục tiêu không tương quan với các biến riêng lẽ, nhưng tương quan nghịch
với mục tiêu mở rộng tiền tệ (MT). Lạm phát mục tiêu tương quan thuận nhưng không nhiều tới
mở cửa mậu dịch (Open), tỷ lệ thặng dự tài khóa so với GDP (Fiscal), biên độ tỷ giá hối đoái
(BW), và tính độc lập trong công cụ điều hành chính sách tiền tệ(CBII) và tương quan nghịch
nhưng không nhiều với lạm phát danh nghĩa (Inf), tính độc lập về hình thức của ngân hàng trung
ương(CBFI) và độc lập mục tiêu của ngân hàng trung ương (CBGI) .
Mô hình lạm phát mục tiêu định tính
Pr (IT\ ...) = f (Inf, Open, Fiscal, BW, MT, CBFI, CBGI, CBII)
•
Mục tiêu mở rộng tiền tệ (MT).
•
Lạm phát mục tiêu tương quan thuận nhưng không nhiều tới mở cửa mậu dịch (Open)
•
Tỷ lệ thặng dự tài khóa so với GDP (Fiscal)
•
Biên độ tỷ giá hối đoái (BW)
•
Tính độc lập trong công cụ điều hành chính sách tiền tệ(CBII)
•
Tương quan nghịch nhưng không nhiều với lạm phát danh nghĩa (Inf)
•
Tính độc lập về hình thức của ngân hàng trung ương(CBFI)
•
Tính độc lập trong mục tiêu của ngân hàng trung ương (CBGI).
Nhóm 4 - TCDN Đêm 3
Trang 10
Thập niên lạm phát mục tiêu trên thế giới PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
Kết quả chạy mô hình
Bảng 4 thể hiện mối tương quan giữa lạm phát mục tiêu với các yếu tố trong mô hình
Nhóm 4 - TCDN Đêm 3
Trang 11
Thập niên lạm phát mục tiêu trên thế giới PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
Theo dự kiến, kết quả là lạm phát mục tiêu đồng biến với Fiscal, BW, và 3 thước đo tính độc lập
của ngân hàng trung ương, nghịch biến với MT, và không xác định được tương quan với các
biến Inf và Open.
Thực tế chạy mô hình
Mẫu đầy đủ 27 nước với mức lạm phát rất cao vào đầu thập niên 1990, thể hiện ở cột 1 bảng
4. Lạm phát mục tiêu tỷ lệ thuận ở mức cao với lạm phát danh nghĩa inf, tỷ lệ thuận ở mức
thấp với biên độ tỷ giá hối đoái BW, tỷ lệ nghịch với thặng dư tài khóa so với GDP fiscal, tỷ
lệ nghịch ở mức cao với tính độc lập về hình thức của ngân hàng trung ươngCBFI, tính độc
lập trong mục tiêu của ngân hàng trung ương CBGI và tính độc lập trong công cụ điều hành
chính sách tiền tệ CBII.
Mẫu gồm 24 - mẫu nước, loại trừ 3 nước Brazil, Peru, và Ba Lan có tỷ lệ lạm phát cao đầu
năm 1990 được thể hiện trong cột 3 và cột 4 của bảng. Kết quả hồi qui thay đổi rất so với kết
quả của mẫu đầy đủ 27 nước.
Mẫu gồm 24 nước, loại trừ Colombia, Hàn Quốc, và Peru là những quốc gia không được xếp
vào các nước theo đuổi lạm phát mục tiêu. Kết quả cho mẫu gồm 24 quốc gia này được thể
hiện trong cột 5 và cột 6 của bảng 4. Kết quả hồi quy cũng tương tự như trường hợp mẫu đầy
đủ gồm 27 nước.
2.4 Hiệu quả của ứng dụng lạm phát mục tiêu
Tính độc lập của ngân hàng trung ương và lạm phát mục tiêu hỗ trợ lẫn nhau. Ví dụ như
trường hợp của New Zealand, Chilê và Anh. Ở New Zealand và Chilê, lạm phát mục tiêu
được ứng dụng khi đạt được tính độc lập trong công cụ điều hành của ngân hàng trung
ương. Ngược lại ở Anh, tính độc lập đến sau khi đạt được lạm phát mục tiêu.
Truyền thông, tính minh bạch, và trách nhiệm giải trình cũng tương tác tốt với mục tiêu
lạm phát. Thông qua các báo cáo lạm phát, chính sách tiền tệ , biên bản hội nghị hội đồng
ngân hàng trung ương và dự báo lạm phát.
Lạm phát mục tiêu đã thành công trong việc giúp các nước cắt giảm lạm phát – nhưng
không thấp hơn mức lạm phát của các nước công nghiệp không theo đuổi lạm phát mục
tiêu. Bằng chứng là những nước ứng dụng lạm phát mục tiêu sẽ giảm lạm phát trong dài
hạn xuống thấp hơn là khi áp dụng lạm phát mục tiêu.
Lạm phát mục tiêu đã được kiểm nghiệm bởi những cú sốc bất lợi. Nhiều nền kinh tế nhỏ
và mở đã được chịu những cú sốc nghiêm trọng do hậu quả của cuộc khủng hoảng châu
Á năm 1997. Cú sốc tài chính dẫn đến phá giá nội tệ của Úc, Chile, Israel, và New
Zealand. Năm 1999-2000, sốc giá dầu hiện ở các nước Brazil, Cộng hòa Séc và Ba Lan.
Nhóm 4 - TCDN Đêm 3
Trang 12
Thập niên lạm phát mục tiêu trên thế giới PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
Lạm phát mục tiêu giúp giảm tỷ lệ đánh đổi và độ bất ổn của đầu ra ở các nước áp dụng
lạm phát mục tiêu gần với các nước công nghiệp không theo đuổi lạm phát mục tiêu.
Lạm phát mục tiêu cũng giúp làm giảm mức lạm phát kỳ vọng và xử lý tốt trước các cú
sốc lạm phát.
Chính sách tiền tệ dưới lạm phát mục tiêu đủ linh hoạt để phản ứng tương xứng với
những cú sốc lạm phát và điều chỉnh các cú sốc lạm phát tạm thời, không ảnh hưởng đến
những gì đạt được trong trung hạn.
Chính sách tiền tệ tập trung vào lạm phát trong cơ chế lạm phát mục tiêu và cam kết
hướng vào thực hiện lạm phát mục tiêu
Chúng tôi kết luận rằng lạm phát mục tiêu đã được chứng minh là một thành công trong khuôn
khổ tiền tệ mới, trong việc so sánh mục tiêu lạm phát với các trải nghiệm trước đây của lạm phát
mục tiêu và liên quan đên các cơ chế tiền tệ vận dụng ở các nước công nghiệp cao.
2.5 Các vấn đề về thiết kế điều hành thực hiện lạm phát mục tiêu
Tương tác giữa thời gian, biên độ mục tiêu, các khoản miễn thực hiện, và lựa
chọn lạm phát mục tiêu cơ bản.
Vấn đề trọng tâm của mô hình cơ chế lạm phát mục tiêu là độ trễ của chính sách tiền tệ, thường
kéo dài 2 năm hoặc dài hơn.
Việc áp dụng trong một thời gian quá ngắn, đặc biệt là khi phạm vi của mục tiêu lạm phát được
thu hẹp, có thể dẫn đến vấn đề về khả năng kiểm soát - ngay cả khi chính sách tiền tệ đang được
tiến hành tối ưu. Ví dụ như New Zealand vào năm 1995, khi Ngân hàng trung ương đưa ra mục
tiêu lạm phát từ 0 đến 2%. Điều này làm cho thống đốc bị sa thải theo pháp luật ngân hàng trung
ương, tuy nhiên không dẫn đến một suy giảm niềm tin.
Thời gian thực hiện quá ngắn và với phạm vi mục tiêu hẹp dẫn đến sự bất ổn định trong công cụ
điều hành, nhiều vấn đề phát sinh trong các công cụ chính sách tiền tệ khi các ngân hàng trung
ương nỗ lực đạt được mục tiêu lạm phát. Các mục tiêu hàng năm tại New Zealand với mức lạm
phát mục tiêu 2% là một lý do quan trọng khiến Ngân hàng Trung ương tập trung nhiều vào tỷ
giá hối đoái trong việc thực thi chính sách tiền tệ. Điều này dẫn đến chính sách thắt chặt tiền tệ
quá mức vào cuối năm 1996, với tỷ lệ tiền mặt qua đêm lên đến 10% do lo ngại rằng lạm phát
sẽ tăng trên mức lạm phát mục tiêu vào năm 1997.
Điển hình là đất nước New Zealand năm 1996, thời gian thực hiện cũng quá ngắn và trong
phạm vi hẹp đã mang lại sự thay đổi không mong muốn của quốc gia. Kết quả hành động thái
quá của chính sách thắt chặt tiền tệ cuối năm 1996 đã góp phần dẫn đến khủng hoảng năm 1997
Nhóm 4 - TCDN Đêm 3
Trang 13
Thập niên lạm phát mục tiêu trên thế giới PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
và 1998, làm tồi tệ hơn bởi kết quả cú sốc tiêu cực trong phương thức giao dịch từ khủng hoảng
Đông Nam Á.
Để tránh những vấn đề về kiểm soát và ổn định công cụ điều hành mục tiêu lạm phát, có bốn lộ
trình mà ngân hàng trung ương có thể làm. Đầu tiên, họ có thể tạo ra những điều khoản mở
trong mục tiêu lạm phát để cho phép bỏ qua lạm phát trong một số hoàn cảnh cụ thể. Thứ hai,
họ có thể đưa ra mục tiêu trọng yếu hơn là phổ biến rộng rãi về lạm phát. Thứ ba, họ có thể mở
rộng phạm vi của mục tiêu lạm phát. Thứ tư, họ có thể thiết lập mục tiêu lạm phát trong dài hạn.
Chỉ có New zealand đã đề ra điều khoản mở chính thức trong cơ chế mục tiêu lạm phát bằng
việc cho phép bỏ qua phạm vi mục tiêu lạm phát, có những thay đổi đáng kể trong thời kỳ giao
dịch, thay đổi trong thuế gián thu mà ảnh hưởng lên giá cả, và những cú sốc về cung như là cơ
chế lan truyền. Chú ý rằng điều khoản của New Zealand được thiết kế chỉ dựa trên những cú sốc
về cung bởi vì chúng được xác định như là các biến ngoại sinh. Những cú sốc về tổng cầu có thể
là ngoại sinh nhưng chỉ mang lại trong chính sách tiền tệ. Vì vậy, ngân hàng trung ương yêu cầu
điều chỉnh cho cân bằng với mục tiêu lạm phát, không thì có thể phá hủy đi sự tín nhiệm và hủy
hoại luôn cả mục tiêu lạm phát. Vì thế, những điều khoản mở chính thức này, mặc dù mang đến
một vài sự linh hoạt nhưng cũng chỉ tương thích với một phần vấn đề kiểm soát mục tiêu lạm
phát trong thời gian ngắn và phạm vi hẹp.
Một cách khác để điều khoản mở như là một phương pháp đương đầu với cú sốc tổng cung sẽ là
mục tiêu để đo lường lạm phát trọng yếu, bao gồm những thứ trong chỉ số giá như lương thực
và năng lượng mà chiếm chủ yếu trong nguồn cung. Sử dụng thước đo lường lạm phát cốt lõi có
một thuận lợi trên điều khoản mở mà liên quan đến sự không thận trọng sau khi cú sốc về cung
xảy ra, mà có thể là nguyên nhân gây ra cho cộng đồng ,về cam kết của ngân hàng trung ương
đạt được mục tiêu lạm phát. Thay vào đó, những thứ không bao gồm trong cấu trúc đo lường
lạm phát được quyết định trên ex ante. Điều này lý giải tại sao đo lường chính yếu lạm phát
như là mục tiêu được sử dụng rộng rãi hơn những điều khoản mở.
Tuy nhiên, sự đo lường mục tiêu lạm phát cốt lõi cũng san sẻ với những bất lợi trong điều khoản
mở, chỉ giải quyết qua những công cụ không ổn định và vấn đề kiểm soát gia tăng từ những cú
sốc về cung, không phải từ tổng cầu. Hơn nữa, đo lường lạm phát cốt lõi có những bất lợi mà
chúng không được hiểu bởi công chúng như là đo lưởng lạm phát phổ biến. Thêm vào đó, đo
lường lạm phát cốt lõi không bao gồm những thứ như ngưởi tiêu dùng quan tâm, cụ thể là
người nghèo thì thức ăn và năng lượng chiếm phần lớn trong ngân sách của họ. Nếu những thứ
này không được đo lường bởi ngân hàng trung ương, ngân hàng có thể phải chịu sự chỉ trích là
không quan tâm đến những thành phần nghèo trong xã hội.
Mở rộng hơn phạm vi mục tiêu, chính bản thân nó cũng không thể giải quyết được sự kiểm soát
lạm lạm phát và công cụ không ổn định. Ước tính về những điều không chắc chắn mà không thể
đơn giản hơn được nữa xung quanh lạm phát mục tiêu với tầm nhìn là một năm là 5% điểm
Nhóm 4 - TCDN Đêm 3
Trang 14
Thập niên lạm phát mục tiêu trên thế giới PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
(Haldane và Salmon 1995, và Stevens và Debelle 1995), mặc dù qua thời gian, sự thành công
với lạm phát mục tiêu có thể giảm đi đô bất ổn trong lạm phát kỳ vọng. Một vài phạm vi rộng
của mục tiêu lạm phát là vấn đề nan giải bởi vì nó làm xáo trộn trong công chúng về căng thẳng
của ngân hàng trung ương, và kết quả là sự cam kết về lạm phát thấp là ít được rõ ràng, giảm sự
tín nhiệm trong chính sách tiền tệ. Thật ra, vấn đề này xảy ra ở Vương Quốc Anh năm 1995, khi
lạm phát vượt điểm trung bình lạm phát mục tiêu là 2.5%, hơn 1%, nhưng chưa phá vỡ trần là
4%, vì vậy, Bộ Tài chính Anh đã chống lại để nghị của ngân hàng trung ương là cột chặt chính
sách tiền tệ (Bernanke và cộng sự năm 1999)
Tầm nhìn dài hạn hơn trong mục tiêu là tương ứng với độ dãn trong chính sách tiền tệ ảnh
hưởng lên lạm phát, sẽ là cách giải quyết tốt nhất để kiểm soát và vấn đề công cụ không ổn
định. Thậm chí, đưa ra những vấn đề năm 1997 và 198, cục dự trữ liên bang New Zealand nhấn
mạnh rằng tầm mục tiêu từ 6 đến 8,25 năm trong cuộc thảo luận của họ về chính sách tiền tệ
(Sherwin 1999, và Drew và Orr 1999). Những ngân hàng trung ương khác, bao gồm ngân hàng
Canada và Anh, trong một thời gian dài, nhấn mạnh tầm nhìn mục tiêu ngắn hơn là 2 năm, và
điều này cũng là cơ chế của mục tiêu Chile (Ngân hàng trung ương Chile, 2002a)
Tuy nhiên, như Svensson (1977)đã nhấn mạnh, nếu ngân hàng trung ương quan tâm về những
kết quả thay đổi (ví dụ đặt nặng về kết quả thay đổi đầu ra trong tổn thất của họ), khi đó dự
đoán lạm phát nên tiến đến mục tiêu lạm phát trong dài hạn theo thời gian. Điều này ám chỉ
rằng tầm nhìn nên dài hơn là sự nới lỏng chính sách, có thể thích hợp hơn trong mục tiêu lạm
phát. Một vài tầm nhìn dài hạn cho lạm phát mục tiêu có thể đưa ra vấn đề cho cơ đế điều hành
bởi vì trước đó trong dài hạn có những bằng chứng về việc đẩy mục tiêu lạm phát, đã làm yếu đi
độ tín nhiệm của ngân hàng trung ương như lúc mới bắt đầu. Một khả năng để giải quyết để
nhận ra là có sự tương tác giữa lựa chọn tầm nhìn và phạm vi cho mục tiêu: Tầm nhìn mục tiêu
có thể giữ trong ngắn hạn, 2 năm, nếu như phạm vi mục tiêu mở rộng. Thậm chí, mở rộng phạm
vi từ 2 đến 3 phần trăm của cục dữ trữ của New Zealand đồng ý cơ chế lạm phát mục tiêu, ngay
cả khi ban đầu ngân hàng không hỗ trợ sự thay đổi này. Tuy nhiên, sự mở rộng phạm vi mục
tiêu là cả một vấn đề, như được đề cập ở trên, bởi vì nó cũng có thể gia tăng sự lộn xộn và làm
yếu đi sự tín nhiệm của cơ chế mục tiêu.
Một cách khác cho phép tầm nhìn dài hạn là sử dụng đa mục tiêu trong năm để con đường lạm
phát mục tiêu có thể tiến đến mục tiêu dài hạn một cách dần dần. Đây là chiến lược được chấp
nhận gần đây bởi Brazil và Mexico(Ngân hàng Brazil,1999, và Mexico 2000). Một phương
pháp khác là ngân hàng trung ương tiếp tục mục tiêu lạm phát trung hạn, nhưng cũng chỉ thông
báo là mục tiêu dài hạn với ngày cụ thể khi nó đạt đến thành quả. Phương pháp lựa chọn thứ ba
là ngân hàng trung ương sẽ thông báo một mục tiêu lạm phát dài hạn và công bố dự báo lạm
phát trong tương lai, vì vậy sự mô tả về đường đi của lạm phát kỳ vọng là hướng đến mục tiêu
dài hạn. Đây là phương pháp gần đây được chấp nhận ở Chile (Ngân hàng trung ương Chi lê,
2006b), theo sau những nước công nghiệp khác.
Nhóm 4 - TCDN Đêm 3
Trang 15
Thập niên lạm phát mục tiêu trên thế giới PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
Mục tiêu lạm phát trong suốt thời kỳ chuyển đổi từ cao đến thấp
Khi lạm phát khởi đầu cao hơn nhiều so với mức lạm phát ổn định giá cả dài hạn, lòng tin
về ngân hàng trung ương sẽ thấp. Thêm vào đó, tỷ lệ lạm phát cao (trên 10%), không dễ
dàng được kiểm soát bằng chính sách tiền tệ.
Một cách để giải quyết sự phức tạp này là thực hiện mục tiêu lạm phát dần dần, làm cho
nó chính thức gia tăng thành công trong giảm phát. Đây là chiến lược mà được các quốc
gia có nền kinh tế mới nổi theo đuổi với tỷ lệ lạm phát ban đầu cao. Ví dụ, khi Chile đồng
ý lạm phát mục tiêu 1991 với tỷ lệ lạm phát trên 20%. Qua thời gian, ngân hàng trung
ương đưa ra sự nhấn mạnh hơn về mục tiêu ổn định giá cả và thành công trong giảm lạm
phát, từ đó thực hiện được mục tiêu lạm phát đề ra. Cuối tháng 5/2000, ngân hàng trung
ương Chile bắt đầu phát hành tài liệu báo cáo về lạm phát, dự báo lạm phát tương tự như
ở các nước công nghiệp hóa. Ví dụ như báo cáo về chính sách tiền tệ không chỉ thể hiện
mục tiêu phát triển trên nền tảng lạm phát và cách thức ngân hàng trung ương thực thi
lạm phát mục tiêu, mà còn dự báo lạm phát tương lai tại thời điểm xác định theo như kết
quả dự đoán của những nhà tiên phong nổi tiếng của ngân hàng Anh.
Mexico cũng theo dần dần ứng dụng lạm phát mục tiêu. Các nhà chức sắc của Ngân hàng
Mexico gần đây tạo ra nền tảng của chính sách tiền tệ như là “thời kỳ chuyển đổi hướng
đến cắt giảm lạm phát” (Carsten và Werner 1999). Qua vài năm, Mexico đã phổ biến ra
công chúng mục tiêu lạm phát rõ ràng tại thời điểm bộ trưởng bộ tài chính thừa nhận
Quốc hội thông qua chương trình tiết kiệm của chính phủ trong năm sau. Ngân hàng
Mexico nhấn mạnh lạm phát mục tiêu trong chính sách tiền tệ của mình. Sau khi lạm phát
hàng năm đạt 12.3% thấp hơn mức mục tiêu 13% vào năm 1999, lần đầu tiên ngân hàng
trung ương thông báo mục tiêu làm phát là 10% cho năm 2000 trước khi Bộ trưởng bộ tài
chính trình lên quốc hội thông qua chương trình cho năm sau. Bắt đầu tử tháng 4/2000,
ngân hàng Mexico đã phát hành báo cáo lạm phát, trình bày cách thức thực hiện nhằm
đạt được lạm phát mục tiêu của Ngân hàng Mexico , nhưng không phải cung cấp thông
tin dự báo lạm phát. Trong bài báo số 3 về lạm phát, phát hành tháng 10/2000, ngân hàng
Mexico thông báo đa mục tiêu trong một năm, mà quy tụ trong dài hạn với mục tiêu là
3% cho đến tháng 12/2003.
Sư tín nhiệm yếu ớt khi lạm phát ban đầu cao làm cho công chúng và thị trường không tin
là ngân hàng trung ương nghiêm túc thực hiện các mục tiêu. Và khó khăn hơn khi ngân
hàng trung ương khi thực hiện lạm phát mục tiêu trong thời gian dài trên 1 năm. Hiện tại
ngân hàng trung ương rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan bởi vì độ trễ từ chính sách
tiền tệ đến lạm phát phải mất hơn 1 năm. Giải pháp của vấn đề nan giải này là cụ thể hóa
lộ trình mục tiêu lạm phát trong nhiều năm, là những gì mà ngân hàng trung ương Brazil,
Công hòa Czech, Mexico, và Ba Lan đã làm năm 1998. Tuy nhiên, ngay cả khi ngân
hàng trung ương có kế hoạch thực hiện rất mục tiêu lạm phát dài hạn rất tốt, nhưng có thể
Nhóm 4 - TCDN Đêm 3
Trang 16
Thập niên lạm phát mục tiêu trên thế giới PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
không kiểm soát được khi lạm phát tăng cao, làm trệch hướng lộ trình thực hiện. Đó cũng
là lý do tại sao ngân hàng trung ương Chi lê không chọn thực hiện lạm phát mục tiêu
nhiều năm mà bắt tay vào cơ chế điều hành lạm phát mục tiêu trong năm 1990.
Khi chuyển đổi lạm phát từ cao xuống thấp, cần đưa ra biên độ rộng cho lạm phát mục
tiêu, phản ánh những vấn đề căn bản về kiểm soát lạm phát một cách không chắc chắn
khi lạm phát ban đầu cao. Đây là vấn đề tín nhiệm vì chính phủ có thể bào chữa cho mức
lạm phát thấp hơn mức trần. Mục tiêu điểm khó thực hiện hơn nhưng tín nhiệm cao. Rất
thú vị khi ngân hàng trung ương Chi lê từ bỏ phạm vi lạm phát sang mục tiêu lạm phát
điểm từ năm 1994 trong cơ chế điều hành cứng nhắc về lạm phát mục tiêu.
Sự tín nhiệm trong suốt thời kỳ chuyển đổi từ tỷ lệ lạm phát cao xuống thấp ám chỉ rằng
lạm phát mong đợi phù hợp với lạm phát cao trong quá khứ hơn là mục tiêu lạm phát
thấp của chính phủ. Sức ỳ lạm phát cao, giảm lạm phát khả thi hơn là mục tiêu lạm phát
thấp. Chilê có tốc độ của giảm lạm phát nhanh để đạt lạm phát mục tiêu trong dài hạn 24%.
Việc tránh những cú sốc trong mục tiêu lạm phát sẽ cải thiện được kết quả của cơ chế lạm
phát mục tiêu. Tuy nhiên, khi sự tín nhiệm yếu đi khi lạm phát cao. Ngược lại, ngân hàng
trung ương tìm mọi cách kiềm chế lạm phát thực hiện mục tiêu đề ra. Từ đó tạo ra sự mất
cân đối. Ngân hàng Israel trong những năm gần đây luôn rơi vào tình trạng bất cân đối
này.
Nếu ngân hàng trung ương không chắc chắn trong nỗ lực kiềm chế lạm phát, khu vực tư
mất niềm tin. Việc không thực hiện được mục tiêu nguy hại đến trong tổng cầu và toàn
bộ nền kinh tế đất nước, giảm sự hỗ trợ của công chúng cho ngân hàng trung ương và cơ
chế điều hành lạm phát mục tiêu.
V.
Kết luận
Sự xuất hiện của lạm phát mục tiêu mười năm qua là một sự phát triển thú vị trong cách tiếp cận
của các ngân hàng trung ương về việc thực hiện chính sách tiền tệ. Bài viết này đã chỉ ra rằng
lạm phát mục tiêu khá thành công trong việc kiểm soát lạm phát và cải thiện hiệu suất của nền
kinh tế. Tuy nhiên, các thảo luận của chúng ta về các vấn đề thiết kế thực hiện lạm phát mục tiêu
và các vấn đề chưa được giải quyết, vẫn còn nhiều điều để tìm hiểu làm thế nào để vận hành tốt
nhất mô hình lạm phát mục tiêu. Tác giả hy vọng rằng kinh nghiệm và nghiên cứu trong tương
lai sẽ giúp tác giả để tinh chỉnh cách tiếp cận lạm phát mục tiêu, hy vọng cải thiện quá trình
hoạch định chính sách tiền tệ hơn nữa.
VI.
Hướng nghiên cứu xa hơn:
Nhóm 4 - TCDN Đêm 3
Trang 17
Thập niên lạm phát mục tiêu trên thế giới PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
+ Khi thực hiện lạm phát mục tiêu, ngân hàng trung ương phải kiên định với mục tiêu lạm phát
đã đặt ra. Kết quả là lạm phát sẽ là một quá trình ổn định ngẫu nhiên, trong khi mức giá sẽ là
không ổn định. Do mức giá không ổn định nên dự báo khó khăn, làm giảm hiệu quả kinh tế vì nó
gây phức tạp cho quá trình lập kế hoạch và có thể dẫn đến những sai lầm trong quyết định đầu
tư.
+ Đo lường lạm phát có nhiều sai số hơn so với đo lường mức giá (Boskin Commission). Sai số
trong dự báo mức giá dẫn đến kết quả mức giá mục tiêu trong dài hạn không chắc chắn, giá thực
sự có thể bị phóng đại.
Từ những mâu thuẫn ở trên cho thấy rằng mức giá hay mục tiêu lạm phát đưa ra kết quả
tốt hơn vẫn là một câu hỏi mở.
+ Những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng một lạm phát mục tiêu có sự điều chỉnh nhỏ các lỗi
có thể giảm sự không chắc chắn về mức giá trong dài hạn, nhưng nó vẫn tạo ra một số giai đoạn
giảm phát (Black, Macklem, and Rose 1997, King 1999, và Battini và Yates 1999). Nhờ sự điều
chỉnh nhỏ các lỗi này mà việc cân bằng giữa đầu ra và dao động lạm phát có thể được cải tiến
(xem William 1999, Smets 2000, Gaspar và Smet 2000, McLean và Pioro 2000). Mức độ điều
chỉnh lạm phát mục tiêu như thế nào là phù hợp sẽ là chủ đề chính cho các nghiên cứu
trong tương lai.
Nhóm 4 - TCDN Đêm 3
Trang 18