Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
NHÓM 2 – NGÀY 1 K20
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Tỷ giá hối đoái là sản phẩm của sự phát triển trong nền kinh tế thị trường quốc tế, là một
bộ phận hữu cơ của cơ chế thị trường quốc tế. Nó được coi là một trong những nội dung cơ bản
của kinh tế quốc tế hiện đại.
Trên thế giới, thị trường hối đoái ra đời và phát triển khá sớm ở rất nhiều nước, kể từ khi
các quan hệ kinh tế phát sinh ra ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia làm nảy sinh các mối quan hệ tài
chính quốc tế. Trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập các hoạt động tài chính quốc tế có vai trò quan
trọng đối với nền kinh tế, từ đó thị trường hối đoái xuất hiện do từ yêu cầu khách quan của nền
kinh tế thị trường quốc tế, là sản phẩm tất yếu của nền sản xuất hàng hóa quốc tế.
Tại Việt Nam, qua nghiên cứu và khảo sát thực tiễn cho thấy do hoàn cảnh lich sử, quá
trình hình thành tỷ giá hối đoái ở nước ta hoạt động và phát triển gắn liền với quá trình cải cách hệ
thống ngân hàng ngân hàng, đồng thời phù hợp với quá trình cải cách kinh tế từ cơ chế tập trung
sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng XHCN. Chính sự đổi mới cơ
chế đó đã kéo theo sự thay đổi toàn bộ cơ chế quản lý của Nhà nước về tỷ giá hối đoái. Chính
sách tỷ giá, là một nội dung quan trọng của sự đổi mới cơ chế hình thành và quản lý ngoại tệ ở
nước ta trong những năm gần đây, bao gồm cả việc hình thành và phát triển một thị trường dịch
vụ mới, xây dựng các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này.
Ở nước ta, vai trò của chính sách tỷ giá ngày càng được khẳng định, bằng những hoạt
động thực tiễn, trong những năm qua, chính sách tỷ giá đã có những đóng góp tích cực và nhất
định cho đời sống kinh tế như: tạo ra sự phân công lao động và hợp tác quốc tế, góp phần giải
quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích giữa quốc gia, với bên ngoài, giữa Nhà nước với tổ chức, cá
nhân, giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp. tạo điều kiện cho sự đầu tư nước ngoài, tạo thêm môi
trường thuận lợi cho quá trình hoàn thiện cơ chế thị trường ở Việt Nam. Với những hoạt động tích
cực trên đây, thị trường hối đoái không những khẳng định được sự tồn tại khách quan, đáp ứng
được sự phát triển của cơ chế thị trường kinh doanh quốc tế, mà còn chứng minh nó là một bộ
phận tất yếu hợp thành cơ chế thị trường ở nước ta.
Tuy nhiên, tỷ giá hối đoái đang còn là vấn đề khá mới mẻ cả về phương diện lý luận lẫn
thực tiễn ở Việt Nam, cho nên, mãi đến nay hoạt động tỷ giá ở nước ta nhìn chung vẫn chưa thực
sự phát triển để trở thành một cơ chế, chính sách hoàn chỉnh trong hệ thống quản lý của Nhà
nước trong nền kinh tế. Do đó, ở Việt Nam, để có thể phát triển nhanh, mạnh và đúng hướng,
chính sách tỷ giá cần phải được nhận thức và nghiên cứu một cách nghiêm túc có hệ thống cả về
lý luận lẫn thực tiễn. Vì vậy, “Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam”, là vấn đề cần được nghiên
cứu một cách đầy đủ có hệ thống với điều kiện của Việt Nam hiện nay, nhằm góp phần phát triển
và hoàn chỉnh chính sách tỷ giá của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Vì những lí do nói
trên, chúng tôi chọn đề tài này, với mong muốn tìm ra một số giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy
sự phát triển chính sách tỷ giá ở nước ta giai đoạn hiện nay.
GVHD: PGS-TS. VŨ THỊ MINH HẰNG
Trang 1
Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
NHÓM 2 – NGÀY 1 K20
1.2. Mục tiêu của đề tài
Thứ nhất: Hệ thống lại cơ sở lý luận về tỷ giá hối đoái
Thứ hai: Khái lược quá trình hình thành và phát triển chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt
Nam qua các thời kỳ.
Thứ ba: Tìm hiểu xu hướng biến động và đề xuất những giải pháp cho chính sách tỷ
giá hối đoái hiện tại ở Việt Nam.
Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu, đề tài sẽ tập trung giải quyết các câu hỏi chủ yếu sau
đây:
Chính sách tỷ giá hối đoái tại Việt Nam thay đổi như thế nào qua các năm?
Chính sách tỷ giá hiện tại tác động như thế nào đến nền kinh tế Việt Nam?
Chính phủ cần có những giải pháp gì để hỗ trợ cho chính sách tỷ giá hiện tại?
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam qua
các thời kỳ. Chỉ xem xét phân tích tỷ giá USD/VND.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu chính sách tỷ giá từ sau cuộc
khủng hoảng tài chính châu Á (1997) đến nay, để đề xuất những giải pháp quản lý, phát triển
chính sách tỷ giá; không đi sâu nghiên cứu nguồn gốc, các phương pháp, kỹ thuật của tỷ giá hối
đoái.
1.4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
Đề tài sử dụng và kết hợp các phương pháp: phương pháp cấu trúc hệ thống, thống kê, so
sách, quan sát, phân tích tổng hợp, dự báo.
Đề tài coi trọng quan điểm thực tiễn, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn, khảo sát chuyên gia.
GVHD: PGS-TS. VŨ THỊ MINH HẰNG
Trang 2
Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
NHÓM 2 – NGÀY 1 K20
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Khái niệm về tỷ giá hối đoái và thị trường hối đoái
2.1.1 Tỷ giá hối đoái
Trong các giao dịch tài chính quốc tế, việc thực hiện mua và bán các ngoại hối thị trường
đòi hỏi phải có sự chuyển đổi đồng tiền nước này sang nước khác. Do mỗi đồng tiền chịu ảnh
hưởng nhiều nhân tố khác nhau nên có sức mua khác nhau, vì thế trên thị trường phải có quy định
tỷ lệ để làm cơ sở chuyển đổi giữa hai đồng tiền, tỷ lệ này được gọi là tỷ giá hối đoái.
Như vậy, tỷ giá hối đoái là hệ số quy đổi của một đồng tiền nước này sang đồng tiền nước
khác. Hay nói cách khác, tỷ giá hối đoái là giá cả đơn vị tiền tệ của một nước được biểu hiện bằng
khối lượng các đơn vị tiền tệ nước ngoài.
Ví dụ: USD/VND = 20.100
2.1.2 Thị trường hối đoái
Thị trường hối đoái là thị trường diễn ra các hoạt động giao dịch, mua bán ngoại tệ và các
phương tiện thanh toán có giá trị ngoại tệ khác. Đây cũng là nơi hình thành tỷ giá hối đoái theo
quan hệ cung cầu, là một bộ phận của thị trường tài chính có trình độ phát triển cao.
Đặc điểm của thị trường hối đoái:
+ Thị trường hối đoái không tồn tại trong một không gian cụ thể nhất định mà hoạt động
của nó thông qua các phương tiện thông tin hiện đại.
+ Có tính quốc tế hoá cao.
+ Giao dịch mua bán các loại ngoại tệ tự do chuyển đổi.
+ Giao dịch với khối lượng lớn (khối lượng tối thiểu và doanh số)
Vai trò của thị trường hối đoái:
+ Tạo điều kiện để kết nối các nhu cầu giao dịch ngoại tệ trong nền kinh tế.
+ Làm cho các giao dịch mua bán trao đổi ngoại hối đi vào nề nếp, ổn định, góp phần ổn
định thị trường tài chính.
+ Giúp NHTW nắm bắt được thông tin về thị trường để tham mưu cho Chính phủ trong
việc thực hiện chính sách quản lý ngoại hối.
+ Tạo điều kiện để hội nhập với thị trường tài chính quốc tế.
2.2.Cơ sở xác định tỷ giá:
- Căn cứ giá ngang giá vàng - chế độ bản vị vàng.
Trong chế độ bản vị vàng, mỗi quốc gia xác lập hàm lượng vàng trong đơn vị tiền giấy của
họ. Từ đó, tỷ giá trao đổi giữa các đơn vị tiền giấy được xác định trên cơ sở so sánh thông qua
hàm lượng vàng mà mỗi đồng tiền chứa đựng.
- Căn cứ giá trị đồng đô la Mỹ - chế độ tỷ giá đồng đô la Mỹ (bản vị vàng - ngoại tệ):
Theo Hiệp ước Bretton Woods tháng 7/1944, USD được gắn với vàng, đổi ra vàng và trở
thành đồng tiền dự trữ thanh toán quốc tế. Tỷ giá giữa các đồng tiền của các nước thành viên được
hình thành trên cơ sở so sánh hàm lượng vàng của USD và chỉ được phép dao động trong biên độ
1% như đã được cam kết với IMF.
- Căn cứ vào quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường hình thành hệ thống tỷ giá hối đoái
thả nổi: thả nổi hoàn toàn và thả nổi có quản lí.
+ Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn: là loại chế độ mà tỷ giá hoàn toàn xác lập theo quan hệ
cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Chính phủ hoàn toàn không có bất kỳ tác động hoặc cam kết gì
về việc điều tiết tỷ giá.
GVHD: PGS-TS. VŨ THỊ MINH HẰNG
Trang 3
Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
NHÓM 2 – NGÀY 1 K20
Giá của một đồng nội tệ đối với đồng tiền ngoại tệ được xác định tại điểm mà cung ngang
bằng cầu. Khi xuất khẩu tăng hoặc luồng vốn đầu tư nước ngoài tăng sẽ làm tăng cung ngoại tệ,
đồng tiền ngoại tệ giảm giá và ngược lại.
+ Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lí: kết hợp cung cầu trên thị trường và sự quản lí của chính
phủ. Tồn tại dưới 2 dạng:
*) Chế độ tỷ giá gắn vào đồng tiền dự trữ: đồng tiền của một quốc gia được gắn chặt vào
một đồng ngoại tệ mạnh. Quốc gia thực hiện chế độ tỷ giá như vậy sẽ phải nắm giữ đồng tiền
nước ngoài làm đồng tiền dự trữ để bảo vệ giá trị đồng tiền nội tệ của mình.
*) Chế độ tỷ giá giới hạn biên độ giao dịch: Trong quá trình áp dụng chế độ tỷ giá gắn vào
đồng tiền dự trữ, khi tiềm lực dự trữ ngoại tệ không đủ mạnh thì để ổn định tỷ giá, NHTW thường
áp dụng chế độ tỷ giá giới hạn biên độ giao dịch. Chế độ tỷ giá này cho phép tỷ giá giao dịch trên
thị trường biến động trong biên độ mà NHTW công bố, được xác định theo công thức:
Tỷ giá giao dịch thị trường = tỷ giá chính thức(1 ± biên độ X%)
Khi áp dụng chế độ tỷ giá có quản lí của Chính phủ, các nước phải điều chỉnh tỷ giá thật
linh hoạt sao cho phù hợp với quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối. Nếu không, chính sách
tỷ giá mà chính phủ đang thực hiện sẽ thường xuyên rơi vào tình trạng cố định; đồng tiền nội tệ
lên giá làm phương hại đến chính sách ngoại thương của quốc gia.
2.3. Phân loại tỷ giá hối đoái:
Trên thị trường hối đoái, thông thường người ta tiếp cận các loại tỷ giá hối đoái sau đây:
- Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, tỷ giá hối đoái được chia thành tỷ giá mua
vào và tỷ giá bán ra: Đây là những loại tỷ giá được niêm yết tại các ngân hàng thương mại. Các
loại tỷ giá này dùng để giao dịch mua bán ngoại tệ giữa các ngân hàng thương mại và khách hàng.
Tỷ giá mua vào bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán ra, phần chênh lệch là lợi nhuận kinh doanh
ngoại hối của ngân hàng.
- Căn cứ vào phương diện thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái được chia ra thành tỷ giá
tiền mặt và tỷ giá chuyển khoản:
+ Tỷ giá tiền mặt: áp dụng cho các ngoại tệ tiền mặt, séc, thẻ tín dụng.
+ Tỷ giá chuyển khoản: giá áp dụng cho các trường hợp giao dịch thanh toán qua ngân
hàng. Loại tỷ giá này thường thấp hơn tỷ giá tiền mặt.
- Căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại hối, tỷ giá hối đoái được chia thành: tỷ giá mở cửa
và tỷ giá đóng cửa.
+ Tỷ giá mở cửa: là tỷ giá được niêm yết trên thị trường đầu ngày thường là 8h sáng.
+ Tỷ giá đóng cửa: tỷ giá được niêm yết trên thị trường cuối ngày tường là 12h đêm.
Thông thường lấy chuẩn là thị trường Luân Đôn để niêm yết tỷ giá mở cửa và tỷ giá đóng
cửa.
Căn cứ vào chế độ quản lí tỷ giá, tỷ giá hối đoái được chia ra thành tỷ giá chính
thức và tỷ giá thị trường:
+ Tỷ giá chính thức: tỷ giá do NHTW công bố làm cơ sở để hình thành tỷ giá thị trường.
+ Tỷ giá thị trường: tỷ giá được hình thành theo quan hệ cung cầu ngoại hối, tỷ giá này
biến động thường xuyên tùy vào tình hình nhu cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối.
- Căn cứ vào mối quan hệ giữa tỷ giá với chỉ số lạm pháp, tỷ giá hối đoái được chia thành
tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực:
+ Tỷ giá danh nghĩa là tỷ giá giao dịch mua bán giữa các đồng tiền trên thị trường.
+ Tỷ giá thực là tỷ giá phản ánh mối tương quan về sức mua giữa hai đồng tiền.
GVHD: PGS-TS. VŨ THỊ MINH HẰNG
Trang 4
Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
NHÓM 2 – NGÀY 1 K20
2.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái:
2.4.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái trong dài hạn:
+) Mức giá cả hàng hóa: Liên quan đến thuyết ngang bằng sức mua, một sự tăng lên mức
giá của một quốc gia (so với mức giá nước ngoài) dẫn đến đồng tiền của quốc gia đó giảm giá và
một sự giảm mức giá của một quốc gia dẫn đến đồng tiền của quốc gia đó lên giá.
+) Hàng rào thương mại: là thuế quan và hạn ngạch có thể tác động đến tỷ giá. Sự gia tăng
hàng rào thương mại sẽ dẫn đến đồng tiền của quốc gia có khuynh hướng tăng giá trong dài hạn.
+) Sở thích hàng nội so với hàng ngoại: Nhu cầu xuất khẩu của một quốc gia gia tăng dẫn
đến đồng tiền của quốc gia đó lên giá trong dài hạn; ngược lại, nhu cầu nhập khẩu hàng hóa của
một quốc gia gia tăng dẫn đến đồng nội tệ của quốc gia đó mất giá.
+) Năng suất lao động: Khi năng suất của một quốc gia cao hơn quốc gia khác làm cho giá
cả hàng hóa nội địa của quốc gia này thấp hơn hàng hóa nước ngoài. Kết quả là nhu cầu hàng hóa
nội địa tăng cao, dẫn đến đông nội địa lên giá.
2.4.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái trong ngắn hạn:
+) Sự thay đổi lãi suất tiền gửi ngoại tệ và tiền gửi nội tệ: nếu lãi suất trong nước cao hơn
lãi suất ngoại tệ sẽ thu hút những dòng vốn trên thị trường quốc tế chảy vào trong nước hay sẽ làm
gia tăng sự chuyển hóa lượng ngoại tệ trong nước sang đồng nội tệ để hưởng lãi suất cao. Từ đó,
làm cho đồng ngoại tệ có xu hướng giảm giá và đồng nội tệ tăng giá.
+) Các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ: Khi chính phủ thay đổi các chính sách
kinh tế vĩ mô và làm ảnh hưởng đến các chỉ số về tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, bội chi
ngân sách,…tất cả đều gây ảnh hưởng đến sự thay đổi tỷ giá hối đoái.
+) Yếu tố tâm lí: bằng sự phán đoán của thị trường về các sự kiện kinh tế, chính trị,…từ
đó người ta dự đoán chiều hướng phát triển của thị trường và thực hiện những hành động đầu tư
về ngoại hối làm tỷ giá có thể đột biến tăng hoặc giảm trên thị trường.
2.5. Tác động của tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá có ảnh hưởng rất lớn đối với hoạt động thương mại quốc tế, trạng thái cán cân
thanh toán, tốc độ tăng trưởng kinh tế, việc làm và lạm phát.
2.5.1. Tỷ giá hối đoái và hoạt động thương mại quốc tế:
Một sự biến động của tỷ giá hối đoái sẽ làm thay đổi sức mua của hai đồng tiền và do vậy
làm cho giá cả hàng hóa xuất nhập khẩu của hai quốc gia trong quan hệ tỷ giá trên thị trường quốc
tế cũng thay đổi. Từ đó ảnh hưởng đến quy mô thương mại quốc tế. Một khi giá cả hàng hóa trở
nên rẻ hơn, thì sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường quốc tế sẽ được nâng cao, mức cầu mở
rộng và khối lượng hàng hóa xuất khẩu sẽ gia tăng. Nền kinh tế thu được nhiều ngoại tệ và cán
cân thanh toán được cải thiện. Ngược lại, một khi đồng nội tệ lên giá trong sự tương quan với sự
mất giá của đồng ngoại tệ sẽ làm cho xuất khẩu giảm đi nhưng nhập khẩu lại tăng lên, cán cân
thanh toán trở nên xấu đi.
2.5.2. Tỷ giá hối đoái và lạm phát, tăng trưởng kinh tế và việc làm:
Khi đồng nội tệ mất giá sẽ kích thích gia tăng xuất khẩu, từ đó gây tác động lan truyền
thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển và tạo việc làm ổn định cho người lao động. Tuy nhiên
đồng nội tệ mất giá sẽ làm cho giá cả hàng hóa tư liệu sản xuất nhập khẩu tăng cao, từ đó giá
thành sản phẩm sản xuất trong nước cũng tăng. Điều này làm cho mặt bằng giá cả trong nước tăng
cao và sức ép lạm phát trong nước trở nên mạnh mẽ hơn. Ngược lại khi đồng nội tệ lên giá thì
hàng hóa nhập từ nước ngoài trở nên rẻ hơn, từ đó làm cho lạm phát trong nước giảm thấp vì
những hàng hóa đó đều được tính vào trong chỉ số giá cả trong nước. Thế nhưng, đồng nội tệ lên
giá sẽ hạn chế hoạt động xuất khẩu, thu hẹp sản xuất trong nước và thất nghiệp gia tăng.
GVHD: PGS-TS. VŨ THỊ MINH HẰNG
Trang 5
Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
NHÓM 2 – NGÀY 1 K20
CHƯƠNG 3: CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM
QUA CÁC THỜI KỲ
3.1. Chính sách tỷ giá thời kỳ trước năm 1997
Trước năm 1989, Việt Nam thực hiện chính sách tỷ giá cố định. Chính sách này đã
bộc lộ nhiều mặt bất hợp lý, nó không những thể hiện vai trò điều tiết tỷ giá hối đoái trong
việc cân bằng cán cân thanh toán, điều tiết tái sản xuất mà còn kìm hãm các hoạt động kinh tế
đối ngoại của nước ta, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trì trệ kinh tế trong một thời gian
dài.
Đến tháng 3/1989, tỷ giá chính thức được điều chỉnh từ 3.000 VND/USD (năm
1988) lên 3.900 VND/USD đã làm gia tăng đột biến giá trị kim ngạch xuất khẩu nói chung và
xuất khẩu nông sản nói riêng. Sau lần điều chỉnh năm 1989, trong điều kiện chính sách tỷ giá
thả nổi ở thời kỳ này, tỷ giá danh nghĩa VND/USD tăng liên tục khá mạnh, thậm chí có những
“cú sốc” tỷ giá vào cuối năm 1991. Tình hình đó đã kích thích xuất khẩu của cả nước tăng khá
cao: 18,8% năm 1990; 48,63% năm 1991; 27% năm 1992.
Năm 1991 là năm đánh dấu mốc lịch sử về việc hình thành nền móng thị trường hối đoái
tại Việt Nam, đó là việc NHTW đã hình thành hai trung tâm giao dịch tại Hà Nội và Thành phố
Hồ Chí Minh vào tháng 8 và tháng 11 năm 1991.Việc thành lập hai trung tâm giao dịch là bước
ngoặt đầu tiên của hệ thống ngân hàng trong quá trình đổi mới thực sự cơ chế theo hướng thị
trường. Nó là tiền thân của thị trường hối đoái sau này. Thông qua mua bán trên trung tâm giao
dịch ngoại tệ mà NHTW là người tổ chức và điều hành, NHTW kịp thời nắm bắt được cung cầu
ngoại tệ trên thị trường để điều hành chính sách tiền tệ cũng như tỷ giá theo tín hiệu thị trường.
Thông qua việc mua bán ngoại tệ tại hai Trung tâm giao dịch ngoại tệ NHTW đã hướng nhu cầu
ngoại tệ vào các mục tiêu thiết yếu của mình. Việc các ngân hàng thương mại và các tổ chức kinh
tế tham gia vào giao dịch tại hai trung tâm là bước tập dượt đầu tiên trong giao dịch ngoại tệ theo
cơ chế thị trường. Tỷ giá ngoại tệ và đồng Việt Nam được hình thành tương đối khách quan theo
quan hệ cung cầu trên thị trường. Cách thức giao dịch mua bán ngoại tệ theo phương thức đấu giá.
Trong giai đoạn này, tỷ giá hối đoái USD/VND thể hiện qua bảng 1 dưới đây:
Bảng 1: Tỷ giá và lạm phát của Việt Nam qua các năm 1989-1993
Tỷ giá USD/VND
Năm
Lạm phát
Giá chính thức
Giá thị trường
Tăng, giảm
Nhà nước
tự do
(%)
1
2
3
4
5
1989
4.200
4.570
+8,80
+34,70
1990
6.650
7.550
+13,50
+67,50
1991
12.720
12.550
-0,02
+68,00
1992
10.720
10.550
-0,02
+17,50
1993
10.835
10.736
-0,01
+5,20
(Số liệu lấy từ tài liệu của Tập san Khoa học Ngân hàng từ số 1.1994 đến số 12.1994 và
từ số 1.1995 đến số 5.1995)
Bảng số liệu trên cho chúng ta thấy, tỷ giá USD/VND qua các năm có biến động lên
xuống. Tuy nhiên tổng quát mà nói, trong khoảng thời gian này, tỷ giá USD/VND có khuynh
hướng tăng và được Nhà nước điều chỉnh sát với giá của thị trường tự do.
GVHD: PGS-TS. VŨ THỊ MINH HẰNG
Trang 6
Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
NHÓM 2 – NGÀY 1 K20
Điều này chứng tỏ Nhà nước bắt đầu thả nối tỷ giá, quan hệ cung cầu ngoại tệ đã được
quan tâm đầy đủ hơn. Tuy nhiên sự thả nổi tỷ giá đã:
Kích thích tâm lý đầu cơ ngoại tệ, nhằm mục đích hưởng chênh lệch giá.
Tình trạng tỷ giá thường xuyên đột biến và thiếu ngoại tệ đã gây nên những cơn sốt USD
đã làm mất ổn định nền kinh tế.
Quản lý ngoại tệ của Chính phủ không đạt được kết quả như mong muốn.
Nhà nước không kiểm soát được lưu thông ngoại tệ.
Vì vậy đến năm 1993, Nhà nước đã trở về thực hiện cố định tỷ giá và chính sách
này kéo dài đến năm 1996. Với việc duy trì tỷ giá ổn định, NHTW đã tạo được lòng tin cho
dân chúng vào sự ổn định của đồng Việt Nam cũng như tâm lý ổn định của thị trường đã thu
hút được nguồn ngoại tệ lớn từ kiều hối, đầu tư nước ngoài, vay nợ vào Việt Nam; mặt khác
việc duy trì lãi suất thực dương đồng Việt Nam cao đã khuyến khích các tổ chức cá nhân bán
ngoại tệ để gửi đồng Việt Nam. Cả hai yếu tố trên đã đồng thời ảnh hưởng tích cực đến sự ổn
định giá trị đồng Việt Nam và tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia. Tuy nhiên việc cố đinh tỷ giá
trong một thời gian dài (1993-1996) đã không khuyến khích được xuất khẩu, làm cho ngoại
thương kém phát triển biểu hiện cụ thể qua bảng 2 sau đây:
Bảng 2: Số liệu xuất nhập khẩu qua các năm (Đơn vị tính: triệu USD)
Năm
Xuất khẩu
Nhập khẩu
So sánh
1
2
3
4=2-3
1993
2.985
3.924
-939
1994
4.054
5.825
-1.771
1995
5.448,9
8.155,4
-2.706,5
1996
7.255
11.143
-3.888
(Số liệu lấy từ nguồn Thời báo Kinh tế Sài Gòn của UBND TP. HCM )
Tình trạng nhập siêu liên tục trong giai đoạn này đã tác động xấu đến xuất khẩu và
khuyến khích nhập khẩu, gây thâm hụt cán cân thương mại dẫn tới tình trạng hoặc phải tiêu giảm
dự trữ ngoại hối quốc giá, hoặc phải vay nợ nước ngoài để bù đắp cán cân thanh toán. Tuy cơ cấu
nhập khẩu có thay đổi, tỷ trọng nhập máy móc thiết bị công nghệ ngày càng tăng, nhưng nhập siêu
vẫn kéo dài đã làm đất nước lún sâu vào nợ nần, khó khăn cho nền tài chính quốc gia.
3.2. Chính sách tỷ giá từ sau khủng hoảng tài chính châu Á (1997) đến nay
3.2.1 Thời kỳ từ năm 1997 đến cuối năm 2009
Khủng hoàng tài chính châu Á năm 1997, đồng tiền các nước trong khu vực liên tiếp mất giá,
USD liên tiếp lên giá tại Việt Nam, trong khi đó xuất khẩu đang có dấu hiệu chựng lại. Mục tiêu
quản lý tỷ giá của NHTW là điều hành linh hoạt tỷ giá trên cơ sở đảm bảo sự ổn định giá trị VND,
cụ thể:
NHTW liên tục mở rộng biên độ dao động của tỷ giá chính thức và tỷ giá chính
thức cũng được nâng dần lên.
-
Để tránh sự đột biến của tỷ giá trên thị trường, bắt đầu ngày 26/02/1999,
NHTW đã thực hiện được bước đổi mới cơ bản, công bố tỷ giá bình quân trên thị trường liên
ngân hàng thay cho việc công bố tỷ giá chính thức.
Ngày 7/11/2006, Việt Nam được kết nạp vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Gia
nhập WTO tạo ra những cơ hội và thách thức mới cho Việt Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế.
GVHD: PGS-TS. VŨ THỊ MINH HẰNG
Trang 7
Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
NHÓM 2 – NGÀY 1 K20
Trước những cơ hội và thách thức đó, lựa chọn những bước đi đúng đắn và phù hợp trong cơ chế
điều hành tỷ giá là điều trăn trở của các nhà hoạch định chính sách.
Đầu năm 2007, đã có những biến động lớn trong chính sách điều hành tỷ giá của NHTW
thể hiện ở những nội dung sau:
a)
Giai đoạn 1: biên độ tỷ giá tăng từ ±0.25% đến ±0.5%:
Ngày 2/1/2007, quyết định của NHTW về mở rộng biên độ của tỷ giá ngoại tệ từ ±0,25%
lên ±0,5% chính thức có hiệu lực. Như vậy, sau 5 năm biên độ cũ mới được điều chỉnh. Việc điều
chỉnh này được cho là mở đường cho sự giảm giá của VND so với USD.
Diễn biến tỷ giá USD/VND trên thị trường trước các động thái trên có một số điểm
đáng lưu ý sau:
Tỷ giá USD/VND bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng áp dụng cho ngày giao
dịch do NHTW công bố có cao hơn một chút (nếu ngày 26/1/2006 là 16.090 thì ngày 2/1/2007 là
16.101, ngày 3/1 là 16.096, ngày 4/1 là 16.100). Tỷ giá USD/VND do NHTM bán ra vẫn cơ bản
ổn định ở mức trên dưới 16.055 một chút và thấp hơn tỷ giá do NHTW công bố hằng ngày (tương
ứng ngày 26/12/2006 là 16.050, ngày 2/1/2007 là 16.051, ngày 3/1 là 16.055, ngày 4/1 là 16.055).
Tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do cũng cơ bản ổn định và chỉ cao hơn không đáng kể so với
tỷ giá do các NHTM bán ra và cũng thấp hơn tỷ giá do NHTW công bố hằng ngày (ngày 2/1/2007
là 16.070, ngày 3/1 là 16.070, ngày 4/1 là 16.070).
Trong điều kiện bình thường, việc điều chỉnh biên độ tỷ giá theo hướng tăng thường được
hiểu và sẽ dẫn đến là mở rộng tốc độ giảm giá của VND so với USD. Đây là lần đầu tiên diễn biến
tỷ giá đã không tăng lên, thậm chí còn tiếp tục giảm thêm sau khi NHTW công bố tăng biên độ tỷ
giá.
Nguyên nhân của việc tỷ giá giảm:
Kinh tế Việt Nam tăng trưởng liên tục với tốc độ cao (bình quân năm thời kỳ 1996-2000
tăng 7%, thời kỳ 2001-2006 tăng trên 7.6%, trong đó năm 2005 và 2006 tăng trên 8%) là tiền đề
quan trọng để đồng tiền nội tệ lên giá so với các đồng tiền khác. Khi có tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao hơn thì đồng tiền lên giá là tất yếu.
Với chủ trương chủ động mở cửa hội nhập nên hiện có một lượng ngoại tệ lớn chảy vào
nước ta. Khi có lượng ngoại tế lớn chảy mạnh vào trong nước, thì đó vừa là kết quả vừa tạo tiền
đề để tỷ giá khó tăng lên.
•
Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) năm 2006 đã đạt kỷ lục về lượng vốn
đăng ký bao gồm đăng ký mới và bổ sung là 10.2 tỷ USD, về lượng vốn thực hiện là 4.1 tỷ USD.
•
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) năm 2006 cũng đạt kỷ lục về lượng
vốn cam kết (4,45 tỷ USD) và là năm thứ hai liên tục thực hiện vượt mức kế hoạch (1,81 tỷ USD).
•
Nguồn kiều hối (bao gồm của Việt kiều và số tiền do lao động xuất khẩu) gửi về
nước đạt mức kỷ lục (khoảng 4,7 tỷ USD).
•
Lượng ngoại tệ thu được từ khách quốc tế đến Việt Nam năm nay cũng đạt kỷ lục
khoảng 2.85 tỷ USD.
•
Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh qua các năm và năm 2006 đạt mức kỷ lục
(trên 39,6 tỷ USD).
•
Lượng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán hiện cũng đạt
khoảng 4 tỷ USD, chiếm khoảng 28,6% tổng giá trị vốn hoá thị trường chứng khoán của Việt
Nam
GVHD: PGS-TS. VŨ THỊ MINH HẰNG
Trang 8
Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
NHÓM 2 – NGÀY 1 K20
Đồng USD giảm giá so với các đồng tiền chủ chốt trên thế giới như 1USD chỉ đổi được
dưới 0.76 Euro, 0.51 Bảng Anh. Đối với một số đồng bảng tệ ở các nước trong khu vực, đồng
USD cũng bị mất giá liên tục như 1USD chỉ đổi được 7.72 CNY (Nhân dân tệ), 35.6 Baht Thái
Lan,…
Chỉ số giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán phi mã liên tục đạt kỷ lục và hút một
lượng vốn lớn cũng giảm áp lực tăng giá USD.
b)
Giai đoạn 2: biên độ tỷ giá tăng từ ±0.5% đến ±1%
Động thái từ phía NHTW nhằm kiểm soát lạm phát trong năm 2008 là quyết định nới rộng
biên độ tỷ giá USD/VND từ ±0,5% lên ±0,75% ngay trong những ngày cuối năm 2007 (ngày
24/12/2007) nhằm tăng khả năng thanh khoản cho thị trường và tăng cường sự linh hoạt của tỷ giá
trong bối cảnh nguồn vốn đổ vào Việt Nam ngày càng lớn, tạo điều kiện cho dòng vốn ra và vào
nhịp nhàng hơn.
Hình 1: Biểu đồ tỷ giá USD/VND trong giai đoạn 12/2007 đến 03/2008
Tình trạng thiếu tiền đồng và thừa USD vẫn diễn ra trên thị trường, kéo dài đến những
ngày đầu năm 2008, khiến tỷ giá giao dịch tại các ngân hàng liên tục được điều chỉnh giảm sâu.
Để giảm bớt áp lực cho các ngân hàng trong bối cảnh cung ngoại tệ thừa, có điều kiện ấn định tỷ
giá theo cung cầu vốn thực tế, ngày 07/3/2008 NHTW đã mở thêm biên độ tỷ giá thêm một
khoảng là ±0,25% so với mức ±0,75% trước đây, tức là cho phép các ngân hàng được tự đưa ra tỷ
giá trong phạm vi cho phép là ±1% so với tỷ giá chính thức liên ngân hàng.
Cùng với động thái của chính phủ, ngày 10/3/2008 tỷ giá của Ngân hàng Á Châu (ACB)
tiếp tục giảm 20 điểm xuống còn 15.885 và chạm đáy ở mức 15.810 vào ngày 25/3. Tuy nhiên sau
đó tỷ giá bất ngờ quay đầu tăng mạnh, trong vòng 4 ngày tỷ giá tăng gần 200 điểm đạt 16.068 vào
ngày 28/3. Trên thị trường chợ đen, nơi USD được giao dịch trong các tiệm vàng, quán ăn… tỷ
giá USD/VND ngày 18/3 sụt xuống mức 1 USD bằng 15.500 đồng, giảm 3% so với ngày 10/3.
Đây là một sự khác biệt lớn so với trước đây, khi đồng USD luôn được đánh giá cao ở Việt Nam.
Nguyên nhân khiến tỷ giá USD/VND giảm là do nhiều người Việt Nam đột ngột mất niềm tin vào
USD, do lượng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam nhiều và lượng kiều hối gửi về nước tăng
mạnh. Trong thời kỳ này nhiều người gửi tiền tiết kiệm USD ở ngân hàng đã chuyển những khoản
tiết kiệm này sang VND, một số khác thì chuyển sang giữ vàng.
c)
Giai đoạn 3: biên độ tỷ giá tăng từ ±1% lên ±2%:
Ngày 26/6/2008 NHTW có quyết định nâng biên độ tỷ giá hối đoái từ ±1% lên ±2%, giao
dịch ngoại tệ trên thị trường tự do trở nên trầm lắng.
GVHD: PGS-TS. VŨ THỊ MINH HẰNG
Trang 9
Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
NHÓM 2 – NGÀY 1 K20
Hình 2: Biểu đồ tỷ giá USD/VND trong giai đoạn 06/2008 đến 08/2008
Đồng
USD tại
TP.HCM chỉ được rao bán với giá 17.100 - 17.400 USD/VND, giảm đến 1.500 USD/VND so với
những ngày giữa tháng 6/2008. Trong khi đó, tỷ giá niêm yết tại các NHTM, điển hình là tỷ giá
của NHTM cổ phần Á Châu (ACB) nhích dần từ 16.616 lên 16.846 USD/VND trong ngày 27/6,
tăng gần 70 điểm so với trước khi biên độ tỷ giá được nới rộng. Tuy nhiên, mức giá này lại có
chiều hướng giảm nhẹ trong một ngày sau đó. Các ngân hàng niêm yết tỷ giá trong ngày 28/6 chỉ
còn 16.844 USD/VND. Tỷ giá giảm sâu nhất vào 22/7 chỉ còn 16.550 và tăng nhẹ vào những
ngày sau đó tới cuối tháng 7 đạt mức 16.680 tuy nhiên tỷ giá lại tiếp tục giảm những ngày đầu
tháng 8 mức sâu nhất ở mức 16.300 vào ngày 11/8, tuy nhiên tỷ giá tăng lại trong khoảng 16.500
đến 16.600 từ những ngày giữa tháng 8. Đến cuối tháng 8 tỷ giá đạt mức 16.460.
d)
Giai đoạn 4: biên độ tỷ giá tăng từ ±2% lên ±3%:
Hình 3: Biểu đồ tỷ giá USD/VND trong giai đoạn 11/2008 đến 03/2009
Ngày 6/11/2008 NHTW tiếp tục ban hành quyết định số 2635 mở rộng biên độ lên ±3%
với mục đích điều hành chính sách tỷ giá linh hoạt hơn giúp cho các tổ chức kinh tế và tổ chức tín
dụng thích ứng tốt hơn với các biến động trên thị trường thế giới hiện nay.
Với quyết định này của ngân hàng trung ương, tỷ giá tiếp tục tăng nhưng chậm dần và giữ
ổn định trong khoảng trên 16.900 nhưng lại không thể vượt qua 17.000 suốt khoảng thời gian
tháng 11 đến gần cuối tháng 12/2008. Bất ngờ vào ngày 25/12, tỷ giá hối đoái vượt quá ngưỡng
17.000 với mức tăng kỷ lục hơn 300 điểm trong một ngày, tăng từ 16.989 lên 17.300 và cuối
tháng 12/2008, mức tỷ giá đạt mức 17.370.
GVHD: PGS-TS. VŨ THỊ MINH HẰNG
Trang 10
Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
NHÓM 2 – NGÀY 1 K20
Tháng 1/2009 cho ta thấy chiều hướng tăng tỷ giá USD/VND khi liên tục lập mức tỷ giá
trần như 17.430 vào ngày 6/1, rồi mức 17.485 vào ngày 13/1 hay mức 17490 vào ngày 14/2/2009.
Nói chung tỷ giá USD/VND luôn dao động ổn định trong mức 17.480 đến 17.490 trong khoảng
thời gian tháng 2 và giữa đầu tháng 3/2009.
Nguyên nhân tỷ giá USD/VND tăng:
Diễn biến của ngoại tệ trên thị trường trong nước thời gian qua vẫn bình thường. Tỷ giá
USD/VND tăng không phải là do cung – cầu mất cân đối đẩy giá lên, mà do USD đã tăng giá so
với các đồng tiền khác trên thế giới: tăng khoảng 10% so với EURO, tăng từ 5%-7% so với một
số nước trong khu vực
Hình 4: Tốc độ tăng giá USD 1997- 2009
e)
G
iai
đoạn
5:
biên
độ tỷ
giá
tăng
từ
±3%
lên
±5%:
Sau
gần 5
tháng
duy chỉ biên độ ±3%, ngày 23/3/2009, NHTW nước đã ban hành quyết định điều chỉnh biên độ tỷ
giá giữa đồng USD và VND lên ±5%, có hiệu lực kể từ ngày 24/3 và lần điều chỉnh mạnh này
được coi là một động thái mới của Chính phủ nhằm góp phần vào chiến dịch chống suy giảm kinh
tế. Cũng trong buổi chiều, NHTW ban hành quyết định trong đó buộc các NHTM ấn định tỷ giá
mua - bán giao ngay (SPOT) không được vượt quá biên độ 5% so với tỷ giá bình quân liên ngân
hàng do NHTW công bố hằng ngày.
NHTW đã ra công văn cấm các ngân hàng sử dụng các hợp đồng phái sinh như OPTION,
FORWARD để bán đôla giao ngay với tỷ giá cao hơn trần cho phép, kiên quyết xử lý các trường
hợp bán đôla vượt biên độ, đồng thời áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế tâm lý găm giữ ngoại
tệ của các doanh nghiệp, đảm bảo việc chu chuyển ngọai tệ lành mạnh trong nền kinh tế.
Hình 5: Biểu đồ tỷ giá USD/VND trong giai đoạn 03/2009 đến 05/2009
Ngay
sau khi
nới
rộng
biên độ
lên
5%, tỷ
giá
USD/VND tại NHTM cổ phần Á Châu vẫn tiếp tục giữ được đà tăng sau khi tăng thêm hơn 150
điểm, từ 17.489 lên 17.650 và tỷ giá luôn ở trên mức 17.650, có khi đạt mức 17.750 vào ngày
27/3. Tuy nhiên, vào cuối tháng 3/2009, tỷ giá đã giảm nhẹ xuống còn 17.730 và sang ngày 1/4 là
GVHD: PGS-TS. VŨ THỊ MINH HẰNG
Trang 11
Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
NHÓM 2 – NGÀY 1 K20
17.720. Sau đó, tỷ giá đã bật tăng trở lại với mức 17.785 vào ngày 8/4 và tỷ giá ổn định quanh
mức 17.783-17.788 trong suốt tháng 4/2009
Trên thị trường tự do, tỷ giá USD/VND ở mức rất cao so với mức tỷ giá ở các NHTM, giá
USD đã leo lên mức 18.000 đồng/USD. Khách hàng chen nhau mua, giao dịch như lên cơn sốt.
Nguyên nhân khiến tỷ giá USD/VND tăng mạnh:
Tình hình cung cầu USD trên thị trường giao dịch từ đầu năm 2009 đến nay vẫn tồn tại
nhiều bất cập. Do tâm lý đầu cơ, găm giữ ngoại tệ, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu rất hạn chế hoạt
động bán USD cho các ngân hàng. Nhiều ngân hàng lâm vào tình trạng thiếu USD và không đủ
đáp ứng nhu cầu mua USD để thanh toán quốc tế hoặc trả nợ của các doanh nghiệp. Thay vì, các
giải pháp mang tính cạnh tranh lành mạnh, phòng ngừa rủi ro tỷ giá, một số NHTM lại sử dụng
các hình thức giao dịch thiếu tích cực như dùng ngoại tệ thứ ba hoặc mua bán ngoại tệ kỳ hạn để
thu mua và bán USD cho các doanh nghiệp nhập khẩu vượt trần quy định.
Nguyên nhân của việc nới rộng biên độ tỷ giá:
Theo NHTW, việc mở rộng biên độ lần này nằm trong chủ trương tạo điều kiện tỷ giá điều
chỉnh linh hoạt hơn, phản ánh sát tình hình cung cầu ngọai tệ trên thị trường và bảo đảm tăng
trưởng kinh tế bền vững. Đồng thời khi nền kinh tế Việt Nam ngày càng gia nhập sâu vào nền
kinh tế thế giới, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì
những biến động trên thị trường ngoại hối quốc tế và sự gia tăng các luồng vốn đầu tư nước ngoài
khiến thị trường ngoại hối Việt Nam trong năm 2008 diễn biến phức tạp, đã có thời điểm cung cầu
ngoại tệ tại nước ta mất cân đối.Vì thế, việc điều hành tỷ giá tương đối linh hoạt sẽ giúp các
NHTM và tổ chức kinh tế thích ứng tốt hơn với biến động trên thị trường quốc tế. Ngoài ra tăng
biên độ tỷ giá còn giúp tăng xuất khẩu để hạn chế nhập siêu.
Trong thời gian này, USD đã rẻ đi rất nhiều so với VND. Tuy nhiên tỷ giá của chúng ta
vẫn chưa phản ánh hết được điều này. So với mức giảm thực tế của giá trị đồng đô la Mỹ thì mức
giảm của tỷ giá USD/VND chậm hơn khá nhiều. Nguyên nhân là do, chúng ta duy trì tỷ giá hối
đoái cố định với biên độ dao động khá nhỏ. Điều này gây trở ngại cho nhập khẩu. Khi nới rộng
biên độ của tỷ giá hối đoái, giá trị đồng tiền Việt sẽ được điều chỉnh gần với giá trị thực hơn, và
chắc chắn là sẽ tăng giá hơn nữa so với đồng đô la. Bên cạnh đó, chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ
không có tác dụng tích cực trong điều kiện tỷ giá hối đoái cố định hoặc dao động trong biên độ
nhỏ:
•
Chính sách thắt chặt tiền tệ làm cho lãi suất trong nước tăng lên, luồng vốn nước
ngoài vì thế sẽ đổ vào làm cho đồng nội tệ lên giá.
•
Nếu muốn tỷ giá hối đoái không đổi, NHTW sẽ phải mua đô la vào. Điều này sẽ
làm tăng cung tiền và khiến lãi suất giảm trở lại.
Nếu muốn chính sách này có tác dụng, tỷ giá phải thả nổi hoặc có biên độ dao động lớn.
Một nguyên nhân quan trọng khác khiến NHTW phải nới rộng biên độ của tỷ giá hối đoái
là để điều chỉnh hoạt động mua bán đô la Mỹ trên thị trường. Trong khi các NHTM đang ngần
ngại trước việc mua vào USD, một sự nới rộng hơn nữa biên độ của tỷ giá sẽ khiến các ngân hàng
có được tự do hơn trong việc định giá đồng tiền này tuỳ theo diễn biến của thị trường. Hơn nữa
mức giá mua vào của NHTM sẽ không quá chênh lệch so với trên thị trường, làm giảm động cơ
đầu cơ của một số người, thu gom đô la với giá rẻ rồi bán lại cho ngân hàng để hưởng chênh lệch.
Cơ chế tỷ giá ngày càng linh hoạt hơn đòi hỏi các ngân hàng và thành viên tham gia thị
trường ngoại hối nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro về biến động tỷ giá để đảm bảo hiệu quả
GVHD: PGS-TS. VŨ THỊ MINH HẰNG
Trang 12
Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
NHÓM 2 – NGÀY 1 K20
sản xuất kinh doanh. Nhiều NHTM nhận định việc nới rộng biên độ tỷ giá giúp các ngân hàng chủ
động hơn trong việc đưa ra một tỷ giá linh hoạt hằng ngày.
Giai đoạn 6: biên độ tỷ giá giảm từ ±5% xuống ±3%:
Đến cuối năm 2009, NHTW quyết định giảm biên độ tỷ giá xuống ±3%, quyết định có
hiệu lực từ ngày 26/11/2009. Việc giảm biên độ giao dịch tỷ giá là động thái khá bất ngờ trong bối
cảnh tỷ giá VND/USD liên tục tăng cao trong thời gian trước đó và NHTW liên tiếp tuyên bố ổn
định chính sách tỷ giá.
3.2.2 Năm 2010:
Ngày 10/2/2010, NHTW quyết định điều chỉnh tỷ giá giữa VND và USD liên ngân hàng.
Theo đó, tỷ giá bình quân liên ngân hàng điều chỉnh từ mức 17.941 đồng/USD lên 18.544
đồng/USD, tăng khoảng 3,3%. Nhằm góp phần kiềm chế nhập siêu, ngày 17/8/2010 NHTW thực
hiện điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa đồng Việt Nam với Đô la Mỹ áp dụng cho
ngày 18/8/2010 từ mức 18.544 đồng/USD lên mức 18.932 đồng/USD, tăng 2%. Biên độ tỷ giá giữ
nguyên ở mức ±3%. Với những giải pháp này, thị trường ngoại tệ, thị trường vàng đã từng bước
bình ổn, tỷ giá chính thức so với tỷ giá trên thị trường tự do được thu hẹp, từng bước lành mạnh
hóa các giao dịch vốn trong xã hội
f)
Hình 6: Diễn biến các loại tỷ giá USD/VND trong nước năm 2010
Kết quả : Với biên độ tỷ giá là ±3%, tỷ giá giao dịch tối đa mà các tổ chức tín
dụng được áp dụng là 19.100 đồng/USD. Theo NHTW, mục đích của việc điều chỉnh tỷ giá là
nhằm cân đối hài hòa cung - cầu ngoại tệ, góp phần kiểm soát nhập siêu và ổn định kinh tế vĩ
mô. Ngay sau khi quyết định được ban hành, các NHTM đã điều chỉnh tỷ giá lên mức khá cao.
Đánh giá: Việc điều chỉnh này có mặt tích cực, nó đã đưa tỷ giá USD của ngân
hàng về gần hơn với mức giao dịch của thị trường tự do. Trong khuôn khổ hành lang tỷ giá
mới với mức trần là 19.100 VND/USD, chênh lệch tỷ giá giữa thị trường chính thức và tự do
giảm xuống còn 100-500 đồng/USD (chênh lệch 0,8-2,5%), người nắm giữ ngoại tệ có thể sẽ
tăng bán USD cho ngân hàng, tăng cung trên thị trường chính thức. Thế nhưng, trên thực tế,
song song với việc điều chỉnh giá USD của các ngân hàng, giá USD trên thị trường tự do cũng
tăng cao tương ứng. Mặc dù đã điều chỉnh giá mua USD lên mức rất cao, các ngân hàng vẫn
GVHD: PGS-TS. VŨ THỊ MINH HẰNG
Trang 13
Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
NHÓM 2 – NGÀY 1 K20
gặp nhiều khó khăn trong việc thu mua đồng tiền này. Trong khi đó, tại hầu hết các điểm thu
đổi ngoại tệ, giá USD đã tăng hơn, lần lượt là 19.300 đồng/USD (mua vào) và 19.600
đồng/USD (bán ra).
3.2.3 Những tháng đầu năm 2011
Thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành
thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011, cuối cùng thì NHTW cũng đã có
quyết định điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên mức 20.693 đồng/USD và thu hẹp
biên độ giao dịch từ ±3% xuống ±1%, áp dụng từ ngày 11/2/2011.
Điểm đáng chú ý của lần tăng tỷ giá này là:
- Về thời điểm, tuy không bất ngờ vì đã được dự báo trước cả tháng và cũng khá chậm
trước sự chênh lệch cao kéo dài của 2 loại tỷ giá; nhưng có sự lựa chọn khá tối ưu khi công bố
vào đúng ngày cuối tuần làm việc, giúp giảm bớt những phản ứng bộc phát của thị trường.
- Về mức điều chỉnh, lớn và gây sốc nhất trong suốt hơn một năm qua, với giá USD
trong giao dịch liên ngân hàng đã tăng 1.700 đồng, từ mức 18.932 VND lên mức 20.693
VND/USD - tức tăng hơn 9,3 % so với mức tăng 2,1% trong đợt điều chỉ tỷ giá ngày 18/8/2010,
và tăng 3,36% ngày 11/2/2010. Như vậy, trong vòng đúng 1 năm qua, NHTW đã chính thức 3 lần
điều chỉnh tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng với mức tăng tổng cộng 14,46%, tức xấp xỉ
mức lạm phát tháng 2/2011 so với tháng 2/2010 (Tổng cục Thống kê cho biết, CPI tháng 1/2011
của cả nước đã tăng tới 1,74% so với tháng 12/2010 và tăng 12,17% so với cùng kỳ năm 2010).
- Về biên độ, tiếp tục xu hướng thu hẹp biên độ giao dịch qua 3 lần điều chỉnh tỷ giá
trong vòng 1 năm qua, theo đó, biên độ giao dịch đã liên tục thu hẹp dần từ ±5%, rồi giảm tiếp và
giữ nguyên ở mức ±3%, và lần này xuống gần như mức tối thiểu, chỉ còn ±1%.
Như vậy, với 3 điểm mới của đợt điều chỉnh tỷ giá lần này của NHTW là tối ưu về lựa
chọn thời điểm, tối đa về mức độ giảm giá nội tệ và tối thiểu về thu hẹp biên độ giao dịch. Đồng
thời, với việc NHTW cũng cam kết trong thời gian tới sẽ điều hành tỷ giá bình quân liên ngân
hàng tương đối linh hoạt, chủ động, phù hợp với tình hình cung cầu ngoại tệ, bảo đảm tăng tính
thanh khoản của thị trường, góp phần kiềm chế nhập siêu và hỗ trợ cho việc thực thi chính sách
tiền tệ chủ động, linh hoạt hơn…Tất cả những điều đó cho đã cho thấy dường như đang và sẽ có
những chuyển động khá sâu sắc cả về nhận thức, cũng như cách thức điều hành tỷ giá của NHTW.
Tuy nhiên, trong thời gian đầu và mức độ cục bộ, sự điều chỉnh tỷ giá này có thể ít nhiều
làm tăng giá USD trên thị trường tự do (thực tế, giá USD trên thị trường tự do cả nước giao động
nhẹ ở mức 21.450 - 21.550 đồng/USD); cũng như làm tăng giá của hàng hoá và nguyên liệu nhập
khẩu, do đó làm tăng chi phí sản xuất của doanh nghiệp nhập khẩu hàng hoá, cũng như làm giảm
lượng hàng nhập khẩu, từ đó có thể làm gia tăng áp lực lạm phát cung-cầu và chi phí đẩy; đồng
thời, có thể tạo ra cái gọi là rủi ro tỷ giá trong hoạt động kinh doanh và tín dụng của những doanh
nghiệp vay VND lãi suất cao và phải nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào sản xuất...
Về tổng quát và lâu dài, việc điều chỉnh tỷ giá này có tác dụng tốt nhằm hạn chế, giải toả
tình trạng găm giữ, cũng như kỳ vọng đầu cơ, góp phần cân đối theo nguyên tắc thị trường cungcầu về ngoại tệ, kích thích xuất khẩu và tăng cường sản xuất trong nước. Từ đó góp phần kiềm
chế vững chắc lạm phát. không chỉ giúp tăng sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam, mà
còn hạn chế nhập siêu, nhất là những sản phẩm trong nước có thể sản xuất thay thế. Việc tiền
đồng giảm giá khiến các nhà xuất khẩu sẽ được lợi, còn hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên đắt hơn.
Đặc biệt, sự điều chỉnh tỷ giá đã thu hẹp chênh lệch tỷ giá chính thức với tỷ giá trên thị
trường tự do sẽ giúp cải thiện dự trữ ngoại hối của Việt Nam do không phải gia tăng bán USD
GVHD: PGS-TS. VŨ THỊ MINH HẰNG
Trang 14
Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
NHÓM 2 – NGÀY 1 K20
theo tỷ giá thấp, giảm bớt kỳ vọng đầu cơ và cả hoạt động buôn bán vốn và ngoại tệ lòng vòng
kiếm lời dựa trên chênh lệch giữa 2 tỷ giá. Điều này còn giúp tăng cường tập trung và quản lý
kinh doanh ngoại tệ trên thị trường có tổ chức. Đồng thời, nó cũng giúp cho các doanh nghiệp
được tính đúng, tính đủ chi phí vốn ngoại tệ trong bảng hạch toán kinh doanh của mình, mà trước
đó thường phải che giấu, hợp lý hóa các khoản mua USD trên thị trường chợ tự do với giá cao
hơn giá chính thức.
GVHD: PGS-TS. VŨ THỊ MINH HẰNG
Trang 15
Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
NHÓM 2 – NGÀY 1 K20
CHƯƠNG 4: XU HƯỚNG BIẾN ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP
CHO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VIỆT NAM
4.1. Xu hướng biến động tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
Tình hình biến động tỷ giá ngoại hối tại Việt Nam không chỉ phụ thuộc vào yếu tố chủ
quan như mục tiêu các chính sách điều chỉnh tỷ giá của nhà nước mà còn phụ thuộc vào các yếu
tố khách quan như những tác động của tình hình kinh tế thế giới và trong nước. Vì vậy, để có thể
dự đoán được xu hướng biến động của tỷ giá ngoại hối trong thời gian tới, chúng ta cần nghiên
cứu tình hình kinh tế hiện nay và xu hướng phát triển trong nước cũng như của thế giới. Theo
đánh giá của Tổ chức tiền tệ quốc tế (IMF), thời kỳ khó khăn nhất của kinh tế thế giới đã qua đi,
thị trường vốn của các quốc gia chủ yếu đã dần dần ổn định trở lại, công nghiệp chế tạo đã bắt đầu
phục hồi và tăng trưởng, thương mại xuất nhập khẩu đã tăng rõ nét. Tính cả năm 2010, tốc độ tăng
trưởng kinh tế đạt mức 4,2%, trong đó các nước phát triển là 2,3%, còn thị trường mới nổi và các
nước đang phát triển là 6,3%. Như vậy, năm 2010, là năm đầu tiên của giai đoạn phục hồi kinh tế
thế giới sau cuộc đại khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Các nước đang điều chỉnh chiến lược, thực thi
các chính sách, biện pháp bảo vệ lợi ích, xích lại gần nhau hơn trong những vấn đề toàn cầu. Tuy
nhiên, nền kinh tế thế giới vẫn chưa đạt được sự cân bằng; thêm vào đó là cuộc đấu tranh chiến
lược giữa các nước lớn diễn ra quyết liệt, sự tranh giành ảnh hưởng và tìm kiếm lợi ích ngày càng
sôi động hơn; sự điều chỉnh chính sách kinh tế đối ngoại của một số nước lớn đã tác động mạnh
mẽ đến tình hình an ninh kinh tế thế giới; trật tự thế giới mới dựa trên cơ sở kinh tế vẫn chưa được
định hình trên thực tế. Năm 2011 kinh tế thế giới tiếp tục tăng trưởng, nhưng ở mức khiêm tốn,
chưa có bước đột phá, vẫn tiềm ẩn nguy cơ tái khủng hoảng.
Theo chủ tịch Ngân hàng Dự trữ liên bang Mỹ Ben Bernanke, nền kinh tế Mỹ đã tăng
trưởng 2,8% trong quý IV/2010, tăng trong quý thứ bảy liên tiếp sau khi giảm 2,6% trong năm
2009 do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tồi tệ. Ưu tiên trong chính sách của Mỹ
trong năm 2011 này sẽ là phục hồi kinh tế. Việc tiếp tục chính sách miễn giảm thuế của chính
quyền tiền nhiệm Bush thêm 2 năm, gia tăng ích lợi xã hội cùng với giảm thuế thu nhập, chính
sách tiền tệ nới lỏng…sẽ tiếp tục là tích cực đối với sự hồi phục kinh tế Mỹ. Người tiêu dùng đang
tiết kiệm và đã thực sự thanh toán được nhiều khoản nợ của họ. Với doanh nghiệp, nhu cầu đầu tư
vào công nghệ mới để cắt giảm chi phí và cạnh tranh tốt hơn sẽ tạo ra những khoản lợi nhuận tốt.
Nếu chỉ có những tin tốt này, triển vọng kinh tế sẽ là rất sáng sủa, nếu không nói là rất mạnh. Đại
suy thoái đã thực sự kết thúc và kinh tế Mỹ đã tăng trưởng trở lại mức của thời kỳ trước khủng
hoảng giai đoạn 2008-2009. Dự đoán năm 2011, cùng với sự bùng nổ của cuộc khủng hoảng nợ
của Châu Âu, nền kinh tế Mỹ chuyển biến tốt thì đồng USD sẽ nhanh chóng phục hồi. Theo quỹ
tiền tệ quốc tế (IMF), gói kích thích tài chính của Mỹ được phê chuẩn vào cuối năm ngoái cùng
với quyết định khởi động kế hoạch nới lỏng định lượng của Qũy dự trữ liên bang (FED) – tức là
bơm thêm 600 tỷ USD vào thị trường Mỹ ngày 05/11/2010 - đã giúp cải thiện đáng kể triển vọng
tăng trưởng của quốc gia này. IMF đã tăng 0,7% điểm dự báo tăng trưởng năm 2011 của Mỹ lên
3% nhưng đồng thời cũng cảnh báo rằng gói kích thích mới sẽ gieo hạt cho một mầm mống khủng
hoảng về lâu dài trong lĩnh vực tài chính công của Mỹ.
Tại Việt Nam, theo xu hướng chung của thế giới, xuất khẩu sẽ gặp khó khăn hơn khiến
nhập siêu tiếp tục ở mức cao. Giải ngân đầu tư nước ngoài sẽ chưa thể có cải thiện, đặc biệt vốn
đăng ký năm 2010 chỉ có khoảng 13 tỉ USD. Tuy nhiên, đầu tư gián tiếp (FII) có thể sẽ tăng mạnh
do các quốc gia trong khu vực phải ngăn chặn dòng vốn nóng để kiềm chế đầu tư và lạm phát.
GVHD: PGS-TS. VŨ THỊ MINH HẰNG
Trang 16
Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
NHÓM 2 – NGÀY 1 K20
Mặt bằng lãi suất trong năm 2011 có thể sẽ tiếp tục giữ ở mức cao bởi việc chống lạm phát
đòi hỏi NHTW phải duy trì lãi suất cơ bản ở mức 9% ít nhất cho đến giữa năm 2011. Việc tăng lãi
suất gần đây của NHTW là một hành động cần thiết để chống lạm phát. Theo thống kê từ NHTW:
Đầu tháng 03/2011, lãi suất huy động VND dao động quanh mức 13,5 - 14%/năm, lãi suất cho
vay nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu là 14,5%/năm; đối với các lĩnh vực sản xuất kinh doanh
khác từ 16 - 18%/năm; đối với lĩnh vực phi sản xuất từ 18 - 22%/năm. Hiện lãi suất huy động
VND khó có thể giảm xuống do tác động của việc tăng tỷ giá USD/VND và lãi suất tiền gửi USD,
do tác động của các hành vi và lực đẩy đưa đến ngang bằng lãi suất giữa lãi suất VND và lãi suất
USD trong nền kinh tế Việt Nam đang bị đô la hóa trầm trọng.
Có thể nói mục tiêu lạm phát 2011 là 7% như chính phủ đề ra là không khả thi. Bởi vì chỉ
trong 2 tháng đầu 2011, CPI đã ở mức 3,83%. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 2 tăng 2,09% so với
tháng trước. Tính bình quân chỉ số giá tiêu dùng 2 tháng đầu năm 2011 tăng 12,24% so với 2
tháng đầu năm 2010. So với 12 tháng trước, CPI có thể còn tiếp tục tăng ở mức hai con số trong
suốt 10 tháng đầu năm nay, mặc dù NHTW sẽ kìm giữ tăng cung tiền và tín dụng ở mức "vừa
phải" hơn như đã tuyên bố, lần lượt là 21-24% và 23%, trong suốt năm 2011. Mặc dù áp lực trên
tổng cầu có thể giảm bớt phần nào do sự cố gắng thắt chặt tiền tệ của NHTW, tuy nhiên sự thắt
chặt này vẫn chưa đủ do mức tăng tiền tệ từ năm 2010 đã quá lớn. Ngoài ra, mức tăng giá xăng
dầu và hàng hóa từ bên ngoài nhất là lương thực - thực phẩm sẽ gây áp lực mới đáng kể trong năm
nay. Do đó, mức dự báo lạm phát cuối tháng 12-2011 có thể lên tới 9% (so với cùng kỳ năm
trước).
Chỉ trong năm 2009 và 2010 đồng nội tệ đã mất hơn 20% giá trị so với đồng USD. Lạm
phát ở Việt Nam cũng cao hơn nhiều so với hầu hết các nền kinh tế khác. Như vậy, sự mất giá của
đồng nội tệ và dự trữ ngoại hối giảm mạnh khiến cho niềm tin vào đồng nội tệ suy giảm. Điều này
đã kích thích tình trạng đầu cơ và tích trữ ngoại tệ, vàng. Bên cạnh đó, Pháp lệnh ngoại hối năm
2005 xem việc cất giữ và vận chuyển tiền là hoàn toàn hợp pháp. Tuy nhiên, người dân chỉ được
mua-bán USD cho tổ chức được cấp phép thực hiện chức năng này. Ngoài ra, muốn mua ngoại tệ
cần có các giấy tờ chứng minh nhu cầu là hợp pháp. Thực tế việc mua USD tại tổ chức tín dụng
gặp không ít khó khăn do thủ tục rắc rối dù nhu cầu là chính đáng. Ngoài ra, thời gian thực hiện
giao dịch kéo dài do thủ tục nhiều khi cũng không thuận tiện đối với người cần mua USD. Do
vậy, nó làm cho các giao dịch ngoại tệ diễn ra sôi động trên thị trường tự do.
Ngoài những xu hướng của các yếu tố trên, tỷ giá ngoại hối còn chịu sức ép từ tình trạng
đôla hóa của Việt Nam ngày càng trầm trọng, hiện đã ở khoảng 23%. Đó là do tâm lý của người
dân lo lắng về sự mất giá của đồng VND, giá vàng thế giới thấp hơn giá vàng trong nước dẫn tới
tình trạng gom USD để tích trữ, mua vàng, đầu cơ. Có khi bất chấp cả sự mất giá của USD trên
thế giới.
Tổng hợp tình hình quốc tế và trong nước, dự báo tỷ giá sẽ được điều chỉnh trong quý III
năm 2011 khi áp lực vẫn còn căng thẳng. VND sẽ chịu áp lực trong suốt năm 2011 trước sức ép
của việc cân bằng cán cân thanh toán, tỷ lệ lạm phát tăng cao và mục tiêu tăng trưởng tín dụng,
tình trạng đôla hóa của Việt Nam. Do đó, chúng tôi cho rằng tỷ giá USD/VND sẽ tiếp tục gia tăng
nghĩa là đồng VND sẽ tiếp tục mất giá trong năm ngắn hạn, nhưng ở mức độ bao nhiêu là còn tùy
thuộc vào chính sách điều hành tỷ giá của NHTW. Nếu những động thái tích cực mà các cơ quan
nhà nước tiến hành có thể được củng cố bằng những biện pháp khuyến khích sử dụng và nắm giữ
VND thì áp lực điều chỉnh tỷ giá sẽ bớt đi. Khi đó, những biện pháp này sẽ dần tạo nên lòng tin
đối với việc sử dụng VND và áp lực giảm giá VND thậm chí có thể đảo chiều.
GVHD: PGS-TS. VŨ THỊ MINH HẰNG
Trang 17
Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
NHÓM 2 – NGÀY 1 K20
Về định hướng trong dài hạn, NHTW sẽ điều hành tỷ giá tương đối linh hoạt theo cả hai
chiều: có lên, có xuống; phù hợp với tình hình cung cầu ngoại tệ, bảo đảm tăng tính thanh khoản
của thị trường, góp phần kiềm chế nhập siêu và hỗ trợ cho việc thực thi chính sách tiền tệ chủ
động, linh hoạt hơn.
4.2. Giải pháp cho tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
Một là, từng bước để các NHTM tự quyết định tỷ giá USD/VND.
o Trong thời gian qua, việc lựa chọn chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý của Việt Nam đã tạo
được nhiều thành tựu quan trọng, thúc đẩy cho nền kinh tế nước ta phát triển. Trong xu thế toàn
cầu hóa hiện nay, Việt Nam nên tiếp tục duy trì một chính sách tỷ giá thả nổi có quản lý để thích
ứng và tạo ra động lực phát triển nền kinh tế nước ta, phù hợp tiến trình hội nhập (vì chế độ tỷ giá
thả nổi có ưu điểm là tỷ giá luôn gắn liền với quan hệ cung cầu và tỷ giá này thích ứng với điều
kiện toàn cầu hóa của thị trường tài chính quốc tế hiện nay).
o Hiện nay NHTW đang quản lý tỷ giá USD/VND theo cơ chế tỷ giá thả nổi có điều tiết
của nhà nước nhưng có điểm hạn chế là việc quản lý này không bám sát chặt chẽ theo cơ chế thị
trường (có khi USD mất giá so với hầu hết các đồng tiền khác trên thị trường quốc tế nhưng
NHTW lại công bố USD tăng giá so với VND tại thị trường Việt Nam và ngược lại). Ngoài ra,
việc niêm yết tỷ giá chính thức phụ thuộc rất lớn vào tỷ giá bình quân ngoại tệ do Ngân hàng nhà
nước Việt Nam công bố (tỷ giá bình quân liên ngân hàng) nhưng hiện nay tỷ giá này vẫn chưa thể
hiện đúng quan hệ cung - cầu của thị trường, càng không thể hiện đúng tỷ giá các Ngân hàng
thương mại giao dịch. Chính vì thế, NHTW cần từng bước tiến dần đến việc bỏ hẳn loại tỷ giá này
trong giai đoạn hiện nay; thay vào đó, để các NHTM tự quyết định tỷ giá USD/VND theo quan hệ
cung - cầu ngoại tệ trên thị trường. Có như vậy, thị trường tự thân nó sẽ biết tự điều chỉnh tỷ giá
một cách phù hợp và giúp cho các ngân hàng thương mại linh hoạt hơn trong hoạt động kinh
doanh của mình. Mặt khác, NHTW cần có chính sách thay đổi cách quản lý của mình về tỷ giá
phù hợp hơn với thị trường và tình hình đất nước. (chẳng hạn như 1. Khi cần thiết, NHTW có thể
can thiệp vào tỷ giá bằng cách mua bán ngoại tệ với các NHTM thay vì quản lý tỷ giá áp đặt theo
cơ chế hành chính như hiện nay; 2. Hướng đến bảo hộ một cách hợp lý các doanh nghiệp trong
nước; 3. Hướng đến sự hài hòa lợi ích giữa hoạt động xuất khẩu - nhập khẩu và chú ý đẩy mạnh xuất
khẩu).
Hai là, Chính sách tỷ giá cần phải được phối hợp đồng bộ với các chính sách kinh tế vĩ
mô khác. Hiện nay, nhà nước ta đang điều tiết và quản lý rất nhiều chính sách kinh tế (chính sách
ngoại thương, chính sách lãi suất,…), chính sách tỷ giá hối đoái chỉ là một trong số nhiều chính
sách khác nhau của nhà nước đối với nền kinh tế. Do đó việc điều chỉnh, xây dựng chính sách tỷ
giá sao cho vừa thống nhất, đồng bộ vừa hỗ trợ các chính sách khác của nhà nước là rất cần thiết,
tạo môi trường ổn định, điều kiện thuận lợi đề phát triển kinh tế đất nước. Cụ thể, như:
Tiến hành nghiên cứu những điều chỉnh chính sách tỷ giá trong giai đoạn vừa qua, ảnh
hưởng của các chính sách tỷ giá hối đoái đã thực hiện trước đây của nhà nước đối với nền kinh tế
và tổng kết kịp thời kinh nghiệm cải cách quản lý. Qua đó xây dựng chính sách tỷ giá cho hiện tại
thích hợp hơn.
Nghiên cứu xây dựng cơ sở khoa học, phương pháp luận cho việc xác định tỷ giá hối
đoái danh nghĩa, tỷ giá thực tế, tỷ giá cân bằng trong điều kiện cụ thể của nước ta; chuẩn xác hoá,
hệ thống hoá dữ liệu kinh tế có liên quan trực tiếp đến tính toán điều chỉnh tỷ giá hối đoái (chẳng
GVHD: PGS-TS. VŨ THỊ MINH HẰNG
Trang 18
Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
NHÓM 2 – NGÀY 1 K20
hạn như: chỉ số lạm phát, hệ số giảm phát, tính xác thực của tài khoản vãng lai, cán cân thanh toán
quốc tế, vấn đề nợ...) để có được sự trả lời chính xác tỷ giá hối đoái hiện tại đã phù hợp chưa?
Nên điều chỉnh theo hướng nào? Khả năng điều chỉnh trên thực tế ra sao? Đặc biệt là lượng hoá
được hậu quả của điều chỉnh.
Hoàn chỉnh và tiến tới hiện đại hóa cơ chế quản lý giao dịch ngoại hối, cơ sở pháp lý
cho việc điều hành thị trường ngoại tệ và cập nhật kịp thời các công cụ quản lý tiền tệ trên thế giới
vào áp dụng thực tiễn.
Ba là, cần cải thiện, củng cố hệ thống cập nhật thông tin để thu thập kịp thời, chính
xác các thông tin trong nền kinh tế trong nước cũng như của nền kinh tế thế giới. Đặc biệt cần
chú ý theo dõi, đấu tranh có hiệu quả với hiện tượng đầu cơ, tích trữ và kiềm chế tác động xấu
của thị trường ngoại tệ chợ đen nói riêng và thị trường tiền tệ nói chung.
Hoạt động dự báo có một tầm quan trọng rất lớn trong việc phòng ngừa rủi ro hoặc đầu
cơ. Vì vậy khi điều tiết, quản lý và thực hiện chính sách, nhà nước cần quan tâm đến:
Hoàn thiện phát triển và hiện đại hoá công tác dự báo kinh tế tài chính để có được
những đánh giá sát thực phục cụ cho điều chỉnh kinh tế vĩ mô nói chung, điều chỉnh tỷ giá nói
riêng.
Ngân hàng trung ương có thể sử dụng các nhân tố cơ bản như thuyết PPP, hiệu ứng
Fisher quốc tế để dự báo.
Theo dõi, phân tích một cách có hệ thống động thái của các thị trường tài chính quốc
tế, từ đó xác định xu hướng phát triển các thị trường này trong tương lai để làm cơ sở lựa chọn
hướng tổ chức, phát triển thị trường ngoại hối Việt nam, đáp ứng yêu cầu phát triển trong nước,
phù hợp với thông lệ quốc tế và lựa chọn phương án điều chỉnh phù hợp.
Sự tồn tại của thị trường ngoại tệ chợ đen là một tất yếu xuất phát từ thực trạng kinh tế
và cơ chế quản lý ngoại hối của Việt Nam. Nắm bắt những tín hiệu trên thị trường này, nơi mà các
lực thị trường về cơ bản là không bị điều phối bởi các quy định hành chính, có thể giúp ích công
tác điều hành, bổ sung vào chính sách tỷ giá. Cụ thể:
Chi nhánh NHNN ở các tỉnh, thành phố nên hình thành các cơ sở, chi nhánh theo
dõi tại những đầu mối giao dịch trên trường chợ đen nhằm nắm bắt kịp thời xu hướng vận động
của thị trường này.
Độ chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá chợ đen tạo nên khái niệm độ mở
“cánh kéo”, được xem là hàn thử biểu để đánh giá mức độ hợp lý trong điều hành tỷ giá. Tính hợp
lý bộc lộ khi hai tỷ giá này xích gần lại nhau. Không nhất thiết làm chúng trùng nhau vì thị trường
chợ đen cũng chỉ là một mảng nhỏ trong tổng thể thị trường, và tính bất hợp pháp của nó luôn
chứa đựng một khoản rủi ro nhất định. Trong chính sách tỷ giá, chúng ta nên chấp nhận sự chênh
lệch này, miễn sao nó không đủ lớn để làm rò rỉ ngoại tệ từ thị trường chính thức ra chốn chợ đen;
nếu chênh lệch đó quá lớn thì cần phải xem xét các nguyên nhân, sự kiện thực tế và bổ sung các
quy định vào chính sách tỷ giá để điều chỉnh chênh lệch đó một cách kịp thời.
Bốn là, trong chính sách tỷ giá, cần chú trọng nâng cao năng lực và sử dụng phù hợp
các công cụ can thiệp tỷ giá.
1) Công cụ nghiệp vụ thị trường mở (hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi, hợp
đồng giao sau, hợp đồng quyền chọn,…): Do lượng ngoại tệ dự trữ của Việt Nam còn quá thấp
và các loại hợp đồng trong công cụ này hiện nay chưa được sử dụng phổ biến ở Việt Nam nên
công cụ này vẫn còn trong tình trạng “tiềm năng” - chưa phát huy hết vai trò chủ đạo trong điều
GVHD: PGS-TS. VŨ THỊ MINH HẰNG
Trang 19
Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
NHÓM 2 – NGÀY 1 K20
chỉnh tỷ giá hiện nay ở nước ta. Sau đây là một số đề xuất để tiến tới xây dựng và vận dụng công
cụ này nhiều hơn trong chính sách tỷ giá:
+ Xây dựng khung pháp lý thích hợp cho nghiệp vụ thị trường mở. Đa dạng hóa việc sử
dụng các loại hợp đồng trong công cụ thị trường mở tùy từng trường hợp cụ thể để phòng tránh rủi
ro khi ngoại tệ bị mất giá.
+ Tranh thủ tối đa khả năng tích lũy ngoại tệ, đồng thời duy trì mức dự trữ ngoại tệ tương
xứng với nhịp độ kim ngạch nhập khẩu: 1) Xây dựng chính sách phát triển xuất khẩu và hạn chế
nhập khẩu 2) Tiết kiệm chi ngoại tệ, chỉ nhập những hàng hóa cần thiết cho nhu cầu sản xuất và
những mặt hàng thiết yếu trong nước chưa sản xuất được. 3) Trong thời gian trước mắt vẫn xem
đồng USD có vị trí quan trọng trong dự trữ ngoại tệ của mình nhưng cũng cần dần dần tiến tới đa
dạng hóa cơ cấu dự trữ ngoại tệ khả thi (bao gồm các đồng tiền của những nước mà chúng ta có
quan hệ thanh toán, thương mại và có quan hệ đối ngoại chặt chẽ nhất ví dụ như đồng EURO, yên
Nhật vì hiện nay EU, Nhật là những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam) để làm tăng tính
ổn định của Tỷ giá hối đoái danh nghĩa.
+ Tập trung quản lý ngoại tệ vào một đầu mối duy nhất là NHTW, ngay cả ngoại tệ của
Kho bạc Nhà nước có được cũng phải bán ngay cho NHTW và khi có nhu cầu thì mua lại như
những đơn vị khác.
+ Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn ngoại tệ dự trữ. Cụ thể, khi cần tung dự trữ ngoại tệ
vào thị trường, NHTW có thể đứng ra bảo lãnh cho các tổng công ty nhập khẩu các mặt hàng
chiến lược (như xăng dầu). Điều này giúp đảm bảo ngoại tệ dự trữ được sử dụng đúng cho hoạt
động ngoại thương.
2) Công cụ lãi suất tái chiết khấu: Bản thân lãi suất chỉ có tác động gián tiếp đến tỷ giá
vì đóng vai trò là biến ngoại sinh; tuy nhiên nó lại tác động trực tiếp đến đầu tư và sản xuất kinh
doanh vì gắn liền với chi phí sử dụng vốn. Do vậy, việc sử dụng công cụ này cần nhiều sự cân
nhắc.
Luồng vốn ra vào nền kinh tế Việt Nam chủ yếu là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Đầu
tư gián tiếp và dòng vốn ngắn hạn gần như không có do thị trường chứng khoán và tiền tệ chưa
phát triển. Tình trạng này hãy còn tiếp diễn trong nhiều năm. Hơn nữa, giao dịch vốn chưa được
mở cửa một phần bởi các quy định của Chính phủ, một phần do điều kiện tài chính Việt Nam
chưa chín muồi và đồng Việt Nam chưa được tự do chuyển đổi. Tất cả cho thấy lãi suất chưa thể
có ảnh hưởng mạnh đến tỷ giá. Tác động của nó chỉ giới hạn ở chỗ làm thay đổi những dòng tiền
tệ lưu thông trong thị trường nội địa, từ nội tệ chuyển sang ngoại tệ và ngược lại. Vậy, giải pháp
để từng bước nâng cao sức mạnh của công cụ này sẽ đồng nhất với việc tự do hóa tài khoản vốn
quốc gia (mà trước hết là các giao dịch vốn ngắn hạn và đầu tư gián tiếp). Đây cũng chính là con
đường từng bước đưa đồng Việt Nam trở thành một đồng tiền chuyển đổi.
3) Công cụ hành chính: Những biện pháp hành chính trong thời gian qua đã đem lại
hiệu quả khá tốt, nhờ chúng mà Việt Nam đã thành công trong việc điều hành chính sách tỷ giá
hối đoái và hạn chế tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Đông Nam Á. Tuy đây chỉ là giải
pháp tình thế nhưng việc dỡ bỏ tức thời các biện pháp hành chính cũng không phải khả thi. Chúng
chỉ nên được nới lỏng tương xứng với mức can thiệp của các công cụ kinh tế. Để hoàn thiện công
cụ này có thể tập trung vào một số điểm sau:
Tăng cường giám sát các giao dịch ngoại hối thông qua việc kiểm soát chặt hợp
đồng thanh toán ngoại tệ; đề ra mức phạt nặng đối với trường hợp kê khống giá của hợp đồng xuất
nhập khẩu và đối với các hành vi gian lận khác.
GVHD: PGS-TS. VŨ THỊ MINH HẰNG
Trang 20
Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
NHÓM 2 – NGÀY 1 K20
Duy trì công tác thanh tra, kiểm tra việc thực thi quy định về chế độ quản lý ngoại
hối hiện hành; cương quyết trừng phạt nặng không phân biệt thành phần kinh tế nếu xuất hiện
hành vi vi phạm.
Rà soát thường xuyên các văn bản pháp quy để cải tiến kịp thời
Năm là, nâng cao vị thế đồng tiền Việt Nam.
• Nội tệ mất uy tín, giá trị tất yếu sẽ làm thương tổn đến tích lũy, đầu tư nội địa, tăng
nguy cơ lạm phát, tạo điều kiện cho hội chứng “ngoại tệ hóa”. Thực trạng hiện nay cho thấy đang
có xu hướng đô la hóa trong nền kinh tế cũng như trong đời sống xã hội nước ta (nhiều người
thích sử dụng USD hơn VND trong giao dịch và kinh doanh, đầu tư). Vì vậy chính sách tỷ giá hối
đoái cũng cần được xây dựng và triển khại sao cho không ngừng nâng cao uy tín, vị thế của đồng
Việt Nam trong dân chúng cũng như trong nền kinh tế thế giới và từng bước thực hiện chuyển đổi
đồng Việt Nam sang các ngoại tệ khác một cách thận trọng để không gây ảnh hưởng xấu đến đồng
Việt Nam sau này.
• Có thể nâng cao sức mạnh cho đồng tiền Việt Nam bằng các giải pháp kích thích nền
kinh tế như: hiện đại hoá nền sản xuất trong nước, đẩy mạnh tốc độ cổ phần hóa doanh nghiệp quốc
doanh làm ăn thua lỗ, tăng cường thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, xây dựng chính sách thích
hợp để phát triển nông nghiệp, khuyến khích xuất khẩu, bài trừ tham nhũng …
Sáu là, một số giải pháp khác. Để đáp ứng được điều kiện của thời đại, chính sách tỷ giá
Việt Nam cần lưu ý thêm một số vấn đề sau:
1) Từng bước hoàn thiện thị trường ngoại hối Việt Nam để tạo điều kiện cho việc thực hiện
chính sách ngoại hối có hiệu qủa bằng cách mở rộng thị trường ngoại hối để các doanh nghiệp, các
định chế tài chính phi ngân hàng tham gia thị trường ngày một nhiều, tạo thị trường hoàn hảo hơn,
nhất là thị trường kỳ hạn và thị trường hoán chuyển để các đối tượng kinh doanh có liên quan đến
ngoại tệ tự bảo vệ mình.
2) Xem phá giá nhỏ như là một biện pháp kích thích xuất khẩu, giảm thâm hụt cán cân
thương mại. Trong điều kiện hiện nay, một chính sách giảm giá nhẹ đồng Việt Nam sẽ có thể tác
động tích cực trong việc cải thiện đồng thời cả cân bằng bên trong và cân bằng bên ngoài: khuyến
khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, sử dụng đầy đủ hơn các nguồn lực hiện có, làm tăng việc làm,
sản lượng và thu nhập của nền kinh tế, trong khi vẫn kềm chế được lạm phát ở mức thấp;…
GVHD: PGS-TS. VŨ THỊ MINH HẰNG
Trang 21
Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
NHÓM 2 – NGÀY 1 K20
KẾT LUẬN
Tỷ giá hối đoái, như các nhà kinh tế thường gọi là một loại giá của giá, bị chi phối bởi rất
nhiều yếu tố và rất khó nhận thức, xuất phát từ tính trừu tượng vốn có của bản thân nó. Tỷ giá hối
đoái không phải cái gì đó để ngắm, mà trái lại là cái người ta phải tiếp cận hàng ngày, hàng giờ,
sử dụng nó trong mọi giao dịch quốc tế. Việc xác định một chính sách tỷ giá phù hợp đối với từng
giai đoạn phát triển của một quốc gia có tác động rất lớn đến hoạt động thương mại quốc tế xuất
nhập khẩu hàng hóa, tốc độ tăng trưởng kinh tế, việc làm và lạm phát. Nền kinh tế Việt Nam đang
chuyển mình nhanh chóng theo hướng nền kinh tế hướng ngoại thông qua hàng loạt chính sách
khuyến khích đầu tư nước ngoài, do vậy tỷ giá hối đoái đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong
thanh toán quốc tế cũng như trong nhiều mặt của đời sống kinh tế-xã hội.
Trong những năm qua, Việt Nam đã có những bước đi đúng đắn trong việc thực hiện
chính sách tỷ giá, góp phần không nhỏ vào thành tựu tăng trưởng và ổn định kinh tế như: hạn chế
lạm phát, thực hiện mục tiêu hỗ trợ xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán, tạo điều kiện ổn định
ngân hàng, ổn định tiền tệ... Tuy nhiên trong điều kiện thực tiễn thay đổi nhanh chóng như hiện
nay, không có một chính sách nào có thể tồn tại mãi mà không có những bất cập. Do đó, các nhà
kinh tế không ngừng nghiên cứu để đưa ra các kiến nghị khác nhau nhằm xây dựng một chính
sách tỷ giá hối đoái hiệu quả cho nền kinh tế đất nước.
Trong khuôn khổ của bài tiểu luận nhỏ này, nhóm thực hiện nhằm mục đích hệ thống hóa
lại toàn bộ quá trình hình thành và phát triển chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam qua các thời
kỳ, tìm hiểu xu hướng biến động để từ đó đưa ra các ý kiến xây dựng nhỏ bé, góp phần làm hoàn
thiện thêm chính sách tỷ giá hối đoái cho phù hợp với tình hình đất nước hiện nay. Với những
thành công ban đầu trong thời gian qua kết hợp với kinh nghiệm của các nước đi trước, chúng ta
hoàn toàn tin tưởng Việt Nam sẽ thành công trong việc xác lập một chính sách tỷ giá linh hoạt và
phù hợp, góp phần đưa đất nước tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế trên trường quốc tế.
GVHD: PGS-TS. VŨ THỊ MINH HẰNG
Trang 22