Tải bản đầy đủ (.pdf) (63 trang)

điều tra hiện trạng canh tác xà lách xoong (nasturtium officinale r.br.) tại đông bình, bình minh, vĩnh long

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (994.58 KB, 63 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

NGUYỄN NGỌC HUYỀN

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC
XÀ LÁCH XOONG (Nasturtium officinale R.Br.) TẠI
ĐƠNG BÌNH, BÌNH MINH, VĨNH LONG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH NÔNG NGHIỆP SẠCH

Cần Thơ - 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Nguyễn Ngọc Huyền

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC
XÀ LÁCH XOONG (Nasturtium officinale R.Br.) TẠI
ĐƠNG BÌNH, BÌNH MINH, VĨNH LONG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH NÔNG NGHIỆP SẠCH

CÁN BỘ HƢỚNG DẪN
PGS. TS. Nguyễn Bảo Vệ
ThS. Bùi Thị Cẩm Hƣờng


Cần Thơ – 2012


TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Chứng nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài “ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH
TÁC XÀ LÁCH XOONG (Nasturtium officinale R.Br.) TẠI ĐƠNG BÌNH, BÌNH
MINH, VĨNH LONG” do sinh viên NGUYỄN NGỌC HUYỀN thực hiện và đề
nạp.
Ý kiến đánh giá của cán bộ hƣớng dẫn: --------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét.

Cần Thơ, ngày ….. tháng ….. năm 2012
Cán bộ hƣớng dẫn

PGS. TS. Nguyễn Bảo Vệ

ThS. Bùi Thị Cẩm Hƣờng

i


Luận văn tốt nghiệp kèm theo đây, với đề tựa là “ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG
CANH TÁC XÀ LÁCH XOONG (Nasturtium officinale R.Br.) TẠI ĐƠNG BÌNH,
BÌNH MINH, VĨNH LONG” do NGUYỄN NGỌC HUYỀN thực hiện và báo cáo,
đã đƣợc hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp thông qua.
Luận văn đƣợc đánh giá ở mức : --------------------------------------------------------Ý kiến Hội đồng : ---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2012
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG


ii


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết
quả trình bày trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai cơng bố trong bất kì
luận văn nào trƣớc đây.

Cần Thơ, ngày ….. tháng ….. năm 2012
Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Huyền

iii


LỜI CẢM TẠ
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Ba, mẹ và tất cả ngƣời thân trong gia đình đã ln chăm sóc, động viên tơi
trong suốt q trình học tập.
PGS. TS. Nguyễn Mỹ Hoa, ngƣời đã truyền cho tôi những kiến thức quý báo
trong học tập cũng nhƣ trong cuộc sống.
PGS. TS. Nguyễn Bảo Vệ và ThS. Bùi Thị Cẩm Hƣờng, ngƣời đã tận tình
hƣớng dẫn, cho tơi những lời khuyên hết sức bổ ích tạo điều kiện cho tơi hồn thành
tốt luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn
Q Thầy, Cô của khoa Nông Nghiệp & Sinh học ứng dụng trƣờng Đại học
Cần Thơ đã truyền đạt cho tôi những kiến thức q báo trong q trình học.
Các cơ, chú, anh, chị trong chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Vĩnh Long đã giúp

đỡ tôi thu thập những số liệu cần thiết để hoàn thành luận văn.
Tập thể các bạn sinh viên lớp Nơng Nghiệp Sạch khóa 34 trƣờng Đại học
Cần Thơ đã nhiệt tình hỗ trợ tơi trong thời gian thực hiện luận văn.
Xin trân trọng ghi nhớ và gửi lời cảm ơn chân thành tới bạn bè đã giúp đỡ,
tạo điều kiện cho tơi hồn thành luận văn.

iv


QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
I. LÝ LỊCH SƠ LƢỢC
 Họ và tên: Nguyễn Ngọc Huyền

Giới tính: Nữ

 Ngày, tháng, năm sinh: 07/05/1987

Dân tộc: Kinh

 Nơi sinh: Thạnh Trị – Tân Hiệp – Kiên Giang.
II. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
1. Tiểu học
 Thời gian học từ năm 1995 đến năm 2000
 Trƣờng Tiểu học Đông Thọ.
 Địa chỉ: Thạnh Trị - Tân Hiệp – Kiên Giang
2. Trung học cơ sở
 Thời gian học từ năm 2000 đến năm 2004
 Trƣờng Trung học cơ sở Thạnh Trị
 Địa chỉ: Thạnh Trị - Tân Hiệp – Kiên Giang
3. Trung học phổ thông

 Thời gian học từ năm 2004 đến năm 2007
 Trƣờng Trung học phổ thông Thạnh Đông
 Địa chỉ: Thạnh Trị - Tân Hiệp – Kiên Giang
4. Đại học
Trúng tuyển vào ngành Trồng trọt trƣờng Đại học Cần Thơ năm 2008 và học
chuyên ngành Nông Nghiệp Sạch.
Ngày …… tháng …… năm 2012

v


MỤC LỤC
NỘI DUNG

TRANG

Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ CỦA CÁN BỘ HƢỚNG DẪN

i

Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG

ii

LỜI CAM ĐOAN

iii

LỜI CẢM ƠN


iv

QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

v

MỤC LỤC

vi

DANH SÁCH HÌNH

x

DANH SÁCH BẢNG

xi

TĨM LƢỢC

xii

MỞ ĐẦU

1

CHƢƠNG 1: LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU

2


1.1 Khái quát sơ lƣợc về cây rau

2

1.2 Sự tăng trƣởng và phát triển của cây rau

2

1.2.1 Chu kỳ đời sống của cây rau

2

1.2.2 Sự tăng trƣởng và phát triển của rau

2

1.2.3 Tính ngủ nghỉ (miên trạng)

3

1.3 Vai trò dinh dƣỡng của cây rau

3

1.4 Ý nghĩa kinh tế và ý nghĩa xã hội của cây rau

4

1.5 Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam


5

1.6 Cây cải xà lách xoong

5

1.6.1 Nguồn gốc và phân bố

5

vi


1.6.2 Đặc tính thực vật

6

1.6.2.1 Rễ

6

1.6.2.2 Thân

6

1.6.2.3 Lá

6

1.6.2.4 Hoa


7

1.6.2.5 Trái và hạt

7

1.6.3 Giá trị của cải xà lách xoong

7

1.6.3.1 Giá trị dinh dƣỡng

7

1.6.3.2 Giá trị y học

7

1.6.4 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh

8

1.6.4.1 Nhiệt độ

8

1.6.4.2 Ánh sáng

8


1.6.4.3 Ẩm độ

9

1.6.4.4 Đất

10

1.6.4.5 Nƣớc

10

1.6.4.6 Chất dinh dƣỡng

11

1.6.5 Kỹ thuật canh tác

11

1.6.5.1 Chọn giống

11

1.6.5.2 Thời vụ

11

1.6.5.3 Làm đất


11

1.6.5.4 Bón phân

12

1.6.5.5 Chăm sóc

12

vii


1.6.5.6 Phòng trừ sâu bệnh hại phổ biến

12

1.6.5.7 Thu hoạch

13

1.6.5.8 Để giống

15

1.7 Sơ lƣợc về điều kiện tự nhiên huyện Bình Minh, Vĩnh Long
CHƢƠNG 2: PHƢƠNG TIỆN VÀ PHƢƠNG PHÁP
2.1 Phƣơng tiện


15
17
17

2.1.1 Thời gian và địa điểm

17

2.1.2 Khái quát đặc điểm vùng điều tra

17

2.2 Phƣơng pháp và nội dung điều tra

18

2.2.1 Phƣơng pháp

18

2.2.2 Nội dung điều tra

18

2.3 Phƣơng pháp xử lý số liệu

18

CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ THẢO LUẬN


19

3.1 Thông tin chung của các hộ

19

3.1.1 Tuổi

19

3.1.2 Kinh nghiệm trồng rau

20

3.1.3 Trình độ học vấn

20

3.1.4 Tham dự tập huấn sản xuất rau

21

3.1.5 Diện tích canh tác rau

22

3.2 Kỹ thuật canh tác

23


3.2.1 Thời vụ gieo trồng

23

viii


3.2.2 Chuẩn bị đất trồng

24

3.2.3 Giống

25

3.2.4 Phân bón

26

3.2.5 Cơng tác bảo vệ thực vật

32

3.2.5.1 Phòng trừ sâu hại

32

3.2.5.2 Phòng trừ bệnh hại

34


3.2.6 Chăm sóc

36

3.2.7 Thu hoạch và tiêu thụ

38

3.3 Hiệu quả kinh tế

42

CHƢƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

43

4.1 Kết luận

43

4.2 Đề nghị

43

PHỤ CHƢƠNG

44

TÀI LIỆU THAM KHẢO


47

ix


DANH SÁCH HÌNH
Hình
2.1

Tựa hình
Bản đồ địa giới hành chính huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh

Trang
18

Long
3.1

Phần trăm số hộ tham gia tập huấn của các hộ sản xuất xà

23

lách xoong tại Đông Bình, Bình Minh, Vĩnh Long
3.2

Phần trăm về loại phân bón sử dụng cho cải xà lách xoong

28


của các hộ tại Đơng Bình, Bình Minh, Vĩnh Long
3.3

Phần trăm số hộ theo bón lót đầu vụ xà lách xoong của các

29

hộ tại Đơng Bình, Bình Minh, Vĩnh Long
3.4

Phần trăm theo lƣợng lân (P2O5) bón cho xà lách xoong tại

32

Đơng Bình, Bình Minh, Vĩnh Long
3.5

Phần trăm số hộ theo lƣợng kali (K2O) bón cho cải xà lách

33

xoong tại Đơng Bình, Bình Minh, Vĩnh Long
3.6

Phần trăm sâu hại cải xà lách xoong tại Đông Bình, Bình

34

Minh, Vĩnh Long
3.7


Phần trăm số hộ sử dụng loại thuốc phịng trị bệnh trên cải

36

xà lách xoong tại Đơng Bình, Bình Minh, Vĩnh Long
3.8

Phần trăm số hộ theo cách tƣới nƣớc cho cải xà lách xoong

38

tại Đơng Bình, Bình Minh, Vĩnh Long
3.9

Phần trăm số hộ theo số lần tƣới cho xà lách xoong tại Đơng

39

Bình, Bình Minh, Vĩnh Long
3.10

Phần trăm số hộ theo thời gian thu hoạch cải xà lách xoong

40

lần đầu tại Đơng Bình, Bình Minh, Vĩnh Long
3.11

Phần trăm số hộ theo thời gian thu hoạch cải xà lách xoong


41

những lần tiếp theo tại Đơng Bình, Bình Minh, Vĩnh Long
3.12

Phần trăm số hộ theo sản lƣợng thu hoạch cải xà lách xoong
tại Đơng Bình, Bình Minh, Vĩnh Long

x

42


DANH SÁCH BẢNG
Tựa bảng

Bảng
3.1

Số hộ và phần trăm số hộ theo độ tuổi của các hộ tại Đơng Bình,
20

Bình Minh, Vĩnh Long
3.2

Số hộ và phần trăm số hộ theo kinh nghiệm trồng rau của các hộ
tại Đơng Bình, Bình Minh, Vĩnh Long

3.3


25

Số hộ và phần trăm số hộ theo lƣợng giống xà lách xoong đƣợc
sử dụng của các hộ tại Đơng Bình, Bình Minh, Vĩnh Long

3.7

35

Số hộ và phần trăm số hộ theo số lần làm cỏ cho cải xà lách
37

xoong tại Đơng Bình
3.12

35

Số hộ và Phần trăm số hộ theo loại bệnh xuất hiện trên cải xà
lách xoong tại Đơng Bình

3.11

31

Số hộ và Phần trăm số hộ theo loại thuốc phòng trừ sâu hại trên
cải xà lách xoong tại Đơng Bình, Bình Minh, Vĩnh Long

3.10


30

Số hộ và phần trăm số hộ về lƣợng đạm cung cấp cho cải xà lách
xoong tại Đơng Bình, Bình Minh, Vĩnh Long

3.9

27

Số hộ và phần trăm số hộ theo số lần bón phân cho cải xà lách
xoong tại Đơng Bình, Bình Minh, Vĩnh Long

3.8

24

Số hộ và phần trăm số hộ theo thời vụ gieo trồng tại Đơng Bình,
Bình Minh, Vĩnh Long

3.6

22

Số hộ và phần trăm số hộ theo diện tích canh tác rau của các hộ
tại Đơng Bình, Bình Minh, Vĩnh Long

3.5

21


Số hộ và phần trăm số hộ theo trình độ học vấn của các hộ tại
Đơng Bình, Bình Minh, Vĩnh Long

3.4

Trang

Phần trăm các loại chi phí trong sản xuất cải xà lách xoong của
43

các hộ nơng dân tại Đơng Bình

xi


NGUYỄN NGỌC HUYỀN, 2012. “ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC XÀ
LÁCH XOONG (Nasturtium officinale R.BR.) TẠI ĐƠNG BÌNH, BÌNH MINH,
VĨNH LONG”. Luận văn tốt nghiệp kỹ sƣ chuyên ngành Nông Nghiệp Sạch, trƣờng
Đại Học Cần Thơ. Cán bộ hƣớng dẫn: PGS. TS. NGUYỄN BẢO VỆ và ThS. BÙI
THỊ CẨM HƢỜNG.
TÓM LƢỢC
Đề tài “Điều tra hiện trạng canh tác xà lách xoong (Nasturtium officinale
R.Br.) tại Đơng Bình, Bình Minh, Vĩnh Long” đƣợc thực hiện từ tháng 9 năm 2011
đến tháng 5 năm 2012 nhằm mục tiêu: Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong
q trình sản xuất rau của Đơng Bình, Bình Minh, Vĩnh Long.
Chọn ngẫu nhiên 30 hộ có trồng xà lách xoong tại ấp Đơng Thuận và Đơng
Bình của xã Đơng Bình để điều tra bằng phƣơng pháp phỏng vấn trực tiếp theo mẫu
in sẵn.
Kết quả cho thấy có những thuận lợi sau: (1) 100% hộ đều lên liếp, đào rãnh, làm


cỏ, tƣới nƣớc và che mát khi trồng cải xà lách xoong; (2) Đa số chủ hộ nằm trong
tuổi lao động (30-40 tuổi chiếm 60,0%); (3) Các hộ có kinh nghiệm trồng rau màu
lâu năm, kinh nghiệm trung bình là 9,5 năm; những hộ có kinh nghiệm từ 10-20
năm chiếm tỷ lệ cao (56,0%); (4) Đa số các hộ có bón lót trƣớc khi trồng cải xà lách
xoong (80,0%); (5) Năng suất cải xà lách xoong tƣơng đối cao (7,97 tấn/ha)
Bên cạnh đó những khó khăn cần giải quyết nhƣ: (1) Trình độ học vấn của chủ
hộ còn thấp, đa số chỉ đạt cấp 1 (56,7%); (2) Nông hộ tham gia lớp tập huấn chiếm
tỷ lệ thấp (26,7%) (3) Diện tích canh tác nhỏ lẻ và khơng tập trung, đa số trong
khoảng 0,2-<0,4 ha (56,7%); (4) Thời vụ gieo xà lách xoong không tập trung mà rải
rác quanh năm; (5) Đa số hộ không sử dụng phân hữu cơ bón cho rau; (6) Thị
trƣờng tiêu thụ cịn hạn chế, chỉ bán cho thƣơng lái; (7) 100% nông hộ không đảm
bảo thời gian cách ly.

xii


MỞ ĐẦU
Huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long có thể nói đây là huyện có nền Nơng
nghiệp gắn bó từ rất lâu. Nơng nghiệp của huyện giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu
ngành kinh tế, tốc độ gia tăng giá trị sản lƣợng Nông nghiệp luôn ổn định. Trong
nhiều hoạt động Nơng nghiệp của huyện thì việc canh tác rau cũng đã góp phần
khơng nhỏ vào việc phát triển kinh tế. Thêm vào đó, rau cịn là thực phẩm khơng
thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của con ngƣời. Rau cung cấp nhiều loại vitamin và
khoáng chất cần thiết cho cơ thể mà các loại thực phẩm khác khơng có. Nhiều loại
rau cịn là những vị thuốc q đƣợc dân gian sử dụng để trị bệnh và cải xà lách
xoong cũng là một trong những loại rau có giá trị y học cao. Ngày nay, rau xà lách
xoong không chỉ đƣợc sản xuất để đáp ứng nhu cầu trong nƣớc mà còn là một mặt
hàng xuất khẩu mang lại nhiều ngoại tệ cho nhiều nƣớc trên thế giới.
Ở huyện Bình Minh nói riêng và cả nƣớc nói chung, những năm gần đây việc
trồng rau xà lách xoong có những bƣớc phát triển vƣợt bậc; nhiều cơng trình nghiên

cứu về xà lách xoong trong nhà lƣới hay canh tác theo hƣớng an toàn cũng đƣợc
tiến hành. Nhiều vùng sản xuất rau xà lách xoong chun canh qui mơ lớn đã đƣợc
hình thành với năng suất và sản lƣợng ngày càng đƣợc nâng cao. Xà lách xoong sản
xuất ra không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nƣớc mà còn xuất khẩu sang nhiều quốc
gia khác. Tuy nhiên, với tình hình dân số thế giới ngày càng tăng, việc đáp ứng đủ
nhu cầu về rau nói chung, cải xà lách xoong nói riêng cho ngƣời tiêu dùng là rất
khó. Tại một số vùng của huyện Bình Minh cũng đã đóng góp một số lƣợng xà lách
xoong không nhỏ cho cả nƣớc và để huyện có thể mở rộng hơn nữa mơ hình canh
tác xà lách xoong, sản phẩm có thể tiêu thụ ở các thị trƣờng cao cấp nhƣ nhà hàng,
khách sạn, siêu thị,… vì vậy đề tài: “Điều tra hiện trạng canh tác xà lách xoong
(Nasturtium officinale R.Br.) tại Đơng Bình, Bình Minh, Vĩnh Long” đƣợc thực hiện
nhằm bƣớc đầu đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong q trình canh tác xà
lách xoong của các hộ ở xã Đơng Bình, huyện Bình Minh, Vĩnh Long.

1


CHƢƠNG 1
LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Khái quát sơ lƣợc về cây rau
Hiện nay có hơn 200 lồi đƣợc liệt kê là rau cải, tuy nhiên trong sản xuất chỉ
trồng 70-80 lồi. Phần lớn các cây rau chính tập trung trong 5 họ sau: họ Hành tỏi
(Alliaceae), họ Cải (Crucifereae), họ Bầu bí (Cucurbitaceae), họ Đậu (Fabaceae),
họ Cà (Solanaceae) (Nguyễn Mạnh Chinh, 2007).
Theo Phạm Hồng Cúc và ctv. (2001), các cây rau trong cùng một họ không
phải luôn luôn canh tác cùng phƣơng pháp hoặc sử dụng làm thực phẩm nhƣ nhau.
Do đó, trong sản xuất thƣờng chú trọng cách xếp nhóm rau theo bộ phận sử dụng.
Theo cách phân loại này gồm có các nhóm nhƣ rau ăn lá, rau ăn hoa, rau ăn trái, rau
ăn củ và rau gia vị. Cây rau đƣợc phân loại theo chu kỳ sống của chúng gồm có rau
hàng năm, rau hai năm và rau nhiều năm (Tạ Thu Cúc, 2005).

1.2 Sự tăng trƣởng và phát triển của cây rau
1.2.1 Chu kỳ đời sống của cây rau
Chu kỳ đời sống hay tuổi thọ của cây là thời gian từ khi hạt bắt đầu nảy mầm
đến khi cây ra hoa, kết trái rồi chết tự nhiên. Theo định nghĩa này, rau có thể chia
làm ba nhóm gồm: rau hàng năm, rau hai năm và rau nhiều năm. Rau hàng năm là
những cây trổ hoa, mang trái một lần và hoàn tất chu kỳ sống trong một năm. Rau
hai năm cũng trổ hoa và mang trái một lần trong đời nhƣng hoàn tất chu kỳ sống
trong hai năm; năm đầu phát triển thân lá, năm thứ hai trổ hoa kết trái. Những cây
rau trổ hoa kết trái nhiều lần trong đời và sống nhiều năm gọi là rau nhiều năm. Hầu
hết các loại rau thƣờng không hoàn tất chu kỳ sống trong điều kiện ngoài đồng vì
rau đƣợc canh tác chủ yếu để làm rau ăn, mà phần này chủ yếu là thân, lá, hoa hay
trái còn non (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001).
1.2.2 Sự tăng trưởng và phát triển của rau
Theo Nguyễn Mạnh Chinh (2007), sự tăng trƣởng là sự gia tăng về kích
thƣớc và trọng lƣợng cây, nghĩa là những thay đổi về lƣợng. Sự phát triển là sự hình
thành các cơ quan sinh sản, ra hoa, đậu trái, là sự thay đổi về chất bên trong cây.

2


Đối với rau sử dụng cơ quan dinh dƣỡng nhƣ thân, lá, củ cần tạo điều kiện cho cây
phát triển mạnh thân, lá và hạn chế ra hoa. Đối với các cây rau ăn trái 1 năm nhƣ cà
chua, dƣa leo, bầu bí… cần tạo điều kiện để cây sinh trƣởng mạnh cho trái nhiều,
năng suất cao.
1.2.3 Tính ngủ nghỉ (miên trạng)
Trong suốt chu kỳ sống của cây rau có một giai đoạn tạm ngừng sinh trƣởng,
giai đoạn đó đƣợc gọi là giai đoạn ngủ nghỉ. Sự ngủ nghỉ có thể là do các điều kiện
ngoại cảnh khơng thích hợp cho sự sinh trƣởng nhƣ nhiệt độ, nƣớc, ánh sáng; hoặc
do các nguyên nhân sâu xa bên trong, chủ yếu là sự tích lũy một lƣợng lớn các chất
ức chế sinh trƣởng. Hiện tƣợng ngủ nghỉ thƣờng thấy ở hạt hoặc các cơ quan dự trữ

nhƣ rễ, củ, thân ngầm. Khi gặp điều kiện ngoại cảnh thích hợp hoặc khi các chất ức
chế giảm đến mức tối thiểu thì các bộ phận ngủ nghỉ sẽ trở lại sinh trƣởng (Nguyễn
Mạnh Chinh, 2007).
Theo Phạm Hồng Cúc và ctv. (2001), sự thay đổi mùa trong năm là nguyên
nhân làm cho cây rau có giai đoạn sống tích cực và giai đoạn ngủ nghỉ trong chu kỳ
sinh trƣởng. Cây hay cơ quan riêng lẻ của cây ngủ nghỉ để chống chịu với sự lạnh
giá của mùa đông và khô hạn trong mùa hè. Tính ngủ nghỉ là đặc tính riêng biệt của
các loại rau khác nhau. Đặc tính này giúp cho việc dự trữ hạt giống, cây giống hay
thực phẩm đƣợc dễ dàng.
1.3 Vai trò dinh dƣỡng của cây rau
Rau là thực phẩm không thể thiếu trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của con
ngƣời. Các bộ phận của cây rau nhƣ thân, lá, hoa, trái hoặc củ đƣợc sử dụng để chế
biến thành thực phẩm theo nhiều cách nhƣ ăn sống, luộc, xào, nấu, muối mặn, đóng
hộp, sấy khơ. Một số cây rau còn đƣợc chế biến thành kẹo, mức hoặc nƣớc giải khát
nhƣ bí đao, cà rốt, cà chua… (Nguyễn Mạnh Chinh, 2007).
Theo Phạm Hồng Cúc và ctv. (2001), thành phần của cây rau chứa từ 7095% nƣớc. Lƣợng chất bột đƣờng, chất đạm, chất béo trong rau không đáng kể so
với các loại thực phẩm khác nên rau không phải là thức ăn có giá trị năng lƣợng
cao. Tuy nhiên, rau là nguồn bổ sung vitamin và khoáng chất quan trọng nhất.

3


Trong rau chứa nhiều loại vitamin quan trọng nhƣ vitamin A, B, C, E,… mà các loại
thực phẩm khác không có hoặc có rất ít (Trần Khắc Thi và Nguyễn Cơng Hoan,
2005). Theo Nguyễn Mạnh Chinh (2007), thành phần khống chất trong rau chủ yếu
là kali, canxi, photpho, sắt, iốt… Các khoáng chất này rất cần thiết thƣờng ở dạng
ion kiềm, nên giúp trung hòa pH trong máu và dịch cơ thể. Theo Tạ Thu Cúc
(2005), chất xơ trong rau chiếm một khối lƣợng lớn, tuy khơng có giá trị về mặt
dinh dƣỡng nhƣng có tác dụng nhuận tràng và làm tăng khả năng tiêu hóa.
Một số loại rau có hàm lƣợng chất đạm cao nhƣ cải bixen, trái non đậu hịa

lan, bồ ngót và rau muống. Việc cung cấp chất đạm từ rau không quan trọng ở các
nƣớc phát triển nhƣng có ý nghĩa to lớn ở các nƣớc nghèo có tỉ lệ dân thiếu đạm cao
(Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001). Trong nhiều loại rau còn chứa những chất có tác
dụng dƣợc lý nhƣ chất phytoxit trong tỏi có tác dụng kháng sinh, vitamin U trong
cải bắp có thể làm lành các vết loét bao tử, chất paverin trong rau bồ ngót giúp an
thần hay cây hành dùng trị cảm lạnh và ăn khó tiêu (Nguyễn Mạnh Chinh, 2007).
1.4 Ý nghĩa kinh tế và ý nghĩa xã hội của cây rau
Theo Tạ Thu Cúc (2005), rau là loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao; cây
rau có thời gian sinh trƣởng ngắn nên có thể gieo trồng nhiều vụ trong năm, do đó
làm tăng sản lƣợng trên một đơn vị diện tích. Theo Phạm Hồng Cúc và ctv. (2001),
sản xuất rau chỉ chiếm 5-6% so với tổng sản lƣợng Nơng nghiệp. Tuy nhiên, lợi tức
trên diện tích từ sản xuất rau mang lại thƣờng rất cao. Lãi thuần và lợi tức ngày
công trồng cải bắp, cà chua hay dƣa leo thƣờng cao hơn trong lúa, bắp từ 3-6 lần.
Theo Nguyễn Mạnh Chinh (2007), lao động sử dụng cho trồng rau cao hơn trồng
lúa và bắp từ 2-4 lần. Kết quả điều tra của Viện Kinh tế Nông nghiệp năm 1996 ở
khu vực phía Bắc cũng tƣơng tự.
Theo Tạ Thu Cúc (2005), khi nghề sản xuất rau chuyên canh đƣợc mở rộng
sẽ có điều kiện sắp xếp lao động một cách hợp lý, giải quyết việc làm cho nông dân
trong những lúc nhàn rỗi. Phát triển ngành sản xuất rau cịn có điều kiện hỗ trợ đối
với các ngành nghề khác nhƣ đan sọt, giỏ, chế biến kinh doanh rau hay cung cấp
thức ăn cho chăn nuôi.

4


1.5 Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam
Theo Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng (2002), nghề trồng rau ở nƣớc ta ra
đời rất sớm, trƣớc cả nghề trồng lúa nƣớc. Nhƣng nƣớc ta chịu ảnh hƣởng của một
nền Nông nghiệp tự túc trong nhiều thế kỷ nên sự phát triển của ngành trồng rau
chƣa tƣơng xứng với tiềm năng tự nhiên và trình độ canh tác hiện có.

Theo ƣớc tính của các nhà dinh dƣỡng học, nhu cầu rau trong ngày của một
ngƣời trung bình 250-350 g (khoảng 7,5-10 kg/tháng). Ở nƣớc ta hiện nay, sản
lƣợng rau chỉ mới cung cấp đƣợc khoảng 180-200 g cho một ngƣời một ngày
(Nguyễn Mạnh Chinh, 2007).
Theo Thống kê năm 2004 diện tích trồng rau cả nƣớc ta khoảng 615 nghìn
hecta, chiếm gần 7% đất Nông nghiệp và 10% đất cây hàng năm. Năng suất trung
bình đạt 14,5 tấn/ha tƣơng đƣơng với sản lƣợng khoảng 8,8 triệu tấn (Trần Khắc
Thi và Nguyễn Công Hoan, 2005). Vùng sản xuất rau tập trung ở Đồng bằng sơng
Hồng với khoảng 30% diện tích và 35% sản lƣợng rau cả nƣớc, đây cũng là vùng
rau hàng hóa với nhiều loại rau ơn đới có khả năng xuất khẩu tốt nhƣ cải bắp, súp
lơ, su hào, cà rốt, măng tây, cà chua, hành tây, khoai tây,… Ở các tỉnh phía Nam
vùng rau tập trung chủ yếu ở Lâm Đồng (26.000 ha) và TP. Hồ Chí Minh (9.000
ha). Vùng rau luân canh với cây lƣơng thực đƣợc trồng chủ yếu tại các tỉnh phía
Bắc, Đồng bằng sơng Cửu Long và các tỉnh Đông Nam Bộ, đây là vùng rau hàng
hóa lớn cung cấp cho khu vực và xuất khẩu sang các nƣớc có mùa đơng lạnh khơng
trồng đƣợc rau (Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng, 2005). Theo Phạm Hồng Cúc
và ctv. (2001), sản xuất rau thƣờng tập trung vào vụ Đơng Xn vì điều kiện thời
tiết thuận lợi nên rau trồng vụ này thƣờng có sản lƣợng cao hơn những vụ khác
trong năm.
1.6 Cây cải xà lách xoong
1.6.1 Nguồn gốc và phân bố
Cải xà lách xoong có nguồn gốc ở Châu Âu; đƣợc trồng ở miền Nam nƣớc ta
cuối thế kỷ thứ XIX, sau đó lan dần ra phía Bắc và địa phƣơng khác (Võ Văn Chi,
2005). Theo Purseglove (1968), cải xà lách xoong có nguồn gốc ở nƣớc Anh hoặc ở
Bắc Âu, Trung Âu.

5


Theo Việt Hải (2011), ngày nay xà lách xoong đƣợc trồng ở phía Tây Châu

Á và Malaysia, Ấn Độ, Indonesia, Philippines... và phía Bắc Châu Phi. Ở Việt Nam,
cải xà lách xoong đƣợc trồng chủ yếu ở vùng cao, khí hậu mát mẻ nhƣ miền Bắc,
Đà Lạt. Ở ĐBSCL, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long là nơi trọng điểm trồng cải xà
lách xoong và có truyền thống từ lâu đời, cung cấp cho Đồng bằng sông Cửu Long
và cả thành phố Hồ Chí Minh. Ngồi ra, tỉnh An Giang, Cần Thơ cũng có trồng
nhƣng diện tích khơng đáng kể.
1.6.2 Đặc tính thực vật
Cải xà lách xoong từ tiếng Pháp là Cresson (Cresson de fontaine, cresson
d’eau), tên khoa học Nasturtium officinale R.Br. hay còn gọi là Rorippa nasturtiumaquaticum (L) Hayek ex Mansf hoặc Nasturtium aquaticum L. Karsten, thuộc họ
Thập Tự (Cruciferae), số lƣợng nhiễm sắc thể 2n = 32 (Trần Văn Lài và Lê Thị Hà,
2002).
1.6.2.1 Rễ
Xà lách xoong thuộc loại rễ chùm, có rễ phụ mọc ở đốt thân và phát triển
mạnh, có thể hút dinh dƣỡng. Nếu đem cấy riêng từng đoạn cùng với rễ phụ có thể
phát triển thành cây độc lập (Đƣờng Hồng Dật, 2003). Cây có hai loại rễ, rễ đâm
sâu giúp cây đứng vững và các rễ bất định mọc trên mặt nƣớc (Fennel, 2006). Cải
xà lách xoong sử dụng nhiều nƣớc và hút nƣớc ít do sự thẩm thấu qua rễ kém và
khơng có lông hút để hấp thu nƣớc hiệu quả (Trần Văn Lài và Lê Thị Hà, 2002).
1.6.2.2 Thân
Chiều dài thân của xà lách xoong từ 10-60 cm, thân bò, màu xanh lục. Thân
cải non, mềm yếu, xốp, đốt dài 1-6 cm, mỗi mắt có thể mọc ra một cành. Khi bị vị
nát, cây có vị hơi đắng và hắc (Đƣờng Hồng Dật, 2003).
1.6.2.3 Lá
Lá mọc so le, dạng kép lông chim có từ 3-9 lá chét, đƣờng kính tán lá khoảng
4-6 mm, chiều dài lá từ 13-18 mm. Lá chét hình trứng hoặc hình tim khơng đều,
ngun hay hơi khía tai bèo, màu xanh đậm, lá đỉnh to nhất (Purseglove, 1968).

1.6.2.4 Hoa

6



Hoa nhỏ trắng hoặc hơi trắng tía và mọc thành từng chùm ở đầu cành, mỗi
hoa gồm có bốn cánh (Đƣờng Hồng Dật, 2003). Mỗi chùm hoa đính trên cuống hoa
mọc ra từ các nách lá. Hoa thuộc loại lƣỡng tính, thụ phấn nhờ cơn trùng và cũng có
thể tự thụ (Fennel, 2006).
1.6.2.5 Trái và hạt
Trái giác, khi chín nứt theo 4 đƣờng dọc thành 2 mảnh vỏ, để giác cũ của bầu
mang hạt ở lại giữa quả. Giác có cuống ngắn, trong giác có nhiều hạt (Đƣờng Hồng
Dật, 2003). Cải xà lách xoong có thể trồng bằng hạt nhƣng sinh sản vơ tính là chủ
yếu (Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi, 1999).
1.6.3 Giá trị của cải xà lách xoong
1.6.3.1 Giá trị dinh dưỡng
Thành phần các chất trong cải xà lách xoong: calories (18 kcal), protein (2,4
g); beta-carotene: 2.016 mcg; vitamin A: 336 mcg (42%); vitamin B1: 0,13 mg
(9%); vitamin B6: 0,18 mg (9%); vitamin E: 1,17 mg (12%); vitamin K: 36 mcg
(18%); calcium: 136 mg (17%); iodine: 12 mcg (8%); sắt: 1,8 mg (13%);
magnesium: 12 mg (4%); manganese: 0,5 mg; phosphorus: 42 mg (5%); potassium:
184 mg; zinc: 0,6 mg(4%); cao hơn cà chua, táo, bông cải xanh. Cải xà lách xoong
cũng chứa nhiều vitamin C (40-50 mg), vitamin B2 (0,26 mg) và vitamin PP (1 mg)
(Al-Shehbaz & Price, 1998). Theo Hippocrates cải xà lách xoong ăn sống tốt hơn
nấu chín vì các chất có lợi trong cải xoong dễ bị vơ hiệu hóa bởi nhiệt độ cao.
1.6.3.2 Giá trị y học
Từ xƣa cải xà lách xoong đƣợc con ngƣời dùng để lọc máu và trị đau gan
(Al-Shehbaz & Price, 1998). Hippocrates - ông tổ ngành y, đã dùng cải xà lách
xoong để chữa các bệnh về đƣờng phổi, hen suyễn. Một số nƣớc dùng cải xà lách
xoong để điều trị bệnh nhân bị tiểu đƣờng và tim mạch…
Ông tổ ngành y – Hippocrates cho rằng đáng chú ý nhất là trong cải xà lách
xoong cịn có sự hiện diện của quercetin, là một hợp chất flavonoid có vai trò quan
trọng cho sự kháng viêm, đồng thời là một chất có chức năng chống dị ứng.

Quercetin cũng là chất chống oxy hóa, giúp loại bỏ các gốc tự do trong cơ thể. Do
đó, ăn thƣờng xuyên loại rau này sẽ chống oxy hóa và lão hóa bệnh lý và có một số

7


nghiên cứu khác tại Đại học Ulster (Anh) kết luận trong cải xà lách xoong có chứa
phenyl ethyl isothiocyanate (PEITC), hợp chất có khả năng ngăn chặn các q trình
gây tổn hại DNA trong bạch cầu. Nhờ đó, cải xà lách xoong có khả năng kháng ung
thƣ (Al-Shehbaz & Price, 1998).
1.6.4 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh
1.6.4.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất ảnh hƣởng đến sinh trƣởng và phát triển
của rau (Phạm Hồng Cúc và ctv, 2001). Mỗi loại rau đều sinh trƣởng và phát triển
nhanh nhất ở một nhiệt độ thích hợp gọi là khung nhiệt tối thích. Trong khung nhiệt
này, quang hợp và hơ hấp xảy ra với một tỷ lệ tạo năng suất thƣơng phẩm cao nhất
(Trần Văn Lài và Lê Thị Hà, 2002).
Cải xà lách xoong có thể chịu đựng đƣợc sƣơng giá và nhiệt độ thấp -150C
(Fennel, 2006). Theo Jeavons (1991), rau họ Thập Tự có giới hạn nhiệt độ bình
thƣờng là 40-750F (5-240C) và tối hảo là 60-650F (15-190C). Đối với cải xà lách
xoong, nhiệt độ tối hảo là 15-200C (Đƣờng Hồng Dật, 2003). Nghiên cứu ở Hawaii
cho rằng, nhiệt độ khơng khí tối hảo ban ngày là 21-290C thì cải xà lách xoong sinh
trƣởng tốt nhất (McHugh và ctv, 1981). Theo Morgan (2002), để cải xoong sinh
trƣởng tối hảo cần đáp ứng hai điều kiện để là nhiệt độ dịng nƣớc từ 12-200C cùng
nhiệt độ khơng khí ban ngày từ 20-260C và 15-200C vào ban đêm sẽ cho năng suất
từ 1,5-2,0 kg/m2/tháng (15-20 tấn/ha). Tuy nhiên vào mùa đông cƣờng độ ánh sáng
thấp chỉ 0,5 kg/m2/tháng (trung bình từ 1-1,6 kg/m2/tháng).
1.6.4.2 Ánh sáng
Ánh sáng mặt trời là nguồn năng lƣợng vô tận giúp cây xanh quang tổng hợp
(Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001). Rau nhạy cảm đối với sự thay đổi của thành phần

ánh sáng, cƣờng độ ánh sáng và thời gian chiếu sáng (Trần Thị Ba và ctv., 1999).
* Thành phần ánh sáng
Thành phần ánh sáng ảnh hƣởng lên sinh trƣởng, phát triển và phẩm chất cây
rau. Trong đó, bức xạ trơng thấy có bƣớc sóng 400-660 nm đƣợc cây hấp thu để
tham gia phản ứng quang hóa (Đồn Văn Điếm và ctv., 2005). Tia cực tím làn sóng
dài thúc đẩy q trình trao đổi chất; tia hồng ngoại làm tăng nhiệt độ mặt đất và

8


khơng khí rất cần thiết với cây trồng (Trần Thị Ba và ctv., 1999) hoặc với liều lƣợng
ít sẽ kích thích chiều cao thực vật (Đồn Văn Điếm và ctv., 2005). Rau ƣa ánh sáng
khuếch tán hơn trực tiếp (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001).
* Cƣờng độ ánh sáng
Cƣờng độ ánh sáng cũng rất quan trọng đối với sinh trƣởng và phát triển của
rau. Khi cƣờng độ ánh sáng mạnh lá tiếp nhận nhiều năng lƣợng. Tuy nhiên, cƣờng
độ ánh sáng quá cao lá không thể sử dụng tất cả năng lƣợng mặt trời hoặc trời âm u
thì năng lƣợng không đủ cung cấp cho cây (Mai Thị Phƣơng Anh và ctv., 1996).
Theo Tạ Thu Cúc (2005), cƣờng độ ánh sáng thay đổi theo vĩ độ, theo thời
vụ, theo mùa. Cƣờng độ ánh sáng khoảng 20.000-40.000 lux là thỏa mãn với tất cả
các loại rau (Mai Thị Phƣơng Anh và ctv., 1996). Ở phần lớn cây rau cƣờng độ
chiếu sáng tối hảo khoảng 20.000-34.000 lux (Trần Thị Ba và ctv., 1999).
Năng suất của cải xà lách xoong gắn liền với lƣợng ánh sáng mặt trời nhận
đƣợc (cal/cm2) trong suốt vụ. Khi bức xạ mặt trời từ 20.000-30.000 cal/cm2 thì năng
suất cải xà lách xoong dao động cao nhất trong vụ từ 0,25-0,27 lb/ft2 (tƣơng đƣơng
11-13 tấn/ha) (Kobayashi & McHugh, 1987).
* Thời gian chiếu sáng
Theo Mai Thị Phƣơng Anh và ctv. (1996), thời gian chiếu sáng là nhân tố
quan trọng ảnh hƣởng đến sự phát triển của một số loại rau. Thời gian chiếu sáng
dài, lƣợng carbohydrate tạo ra trong quang hợp lớn hơn khi chiếu sáng ngắn, vì vậy

lƣợng carbohydrate đủ cho sinh trƣởng và phát triển.
Cải xà lách xoong thích đƣợc chiếu sáng đầy đủ (Schippers, 2004). Ở các
nƣớc gần xích đạo, cải xà lách xoong hiếm khi ra hoa. Cây chỉ ra hoa trong điều
kiện ngày dài hay khi lƣợng nƣớc chảy qua rễ cây bị ứ đọng và nhất là khi nƣớc cạn
khô và đất khô ráo (Kendrick & Drost, 2008).
1.6.4.3 Ẩm độ
Ẩm độ trong khơng khí cũng giống nhƣ trong đất đều tác động đến sinh
trƣởng của rau. Ẩm độ có vai trị trong phân chia, duy trì và phát triển tế bào. Khi
đủ nƣớc, tế bào phát triển tăng do cây sinh trƣởng nhanh. Khi lƣợng nƣớc hạn chế,
các q trình sinh lý sinh hóa giảm, sự tích lũy carbohydrate bị hạn chế, kết quả là

9


năng suất giảm (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001). Rau cải ƣa ẩm độ khơng khí cao
trong thời kì sinh trƣởng (khoảng 85-90 % hoặc 95 %) (Tạ Thu Cúc, 2005). Cải xà
lách xoong là cây thích sống trong nƣớc hoặc đất có độ ẩm cao, do đó cây cần đƣợc
tƣới nƣớc thƣờng xuyên (Đƣờng Hồng Dật, 2003).
1.6.4.4 Đất
Cải xà lách xoong thích sống ở nơi nhiều đất bùn, đất thịt, nơi có nƣớc trong,
chảy nhẹ và thƣờng xuyên, ngập nƣớc từ 4-5 cm (Purseglove, 1968). Cây không
sống đƣợc trên đất phèn, đất mặn (Đƣờng Hồng Dật, 2003). Ngoài ra, EC trong đất
dao động từ 1,6-2,0 là thích hợp nhất để trồng cải xoong (Fennel, 2006) và pH đất
thích hợp là 6,5-7,5 (Kendrick & Drost, 2008).
* Nhiệt độ đất
Nhiệt độ đất quyết định sự hấp thu nƣớc và dinh dƣỡng của rễ (Tạ Thu Cúc,
2005). Nhiệt độ đất tăng thúc đẩy bốc thoát hơi nƣớc, tạo áp lực vận chuyển nƣớc,
dinh dƣỡng và tăng cƣờng trao đổi chất trong cây (Đoàn Văn Điếm và ctv., 2005).
Nhiệt độ đất thấp ảnh hƣởng đến mức độ ăn sâu của rễ; nhiệt độ đất cao rễ bị lão
hóa, làm giảm bề mặt và tốc độ hút nƣớc của rễ. Nhiều loại rau hút nƣớc thuận lợi

khi nhiệt độ đất khoảng 200C (Tạ Thu Cúc, 2005).
* Các loại đất
Theo Tạ Thu Cúc (2005), các loại đất phù hợp sản xuất rau là: đất thịt pha
cát, đất thịt nhẹ, đất thịt mịn, thịt pha sét và phù sa ven sông (Trần Thị Ba và ctv.,
1999). Theo Trần Văn Lài và Lê Thị Hà (2002), đất cát pha thích hợp cho trồng rau
vì có hỗn hợp cát và sét phù hợp, giữ nƣớc và dinh dƣỡng tốt.
1.6.4.5 Nước
Nƣớc có ý nghĩa rất lớn trong đời sống cây rau vì nó chiếm từ 75-97 %. Do
đó, nƣớc ảnh hƣởng trực tiếp đến năng suất và phẩm chất rau (Trần Văn Lài và Lê
Thị Hà, 2002). Nƣớc vận chuyển vật chất, duy trì độ căng tế bào trong cây (Trung
tâm UNESCO phổ biến kiến thức văn hóa giáo dục cộng đồng, 2005). Trong cải xà
lách xoong nƣớc chiếm 93,70% (Mai Thị Phƣơng Anh và ctv., 1996). Nhiệt độ dịng
nƣớc nơi trồng cải xà lách xoong thích hợp từ 10-11,50C. Hàm lƣợng các chất cơ
bản trong dòng nƣớc ở suối đá vôi nơi trồng cải xà lách xoong lâu đời ở Anh quốc

10


nhƣ: nitrate (8 ppm); phosphorus (0,01 ppm); potassium (0,9 ppm) (Fennel, 2006).
Nhiệt độ nƣớc trên 25,50C làm cây chậm phát triển (McHugh và ctv., 1981).
1.6.4.6 Chất dinh dưỡng
Rau cần lƣợng dinh dƣỡng rất lớn, chủ yếu là đạm, lân, kali và vi lƣợng (Mai
Thị Phƣơng Anh và ctv., 1996); chủ yếu đƣợc cung cấp từ phân hữu cơ và vô cơ
(Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi, 1999). Chất hữu cơ giúp cải thiện thành
phần vật lý và kích thích vi sinh vật hoạt động (Trần Văn Lài và Lê Thị Hà, 2002).
Cải xà lách xoong khơng địi hỏi nhu cầu về dinh dƣỡng cao. Tuy nhiên
trồng cải xà lách xoong thì khơng thể thiếu lân, kali và sắt. Triệu chứng thiếu lân: lá
xanh đậm, cây còi cọc. Thiếu kali: các lá già ở gốc bị vàng. Thiếu sắt thƣờng biểu ở
gân lá và bề mặt lá bị vàng. Hòa tan phân với nƣớc theo hàm lƣợng dinh dƣỡng
khuyến cáo đối với từng trƣờng hợp (Kendrick & Drost, 2008).

1.6.5 Kỹ thuật canh tác
1.6.5.1 Chọn giống
Giống canh tác chủ yếu là giống địa phƣơng, khả năng chống chịu sâu bệnh
và chịu nhiệt cao, năng suất ổn định, có phẩm chất ngon (Mai Thị Phƣơng Anh và
ctv., 1996).
1.6.5.2 Thời vụ
Cải xà lách xoong đƣợc trồng quanh năm, mùa thuân là trồng từ tháng 10
đến tháng 12 dƣơng lịch, trồng tháng 10 có thể thu đến tháng 3 – tháng 4 năm sau
(Mai Thị Phƣơng Anh và ctv., 1996).
1.6.5.3 Làm đất
Trƣớc khi trồng cải đất đƣợc cày bừa, làm nhuyễn, bón phân mục 25-30
tấn/ha (Đƣờng Hồng Dật, 2003). Ở ĐBSCL, khi trồng mới chọn đất nhiều mùn,
không phèn mặn, pH từ 6-7. Theo Trần Thị Ba (2007), lên liếp chìm rộng 2-2,2 m,
lối đi rộng 40 cm cao hơn mặt liếp 20 cm, có rãnh thốt nƣớc. Phơi khơ đất 1-2 tuần
để diệt mầm bệnh. Trƣớc khi đem cải đi trồng, cho nƣớc vào đánh bùn rồi cấy
giống, khoảng cách 5 x 5 cm, đè nhẹ và rút cạn nƣớc cho rau phát triển. Khi trồng
cải gốc phải vệ sinh đồng ruộng sau thu hoạch và rải thêm đất mới (giàu chất hữu
cơ, khô, nhuyễn) cung cấp đất cho lứa cải sau phát triển.

11


×