Tải bản đầy đủ (.pdf) (499 trang)

TOÀN CẦU HOÁ DU LỊCH VÀ ĐỊA PHƯƠNG HOÁ DU LỊCH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (10.67 MB, 499 trang )

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC TẾ
PROCEEDINGS OF THE INTERNATIONAL CONFERENCE ON

TOÀN CẦU HOÁ DU LỊCH
VÀ ĐỊA PHƯƠNG HOÁ DU LỊCH
TOURISM GLOBALIZATION
AND TOURISM LOCALIZATION

March, 2015
HOCHIMINH CITY, VIETNAM


BAN TỔ CHỨC/
CONFERENCE ORGANIZING COMMITTEE

Trường Đại học Charles de Gaulle – Lille 3 (Cộng hòa Pháp)/ Charles De
Gaulle University – Lille 3 (France):
Đại diện/ Represent GS.Lê Hữu Khóa
Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn/ The Sai Gon College
of Art, Cuture and Tourism:
Đại diện/ Represent: TS.Vũ Khắc Chương
BAN BIÊN TẬP/
EDITORIAL COMMITTEE
Trưởng ban/ Chairman:
TS.Vũ Khắc Chương - GS.TS Lê Hữu Khóa
Thành viên/ Member:
TSKH. NSƯT Nguyễn Văn Khánh, PGS.TS.Đặng Ngọc Lệ,
PGS.TS.Đoàn Lê Giang, TS.Phan Mạnh Hùng


MỤC LỤC


TABLE OF CONTENTS

1.

Vũ Khắc Chương

Diễn văn khai mạc và báo cáo đề dẫn hội thảo “Toàn cầu
hoá du lịch và địa phương hoá du lịch” (Opening speech
and presentation - Globalization and Localization In
Tourism) ................................................................................

TOÀN CẦU HOÁ VÀ ĐỊA PHƯƠNG HÓA DU LỊCH –
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
GLOBALIZATION AND LOCALIZATION IN TOURISM – THEORICAL ISSUES
2.

Le Huu Khoa

Du lịch bền vững hay Du lịch có hậu (Sustainable tourism
or stable tourism) ..................................................................

3.

Gille Ferréol

Đa dạng văn hoá, du lịch sinh thái và giá trị di sản: vấn đề
cụ thể của vùng Madagascar (Cultural Diversity, EcoTourism and Heritage valorisation. The example of the
Madagascar) .........................................................................

4.


Jacques Barou

Vấn đề thách thức của du lịch văn hoá: những trải nghiệm
tương phản của một khu vực ở miền đông Senegal
(Chellenges of cultural tourism: Contrasting Experiences of
a Region in Oriental Senegal) ...............................................

TOÀN CẦU HOÁ - ĐỊA PHƯƠNG HOÁ DU LỊCH
VÀ DU LỊCH VIỆT NAM
GLOBALIZATION AND LOCALIZATION IN TOURISM
AND VIETNAMESE TOURISM
5.

Hà Văn Siêu

6.

Trương Nam Thắng

7.

Prak Chandara

Du lịch nông thôn với toàn cầu và phát triển kinh tế địa
phương: cơ hội và thách thức (Rural Tourism in the context
of globalization and Local Economic Development:
Opportunities and Challenging ). .........................................
Đào tạo nghề du lịch ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu
hóa MRA và xu hướng toàn cầu hóa (Vocational Training

of Tourism in Vietnam in the context of Globalization). ......
Du lịch Campuchia trước nhu cầu toàn cầu hóa (measures
for development cambodia travel) ........................................


8.

Lã Quốc Khánh

Du lịch thành phố Hồ Chí Minh trong xu hướng toàn cầu
hóa và địa phương hóa (Ho Chi Minh city tourism in the
trend of globalization and localization) ................................

9.

Kiều Thị Vân Anh

Du lịch Sinh thái và đối sách phát triển du lịch bền vững
(Eco-tourism and A Policy For The Development of
Sustainable Tourism) .............................................................

10.

Đoàn Mạnh Cương

Phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam trong sự cạnh tranh
với các nước trong khu vực ASEAN (Developping
Sustainable Tourism In Vietnam in the framework of a
Competitiveness within ASEAN Countries) ...........................


11.

Vũ Mạnh Cường

Quan sát sự cạnh tranh của ngành du lịch trong bối cảnh hội
nhập cộng đồng kinh tế thuộc khu vực Châu Á Thái Bình
Dương trong năm 2015 (Observation on The
Competitiveness of Tourism in the Context of The
Integration into APEC in 2015) .............................................

12.

Vũ Khắc Chương

Du lịch Việt Nam trong thời kỳ toàn cầu hóa: cơ hội và
thách thức (Vietnamese Tourism in the Era of Globalization
– Opportunities and Challenges) ...........................................

13.

Dương Hồng Hạnh

Du lịch văn hóa Việt Nam trong thời kỳ toàn cầu hóa
(Vietnamese Cultural Tourism in the Context of
Globalization) ........................................................................

14.

Nguyễn Thị Vân Hạnh


Du lịch vì người nghèo – hướng phát triển mới cho du lịch
Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa (Tourism for The
Poors – New Trends of Development for Vietnamese
Tourism in the Context of Globalization) ..............................

15.

Vũ Gia Hiền

Năm phạm trù, mười quy luật phát triển du lịch (Five
Categories and Ten Laws Governing Development in
Tourism).................................................................................

16.

Phan Thị Thu Hiền

Quá trình hình thành, phát triển và quang phổ của những
hình thức du lịch văn học (từ kinh nghiệm thực tiễn các
nước Âu Mỹ và Hàn Quốc) (Formation, Development and
Spectrum of Literary Tourism Forms (Experiences of the
Western Countries and South Korea) ....................................

17.

Nguyễn Minh Huân

Why the Choice of Vietnam as Destination by Foreign
Tourists (Các lựa chọn của khách quốc tế đến Việt Nam) ....


18.

Hoàng Ngọc Hùng

Du lịch võ thuật Việt Nam - thực trạng và giải pháp
(Vietnam Martial Arts Tourism - the Current Situation and
Solutions) ...............................................................................

19.

Trần Lương Công Khanh Một số thành tựu của ngành du lịch Pháp và bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam (Achievements of the French
Tourism and Lessons for Vietnam) ........................................

20.

Đặng Ngọc Lệ

Phát triển ngành du lịch Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu
hóa (Development of Vietnamese Tourism in the context of
Globalization) ........................................................................


21. Dương Hải Long - Trần Thị Tú Dung: Tại sao Việt Nam không trở thành điểm cạnh
tranh du lịch nhất Đông Nam Á? (Why Vietnam Cannot
Become A Tourist Destination the Most Competitive in
ASEAN) .................................................................................
22. Phạm Trung Lương

Phát triển du lịch Việt Nam trong bối cảnh hội nhập (The

Development of Vietnamese Tourism in the Context of
Global Integration) ...............................................................

23. Trần Quang Nam - Lê Thành Trung: Du lịch Việt Nam cần giải quyết thật tốt mối
quan hệ toàn cầu hóa và địa phương hóa để phát triển bền
vững (Vietnam tourism need to solve the relationship
between globalization and localization effectively in order
to gain sustainable development) ..........................................
24. Trần Thị Mai Nhân

Phân tích Swot về du lịch Thành phố Hồ Chí Minh trong
bối cảnh toàn cầu hóa và địa phương hóa du lịch (Ho Chi
Minh City tourism under SWOT in the context of
Globalization and Localization in Tourism) .........................

25. Trần Thị Mai Phước

Pháp luật du lịch Việt Nam trong toàn cầu hóa du lịch
(Laws on Vietnam Tourism within Globalization in
Tourism) ................................................................................

26. Trương Ngọc Quỳnh

Một vài nhận định về phát triển bền vững ngành du lịch
(Comments on the Sustainable Development in Tourism) ....

27. Nguyễn Hữu Sơn

Văn hóa du lịch trong xu thế hội nhập và phát triển - nhìn từ
vai trò chủ thể trong thể tài du ký người Việt đến nước Pháp

nửa đầu thế kỷ XX (Cultural tourism in the tendency of
integration and development, seen from the emigration of
Vietnam people to France in the first half of the 20th
century) .................................................................................

28. Huỳnh Quốc Thắng

Địa danh với toàn cầu hóa và địa phương hóa du lịch (Place
names with Tourism Globalization and Tourism
Localization ) ........................................................................

29. Võ Văn Tường

Chùa Việt Nam ở Mỹ - điểm đến du lịch mới (Vietnamese
Buddhist Pagoda in America – A New Tourist Destination )
...............................................................................................

30. Nguyễn Quốc Toàn

Khai thác thị trường khách du lịch Nhật Bản thành tựu và
một số vấn đề đặt ra (Achievements of Japanese tourists
market development and some related matters)....................

31. Nguyễn Thanh Tưởng

Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí
hậu đối với hoạt động du lịch (Method of Measurement
vulnerable climate change due to tourism activities) ...........

32. Lê Anh Tuấn


Bàn về phương thức huy động các nguồn lực để phát triển
du lịch Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa (Discussing
methods to mobilize resources with the view to develop
tourism of Vietnam in the context of globalization) ..............

33. Vũ Quốc Trí

Du lịch có trách nhiệm – Yêu cầu tất yếu của phát triển du
lịch tại Việt Nam trong xu hướng toàn cầu hóa (Responsible


tourism – indispensable requirements of the Vietnamese
Tourism Development in the trend of globalization) .............
TOÀN CẦU HOÁ VÀ ĐỊA PHƯƠNG HOÁ TRONG HOẠT ĐỘNG LỮ HÀNH
(KHU VỰC NAM BỘ)
GLOBALIZATION AND LOCALIZATION TOURISMIN IN TRAVEL ACTIVITIES
(SOUTH REGION)
34.

Trần Thi Ca - Nguyễn Như Bình: Làng nghề ở Huyện đảo Phú Quốc – Tỉnh Kiên
Giang: thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc khai
thác phục vụ phát triển du lịch (Trade Villages in the
district of Phu Quoc Island - Kien Giang: current situation
and the issues raised in the exploitation for tourism
development) ..........................................................................

35.

Nguyễn Văn Chất


Bảo tồn và phát huy các giá trị và di sản kiến trúc Pháp tại
thành phố Hồ Chí Minh (Conserving and promoting the
architectural heritage) ...........................................................

36.

Ngô Thị Kim Dung

Du lịch làng nghề đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh
toàn cầu hóa (Trade villages tourism in the Mekong River
Delta in the context of globalization) ....................................

37.

Nguyễn Ngọc Diệp

Bảo tồn và phát huy các lễ hội văn hoá đặc trưng của dân
tộc Khmer thông qua hoạt động du lịch trên địa bàn thành
phố Trà Vinh (Specific cultural festival conservation and
promotion of khmer ethnic group through tourism activities in
tra vinh city )...........................................................................

38.

Sơn Hồng Đức

Hình thành hoạt động kinh doanh du lịch ở Nam Bộ - thời
đầu Pháp thuộc (Early formation of tourism business in
South) .....................................................................................


39.

Mai Ngọc Khương

Doanh nghiệp lữ hành quốc tế của Việt Nam và mô hình
mối quan hệ thành công với các đối tác Thái Lan
(International travel companies of Viet Nam and their
successful partnership model with Thai Travel partners) .....

40.

Ngô Quang Láng

Du lịch đồng bằng sông Cửu Long, đặc trưng và hội nhập
(Mekong Delta tourism: Characteristics and integration) ...

41.

Trần Trọng Lễ - Võ Văn Thành: Chợ nổi - điểm tham quan độc đáo của đồng bằng
sông Cửu Long trong thời đại toàn cầu hóa du lịch
(Floating Market, the special attraction of the Mekong
Delta in the era of Tourism globalization) ............................

42.

Dương Hoàng Lộc

Đặc điểm và giá trị du lịch của âm thực Bến Tre qua ca dao,
dân ca (Characteristics and tourism values of cuisine in ben

tre through folk songs) ...........................................................

43.

Trần Hồng Liên

Du lịch văn hoá tâm linh Nam Bộ - một vài suy nghĩ
(Religious cultural tourism- some thoughts ) ........................

44.

Trịnh Xuân Thắng - Hà Thị Thùy Dương: Phát triển du lịch ở Thành phố Cần Thơ
trong bối cảnh toàn cầu hóa và địa phương hóa du lịch hiện
nay (Training tourism human resources in context of
tourism globalization in Vietnam today) ...............................


45. Nguyễn Ngọc Thơ

Du lịch sành điệu thời hậu hiện đại (Sophisticated tourism
in the post-modern period ) ...................................................

46. Phạm Thị Thuý Vinh

Du lịch đồng bằng sông Cửu Long: đặc trưng và hội nhập –
từ góc nhìn của các nhà du ký nửa đầu thế kỷ 20 (Tourism
Mekong Delta: Characteristics and integration - from the
point of view of traveller’s notes in the first half of the 20th
century notes in the first half of the 20th century) ................


TOÀN CẦU HOÁ VÀ ĐỊA PHƯƠNG HOÁ TRONG HOẠT ĐỘNG LỮ HÀNH
(KHU VỰC KHU VỰC BẮC BỘ VÀ TRUNG BỘ)
GLOBALIZATION AND LOCALIZATION TOURISMIN IN TRAVEL ACTIVITIES
(NORTH AND CENTRAL REGIONS)
47. Nguyễn Văn Chất - Dương Đức Minh: Xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù cho khu
vực phía nam tỉnh Lâm Đồng (Building typical tourism
products for the sourthern areas of Lam Dong) ...................
48. Mai Tiến Dũng

Du lịch Hà Nội và toàn cầu hóa (Hanoi Tourism in the
context of Globalization) .......................................................

49. Lê Tiến Dũng

Du lịch về miền trung qua những vần ca dao (Tourism in
the central of vietnam via vietnamese folk-songs) ................

50. Nguyễn Thị Kim Hoa

Thách thức của toàn cầu hóa đối với du lịch Hòa Bình
(Challenges of Globalization for Hoa Binh Tourism) ..........

51. Lê Hoằng Bá Huyền - Nguyễn Thị Thu Phương: Ecological tourism development
based on community in Pu Luong natural reserve - Thanh
Hoa province, Vietnam (Phát triển du lịch sinh thái tại khu
bảo tồn thiên nhiên Pu Lương – tỉnh Thanh Hóa, Viet Nam)
...............................................................................................
52. Nguyễn Văn Khánh

Đô thị hoá và địa phương hóa du lịch trên vùng đất Nha

Trang – Khánh Hòa (Tourism Globalization and Tourism
Localization in Nha Trang - Khanh Hoa) .............................

53. Đinh Thiện Phương

Sự sáng tạo trong du lịch biển Corpus Christi – Texas và
kinh nghiệm cho du lịch biển Ninh Thuận (The creation of
Corpus Christi – Texas sea tourism and experience to Ninh
Thuan Sea Tourism ) .............................................................

54. Nguyễn Quyết Thắng

Giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững tại một số
địa phương miền Trung – Việt Nam (Việt Nam Solution
forsustain ableeco tourism development of central tourism
region – Vietnam)..................................................................

55. Trịnh Thị Thu - Chris Ryan - Lê Quang Hùng: Liên kết các làng nghề truyền thống
trong phát triển du lịch di sản văn hóa tại Hội An và Đà
Nẵng (Associating with traditional villages in developing
cultural heritage tourism in Da Nang and Hoi An) ..............
56. Nguyễn Văn Thưởng - Nguyễn Thị Ngạn: Kết nối du lịch vùng miền bền vững:
trường hợp du lịch Nam Trung Bộ và Tây Nguyên


(Connecting sustainable regional tourism: the case of
tourism in the Central South and Central Highlands)...........
57.

Võ Thị Ánh Tuyết - Đào Vĩnh Hợp: Phát triển du lịch Hội An trong thời kỳ toàn cầu

hóa - tiềm năng và thách thức (Hoi An Tourism
Development in the context of the Globalization Potentialities and Challenges) ...............................................

58.

Lê Xuân Tiến

59.

Đoàn Văn Tín - Anna Funck: Interpretation of the cultural heritage role in a village
specialized in tourism: case of Droong village, Đong Giang
district, Quang Nam province (Giải thích vai trò di sản văn
hóa trong việc duy trì cộng đồng dựa vào du lịch: trường
hợp của bản Droong, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam)
...............................................................................................

60.

Nguyễn Thị Thanh Xuân - Trần Nhật Hải: Liên kết hoạt động du lịch khu vực Bắc
Trung Bộ - Nam Sông Hồng hướng đến phát triển bền vững
(Associating tourism activities in Central North with
Southern Red River towards sustainable development ) .......

61.

Phan Huy Xu

Những nỗ lực trong công tác bảo tồn và phát triển du lịch
tại khu di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn (Efforts tourism
preservation and development in the My Son world's

cultural heritage) ...................................................................

Du lịch Văn hóa Huế trong tiến trình toàn cầu hóa du lịch
và địa phương hóa du lịch (Hue cultural tourism in the
process of tourism globalization and tourism localization) ..

TOÀN CẦU HOÁ - ĐỊA PHƯƠNG HOÁ DU LỊCH
VÀ HOẠT ĐỘNG NHÀ HÀNG - KHÁCH SẠN, ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
GLOBALIZATION AND LOCALIZATION TOURISMIN AND RESTAURANT
ACTIVITIES – TRAINING HUMAN RESOURCES
62.

Hoàng Đức Đoàn

Solutions to improving the training quality of tourism
majored students of saodo university in the tendency of
globalization (Giải pháp để nâng cao chất lượng chuyên
ngành du lịch cho sinh viên trường Đại học Sao đỏ trong xu
thế toàn cầu hoá ) ..................................................................

63.

Đặng Hoàng Giang

Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực du lịch trong
bối cảnh toàn cầu hóa (Efforts tourism preservation and
development in the My Son world's cultural heritage) ..........

64.


Nguyễn Thị Huyên Hồng Lợi ích và rủi ro của các khách sạn và nhà hàng nhượng
quyền trong điều kiện toàn cầu hóa du lịch (Benefits and
risks of the hotels and restaurants in context of tourism
Globalization) ........................................................................

65.

Nguyễn Văn Lưu

Đào tạo, dạy nghề du lịch: tư duy toàn cầu và hành động địa
phương (Training, tourism vocational training: Global
thought and local action) .......................................................


66. Vũ Đức Minh - Dương Hồng Hạnh: Đào tạo và phát triển nhân lực ngành du lịch
trong giai đoạn đến năm 2020 (Human resources training
and development of tourism industry to the period of 2020)
...............................................................................................
67. Hãn Nguyên Nguyễn Nhã Ẩm thực Việt Nam: thực trạng và giải pháp cho phát triển
du lịch (Culinary tourism or sustainable tourism in
Vietnam: Current Situation and Solutions) ...........................
68. Vũ Hoài Phương

Công tác đào tạo nguồn nhân lực của trường Cao đẳng nghề
du lịch Huế trong bối cảnh toàn cầu hoá (The training of
human resources of Hue vocational tourism college in the
context of globalization)........................................................

69. Trịnh Xuân Thắng


Đào tạo nguồn nhân lực ngành du lịch trong bối cảnh toàn
cầu hóa du lịch ở Việt Nam hiện nay (Training tourism
human resources in the context of tourism globalization
Vietnam toda) ........................................................................

70. Đào Thị Diễm Trang

Một số khu du lịch nghỉ dưỡng phức hợp ở Việt Nam (so
sánh với một số nước Đông Nam Á) (Some complex resorts
in Vietnam (compared with some countries in Southeast
Asia) ......................................................................................

71. Phạm Thị Huyền Trang

Yếu tố giao văn hóa trong giảng dạy ngoại ngữ cho sinh
viên ngành du lịch (Cross-cultural factors in foreign
languages teaching for students of tourism major) ..............

72. Đặng Thanh Vũ

Nhân lực du lịch Việt Nam - cơ hội và thách thức trong
cộng đồng ASEAN 2015 (Vietnam Tourism human
resources - Opportunities and Challenges in the ASEAN
Community in 2015) ..............................................................

73. Kiều Anh Vũ

Đào tạo nhân lực ngành du lịch Việt Nam đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa và địa phương
hóa du lịch (Training Vietnam tourism human resources to

meet the economic development requirements in the context
of tourism globalization and tourism localization) ...............

74. Ban Tổ chức

Danh mục bài viết chưa in kỷ yếu .........................................



DIỄN VĂN KHAI MẠC VÀ BÁO CÁO ĐỀ DẪN HỘI THẢO
“TOÀN CẦU HÓA DU LỊCH VÀ ĐỊA PHƯƠNG HÓA DU LỊCH”
Tổ chức ngày 6 tháng 3 năm 2015
tại Trường Cao đẳng Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn
TS. Vũ Khắc Chương,
(Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Văn hóa-Nghệ thuật
và Du lịch Sài Gòn, Trưởng Ban Tổ chức)
Kính thưa Quý vị lãnh đạo, quý vị giáo sư và các nhà nghiên cứu,
Thưa các anh chị em NCS, HVCH và các em SV
Hôm nay, ngày 6 tháng 3 năm 2015, tại Trường Cao đẳng Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch Sài
Gòn diễn ra một sự kiện hết sức quan trọng: Hội thảo quốc tế Toàn cầu hóa du lịch và địa phương
hóa du lịch. Hội thảo được Trường Cao đẳng Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn và Trường Đại
học Charles de Gaulle - Lille 3 (Pháp) đồng tổ chức. Có thể coi đây là hoạt động khoa học quan trọng
mở đầu năm mới - một năm mới đầy hy vọng với những hoạt động tích cực, sôi nổi và hứa hẹn thành
công của Trường Cao đẳng Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn cũng như của tất cả chúng ta.

Tới tham dự Hội thảo lần này có Phó thủ tướng chính phủ - ông Nguyễn Xuân Phúc, Bộ
trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch – ông Hoàng Tuấn Anh, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo – ông Bùi Văn Ga, Tổng cục du lịch, Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và
các quý vị giáo sư, các nhà nghiên cứu, các nghệ sĩ, các nhà hoạt động văn hoá đến từ các
trường đại học, cao đẳng, các viện nghiên cứu và cơ quan văn hoá như: Viện Phát triển Du

lịch, Viện Văn học, Trường Đại học KHXH&NV-ĐHQG TP.HCM, Trường Đại học Văn hoá,
Trường Đại học Sài Gòn, Trường ĐH Tôn Đức Thắng, Trường ĐH Công nghệ TP.HCM, các
trường ĐH An Giang, ĐH Trà Vinh; các trường ĐH, cao đẳng ở Hà Nội, Hải Dương, Thanh
Hóa, Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Phú Yên, …Các vị đã dành thì giờ quý báu của mình đến
đây với những bài tham luận công phu, sâu sắc, mới mẻ - những tham luận ấy đã góp phần
quyết định thành công cho Hội thảo.
Đặc biệt là sự có mặt của ngài Thong Khon - Bộ trưởng Bộ du lịch Campuchia cùng các
cán bộ của ngành du lịch Campuchia.
Ban Tổ chức Hội thảo đã nhận được 113 tham luận từ Pháp và từ khắp ba miền Bắc - Trung Nam Việt Nam gửi tới. Từ 113 tham luận đó, Ban Tổ chức đã chọn ra hơn 70 tham luận để in toàn
văn trong Kỷ yếu, và 28 tham luận sẽ trình bày chính thức trong Hội thảo.
Thay mặt cho Ban Tổ chức và hai trường: Cao đẳng Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn và
Đại học Charles de Gaulle - Lille 3, tôi xin gửi lời chào mừng nồng nhiệt, lời cám ơn chân thành và
lời chúc sức khoẻ đến quý vị lãnh đạo, các nhà nghiên cứu, và tất cả các vị khách quý có mặt trong
buổi Hội thảo ngày hôm nay.
Kính thưa quý vị đại biểu,
Du lịch là ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế của các nước. Được hình thành từ rất
sớm, nhưng trong vài chục năm trở lại đây, du lịch toàn cầu đã phát triển như vũ bão. Bất cứ nơi đâu
tàu xe, thuyền bè, bàn chân con người có thể đi đến đều có thể trở thành các địa điểm du lịch. Từ các
thành phố hoa lệ, hiện đại như Paris, London, New York, Washington DC, Tokyo, Bắc Kinh… đến
các di tích cổ xưa như: Kim Tự Tháp, đấu trường La Mã, đền Taj Mahal, đền Angkor…; từ các bãi cát


trắng ở Địa Trung Hải, Đông Nam Á, Nam Phi đến các đỉnh núi cao Himalaya ở Nepal, Alaska ở
Mỹ…; từ các đồng bằng châu thổ phì nhiêu của sông Mississippi, sông Trường Giang, sông Mekong…
cho đến sa mạc khô cằn ở châu Phi, châu Úc… tất cả đều trở thành những điểm du lịch toàn cầu.
Thế giới ngày xưa, khi mà các quốc gia, các dân tộc còn tồn tại độc lập, khoa học kỹ thuật còn
yếu, việc di chuyển chủ yếu bằng các phương tiện thô sơ thì chưa thể có du lịch toàn cầu như một
ngành kinh tế. Từ khi khoa học kỹ thuật phát triển, các phương tiện cơ khí giúp con người có thể đi lại
mau chóng giữa các châu lục, thị trường hàng hóa quốc tế liên kết các quốc gia lại, từ đó quá trình toàn
cầu hóa mới bắt đầu, và du lịch toàn cầu mới thực sự bắt đầu.

Có thể nói, thị trường hàng hóa càng lớn mạnh, khoa học kỹ thuật càng phát triển, đời sống của
con người càng được nâng cao thì quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới nói chung và toàn cầu hóa du
lịch nói riêng càng phát triển.
Từ cuối thập niên 80, khi chiến tranh lạnh kết thúc, bức tường Berlin sụp đổ, thế giới không còn
chia thành hai phe đối đầu, xu hướng hòa bình, hợp tác, phát triển kinh tế để tạo nên sự thịnh vượng
chung, đã trở thành xu hướng chủ đạo trong quan hệ quốc tế, thì quá trình toàn cầu hóa du lịch phát
triển ngày càng mạnh. Có 3 nhân tố quan trọng góp phần làm gia tăng xu thế toàn cầu hóa và hội nhập
quốc tế: Thứ nhất, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã tạo ra mạng lưới thông tin toàn cầu, cùng với
nó là các hình thức giao dịch thương mại điện tử và hệ thống trụ sở lao động toàn cầu; Thứ hai, sự phát
triển mạnh mẽ của các công ty đa quốc gia tạo thành lực lượng chi phối toàn cầu; Thứ ba, các tổ chức
kinh tế, tài chính, thương mại quốc tế đóng vai trò thúc đẩy tiến trình toàn cầu hóa với ba trụ cột là
IMF, WB và WTO.
Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan không thể đảo ngược được. Thế giới càng ngày càng trở
nên nhỏ bé và mong manh. Chiến tranh, ô nhiễm môi trường, khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên, biến
đổi khí hậu, chủ nghĩa khủng bố và tội phạm có tổ chức… tất cả những vấn đề ấy diễn ra trong phạm
vi toàn cầu, không một nước nào có thể đứng ra ngoài để tự mình giải quyết được. Du lịch là ngành
hoạt động đặc biệt nhạy cảm với các vấn đề trên. Toàn cầu hóa du lịch đem đến những lợi ích to lớn:
quốc gia nào gia nhập quá trình này thì sẽ trở nên thịnh vượng và văn minh, quốc gia nào quay lưng lại
với nó thì nghèo đói và lạc hậu.
Toàn cần hóa du lịch không chỉ có nghĩa là du lịch toàn cầu, mà còn có nghĩa là phát triển du
lịch theo những tiêu chuẩn toàn cầu. Tiêu chuẩn toàn cầu thể hiện ở cung cách phục vụ, tiêu chuẩn
phòng ốc, thức ăn, nhưng quan trọng nhất chính là ở chỗ phải tôn trọng những giá trị chung, trong đó
thái độ với văn hóa và môi trường sinh thái là quan trọng nhất. Vì vậy toàn cầu hóa du lịch không có
nghĩa xóa mờ những đặc tính riêng biệt của mỗi nền văn hóa và mỗi vùng sinh quyển. Nhìn từ phương
diện văn hóa, toàn cầu hóa là quá trình xác lập những giá trị và chuẩn mực chung trên phạm vi toàn
cầu; nhưng toàn cầu hóa văn hóa cũng phải đi liền với việc khẳng định và bảo vệ các giá trị đặc thù
của mỗi nền văn hóa. Nhìn từ phương diện sinh thái, toàn cầu hóa du lịch tạo ra việc khám phá và
thưởng thức trên phạm vi toàn cầu các vùng sinh quyển, các sản vật địa phương khác nhau, điều ấy rất
dễ làm tổn thương các hệ sinh thái, và làm cạn kiện các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vì vậy toàn cầu
hóa du lịch cũng chính là tạo ra một tư duy toàn cầu về việc tôn trọng, giữ gìn, bảo vệ những giá trị

đặc thù của các nền văn hóa và các hệ sinh thái, cũng có nghĩa là tạo ra những động thái của việc phát
triển du lịch bền vững.
Đối với Việt Nam, trên quan điểm toàn cầu hóa du lịch và địa phương hóa du lịch mà nhìn nhận,
nước ta có nguồn tài nguyên du lịch hết sức phong phú:
Việt Nam có nhiều cảnh thiên nhiên đẹp, di sản vật thể, phi vật thể phong phú và quý giá trải
đều từ Bắc vào Nam. Đó là hồ Ba Bể, núi Bạch Mã, vịnh Bái Tử Long, đảo Cát Bà, Côn Đảo, rừng
quốc gia Cúc Phương, động Phong Nha - Kẻ Bàng, Tràm Chim Đồng Tháp, rừng ngập mặn U Minh…
Đó còn là những bãi tắm đẹp: Mỹ Khê, Nha Trang, Mũi Né, Vũng Tàu, Phú Quốc…; những suối nước
nóng rất tốt: Kim Bôi - Hòa Bình, Tháp Bà - Nha Trang, Bình Châu - Bà Rịa - Vũng Tàu…; những
vịnh đẹp nổi tiếng thế giới: vịnh Hạ Long, vịnh Lăng Cô, vịnh Vũng Rô, vịnh Nha Trang…


Việt Nam có lịch sử và văn hóa phong phú. Đó là những di tích, bảo tàng nổi tiếng như: khu di
tích đền Hùng, đền Cổ Loa, khu di tích Hoa Lư, phố cổ Hội An, tháp Chàm, địa đạo Vĩnh Mốc, địa đạo
Củ Chi, bảo tàng lịch sử Việt Nam, bảo tàng Cách mạng Việt Nam… Bên cạnh đó còn có nhiều di sản
vật thể, phi vật thể quý giá đã được Unesco công nhận như: Nhã nhạc cung đình Huế; Không gian văn
hóa Cồng Chiêng (Tây Nguyên); Dân ca Quan họ; Ca trù; Hội Gióng đền Phù Đổng và đền Sóc (Hà
Nội); Hát Xoan; Đờn ca tài tử Nam bộ; Ví dặm Nghệ Tĩnh; Quần thể di tích Cố đô Huế; Phố cổ Hội An;
Thánh địa Mỹ Sơn; Hoàng thành Thăng Long; Thành nhà Hồ…
Việt Nam có nhiều phong tục, lễ hội văn hóa độc đáo, nhiều làng nghề truyền thống và nền
ẩm thực đặc sắc. Mỗi năm nước ta có có hàng ngàn lễ hội lớn nhỏ diễn ra trên cả nước, đặc biệt vào dịp
Tết Nguyên đán. Các lễ hội lớn phải kể đến như: giỗ Tổ Hùng Vương, lễ hội Đền Hùng, hội Lim, lễ hội
Chùa Hương, lễ hội Đua Voi, hội Gióng… Việt Nam có những làng nghề truyền thống, được gìn giữ và
lưu truyền bao đời nay như gốm Bát Tràng, tranh Đông Hồ, chiếu Nga Sơn, đồ đồng Ngũ Xá, đồ gỗ
Đồng Kị, đồ gốm Đông Triều, lụa Vạn Phúc…
Việt Nam còn có một nền ẩm thực truyển thống với những món ăn đặc sắc thu hút sự quan tâm
của du khách.
Thế nhưng vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra với du lịch Việt Nam: du lịch Việt Nam vẫn chưa phát
triển đúng với tầm vóc và tiềm năng của nó. Làm thế nào du lịch Việt Nam đạt được những tiêu chuẩn
toàn cầu? Làm thế nào chúng ta cạnh tranh được với các nước trong khu vực hay xa hơn là các nước

trong các châu lục khác, để Việt Nam thự sự là “điểm đến toàn cầu”? Làm sao chúng ta giải quyết tốt
bài toán: phát triển hài hòa giữa tăng trưởng du lịch với giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc?
Hội thảo “Toàn cầu hóa và địa phương hóa du lịch” mở ra hôm nay, chúng tôi mong muốn quý
vị trình bày, thảo luận những vấn đề sau:
1)
Những vấn đề lý luận của toàn cầu hóa và địa phương hóa du lịch. Cần phải làm rõ hơn
về phương diện lý thuyết tính cần thiết, bản chất, quá trình của toàn cầu hóa du lịch; tính cần
thiết, nội dung, đặc điểm của địa phương hóa du lịch.
2)
Những vấn đề của toàn cầu hóa và địa phương hóa du lịch đối với Việt Nam như thế
nào? Việc phát huy thương hiệu du lịch Việt Nam, việc cạnh tranh và hợp tác trong du lịch Việt
Nam với các nước trong khu vực và nước khác trên thế giới như thế nào?
3)
Toàn cầu hóa và địa phương hóa du lịch trong hoạt động lữ hành ở Việt Nam qua 3
miền Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ như thế nào? Những di tích, danh thắng nào cần được đưa
vào khai thác du lịch? Khai thác làm sao cho hiệu quả? Những đặc trưng nào cho du lịch từng
vùng, miền, từng tỉnh và từng di tích, danh thắng cụ thể.
4)
Toàn cầu hóa và địa phương hóa du lịch thể hiện qua hoạt động nhà hàng khách sạn thế
nào? Ý kiến đánh giá thực sự của du khách nước ngoài đối với khách sạn, nhà hàng ở Việt
Nam? Những bài học kinh nghiệm nào trong quá khứ cũng như cũa các nước trong việc tổ
chức, điều hành hoạt động của các nhà hàng khách sạn? Làm thế nào để đưa món ăn Việt Nam
trở thành thương hiệu toàn cầu?
5)
Cuối cùng là vấn đề đào tạo nguồn nhân lực du lịch: làm thế nào để đáp ứng được yêu
cầu toàn cầu hóa và địa phương hóa du lịch. Làm thế nào để nâng cao chất lượng giảng dạy kỹ
năng hướng dẫn du lịch, phục vụ ở nhà hàng khách sạn? Làm sao để giảng dạy có hiệu quả
ngoại ngữ cho sinh viên ngành du lịch, không chỉ tiếng Anh mà còn cả các ngôn ngữ khác nữa?
Làm thế nào giải quyết được bài toán: nhân lực phục vụ cho ngành du lịch vừa thừa lại vừa
thiếu – sinh viên thất nghiệp nhiều, nhưng các công ty vẫn thiếu trầm trọng những sinh viên

được đào tạo bài bản, vừa có trình độ kỹ năng tốt, vừa có tác phong, thái độ làm việc chuyên
nghiệp.
Những vấn đề to lớn như trên không thể trả lời hết trong một Hội thảo như thế này, nhưng chúng
tôi vẫn mong muốn Hội thảo là dịp thúc đẩy tất cả chúng ta cùng suy nghĩ và cùng giải đáp. Đồng thời
Hội thảo cũng tạo ra mối liên kết giữa các nhà khoa học, nhà giáo, các nhà hoạt động văn hoá, du lịch
để chúng ta cùng nhau tiếp tục nghiên cứu và hành động trong tương lai.


Trước khi dứt lời, một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn quý vị lãnh đạo, quý vị giáo sư, các
nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động văn hóa, du lịch trong nước và nước ngoài đã quan tâm gửi bài và
dành thì giờ đến tham dự Hội thảo hôm nay.
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Charles de Gaulle - Lille 3 với tư cách là đơn vị phối
hợp đã cùng Trường chúng tôi chuẩn bị kịp thời và chu đáo cho Hội thảo này.
Tôi xin dành lời cám ơn sâu sắc đến quý vị lãnh đạo Bộ Thể thao, Văn hóa và Du lịch, quý vị
lãnh đạo ở TP. Hồ Chí Minh… đã đến tham dự Hội thảo. Sự hiện diện của quý vị khiến cho Hội thảo
thêm phần trang trọng.
Cuối cùng tôi chân thành cám ơn các giảng viên, nhân viên các phòng ban, trung tâm và các anh
chị sinh viên trong Trường đã góp sức chuẩn bị cho Hội thảo.
Xin cám ơn và chúc sức khoẻ quý vị. Chúc Hội thảo thành công tốt đẹp.

OPENING SPEECH AND GUIDELINE FOR THE CONFERENCE “TOURISM
GLOBANIZATION AND TOURISM LOCALIZATION”
organized on March 6th, 2015
at The Saigon College of Art Culture and Tourism (Saigon ACT)
By Vũ Khắc Chương, Ph.D.
Rector of Saigon ACT
Dear top officers, delegates and speakers,
Dear teachers and students,
Ladies and gentlemen,
Today, March 6th, 2015, at the Saigon College of Art Culture and Tourism (Saigon ACT)

takes place an important event: International Conference on Tourism Globanization and
Tourism Localization co-hosted by Saigon ACT and the University of Charles de Gaulle –
Lille 3 (France). It can be considered as a important scientific activity for starting a new year –
a year of hope with many active and exciting activities permitting more success to our Saigon
ACT and to all of us.
To attend this workshop we have a great honor to receive Your Excellency Nguyễn Xuân
Phúc, Vice Prime Minister; Your Excellency Hoàng Tuấn Anh, Minister of Culture, Sports and
Tourism; Your Excellency Bùi Văn Ga, Vice Minister of Education and Training; Ms. Nguyễn
Thị Hồng, Vice Chairwoman of Ho Chi Minh City’s People Committee, the representatives of
Tourism Department, of Ho Chi Minh City’s People Committee, and all the professors,
researchers, artists, cultural activists from many universities, colleges, research institutes and
cultural institutions such as the Institute for Tourism Development, Institute of Literature,
HCMC University of Social Sciences and Humanities, University of Culture, saigon
University, Tôn Đức Thắng University, HCMC University of Technology, An Giang
University, Trà Vinh Unviversity, Universities and Colleges from Hà nội, Hải Dương, Thanh
Hóa, huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Phú Yên…I am sure that you all devote your valuable time
to come here with your elaborate, profound and innovative presentations. For sure your such
presentations have contributed to the success of this workshop.
Especially we have the great honor to have with us Your Excellency Thong Khon,
Minister of Tourism of Campuchea.


The organizers of the workshop received 113 presentations from France and from all over
our country. Among 113 presentations, 70 of them were chosen to be printed in the summary
record of the conference, and 28 of which are officially presented in the conference.
On behalf of the Organizing Committee and our two schools, Saigon ACT and the
University of Charles de Gaulle – Lille 3 (France), I would like to convey our warm greetings,
our sincere thanks and our best wishes to all our distiguished guests, all researchers in this
conference.
Ladies and Gentlemen,

Tourism is an important economic sector in the national economy of every country.
Though it was formed long time ago, international travel has grown very rapidly since few
decades. Wherever trains and boats, automobiles and human feet come to, there can become a
tourist destination. From the magnificent and modern cities such as Paris, London, New York<
Washington D.C, Tokyo, Beijing…to ancient monuments like the Pyramids, the Roman arena,
the Taj Mahal, Angkor; from the white sandy beaches in Mediterranea, in South-East Asia,
South Africa to the mountain peaks of Himalaya in Nepal, of Alaska in the United States…;
from the fertile delta of the Mississippi, Yangtze, Mekong rivers…to the arid deserts of Africa,
Australia…all are now tourist destinations of the world.
The world in the ancient time, when every nation was still closed on itself, science and
technology were still very primary, then transportation was primitive, tourism could not be
developped as an economic sector as it is. With the development of science and technology,
automiblie means have helped people travel quickly from a continent to the other . The
commodities markets make all nations closer and nearer, and…globanization comes from
there, global travel has started in earnest.
We cannot be sure if globanization of the world’ s economy as a whole and then
globanization in tourism could work if the commodities markets did not go stronger, science
and technology did not get developped.
Since the later part of 1980’s, when the Cold War ended, the wall of Berlin collapsed, the
world has no longer two conflicting fronts, the trend of peace, cooperation and economic
development to form a common wealth, has become the mainstream in the international
relations, thanks to those factors, globanization in tourism has well developped. There are
three important factors contributing to push forward globalization and integration. First, the
scientific and technological revolution established well a global network of information, along
with it e-commerce and mobile offices expand on over the world. Second, the strong growth of
multinational companies forms the dominant global force in the world’s economy. Third,
international economic, financial and commercial organizations with the three pillars of IMF,
World Bank and WTO play an important role in advancing globalization.
Globalization is an objective and irreversible trend. The world becomes increasingly
small and fragile. Wars, pollution, over-exploitation of natural resources, climate change,

terrorism and organized crimes…all those problems occur in the global scope, no any single
country can live separately for solving them by itself. Tourism is very sensitive to those
problems. Globanization in tourism brings huge benefits: the involvement into globanization
will help a country to become prosperous and modern, the refusal to globanization will bring a
country to poverty and backwardness.


Globanization in tourism does not mean only global travel, but tourism must be
developped in a way of the international standards. International standards mean good
services, better rooms, good foods, but the most important thing is that people involving in
tourism must respect the common values, in which attitudes to cultures and ecological
environment is the the most important. Consequently tourism globalization does not mean
blurring the originality of a culture and a biopheric zone. From the point of view of culture,
globalization is the formation of common values and norms on a global scale. But cultural
globalization must go along with the affirmation and preservation of original values of every
culture. From an ecological point of view, tourism globalization pushes more discoveries of
new biospheres on the global scale, various local products; that could make ecosystem more
vulnerable and could deplete natural resources. So thinking globalization in tourism is also to
form a thinking on a global basis on respect, preservation and concervation of original values
of the cultures and the ecosystems, from that comes a sustainable tourism.
For Vietnam, on the point of view on tourism globalization and localization, she enjoys
very abundantly natural resources in service to tourism:
We have beautiful natural landscapes, various tangible and intangible heritages spread
from the North to the South of the whole country. They are Ba Bể lake, Bạch Mã Mountain,
Bái Tử Long Bay, Cát Bà Island, Côn Đảo Island, Cúc Phương National Park, Phong Nha-Kẻ
Bàng National Park, Tràm Chim Đồng Tháp, U Minh mangrove forests…also the beaches Mỹ
Khê Đà Nẵng, Nha Trang Khánh Hòa, Mũi Né Bình Thuận, Phú Quốc Kiên giang; they are hot
springs like Kim Bôi Hòa Bình, Tháp Bà Nha Trang, Bình Châu Bà rịa Vũng Tàu…they are
beautiful bays Hạ Long, Lăng Cô, Vũng Rô, Nha Trang…acclaimed on the world over.
Vietnam is rich in history and culture. They are famous monuments and museums like

Hùng King Temple, Cổ Loa Temple, Hội An ancient town, Chàm Tower, Vĩnh Mốc Tunnels,
Củ Chi Tunnels, Vietnam Historical Museum, Vietnam Revolutionary Meseum ... They are
also tangible and intangivle cultural heritages recognized by UNESCO like Huế Court Musics,
Space of Gong Culture (Highlands); Folk Quan Họ; Ca trù; Gióng Festival of Phù Đổng
temple and Sóc Temple in Hanoi; Xoan Singing; Amator Traditional Music of the South, Ví
Dặm in Nghệ Tĩnh, Huế Relics, Hội An ancient town, Mỹ Sơn Sanctuary, Imperial Citadel of
Thang Long, Hồ’s Citadel….
Vietnam is rich in customs and original cultural festivals; she has many traditional
vocational villages and specific cuisine. Every year we have big and small festivals to take
place everywhere in the country, particularly on the occasion of the Lunar New Year
festivities. The major festivals must be mentioned like the anniversary of Hùng King, Hùng
Kinh Temple Festival, Festivals in Lim, in Hương Pagoda, Elephant Race Festival, Gióng
Festival ... Vietnam h in traditional vocational villages, preserved until the present time like
Bat Trang ceramics village, Đông Hồ paintings, Nga Sơn Mat, Ngũ Xá Bronze, Đông Triều
Pottery, Vạn Phúc Silk ...
Vietnam also has a tradition cuisine with specific dishes attracting the attention of
tourists.
But there are still many issues posed to Vietnamese tourism: Regretfully Vietnamese
tourism has not developped itself as it is and it must be. How can Vietnamese tourism reach its
international level? How does Vietnamese tourism compete with other countries in the region
and with the countries in all over the world, in order to become a true tourist “destination” of
the globe? How can Vietnamese tourism solve this problem: to develop in a harmonious way
growth of tourism and preservation and promotion of our cultural identity?


Conference on "Tourism Globalization and Tourism Localization" today, we would like
you to present, discuss the following issues:
1) The theoretical issues of globalization and localization in tourism. It is important to
clarify its necessity, its nature, its own process of tourism globalization in terms od theory; its
necessity, its content, its characteristics of tourism localization.

2) What is the impact on Vietnamese tourism with globalization and localization in
tourism? How to promote Vietnam's tourism brand? What happens in terms of competition and
cooperation in tourist sector with other countries on over the world during globalization?
3) How to globalize and localize tourist travelling in three parts of the country, Northern,
Central and Southern parts? Which monuments, which landscapes to be exploited? How to
exploit them effectively? How to chose an originality in tourism for every proper part,
province, monument, landscape? These monuments, landscapes should be put into tourism?
4) How do globalization and localization in tourism materialize in hotels and reataurants
sector? Please don’t hesitate to give the assessments of tourists on Vietnamese hotels and
restaurants. Which lessons to be taken from the experiences of other countries in management
hotel and restaurant activity? How to bring Vietnamese foods as international brand?
5) The final issue is about human resource training in tourism: how to meet the
requirements of globalization and localization in tourism. How to improve the quality of
teaching on travel guiding skills, hotel and restaurant service? How to effectively teach foreign
languages to students of tourism, not only in English but also other languages? How to solve
the problem: human resources for the tourism industry: many people in tourist industry don’t
meet the professional skills, many graduated students could not find a job when many tourist
companies still to seek well trained in tourism?
All the above mentioned problems could not be for sure satisfied in a short workshop like
ours, but we’ d like to use this golden occasion of our workshop to promote the problems and
to find a same voice for an good answer to them. We hope that through this workshop,
scientists and professors, cultural activists and all of us continue our researches for our future
actions.
In taking to this opportunity, Iwould like once again to say thank you to our top officers,
professors, researchers, cultural activists leadership, your professors, researchers, activists,
cultural, all our friends for your contribution of your presentations and your attendance to the
workshop.
I would like to thank the University of Charles de Gaulle - Lille 3 as the co-organizer of
this workshop.
I would like to say thank you specially to the ministry of Sports, Culture and Tourism,

the officials from HCMC’ s People Committee. Your presence in the workshop is preciously
appreciated.
Finally I would like to sincerely thank all the teaching staff, the officers of Saigon ACT
departments and my students for your tiredless effort for the workshop.
Thank you and good health.
Every success to you and to our workshop.


TOÀN CẦU HOÁ - ĐỊA PHƯƠNG HOÁ DU LỊCH
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
GLOBALIZATION AND LOCALIZATION IN TOURISM –
THEORICAL ISSUES


ĐA DẠNG VĂN HÓA, DU LỊCH SINH THÁI VÀ GIÁ TRỊ DI SẢN:
VẤN ĐỀ CỤ THỂ CỦA VÙNG MADAGASCAR
Gilles FERRÉOL(*)
CULTURAL DIVERSITY, ECO-TOURISM AND HERITAGE VALORISATION
THE EXAMPLE OF THE MADAGASCAR
Abstract
In the twentieth century, tourism has become a factor of development in many countries around
the world. If at the beginning, this activity relied on the theme of “triple S”sea-sand-sun, especially in
countries “starting-up” in tourism, nowadays this tends to turn from “blue” to “green”.
The article presents the example of Madagascar covering its cultural diversity, eco-tourism
and cultural heritage preservation.
*
Vào thế kỷ XX, du lịch đã trở thành một yếu tố phát triển mạnh ở nhiều nước trên thế giới. Nếu
trước đây, lĩnh vực hoạt động này thiên về các vấn đề liên quan đến biển- cát-nắng, đặc biệt là ở các
quốc gia mới bắt đầu phát triển về du lịch. Tuy nhiên, các hình thức và giới thiệu quảng cáo của họ về
vấn này đã phát triển qua thời gian và du lịch, hiện nay có xu hướng là tìm hiểu về nông thôn. Nhu cầu

của thế giới bắt đầu thích "xanh của lá cây" hơn "màu xanh của nước biển".
Hơn nữa, các chính sách kinh tế và xã hội của một quốc gia ngày càng quan tâm hơn đến các
khía cạnh môi trường trong phát triển địa phương và khu vực của mình, và đi đầu trong các mục tiêu
quốc gia của mình. Du lịch sẽ được xem như là một cách để giới thiệu những vùng xa xôi của vùng
lãnh thổ này.
Để đối phó với sự suy giảm tính đa dạng sinh thái và bảo vệ các khu vực nông thôn từ những
tác động của du lịch đại chúng ở Madagascar, trong quá trình thúc đẩy "Madagascar phát triển một
cách tự nhiên", quyết định để thực hành du lịch sinh thái. Do vậy, đất nước có tiềm năng rất lớn, tạo
thành một điểm đến ưa thích cho hoạt động du dịch này,di sản thiên nhiên, di sản văn hoá hay nông
thôn là một phần tất yếu của du lịch sinh thái. Vào thời điểm khi mà ngày càng có nói nhiều vể việc
biến đổi khí hậu, vấn đề đặt ra là vai trò của du lịch sinh thái trong bảo tồn di sản này là gì. Điều gì có
thể tác động đến sự phát triển dân số địa phương hoặc khu vực?
Đầu tiên, chúng tôi trình bày bối cảnh chung của du lịch sinh thái ở Madagascar, sau khi có
khái niệm. Phần thứ hai sẽ là nội dung của thực trạng những địa danh này. Những tác động của hoạt
động này sẽ được phân tích như một phương sách cuối cùng.
BỐI CẢNH CHUNG CỦA DU LỊCH SINH THÁI
Theo Bộ Môi trường, Lâm Ngư nghiệp và Du lịch, du lịch sinh thái chiếm 55% hoạt động du
lịch ở Madagascar, theo bảng dưới đây.
Bảng 1: Phân bố các hoạt động du lịch ở Madagascar
Du lịch sinh
thái

(*)

Nắng và bãi
biển

hoạt động văn Thể thao và
hóa
chuyến phiêu

lưu

GS., Giám đốc Trung tâm Xã hội học Trường Đại học Besançon (Pháp).

khác


Tỷ lệ

55 %

19 %

15 %

8%

3%

Nguồn: Bộ Môi trường, Lâm Ngư nghiệp và du lịch.
Vậy, du lịch sinh thái nói lên điều gi?
A. Khái niệm về du lịch sinh thái
Theo Bộ sách bách khoa, du lịch sinh thái hay gọi là du lịch xanh là một loại hình du lịch bền
vững, tập trung hơn vào việc khám phá thiên nhiên (hệ sinh thái, mà còn các hệ thống nông nghiệp và
du lịch nông thôn) hoặc thậm chí sinh thái đô thị (khu vườn sinh thái , khoảng xanh công viên, khu bảo
tồn thiên nhiên ...).
Ra đời cách đây ba mươi năm, câu nói được trích trong tư liệu TIES (Hiệp hội quốc tế về Du
lịch sinh thái”- năm 1991 vẫn còn nhắc đến và áp dụng gần đây: "Du lịch sinh thái là du lịch có trách
nhiệm với môi trường tự nhiên nơi nguồn thiên nhiên và sung túc của người dân được bảo tồn. »
Loại du lịch này có mục tiêu chính là khám phá hoặc khám phá thiên nhiên, phong cảnh hay

các loài vật cụ thể (quan sát và / hoặc nghiên cứu các loài vượn cáo và loại cá voi khác), bằng việc tôn
trọng các hệ sinh thái, góp phần bảo tồn chúng, bằng cách tiếp cận để tìm cách khắc phục những hậu
quả, những dấu vết mà du lịch gây ra làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái
B. Mục tiêu
Theo Văn phòng Du lịch Madagascar (MTO), "Du lịch sinh thái hướng tới một mục tiêu "bền
vững" do sự gia tăng đáng báo động của khách du lịch đại chúng không có ý thức khi đi du lịch đã đe
dọa , gây ảnh hưởng đến môi trường. Sự phát triển của du lịch đã chuyển sang tiêu dùng với chiều
hướng phát triển nhanh và những chuyến du lịch "có lợi nhuận", nơi mà tất cả mọi người nghĩ rằng
mình có quyền để khám phá những vùng đất xa xôi nhất trên thế giới, làm ảnh hưởng đến sự hồi phục
và phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên như nước ngọt, rừng và các rạn san hô, và gây nguy hiểm
cho sự tồn tại của nhiều loài sinh sống, tất cả đều do sự tò mò của du khách tưởng tượng như mình
đang trong vườn thú với sự thoải mái. "
Các hoạt động du lịch sinh thái thường liên quan đến giáo dục và giải thích, giảng giải và giúp
nâng cao nhận thức về sự cần thiết để bảo tồn các di sản thiên nhiên và văn hóa. Du lịch sinh thái cần
phải có một tác động môi trường tích cực và đóng góp vào sự thịnh vượng của người dân địa phương.
Du lịch là một trong những lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới, du lịch sinh thái là
một cách để tăng cường sự đa dạng sinh học, kết hợp một chiều đạo đức và nhận thức về môi trường
không giống như du lịch đại chúng mà làm thoái hóa môi trường tự nhiên. Với hình thức du lịch này
được gắp liền vời là các nguyên tắc phát triển.
C. Nguyên tắc và Tiêu chí
Sự kết hợp các nguyên tắc của du lịch sinh thái với sự phát triển bền vững đáp ứng được sự ủng
hộ của nhiều tổ chức quốc tế (Liên Hiệp Quốc, các tổ chức, các chính phủ và các cơ quan liên quan);
và phải được đưa đáp ứng các tiêu chí:
- "Bảo tồn", cần thiết cho việc bảo tồn đa dạng sinh học và chức năng của mình;
- Giáo dục du khách về tầm quan trọng của việc bảo tồn này;
- Tôn trọng sự đa dạng văn hóa và mối quan hệ đối với môi trường;
- Nêu ra các nổi bật cho các nhà điều hành tour du lịch về vấn đề phải chịu trách nhiệm với môi
trường sinh thái bằng việc đánh giá dựa trên các tiêu chí rõ ràng và minh bạch;
- Xây dựng quy hoạch khu du lịch để hạn chế và / hoặc bồi thường cho các ảnh hưởng bất lợi
và thích nghi với đặc điểm của khu vực thiên nhiên và môi trường sống đã đến thăm;



- Tuân thủ các nguyên tắc và tiêu chuẩn chung cho phát triển bền vững thông qua du lịch sinh
thái, bao gồm cả việc xây dựng hoặc sử dụng các cơ sở hạ tầng (tiếp đón, đường giao thông ...) chất
lượng môi trường cao (HQE) ...
- Thúc đẩy phát triển bền vững, tạo việc làm cho người dân bản địa.
Vai trò của du lịch sinh thái ở Madagascar là gì?
D. Bối cảnh ở Madagascar
Ở Madagascar, cũng như ở Kenya, Ecuador, Nepal, Costa Rica, du lịch sinh thái đang trở thành
nguồn tài chánh chính. Thật vậy, nó không còn là một hoạt động bên lề nhằm tài trợ cho việc bảo vệ
môi trường, mà còn một lĩnh vực hàng đầu của nền kinh tế quốc gia và là một cách để tạo ra thu nhập.
Ngay những năm 1990, các biện pháp được thực hiện bởi các cơ quan chức năng nhắm mang
lại những nỗ lực của họ cho một sự phát triển trong sạch, có trật tự và hài hòa, trong khuôn khổ của
việc bảo vệ môi trường: đã thành lập Bộ Môi trường, xây dựng "điều lệ" (1990), đưa ra kế hoạch hành
động quốc gia về môi trường (PNAE), xây dựng bộ luật Du lịch (1995). Đầu những năm 2000 đã
chứng kiến việc thực hiện các biện pháp này. Kế hoạch hành động quốc gia về môi trường (PNAE) là
việc vận hành mục tiêu của chính sách này nhằm hòa giải dân Madagascar với môi trường của họ đối
với phát triển nhân lực bền vững. Tài liệu Chiến lược Xoá đói Giảm nghèo (PRSP) đã tập trung cụ thể
từ năm 2005 về chương trình liên ngành, bao gồm cả việc bảo vệ môi trường.và phát triển du lịch sinh
thái.
Sau đó, là vấn đề liên quan đến quảng bá du lịch như một công cụ để đấu tránh chống lại đói
nghèo, bảo vệ môi trường tự nhiên và bản sắc văn hóa xã hội, nhưng chủ yếu mang lại lợi ích trực tiếp
cho cộng đồng địa phương trong sự phát triển này, bao gồm cả doanh thu du lịch, công ăn việc làm, cơ
sở hạ tầng khu vực có mục tiêu. Sau những cơn khủng hoảng 1991-1992 và 2001-2002, trong đó đã tác
động mạnh đến ngành du lịch (giảm mạnh trong kinh doanh, đóng cửa chi nhánh, hủy hàng loạt đặt
chỗ, miễn nhiệm cán bộ, không thanh toán chi phí hoạt động du lịch ...) các nhà chức trách đã phục hồi
hoạt động.
Hành động đang được thực hiện để tăng cường và hỗ trợ sự phát triển cơ sở hạ tầng và tạo ra
một động lực tích cực cho các nhà đầu tư cho lĩnh vực này: việc tạo ra quỹ đất du lịch (RFT), qua việc
phân chia phù hợp các vị trí địa hình, thành lập các Cơ quan quốc gia chịu trách nhiệm quản lý quỹ

đất du lịch *RFT), giảm thủ tục hiện hành để hỗ trợ các nhà đầu tư và soạn lại các bộ luật Du lịch.
Như vậy, những bước tiến được quan sát rõ trong việc bảo tồn hệ sinh thái trên đất liền, sông
và biển bằng việc tạo ra các khu bảo tồn mới được bảo vệ, bằng việc thực hiện một chính sách giáo
dục về môi trường, hệ thống giám sát sinh thái, hội nhập lĩnh vực này với các lĩnh vực khác nhau.
Tuy nhiên, với những thách thức ngày càng tăng của vấn đề bảo vệ môi trường, nhà nước đã
tìm cách thiết lập một chính sách phù hợp hơn để có thể mang sự an toàn, an ninh cho các di sản và
phát triển kinh tế.
Kế hoạch môi trường II (PE II) tập trung vào quyền sở hữu cộng đồng về các nguồn tài nguyên
thiên nhiên. Sau khi cải chính những kinh nghiệm liên tiếp trước đó, nhà nước đã quyết định giao cho
cộng đồng địa phương quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên trên lãnh thổ của mình (hệ thống
GELOSE: quản lý địa phương được an toàn). Mục tiêu là để thúc đẩy phương thức sử dụng nguồn tài
nguyên để đáp ứng các nhu cầu của người dân mà không ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai. Tài
nguyên chủ yếu là rừng, đồng cỏ, ao nước, sông suối, các loại thực phẩm tự nhiên trong các bụi cây và
động vật hoang dã. Một trong những tập quán truyền thống thích hợp với mục đích bảo tồn thiên nhiên
là Dina hay qui ước xã hội.
Trong hệ thống quản lý DELOSE, Dina nắm một danh sách các quy định cấm các hoạt động
phá hoại của các nguồn tài nguyên được giao quản lý. Việc áp dụng các quy định Dina được thực hiện
với sự chấp thuận của cộng đồng. Việc thực hiện và thực thi các thỏa thuận cộng đồng này có thể đảm
bảo quản lý có hiệu quả các nguồn tài nguyên này.


Phương thức này được xây dựng bởi các hiệp hội không giới hạn một hoạt động bảo tồn đơn
giản nào, nhưng bao gồm nhiều lĩnh vực như các hoạt động bảo tồn và hoạt động tạo thu nhập. Hệ
thống GELOSE cũng áp dụng một hình thức kinh tế-xã hội bời vì các hoạt động sản xuất của các cộng
đồng chịu trách nhiệm trong việc quản lý nguồn dự trữ quốc gia. Tuy nhiên, người nghèo bị phụ thuộc
hoàn toàn vào bối cảnh môi trường này và là nạn nhân của sự suy thoái các điều kiện sinh thái.
Xu hướng chung quan sát thấy sự suy thoái của đa dạng sinh học, cả hai hệ thực vật lẫn hệ
động vật. Suy thoái này là do các sinh hoạt của con người gây ra trong môi trường sống của chính họ
(tính khoảng 0,55% mỗi năm) và việc khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Ngoài ra,
cần lưu ý những tác động tiêu cực gần đây của sự nóng lên toàn cầu đối với các hệ sinh thái biển và

ven biển.
Không thể không nói rằng sự thiếu thốn vật chất và nhu cầu cần thiết để duy trì sự sống (thực
phẩm, năng lượng ...) của một số bộ phận dân cư, thường có những hành vi đi ngược lại với quản lý
bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Sự suy thoái tiếp tục quay trở lại làm ảnh hưởng đến khả
năng bảo vệ môi trường và làm trầm trọng thêm đói nghèo. Do đó các vòng tròn luẩn quẩn” môi
trường bị suy thoái nhanh hơn, dân nghèo hơn.
II. TÌNH TRẠNG Ở ĐỊA PHƯƠNG
Không thể phủ nhận rằng các đảo lục địa mà đại diện là ở Madagascar với nhiều vi khí hậu
riêng, có một loạt các nguồn tài nguôn thu hút khách du lịch. Do vậy, cần bảo vệ di sản này vì nó rất
quan trọng cho sự phát triển của cả xã hội và kinh tế..
A. Các khái niệm về di sản
Di sản là một tập hợp các đặc tính, hình ảnh và tập quán gắn liền với một biểu tượng không còn
tồn tại (công trình, tác phẩm, ý tưởng, nhân chứng, công trình xây dựng, địa danh, tập quán, phong
cảnh...)
Từ này được lan rộng từ những năm 1970 mà từ đó lan rộng. Vào năm 1972, việc soạn thảo bởi Công
ước của UNESCO cho phép sử dụng cho các địa danh tự nhiên hay văn hóa, các "giá trị thế giới nổi
bật" tình trạng di sản thế giới (văn hóa thế giới và di sản thiên nhiên).
Về nguồn gốc phương Tây, định nghĩa này xuất phát từ hai quan niệm: một gọi là "hoành
tráng, đồ sộ" (sự hợp nhất của các di tích lịch sử và thiên nhiên, thừa hưởng từ thế kỷ XIX ở châu Âu),
các khác "thẩm mỹ".
Việc xếp hạng các địa danh, gắn liền với sự xuất hiện của khái niệm "cảnh quan văn hóa", hoàn
toàn phù hợp với các hệ tư tưởng của "phát triển bền vững" xuất hiện vào những năm 1980. Điều này
là để duy trì môi trường của hành tinh, di sản của nó có thể là một trong những quá trình thích hợp
nhất cho mục đích này và sự lo lắng về sự bền vững.
Hiện nay, rất nhiều các tài liệu tham khảo như: văn hóa, xã hội, tự nhiên, kinh tế, lịch sử, nông
thôn, thế giới... Di sản là một phần tất yếu của du lịch sinh thái, do tất cả các khía cạnh: liên quan đến
lịch sử, về lãnh thổ, trí tưởng tượng, nó thường đi kèm trong các hình thức của một sản phẩm du lịch.
B. Tình hình hiện nay
Theo Báo cáo quốc gia lần thứ tư về Thỏa ước liên quan đến sự đa dạng hệ sinh thái học được
trình bày ở Antananarivo vào tháng 8 năm 2009, Madagascar là một quốc gia có sự đa dạng bậc nhất,

với mức độ tập trung cao và dày đặc. Do vậy, nhận thức của nhà nước về sự đa dạng sinh học của đất
nước mình đã tăng lên rất nhiều.
Hiện nay, các hệ sinh thái ở Madagascar phân bổ theo điều hiện cư trú khoảng 12.000 loài thực
vật, 370 loài bò sát, 244 loài động vật lưỡng cư, 283 loài chim, 154 loài cá và 99 loài vượn cáo.
Đa dạng sinh thái học này cung cấp cho sinh kế của khoảng hai mươi triệu người (80% trong số
đó sống chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên). Ngoài việc sử dụng các nguồn thiên nhiên cho
đời sống con người, tiềm năng du lịch sinh thái ở các khu tồn hiện nay là nguồn tài chính ngoại hối lớn
thứ 3 đối với Madagascar.


Tài nguyên thiên nhiên và môi trường hình thành các cơ sở du lịch sinh thái. Madagascar cung
cấp vô số các địa danh và cảnh quan du lịch hấp dẫn lối cuốn khách du lịch về hệ sinh thái vá đa dạng
sinh thái học và đó chính là lý do vì sao cần thiết phải bảo tồn di sản là phù hợp hơn bao giờ hết.
Gần đây nhất, chúng ta bỏ qua các trải nghiệm của các công viên lớn của Mỹ, các nước đã từng
bước được giao nhiệm vụ bảo vệ không gian nhất định, danh lam thắng cảnh, các địa danh, di tích và
địa điểm nổi tiếng mà đang bị xuống cấp khó khắc phục. Thậm chím, các công ty có tầm cỡ quốc tế
(khái niệm "di sản thế giới", được phát triển bởi UNESCO) và dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc,
cũng luôn đồng ý kiến bảo vệ mở rộng đến cả bầu sinh quyển (chống hiệu ứng nhà kính, vv) (Ciattoni
và Veyret dưới eds., 2003, tr. 77-78). Ngay từ thể kỷ thế kỷ XIX , việc bảo vệ di sản cũng đóng vài trò
quan trọng trong quản lý đất đai hiện đại, sự xuất hiện của khái niệm "phát triển bền vững" cần nhấn
mạnh sự cần thiết phải bảo tồn các nguồn tài nguyên của hành tinh đối với các thế hệ tương lai.
Madagascar là một trong 21 nước thành viên của Ủy ban Di sản Thế giới. Về nguyên tắc, mỗi
sáu năm, Chính phủ đã báo cáo cam kết về tình trạng bảo tồn của các địa danh. Báo cáo này được gửi
đến Ủy ban Di sản Thế giới - UNESCO trước khi được gửi sang Liên minh bảo tồn thế giới vì thiên
nhiên.
Madagascar phải tuân thủ các nguyên tắc đề ra trong bối cảnh du lịch sinh thái để cho phép khu
vực "phát triển bền vững", bằng việc bảo vệ các di sản đa dạng và cụ thể. Tài nguyên thiên nhiên bị
suy thoái bởi cả hai trận cháy rừng do đốt nương rẫy. Mà kết quả của hậu quả này là đã hủy diệt nhiều
thảm thực vật (80%) (Giám đốc Kế hoạch du lịch, 2004). Để ngăn chặn sự tuyệt chủng và thậm chí cả
sự biến mất của một số loài đặc hữu do việc lạm dụng các nguồn tài nguyên rừng, các khu vực khác

nhau đã được chuyển đổi thành các khu vực bảo vệ thiên nhiên.
Ba loại công việc đã được ANGAP (Hiệp hội quốc gia vì sự quản lý của các khu bảo tồn) công
nhận :
- Quỹ dự trữ thiên nhiên nghiêm ngặt thành lập để bảo vệ thực vật và động vật đang bị đe dọa
và các hệ sinh thái hiếm hoi;
- Công viên quốc gia được thiết kế để bảo vệ tất cả các nguồn lực sẵn có (du khách có thể tiếp
cận và đưa ra ý kiến đề xuất) (Kế hoạch quản lý cho các mạng lưới quốc gia của các khu bảo tồn của
Madagascar, tháng 5 năm 2001);
- Những khu bảo tồn đặc biệt được tạo ra để bảo vệ toàn bộ hệ sinh thái (rừng nguyên sinh).
Đối với việc phát triển bền vững du lịch sinh thái, theo sự tuân thủ nghiêm ngặt về môi trường,
Hiệp hội sau đó đã thiết lập các nguyên tắc. Trên 17 trang địa danh, ANGAP đã tạo ra bốn cấp độ
khác nhau, theo tầm quan trọng tương đối của chúng.
Bảng 2: Phân loại các khu bảo tồn
Mức độ 1

Tiềm năng

Đặc tính

Mức 1 (9 điểm)

Cao

Điểm đến chính của một khu vực
Từ 2000 hơn 25 000 du khách mỗi năm.
Tiềm năng cao nhưng khó tiếp cận

Mức 2(3 điểm)

Trung bình / thỏa đáng


Thăm thường xuyên; lên đến 2000 khách mỗi năm
; không có điểm đến chính

Mức 3 (3 điểm)

Hạn chế

Điểm thăm quan du lịch đặc biệt. Ít hơn 100
du khách mỗi năm. Hạn chế cho khách tham quan.

Mức 4

Bảo vệ các loài / sinh cảnh quý hiếm.
Du khách khó có thể vào thăm ; Các địa danh không liệt
kê ở mức 1,2,3


Theo nguồn : Công viên quốc gia Madagascar
Các khuyến nghị có liên quan đến việc bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các hệ sinh
thái, huy động các sáng kiến công cộng và tư nhân, cũng như việc phát triển văn hoá và truyền thống
địa phương.
Do đó sáu công viên quốc gia (Zahamena, Ranomafana, Andringitra, Andohela, Marojezy,
Masoala) của vùng phía Đông của đất nước được ghi trong danh sách Di sản Thế giới năm 2007. Thật
không may, vào năm 2009 các địa danh Marojezy và Masoala đã bị cướp bóc, công viên bị phá hủy
bằng việc khai thác bừa bãi gỗ quý gây ra nhiều hệ sinh thái và do đó nhiều loài động thực vật quý
hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, đe dọa đến tình trạng chung của tất cả các địa danh tự nhiên. Tuy nhiên,
mục tiêu của cơ quan có trách nhiệm là sẽ quyết tâm bảo tồn duy trì các di sản của Madagascar, bao
gồm các cung điện của Thủ tướng Chính phủ Andafiavaratra nằm ở phía bắc của Antananarivo, ghi
vào danh sách Di sản Thế giới của UNESCO, ROVA Andogona, một bảo tàng lịch sử và dân tộc học,

phía đông bắc của thủ đô, để khám phá "phong tục và tin ngưỡng" hay ROVA Tsinjoarivo ở phía đông
nam của thủ đô, nơi trưng bày thường xuyên "Kỹ thuật và truyền thống của sắt và gỗ," hoặc
Rovad'Ambositra ở Tompon'anarana.
Tóm lại, du lịch sinh thái phản ánh thực tiễn kinh doanh, cung cấp các lợi ích kinh tế-xã hội
cho cộng đồng và khu vực đồng thời tôn trọng các giá trị truyền thống văn hóa.
C. Di sản và văn hóa của Madagascar
Với sự đa dạng của các địa danh tương ứng với một nền văn hóa đa dạng. Trong số những khía
cạnh mà thể hiện sự đa dạng của di sản này là những nghi lễ truyền thống như Famadihana hoặc khai
quật, Sambatra hoặc cắt bao quy đầu của bé trai, Fitampoha hoặc gột rửa di tích hoàng gia, âm nhạc và
nhảy múa, Hagasy các Kabary, đặc biệt tại các đám cưới và nghi lễ cắt bao quy đầu. Ngoài ra còn có
các phong tục tập quán. Vì vậy, cái mà du khách đánh giá cao nhất là tại nhà người dân Madagascar,
đó là sự chào đón nồng nhiệt của họ, trong đó quan tâm đến mối quan hệ giữa người dân địa phương
và du khách. Những phẩm chất và giá trị người dân này cũng được thể hiện ở sự nhạy cảm tôn trọng cá
nhân của người khác và ác cảm với bạo lực. Nhưng vấn đề đặc đặc biệt nổi tiếng hơn ở người dân
Madagascar là ý thức đoàn kết, và Fihavanana Firaisan-kina thiệt cho chủ nghĩa cá nhân. Sự đa dạng
của các ngành nghề thủ công cũng là một phần của sự phong phú văn hóa của hòn đảo lớn này, bao
gồn nghề chạm khắc gỗ, thêu ren, đan giỏ, làm đồ trang sức hoặc những vật lưu niệm khác (giấy
antemoro, dệt sợi , đóng giầy vải hoặc giầy da). Hơn nữa, sự đa dạng của động vật và thực vật cũng
mang lại nguồn nguyên liệu phù hợp cho việc sản xuất các mặt hàng như (da cá sấu để làm túi quần áo,
thắt lưng và ví cho xuất khẩu). Ngoài ra, về vật liệu thủ công, theo UNESCO, Madagascar là một trong
những nước giàu nhất trong các nhạc cụ truyền thống.
Những vấn đề sau đó đến phần còn lại về vai trò của du lịch sinh cộng đồng trong phát triển
của đất nước và phải đối mặt với sự suy thoái môi trường.
II. DU LỊCH SINH THÁI CỘNG ĐỒNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ
Du lịch sinh thái là một cách tiếp cận hệ sinh thái nhằm phát triển những thế mạnh của địa
phương. Nó cũng giúp duy trì và nhận ra ba vấn đề: sinh thái, nhân khẩu học và văn hóa.
Vấn đề sau đó để xem các vấn đề tổ chức phải đối mặt với người nông dân là gì và để phân tích cuộc
sống nông thôn đang trên con đường phát triển, chuyển đổi.
A. Du lịch sinh thái và xã hội
Du lịch sinh thái cộng đồng là một hình thức du lịch tập trung vào việc quan sát thiên nhiên và

các yếu tố của văn hóa truyền thống trong khu vực hoặc địa phương. Hình thức du lịch sinh thái cộng
đồng này trước hết là cách để kích động việc quản lý hợp lý các nguồn tài nguyên, giảm những thiệt
hại cái mà có thể dẫn đến một sự thay đổi quan trọng không chỉ trong việc bảo tồn các nguồn tài
nguyên mà còn về cách sống của người dân.
Trong quan điểm phát triển bền vững, du lịch sinh thái phải là một phần của một sức mạnh
tổng hợp toàn diện, phù hợp với các hoạt động khác của vùng và khu vực.


Hai ví dụ sẽ minh họa cho ý kiến của chúng tôi.
Hãy bắt đầu với một trong những khu bảo tồn cộng đồng Anja (Rabenjamina, 2008, pp. 12-29),
nằm 69 km về phía nam của Fianarantsoa, 3 km về phía nam của thị trấn Iarintsena, huyện Ambalavao.
Việc quản lý khu bảo tồn này được giao cho cộng đồng địa phương Anja Miray (AMI). Cuối cùng đã
yêu cầu sự hỗ trợ của Cục Nông Lâm nghiệp để chuyển giao quản lý khu địa danh, theo bộ luật 96-025
về việc quản lý địa phương an toàn (Gelose).
Địa danh này nổi tiếng với loài vượn cáo (Lemur Catta hay Maki), loài thằn lằn và các loài bò
sát như tắc kè hoa, dường như chúng đã bị mất nơi cư trú trong các khu rừng và các hang động Anja.
Ở khu vực ranh giời địa lý giữa Betsileo, nổi tiếng với những ruộng bậc thang, và khu vực bara
nổi tiếng với nghể chăn thả, Anja và môi trường xung quanh nơi đây giờ đây được coi là một địa danh
sinh thái, thần bí và nhiều nét văn hóa, với những ngôi mộ, mái vòm lớn trên những đỉnh cao, chưa kể
đến các nhân vật siêu nhiên của người xưa, người ta nói, maty mifoha (người chết sống).
Trước công tác bảo tồn của địa danh này, các tổ chức xã hội của fokontany Anja, như tất cả các
cộng đồng nông thôn, đã xuống ngôi làng nơi mà mỗi người có riêng vị trí của mình trong vai trò phức
tạp. Trong bối cảnh này, đã tồn tại một hệ thống quan hệ trong cộng động, và tình láng giềng càng
ngày càng gắn bó. Ngoài ra, hệ thống cấp bậc truyền thống trong xã hội betsileo là một điều quan
trọng, người đứng đầu cả luôn luôn tham gia vào các quyết định.
Ngay cả trước khi quản lý khu bảo tồn, các khía cạnh cộng đồng, cũng được dựa trên
fihavanana (mối quan hệ của cha mẹ) ở Madagascar và cũng như trên khái niệm về hỗ trợ lẫn nhau,
luôn luôn được coi là rất quan trọng.
Hiện nay, với sự tham gia của tất cả các tổ chức quốc gia và quốc tế lo lắng đến sự tồn tại của
địa danh này, họ đang cố gắng sự tăng cường tình đoàn kết.

Ví dụ thứ hai: Đảo Sainte-Marie và việc thúc đẩy du lịch sinh thái săn cá voi. Quỹ Môi trường toàn cầu
Pháp (GEF), mà là một quỹ công do chính phủ Pháp thành lập năm 1994 sau Hội nghị Thượng đỉnh
Rio, nhằm mục đích hỗ trợ các dự án phát triển bền vững trong các nước đang phát triển .
Trong số 139 dự án đã được đánh giá và đã cam kết cuối năm 2005, ví dụ, dự án GEFM được
tổ chức Megaptera đầu tư tài trợ ở Sainte-Marie, chuyên quan sát, nhận thức và bảo vệ các loài động
vật biển ở Ấn Độ Dương, và đặc biệt là cá voi.
Mục tiêu tổng thể của dự án này là để hỗ trợ sự phát triển và thúc đẩy du lịch sinh thái bền
vững săn cá voi, do các tổ chức nhỏ và các cộng đồng địa phương quản lý. Các hoạt động chính và kết
quả dự kiến liên quan đến việc đưa ra 2.100 tư liệu (quy tắc ứng xử, thông tin về cá voi, an toàn), đào
tạo 120 thợ thủ công trong các sản phẩm du lịch sinh thái, thành lập các cửa hàng, tổ chức một lễ hội,
hội nghị, thuyết trình trong các trường học và các trung tâm văn hóa ...
B. Du lịch sinh thái cộng đồng và tác động của nó
Tuy nhiên, cộng đồng địa phương trên đảo Sainte Maria có vẻ như không thích hợp với lọai
hình du lịch sinh thái này do thiếu đào tạo và vì sự khác biệt văn hóa. Họ đã được hưởng lợi rất ít từ sự
hỗ trợ khoa học, thiếu cơ sở hạ tầng và thông tin. Hơn nữa, những lợi ích kinh tế không phải là rất
quan trọng, vì hoạt động này nên là một nhân tố phát triển cộng đồng bền vững.
Tình hình còn tồi tệ hơn ở phía bắc của đảo vì mạng lưới thông tin liên lạc và và cơ sở hạ tầng
yếu kém (FGEF Megaptera).
Đối với địa danh Anja, với các rừng và hang động bị ảnh hưởng từ năm 1990 do các vụ cháy
rừng và khai thác quá mức các nguồn tài nguyên, nó được liệt kê trong số các tuyến đường du lịch có
đông khách du lịch đến nhất trong khu vực haute Matsiatra và thậm chí ở Madagascar
Việc bảo tồn các khu bảo tồn này do Hiệp hội AMI tạo ra là một tác động tích cực không chỉ
đối với các cộng đồng mà còn đối với mỗi thành viên của AMI:
- Về kế hoặc xã hội, có một sự hỗ trợ tốt;


×