TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
--------
TRẦN THỊ THU HƢƠNG
KHẢO SÁT KÊNH PHÂN PHỐI CÁ LAU KÍNH
Pterygoplichthys disjunctivus (Weber,1991)
THƢƠNG PHẨM TẠI ĐỊA BÀN QUẬN
THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ THỦY SẢN
2013
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
--------
TRẦN THỊ THU HƢƠNG
KHẢO SÁT KÊNH PHÂN PHỐI CÁ LAU KÍNH
Pterygoplichthys disjunctivus (Weber,1991)
THƢƠNG PHẨM TẠI ĐỊA BÀN QUẬN
THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ THỦY SẢN
CÁN BỘ HƢỚNG DẪN:
Ts. TRẦN ĐẮC ĐỊNH
Ths. HUỲNH VĂN HIỀN
2013
LỜI CẢM TẠ
Trong suốt quá trình học tập ở Trường Đại học Cần Thơ. Tôi xin gửi lời tri ân sâu
sắc nhất đến tất cả thầy cô đã truyền dạy những kiến thúc vô cùng bổ ích, đặc biệt
là các thầy cô đang công tác ở Bộ môn Quản lý & kinh tế nghề cá Khoa Thủy Sản
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn thầy Trần Đắc Định và thầy Huỳnh Văn Hiền đã tận tâm
chỉ dẫn, giúp đỡ và đóng góp ý kiến quý báo giúp tôi hoàn thành tốt luận văn tốt
nghiệp.
Xin gửi lời cảm ơn đến thầy cố vấn học tập Hà Phước Hùng và tập thể lớp Quản
Lý Nghề Cá K36 đã đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình học.
Xin Cảm ơn ba mẹ và tất cả các bạn đã động viên, khích lệ, tạo mọi đều khiện
thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp.
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Thu Hƣơng
TÓM TẮT
Đề tài: “Khảo sát kênh phân phối cá lau kính (Pterygoplichthys Disjunctivus,
(Weber, 1991)) thương phẩm trên địa bàn quận Thốt Nốt – TP. Cần Thơ” được
thực hiện từ tháng 08/2013 đến 12/2013 tại địa bàn Quận Thốt Nốt – TP. Cần
Thơ. Nhằm phân tích thực trạng kênh phân phối cá lau kính thương phẩm tại địa
bàn nghiên cứu. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp kịp thời nâng cao hiệu quả kinh
doanh cho các tác nhân tham gia kênh phân phối, nhận định được triển vọng của
ngành hàng trong tương lai nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của
người tiêu dùng.
Thông qua bảng phỏng vấn đã soạn sẵn để thu thập thông tin của các đối tượng
nghiên cứu. Số mẫu đã tiến hành thu là 35 mẫu. Trong đó, đã thu mẫu của 5 cơ sở
thu mua – sơ chế và làm chả cá, 20 mẫu thu của các hộ khai thác cá lau kính bao
gồm khai thác ngoài tự nhiên và cả trong các ao nuôi thủy sản (chủ yếu là các ao
nuôi cá tra), 10 mẫu của người tiêu dùng trực tiếp. Ngoài ra, còn thu thập các
thông tin từ các chợ ở địa phương. Qua khảo sát cho thấy các sản phẩm cá lau
kính không xuất hiện tại các nhà hàng, quán ăn, quán nhậu tại địa bàn nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu thì kênh phân phối cá lau kính thương phẩm trên địa
bàn quận Thốt Nốt chủ yếu theo 5 kênh chính. Nhìn chung ở tất cả các kênh phân
phối thì đối tượng hưởng được lợi nhuận nhiều nhất là người thu mua sơ chế.
Trong đó, sản lượng cá lau kính phần lớn là được tiêu thụ ở địa bàn ngoài tỉnh,
mà đối tượng chủ yếu là người làm chả ở gần TP Long Xuyên chiếm 70.8% sản
phẩm sơ chế của địa bàn, việc tiêu thụ được phân phối thông qua kênh 1. Còn lại
29.2% thì được tiêu thụ trong ở địa phương thông qua các kênh còn lại. Trong đó,
kênh 4 là có tỷ lệ lớn nhất chiếm 16.7% chủ yếu là người bán lẻ ở chợ sản phẩm
thường là chả cá lau kính, kế đó là kênh 2 có tỷ lệ tiêu thụ nội địa chiếm 9.2%,
còn các kênh khác chiếm tỷ lệ nhỏ với hình thức sản phẩm đa dạng nguyên con,
đã sơ chế hoặc chả.
Hiện tại các đối tượng tham gia vào kênh phân phối đang gặp nhiều khó khăn.
Công tác quản lý và và sự quan tâm của các cấp chính quyền còn nhiều bất cập.
Sau khi phân tích, xem xét có các đề xuất sau: (1) Khuyến khích đầu tư cho nhu
cầu ngày càng cao của ngành hàng cá lau kính; (2) Mở rộng việc thu mua cá lau
kính sang các quận, huyện lân cận, chủ động về nguồn nguyên liệu; (3) Việc kiểm
soát, quản lý của các cơ quan có thẩm quyền cần được đẩy mạnh; (4) Đảm bảo độ
tươi ngon và vệ sinh an toàn thực phẩm của sản phẩm cá lau kính; (5) Đặt dưới sự
kiểm soát của các nhà quản lý để tránh hiện tượng cạnh tranh lẫn nhau làm ảnh
hưởng đến giá thành sản phẩm.
i
MỤC LỤC
Mục Lục
TÓM TẮT ............................................................................................................... i
MỤC LỤC ............................................................................................................. ii
DANH MỤC BẢNG ............................................................................................ iv
DANH MỤC HÌNH ............................................................................................... v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ...................................................................... vi
CHƢƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................... 1
1.1. Giới thiệu ....................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu của đề tài ........................................................................................ 2
1.3. Nội dung nghiên cứu ..................................................................................... 2
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................ 3
2.1. Tình hình thủy sản thế giới và Việt Nam ...................................................... 3
2.2. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội ............................................................. 6
2.2.1 TP. Cần Thơ .................................................................................................. 6
2.2.2 Q. Thốt Nốt .................................................................................................. 8
2.3. Giới thiệu sơ lược về các lau kính .............................................................. 11
2.4. Các nghiên cứu có liên quan ....................................................................... 12
CHƢƠNG 3: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................. 15
3.1. Phạm vi và thời gian nghiên cứu .................................................................. 15
3.2. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................. 15
CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................... 17
4.1. Thông tin chung về các tác nhân .................................................................. 17
4.1.1 Thông tin về người khai thác cá lau kính ................................................... 17
4.1.2 Thông tin về người thu mua sơ chế ............................................................ 18
4.1.3 Thông tin về người tiêu dùng cá lau kính ................................................... 22
4.2. Sơ đồ kênh phân phối cá lau kính ................................................................. 24
4.3 Phân tích ma trận SWOT ............................................................................... 26
4.4. Nhận định của các tác nhân về ngành hàng này trong tương lai .................. 27
CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ....................................................... 28
ii
5.1. Kết luận ......................................................................................................... 28
5.2. Đề xuất .......................................................................................................... 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 32
Phụ lục 1: Bảng phỏng vấn hộ khai thác cá lau kính .............................. a
Phụ lục 2: Bảng phỏng vấn ngƣời thu mua – sơ chế ............................... c
Phụ lục 3: Bảng phỏng vấn ngƣời tiêu dùng sản phẩm cá lau kính ....... e
.
iii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Sản lượng thủy sản của thế giới qua các năm ....................................... 3
Bảng 2.2 Nhu cầu TS của thế giới qua các năm (2006 – 2011) ............................ 4
Bảng 3.1 Phân tích ma trận SWOT ..................................................................... 16
Bảng 4.1: Nguồn cá lau kính cung cấp cho các cơ sở thu mua – sơ chế ............. 18
Bảng 4.2: Tiêu thụ tổng sản phẩm cá lau kính ở các cơ sở thu mua sơ chế ........ 19
Bảng 4.3: Thông tin kinh tế về cơ sở thu mua sơ chế cá lau kính ....................... 21
Bảng 4.4: Thông tin về SPTS của hộ tiêu dùng ................................................... 24
iv
DANH MỤC HÌNH:
Hình 2.1. Bản đồ hành chính TP. Cần Thơ............................................................ 6
Hình 2.2. Bản đồ quận Thốt Nốt thành phố Cần Thơ ............................................ 8
Hình 2.3. Hình ảnh cá lau kính được bán ở chợ .................................................... 9
Hình 2.4. Hình ảnh cá lau kính trong tự nhiên .................................................... 11
Hình 2.5. Thức ăn chế biến từ cá lau kính ........................................................... 12
Hình 4.1. Đánh giá của hộ KT đối với cá lau kính ngoài tự nhiên ...................... 17
Hình 4.2. Đánh giá của hộ KT đối với cá lau kính trong ao nuôi TS .................. 18
Hình 4.3. Tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm cá lau kính thương phẩm ............................... 20
Hình 4.4. Biểu đồ thể hiện thuận lợi của các cơ sở thu mua – sơ chế ................. 21
Hình 4.5. Biểu đồ thể hiện khó khăn của các cơ sở thu mua – sơ chế ................ 22
Hình 4.6. Các món ăn ưa chuộng được chế biến từ cá lau kính .......................... 23
Hình 4.7: Sơ đồ kênh phân phối cá lau kính thương phẩm ................................. 24
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT:
CBTS:
Chế biến thủy sản
ĐBSCL:
Đồng bằng Sông Cửu Long
DN:
Doanh nghiệp
EMS:
Hội chứng hoại tử gan tụy trên tôm.
FAO:
Tổ chức lương thực - nông nghiệp Liên hiệp Quốc
NTTS:
Nuôi trồng thủy sản
TP:
Thành phố
TS:
Thủy sản
VASEP:
Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
XK:
Xuất khẩu
KT:
Khai thác
vi
CHƢƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Hiện nay việc du nhập các sinh vật ngoại lai ngày càng phổ biến ở nhiều nước.
Ngoài việc góp phần làm tăng sự phong phú và đa dạng cho đối tượng nuôi, đáp
ứng nhu cầu của thì trường, nâng cao lợi ích kinh tế cho các nước nội nhập như
các loài cá rô phi, cá chép,…..thì việc phân tích, đánh giá và nghiên cứu các loài
ngoại lai trước khi nhập về còn nhiều thiếu sót. Việc này đã và đang gây ra những
hậu quả hết sức nghiêm trọng, điển hình như ốc bươu vàng, gần đây nhất là rùa
tai đỏ. Đòi hỏi cần có sự hiểu biết và cái nhìn tổng quát, đa chiều về vấn đề này
cũng như là tìm cách khắc phục những hậu quả nặng nề do chúng gây ra. Hiện
nay một trong những loài được đánh giá là có sức phát tán mạnh và có nguy cơ
xâm hại đến đới sống của sinh vật trong các thủy vực tự nhiên nhất, đó chính là
cá lau kính.
Cá lau kính hay còn gọi là cá tỳ bà, có nguồn gốc từ Nam Mỹ, đây là loài chủ yếu
sống ở đáy các thủy vực nước ngọt, lợ. Ở Việt Nam cá lau kính được nhập từ các
nước Hong Kong và Singapore là chủ yếu, thông qua con đường mua bán cá
cảnh. Sau khi phát tán ra môi trường, cá lau kính nhanh chóng trở thành loài áp
đảo ở các hệ thống sông, kênh, rạch tại địa bàn các tỉnh ở Đồng bằng Sông Cửu
Long (ĐBSCL).
Theo nghiên cứu gần đây, đã làm rõ những tác hại của cá lau kính như: cạnh tranh
môi trường sống với các loài bản địa, cạnh tranh thức ăn với những loài có cùng
chế độ dinh dưỡng, việc ăn trứng cá khác loài,… làm ảnh hưởng đến chuỗi thức
ăn, mất cân bằng sinh thái, làm giảm tính đa dạng sinh học ở những thủy vực
chúng sinh sống. Ngoài ra, cá còn có khả năng hút nhớt các loài cá khác làm
chúng chậm phát triển hoặc chết. Thêm vào đó, việc đào hang để đẻ trứng gây
hiện tượng sạt lở, xói mòn dọc bờ sông (Burgess,1989) không những ngoài tự
nhiên mà còn ngay cả những ao nuôi thủy sản (TS). Kết hợp với những tác hại
trên cá lau kính còn có tốc độ tăng trưởng và phát tán nhanh, dễ thích nghi với
những những điều kiện bất lợi của môi trường. Bên cạnh công tác quản lý và
kiểm soát của các cấp ban ngành còn yếu, các văn bản, chính sách còn nhiều bất
cập, sự quan tâm nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên việc phát tán bừa bãi ra môi
trường tự nhiên là không thể tránh khỏi.
1
Thốt Nốt là quận có nhiều tiềm năng để phát triển ngành TS nước ngọt, đặc biệt
là các loại cá da trơn như các basa, cá tra,…..đây là ngành hàng xuất khẩu chủ lực
của quận. Không những thế, việc khai thác cá nội đồng để phục vụ cho nhu cầu
của địa phương cùng được phát triển mạnh. Gần đây, việc bùng phát cá lau kính
trên địa bàn quận đang được quan tâm nhưng đây không còn là mối lo ngại nữa,
khi có sự xuất hiện của các hoạt động khai thác cá lau kính và kéo theo đó là
những cơ sở thu mua – sơ chế, các nhà hàng, quán ăn phục vụ cho nhu cầu về cá
lau kính ngày càng nhiều. Từ từ loại cá này đã trở thành thực đơn quen thuộc và
được nhiều người ưa chuộng với nguồn dinh dưỡng khá đa dạng. Theo nghiên
cứu cho thấy trong thịt cá có chứa 16,9% đạm và có 10 loại axit amin thiết yếu.
Ngoài ra, còn có axit béo Linolenic (còn goi là omega 3) rất cần thiết cho con
người, hàm lượng kim loại nặng trong thịt cá nằm trong giới hạn cho phép đối với
sản phẩm TS làm thực phẩm (Lê Thị Mỹ An & ctv., 2008).
Chính vì thế cá lau kính là loại thực phẩm mới, với giá rẻ, thơm, ngon và dễ chế
biến, nó đã trở thành sự lựa chọn của nhiều hộ gia đình. Đòi hỏi cần có sự quan
tâm, đầu tư cho các dịch vụ cũng như những hoạt động sản xuất kinh doanh cho
loại thực phẩm mới này nhằm tạo động lực cho sự phát triển các loại thực phẩm
làm từ cá lau kính thương phẩm. Đề tài: “Khảo sát kênh phân phối cá lau kính
Pterygoplichthys disjunctivus, (Weber, 1991) thương phẩm trên địa bàn quận
Thốt Nốt – TP. Cần Thơ” được thực hiện. Để hoàn thiện hơn về kênh phân phối
cá lau kính thương phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho các tác
nhân tham gia kênh phân phối. Đồng thời còn tạo tiền đề cho những nghiên cứu
tiếp theo về sự triển vọng và tiềm năng của loài cá này làm thực phẩm cho tiêu
dùng, tận dụng được nguồn lợi tự nhiên vốn có của địa phương, góp phần khống
chế được sản lượng cá lau kính, giảm thiểu đến mức thấp nhất những thiệt hại có
thể xảy ra trong địa bàn quận Thốt Nốt nói riêng và cả nước nói chung.
1.2 Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu tổng quát:
Nghiên cứu được tiến hành nhằm phân tích thực trạng kênh phân phối cá lau kính
thương phẩm tại địa bàn nghiên cứu. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp kịp thời
nâng cao hiệu quả kinh doanh cho các tác nhân tham gia kênh phân phối, nhận
định được triển vọng của ngành hàng trong tương lai nhằm phục vụ nhu cầu ngày
càng cao và đa dạng của người tiêu dùng.
2
1.3 Nội dung nghiên cứu
-
Mô tả đặc điểm và vai trò của các tác nhân tham gia trong kênh phân phối
cá lau kính tại Thốt Nốt.
-
Sơ đồ kênh phân phối và phân tích hệ thống kênh phân phối cá lau kính
thương phẩm tại Thốt Nốt.
-
Phân tích những xu hướng ngành hàng và đề xuất giải pháp hoàn thiện
kênh phân phối để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng sản phẩm này.
3
CHƢƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình thủy sản thế giới và Việt Nam
Theo “Báo cáo ngành thủy sản” của Công ty cổ phần Chứng khoán FPT
(12/06/2013) thì việc cung cấp TS của thế giới (cả khai thác và nuôi trồng) tăng
bình quân 2,3%/ năm nhưng vẫn thấp hơn tăng trưởng của nhu cầu TS (2,7%/
năm). Do đó, trong tương lai việc cung cấp TS không thể đáp ứng được nhu cầu
tiêu thụ của toàn cầu. Tổng sản lượng khai thác tăng không đáng kể bình quân từ
năm 2006 – 2011 chỉ tăng 0,1% rất thấp so với tăng trưởng của sản lượng nuôi
trồng tăng 6,1%.
Bảng 2.1: Sản lƣợng thủy sản của thế giới qua các năm
Đơn vị: triệu tấn
2006
2007
2008
2009
2010
2011
Khai thác nội địa
9,8
10,0
10,2
10,4
11,2
11,5
Khai thác biển
80,2
80,4
79,5
79,2
77,4
78,9
Tổng sản lƣợng khai thác 90,0
90,3
89,7
89,6
88,6
90,4
Tăng trưởng (%)
0,3
-0,7
-0,1
-1,1
2,0
BQ
Khai thác – đánh bắt
0,1
Nuôi trồng
Nuôi trồng nội địa
31,3
33,4
36,0
38,1
41,7
44,3
Nuôi trồng ngoài biển
16,0
16,6
16,9
17,6
18,1
19,3
Tổng sản lƣợng nuôi
trồng
47,3
49,9
52,9
55,7
59,9
63,6
5,5
6,0
5,3
7,5
6,2
140,2
142,6
145,3
148,5
154,0
2,1
1,7
1,9
2,2
3,7
Tăng trưởng (%)
Tổng sản lƣợng thế giới
Tăng trưởng (%)
137,3
Nguồn: Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc – FAO (2012)
4
6,1
2,3
Bảng 2.2: Nhu cầu TS của thế giới qua các năm (2006 – 2011)
Đơn vị: triệu tấn
2006
2007
2008
2009
2010
2011
Thực phẩm cho ngƣời
114,3
117,3
119,7
123,6
128,3
130,8
2,6
2,0
3,3
3,8
1,9
23,0
22,9
21,8
20,2
23,2
0,0
-0,4
-4,8
-7,3
14,9
6,7
6,7
6,8
6,9
7,0
1,5
0,0
1,5
1,5
1,4
17,6
17,8
18,1
18,6
18,8
1,1
1,1
1,7
2,8
1,1
Tăng trưởng (%)
Phi thực phẩm
23,0
Tăng trưởng (%)
Dân số (tỉ ngƣời)
6,6
Tăng trưởng (%)
Tiêu thụ TS đầu ngƣời
(kg/ngƣời)
Tăng trưởng (%)
17,4
BQ
2,7
0,2
1,2
1,6
Nguồn: Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc – FAO (2012)
Nhu cầu TS tăng qua các năm từ 2006 – 2011 tăng 2,7%. Trong đó nhu cầu phi
lương thực rất thấp chỉ chiếm 0,2%. Tiêu thụ thủy sản đầu người tăng 1,6%/năm
và theo FAO, đến 2015 nhu cầu TS đạt 165 triệu MT (tăng bình quân 2,1%/năm),
tiêu thụ trên đầu người đạt 14,3 kg (hiện tại khoảng 14 kg, tăng 0,8%/năm). Ở
khu vực Châu Á, Trung Quốc vẫn giữ được vai trò chủ đạo trong hoạt động
NTTS toàn cầu, chiếm 62% tổng sản lượng của các nước Châu Á.
Việt Nam
Việt Nam đứng thứ 3 thế giới về sản lượng NTTS (sau Trung Quốc và Ấn Độ).
Hiện tại Việt Nam vẫn duy trì được mức tăng trưởng sản lượng TS 8,5% trong
năm 2012. Vấn đề con giống, thức ăn, kỹ thuật và môi trường ,….của TS Việt
Nam còn nhiều bất cập, cần có nhiều nghiên cứu, cải thiện tình hình tiêu thụ sản
phẩm TS trong và ngoài nước. Bởi hiện tại Việt Nam đang phải đối diện với
những rào cản như: rào cản kỹ thuật về chất kháng sinh Ethoxyquin ở thị trường
Nhật và Hàn Quốc, các rào cản thương mại ở thị trường Mỹ gồm vụ kiện chống
trợ cấp đối với tôm và vụ kiện chống phá giá đối với cả tôm và cá tra. Tình hình
xuất khẩu sang các thị trường EU và Hàn Quốc giảm, còn sang các nước Hoa Kỳ
và Nhật Bản có tăng nhưng không đáng kể.
Trong nước, sản lượng TS 2012 đạt 5.876 nghìn tấn. Trong đó, khai thác TS
chiếm 2.676 nghìn tấn, khai thác nội đồng 193 nghìn tấn tăng 25,3% so với 2011.
5
Còn sản lượng nuôi trồng 3.200 nghìn tấn tăng so với 2011 nhưng mức tăng này
tương đối nhẹ (Vasep, 2012). Xuất khẩu TS có mức tăng trưởng bình quân
15,6%/năm và đạt 6,13 tỷ USD năm 2012. Với đà phát triển này đã đưa Việt Nam
trở thành 1 trong những nước xuất khẩu TS lớn nhất thế giới, giữ vai trò chủ đạo
cung cấp nguồn TS toàn cầu. Tôm vẫn là mặt hàng đứng đầu với kim ngạch 2,24
tỷ USD năm. Trong đó tôm sú có sản lượng giảm do dịch bệnh EMS hoành hành,
còn tôm chân trắng lại có xu hướng tăng đạt 741 triệu USD. Cá tra vẫn tiếp tục
đứng thứ 2 với kim ngạch xuất khẩu 1,74 tỷ USD năm 2012, giảm nhẹ so với
2011 (Vasep, 2012). Khả năng khép kín quá trình sản xuất có vai trò quan trọng
đối với các doanh nghiệp TS, vì nó giúp họ có khả năng chủ động được nguyên
liệu và hiệu quả sản xuất kinh doanh cao.
Tình hình khai thác và tiêu thụ nội địa
Khai thác TS nội địa có xu hướng giảm, bình quân giảm 2,5%/năm. Cho thấy
nguồn lợi TS tự nhiên đang bị suy giảm nghiêm trọng do việc khai thác quá mức,
khai thác hủy diệt, đặc biệt là tình trạng ô nhiễm môi trường và nguồn nước trên
các hệ thống sông ngòi, kênh gạch trên cả nước. Do phương tiện khai thác nội địa
rất thô sơ chủ yếu là các ngư cụ khai thác truyền thống lâu đời như chài, lưới,
đăng, đó,…..chưa kể kích điện, xung điện đây đều là những ngư cụ khai thác có
tính hủy diệt cao, ảnh hưởng rất lớn đối với nguồn lợi TS bởi đối tượng đánh bắt
không có chọn lọc (Tổng Cục thống kê qua các năm).
Trong những năm qua, hầu hết các DN TS Việt Nam đều không chú trọng phát
triển và mở rộng thị trường nội địa. Nguyên nhân chính là do giá bán thị trường
nội địa thấp trong khi các đầu tư cho hoạt động sản xuất và dịch vụ ngày càng cao
và cũng do thói quen tiêu thụ TS của người Việt Nam là các sản phẩm tươi sống
từ các chợ, còn thế mạnh của các DN TS là các sản phẩm đông lạnh. Theo Trung
tâm tư vấn và quy hoạch phát triển TS (giai đoạn 2011 – 2020) giá trị TS chế biến
tiêu thụ nội địa tăng 5,37%/ năm. Mức tiêu thụ trong nước 2015 dự báo là
790.000 tấn và năm 2020 là 940.000 tấn. Trong đó TS đông lạnh chiếm trên 30%.
6
2.2. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội
2.2.1 TP. Cần Thơ
Hình 2.1 Bản đồ hành chính TP. Cần Thơ
Điều kiện tự nhiên
Thành phố Cần Thơ nằm ở trung tâm của ĐBSCL về phía tây sông Hậu, trên trục
giao thông thuỷ - bộ quan trọng nối Cần Thơ với các tỉnh ĐBSCL, Đông Nam Bộ
và các vùng của cả nước. Có tọa độ địa lý nằm trong giới hạn 105013'38" –
105050'35" kinh độ Đông và 9055'08" - 10019'38" vĩ độ Bắc. Hệ thống giao thông
ngày càng hoàn thiện đã tiếp bước cho TP. Cần Thơ thực hiện mục tiêu trở thành
Thành phố đồng bằng cấp quốc gia, văn minh, hiện đại, xanh, sạch đẹp, là trung
tâm công nghiệp, trung tâm thương mại – dịch vụ, trung tâm giáo dục đào tạo và
khoa học công nghệ, trung tâm y tế và văn hóa của vùng. Thành phố gồm 5 quận
(Ninh Kiều, Cái Răng, Bình Thủy, Ô Môn và Thốt Nốt) và 4 huyện (Phong Điền,
Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thới Lai) với 85 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn
(5 thị trấn, 36 xã, 44 phường). Với những điều kiện thuận lợi trên TP. Cần Thơ
đóng vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế của vùng
ĐBSCL. Cần Thơ đã tận dụng được tốt những tiềm năng vốn có, phát triển mạnh
về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản góp phần lớn vào
việc xuất khẩu nông thủy sản của cả nước.
7
Với diện tích tự nhiên 140.096,38 ha, trong đó có 115.069,12 ha đất nông nghiệp,
24.706,90 ha đất phi nông nghiệp, 320,36 ha đất chưa sử dụng. Địa hình tương
đối bằng phẳng và cao dần từ Bắc xuống Nam. Thành phố Cần Thơ có hệ thống
sông ngòi kênh rạch chằng chịt với tổng chiều dài 2.500 km. Mật độ sông khá
lớn: 1,8 km/km2, hệ thống sông chính của Cần Thơ gồm: đoạn sông Hậu chảy qua
có độ dài hơn 60 km và hệ thống kênh rạch nhỏ như Rạch Cần Thơ, (Cái Răng),
rạch Bình Thủy, rạch Trà Nóc, rạch Ô Môn, rạch Thốt Nốt, kênh Cái Sắn… dẫn
nước từ sông Hậu vào các vùng nội đồng và nối liền với kênh rạch của các tỉnh
lân cận TP Cần Thơ.
Chế độ thủy văn vừa chịu ảnh hưởng của chế độ thủy văn sông Hậu, vừa chịu ảnh
hưởng của chế độ nhật chiều biển Đông, ảnh hưởng nhẹ của chế độ bán nhật
chiều biển Tây – Vịnh Thái Lan, TP Cần Thơ cũng có khí hậu nhiệt đới gió mùa,
có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô, với nhiệt độ trung bình 26 - 270C và độ
ẩm trung bình 82% và dao động theo mùa.Vùng phía Bắc là vùng trũng nên
thường bị ngập úng vào mùa mưa, nhất là vào tháng 9 và 10 tại các đại phương
mực nước dâng lên gây ngập một vùng rộng lớn, thời gian ngập kéo dài. Do hệ
thống kênh rạch chằng chịt nên thời gian truyền lũ tương đối chậm.
Điều kiện kinh tế xã hội
Dân số 1139900 người. Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, bình quân giai đoạn
2006 – 2010 đạt 15,13% năm (so với giai đoạn 2001 – 2005 chỉ đạt 13,48%). Tốc
độ tăng trưởng GDP của TP đạt 11,15%, cao nhất so với 5 TP lớn. Cơ cấu kinh tế
chuyển dịch theo hướng công nghiệp – dịch vụ - nông nghiệp công nghệ cao;
Ngành công nghiệp - xây dựng, năm 2005 chiếm 39,84%, năm 2012 chiếm
39,22% giảm không đáng kể. Còn thương mại – dịch vụ tăng 8,66% từ 41,46%
năm 2005 tăng lên 50,12% năm 2012. Trong khi ngành nông nghiệp thì có xu
hướng giảm năm 2005 chiếm tỷ trọng 18,7% trong cơ cấu kinh tế đến năm 2012
chỉ còn 10,66%, giảm 8,04%. Các ngành và lĩnh vực kinh tế có chuyển biến tích
cực. Cần Thơ có cơ cấu lao động trẻ, tỉ lệ giới tính chênh lệch không đáng kể.
Thành phần dân tộc khá đa dạng, chiếm phần đông là dân tộc kinh, họ sống rãi
rác và xen kẻ với nhau, có thu nhập bình quân đầu người đạt 23,5 triệu đồng/năm
(2008). Tổng số lao động trên địa bàn thành phố 699.835 người. Trong đó, lao
động đang làm việc trong các ngành kinh tế: 487.375 người, lao động dự trữ:
212.460 người, Cần Thơ có nguồn lao động trẻ, dồi dào và đang là môi trường
đầu tư thân thiện thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước.
8
Tình hình nguồn lợi, khai thác và nuôi trồng thủy sản
Theo báo cáo của Thành Ủy Cần Thơ, 2009 thì độ tuổi người tham gia khai thác
thủy sản trên địa bàn thành phố Cần Thơ trung bình là 43,5 tuổi, trình độ học vấn
của người tham gia khai thác thủy sản chủ yếu là cấp I chiếm 66,1%. Trong đó
trình độ cấp III chiếm thấp nhất là 4,7%. Ngoài ra còn có 10,3% mù chữ, quận
Thốt Nốt chiếm tỉ lệ mù chữ cao nhất là 14,3%. Do đó nhận thức về bảo vệ NLTS
chưa cao, chưa nhận thức được tầm quan trọng trong cải tiến kỹ thuật khai thác
thủy sản, thành phần cá, tôm phân bố ở thành phố Cần Thơ khá đa dạng.
Qua 06 đợt khảo sát thực địa từ tháng 07/ 2009 đến 05/2010 đã xác định được
danh mục gồm 120 loài cá thuộc 33 họ, 72 giống trong 11 bộ. Trong đó, có 50
loài có giá trị kinh tế. Một số giống trước đây có phân bố ở Cần Thơ nhưng hiện
nay ít thấy. Đáng ghi nhận nhất đó là sự xuất hiện của cá lau kính
(Pterygoplichthys disjunctivus) trước đây không thấy nhưng hiện nay loài cá nay
đã hiện diện ở nhiều thủy vực sông, kênh, rạch ở Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu
cũng cho thấy cấu trúc thành phần loài tôm ở Cần Thơ, đã phát hiện 08 loài tôm,
thuộc 02 giống, 02 họ, 01 bộ. Trong đó có 04 loài là đối tượng khai thác quan
trọng, có giá trị xuất khẩu và tiêu dùng nội địa.
Trong khi cá tra và tôm nước lợ là 2 đối tượng nuôi trồng và XK chủ lực của
ĐBSCL nói chung và TP. Cần Thơ nói riêng đang gặp nhiều khó khăn, nhất là
tình trạng thiếu vốn trong sản xuất, giá thức ăn và các chi phí sản xuất đầu vào có
xu hướng ngày càng tăng trong khi giá sản phẩm đầu ra khá bấp bênh. Việc giá
thành cao hơn giá sản phẩm đã làm cho nhiều hộ nuôi phải thua lỗ. Bên cạnh đó,
các doanh nghiệp (DN) chế biến thủy sản (CBTS) thiếu sự gắn kết với nhau và
gắn kết với nông dân dẫn đến hiện tượng DN cạnh tranh thiếu lành mạnh gây bất
ổn nguồn nguyên liệu, ảnh hưởng xấu đến giá xuất khẩu. Thêm vào đó là chất
lượng con giống, thức ăn, nguồn nước,… chưa đảm bảo đây là nguyên nhân bùng
phát dịch bệnh. Hiện nay cũng có nhiều chủ trương chính sách để cải thiện tình
hình xuất nhập khẩu TS cũng được áp dụng ở Cần Thơ.
9
2.2.2 Quận Thốt Nốt
Hình 2.2 Bản đồ quận Thốt Nốt thành phố Cần Thơ
Điều kiện tự nhiên
Quận Thốt Nốt Là quận đầu nguồn của TP. Cần Thơ, cách trung tâm thành phố
40 km về phía Bắc, Thốt Nốt có vị trí địa lý thuận lợi về giao thông thủy - bộ,
nằm ở phía Đông Bắc của TP. Cần Thơ, phía Bắc giáp TP. Long Xuyên, tỉnh An
Giang. Nam giáp quận Ô Môn, huyện Cờ Đỏ. Tây giáp huyện Vĩnh Thạnh, huyện
Cờ Đỏ. Đông giáp sông Hậu, ngăn cách với tỉnh Đồng Tháp, lãnh thổ bao gồm
phần đất liền và dãy cù lao Tân Lộc hình thoi nằm trên sông Hậu.
Điều kiện kinh tế xã hội
Năm 2011, Thốt Nốt có tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt trên 17%; huy động được
2.370 tỷ đồng đầu tư phát triển trên địa bàn từ nguồn lực của toàn xã hội... Nhờ
vậy, cơ sở hạ tầng, các công trình văn hóa, giáo dục và y tế,… ngày càng hoàn
thiện hơn. Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ về kìm chế lạm phát, đảm bảo an
sinh xã hội nên đời sống của người dân được cải thiện. Thu nhập bình quân đầu
người năm 2011 đạt gần 49 triệu đồng (khoảng 2.350 USD, tăng 425 USD so với
năm 2010), tỉ lệ hộ nghèo giảm xuống mức 6,16%.
Nhờ vào những điều kiện thuận lợi của TP. Cần Thơ, cùng với nguồn lao động rẻ,
dồi dào kết hợp với sự quan tâm của Ban lãnh đạo quận đã tạo động lực cho Thốt
10
Nốt vượt qua những thách thức để vững bước trên con đường phát triển, đã và
đang tận dụng mọi lợi thế về nhiều mặt, cùng với việc phát huy nội lực để sớm
trở thành đô thị động lực ven sông Hậu của TP. Cần Thơ. Quận đã nhanh chóng
nhận được quan tâm của nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước, là vùng cung cấp
nguyên liệu nông - thủy sản; là trung tâm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đang
có triển vọng lớn.
Bên cạnh sự phát triển của công nghiệp thì quận còn chú trọng phát triển nông
nghiệp với hàng trăm cánh đồng lúa, các hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy
sản nội đồng. Lãnh đạo quận Thốt Nốt yêu cầu các ngành có liên quan, nhất là
ngành nông nghiệp tiếp tục củng cố, phát huy những thế mạnh của vùng, lưu ý
các ngành chức năng cần có những giải pháp tích cực để tháo gỡ khó khăn, vướng
mắc, nhất là về cơ sở hạ tầng, hệ thống đê bao thủy lợi, và bao tiêu sản phẩm cho
nông dân. Đồng thời, đẩy mạnh chuyển giao các tiến bộ khoa học mới vào trong
sản xuất, khuyến khích người nông dân tích cực tham gia thực hiện mô hình
nhằm từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm nông sản, mang lại hiệu quả kinh
tế cao và tăng thêm thu nhập cho nông hộ.
Năm 2011, tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn Thốt Nốt đạt 3.549 tỷ
đồng, tăng khá so với năm 2010. Hiện Thốt Nốt có 1.200 cơ sở, DN đang hoạt
động, thu hút trên 16.000 lao động. Khu công nghiệp Lộ Tẻ đã hoàn thành giai
đoạn I- II, diện tích 600 ha (đang triển khai giai đoạn III), thu hút nhiều DN đầu
tư, trong đó có 10 DN đầu tư với quy mô lớn đã đi vào hoạt động. Bên cạnh việc
nâng cấp hàng loạt chợ trên địa bàn theo mô hình xã hội hóa, Thốt Nốt khuyến
khích phát triển các ngành, nghề chủ lực như chế biến lương thực, XK TS…,
đồng thời phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững, nâng cao hiệu quả
theo nhu cầu thị trường và đảm bảo môi trường sinh thái, nhất là chủ động liên
kết với các DN có thương hiệu, uy tín hỗ trợ đầu ra cho nông, thủy sản.
Tình hình khai thác thủy sản ở Q. Thốt Nốt.
Khai thác thủy sản nước ngọt là ngành truyền thống của vùng, chủ yếu là nghề
cào, lưới kéo, chất chà, giăng lưới,….hoạt động khai thác này phát triển mạnh vào
mùa lũ . Khai thác TS tự nhiên góp phần cung cấp thực phẩm tại chỗ cho người
tiêu dùng địa phương, tăng thu nhập cho người tham gia khai thác và tạo việc làm
cho lao động nhàn rỗi ở khu vực, đặc biệt là vào mùa lũ. Theo nghiên cứu của
Huỳnh Văn Hiền & ctv., (2010) thì có đến 96,1% số hộ khai thác cho rằng nếu
phải mua TS làm thực phẩm thì họ ưu tiên chọn mua TS nước ngọt được khai
thác tự nhiên. Thành phần TS tự nhiên ở khu vực cũng khá đa dạng, gần đây việc
11
khai thác cá lau kính cũng được bắt đầu được đẩy mạnh với nhiều hình thức sử
dụng như làm thực phẩm cho người tiêu dùng, làm thức ăn cho các loại TS nuôi
và một số ít được nuôi trong ao cá cảnh.
Tình hình tiêu thụ các sản phẩm thủy sản ở Q. Thốt Nốt
Cá tra là ngành hàng chủ lực của vùng, nhưng hiện tại việc tiêu thu các tra trên
địa bàn quận nói riêng và ĐBSCL nói riêng đang gặp rất nhiều khó nhăn. Hiệp
hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP, 2012) lo ngại thời điểm
này, nhu cầu hàng thủy sản tăng nhưng giá nguyên liệu cá tra vẫn ở mức thấp hơn
so với giá thành, đều này làm cho nhiều hộ nuôi ở Quận Thốt Nốt bị thua lỗ nặng.
Qua đó, các địa phương tăng cường liên kết vùng, tạo điều kiện để nông dân tiếp
cận với các mô hình sản xuất mới mang lại hiệu quả, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật tiên tiến vào sản xuất, … nhằm giúp nông dân tiết giảm chi phí, gia tăng lợi
nhuận, từng bước hình thành tư duy sản xuất mới. Đây là giải pháp căn cơ đưa
ngành lúa gạo, thủy sản vùng ĐBSCL phát triển toàn diện và bền vững. Quận thốt
nốt cũng đã hưởng ứng các phong trào, chỉ đạo nêu trên để cải thiện tình hình
nuôi và tiêu thụ thủy sản trên địa bàn.
Việc tiêu thụ các loại TS khai thác tự nhiên đang được ưa chuộng hơn. Đặc biệt là
vào mùa lũ thì các hoạt động khai thác trở nên nhộn nhịp để phục vụ cho nhu cầu
trong quận và các khu vực lân cận. Tuy nhiên sự sáng tạo và kinh nghiệm và sự
tiến bộ về ngư cụ khai thác đã và đang là mối nguy cho nguồn lợi thủy sản bền
vũng trong tương lai. Gần đây việc sử dụng cá lau kính làm thức ăn đã trở nên rất
quen thuộc, loại thực phẩm mới này bước đầu, đã được đón nhận và quan tâm của
nhiều gia đình. Với giá rẻ, thịt thom ngon thì cá lau kính hoàn toàn có thể thay thế
các loại thủy sản khác. Hiện nay nhu cầu sử dụng thực phẩm làm từ cá lau kính
ngày càng nhiều trên địa bàn, đặc biệt là sản phẩm chả cá lau kính đã dần xuất
hiện và là thực đơn quen thuộc của nhiều hộ gia đình ở Quận Thốt Nốt.
12
2.3. Giới thiệu sơ lƣợc về cá lau kính
(Ảnh: GS. Nguyễn Lân Dũng, 2008)
Hình 2.3 Hình ảnh cá lau kính trong tự nhiên
Họ Loricariidae bao gồm 6 họ phụ (Delturinae, Hypopgtopommatinae,
Hypoptominae, Lithogeneinae, Loriicariinae, Neoplecostominae), ước tính
khoảng 90 giống và khoảng 700 loài được mô tả (Armbruster and page, 2006;
Nelson, 2006). Phân bố chủ yếu ở từ sông LaPlata của miền nam Nam Mỹ đến
Costa Rica ở Trung Mỹ, hoặc từ 350 vĩ độ Nam đến 120 Bắc (Berra, 2001). Kích
thước cơ thể cá cũng có sự dao động lớn từ vài cm đến hơn một mét (Fuller,1991;
Nelson, 2006) và có biên độ sinh thái rộng đối với nhiều yếu tố môi trường (được
trích dẫn bởi Nguyễn Thị Hoàng Oanh, 2012).
Lau kính là loại cá da trơn có trên thân phủ mảng sừng và phần dưới bụng có lớp
da nhẵn mềm, có hoa văn, đầu rộng và dẹp, có miệng bên dưới dạng giác hút và 2
râu (Bùi Minh Tâm, 2007). Ở Việt Nam, sau khi được nhập về từ Hong Kong,
Singapore thì cá nhánh chóng phát tán rộng ở nhiều thủy vực. Theo Lê Thị Mỹ
An, 2008 thì cá lau kính xuất hiện trên sông Hậu vào trước năm 2000 và thời gian
xuất hiện nhiều nhất trong năm là khoảng tháng 9 đến tháng 12 (DL). Theo các
nguồn tài liệu gần đây cho thấy, cá lau kính đã và đang phát triển với mật độ cao
trong các khu bảo tồn thiên nhiên, đất ngập nước như Tràm Chim, U Minh
Thượng, Láng Sen, Tân Hưng, Lung Ngọc Hoàng, ở vùng ĐBSCL (Nguyễn Lân
Dũng, 2008). Theo nhiên cứu của Nguyễn Thị Hoàng Oanh (2012) thì cá lau kính
13
có sức sinh sản tương đối thấp và dao động cao do cá đẻ trứng có kích thước lớn
và đẻ nhiều đợt trong năm. Hiện nay số lượng cá lau kính đang ở mức báo động.
Việc đáng lo ngại là những hậu quả không thể lường trước do loài cá này gây ra.
Nó cạnh tranh thức ăn, nơi sống với các loài bản địa (Hood el al, 2005) làm ảnh
hưởng đến chuỗi thức ăn trong thủy vực sống, gây mất cân bằng sinh thái và giảm
đa dạng sinh học. Việc đào hang đẻ trứng gây ra hiện tượng sạt lở dọc bờ sông
đang là vấn đề nan giải. Ở Hawaii đã thử nghiệm nhiều biện pháp để khống chế
sự phát triển của chúng, kể cả dùng sốc điện, nhưng không thành công (trích dẫn
bởi Nguyễn Vũ Linh, 2012).
2.4. Các nghiên cứu có liên quan
Theo kết quả của Nguyễn Thị Hoàng Oanh (2012) thì ở Cần Thơ có 2 loài là
Pterygoplichthys disjunctivus (Weber, 1991) và Pterygoplichthys pardalis
(Castelnau, 1855). Trong đó, Pterygoplichthys pardalis (Castelnau, 1855) chiếm
tỷ lệ thấp. Chiều dài và khối lượng của cá có sự tương quan chặt chẽ (R2 = 0,966).
Tỷ lệ thành thục của cá có sự thay đổi theo chiều dài, hệ số thành thục tăng dần từ
tháng 5 đến tháng 8 với GSI cao nhất vào tháng 7 đến tháng 8 (10,15 – 10,58%).
Buồng trứng của cá thành thục có nhiều kích thước khác nhau, chứng tỏ cá đẻ
quanh năm và tập trung nhiều vào tháng 7 – 8 hàng năm.
Việc sử dụng cá lau kính làm thực phẩm ngày càng phổ biến tạo điều kiện cho
nhiều nghiên cứu về loại thực phẩm mới này ra đời. Theo Lê Thị Mỹ An & ctv.,
(2008) đã khẳng định cá lau kính hoàn toàn có thể làm thực phẩm, bởi trong thịt
cá có chứa 16,9% đạm và 10 loại axit amin thiết yếu, cao nhất là Tryptophan
(65,4 mg/g) đây là chất sẽ được tổng hợp thành serotonin (giúp làm dịu thần kinh,
xua tan cảm giác buồn chán) và melatonin (giúp điều hòa giấc ngủ, điều hòa nhịp
sinh học,…). Ngoài ra trong thịt cá còn có chứa axit béo Linolenic (còn goi là
omega 3), tỷ lệ cơ lưng cá chiếm 30% khối lượng cơ thể, tương đương với tỷ lệ
phi lê của cá tra. Hàm lượng kim loại nặng trong thịt cá nằm trong giới hạn cho
phép của sản phẩm TS làm thực phẩm và không phát hiện thủy ngân (Hg) trong
thịt cá lau kính
Hiện nay ngành hàng TS của Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn về vấn đề tiêu
thụ sản phẩm cả trong nội địa và thị trường xuất khẩu. Những diễn biến của vấn
đề sản xuất và tiêu thụ sản phẩm TS từ trước đến nay vẫn là vấn đề nan giải và rất
phức tạp, đòi hỏi cần có đầu tư cho việc nghiên cứu thị trường cũng như chuỗi giá
trị, các kênh phân phối từ những địa bàn nhỏ như quận, huyện, tỉnh, thành phố
cho đến sự liên kết giữa các vùng. Cần có cái nhìn tổng quát và đa chiều để có
14
những phân tích, đánh giá có chất lượng nhằm tạo ra sự phát triển bền vững cho
những ngành hàng này trong tương lai. Đồng thời, kịp thời đề xuất giải pháp khắc
phục khó khăn, để ngành TS thật sự là chổ dựa vững chắc của nền kinh tế nước
nhà. Trong những năm qua từ nhiều nghiên cứu về thị trường tiêu thụ các đối
tượng xuất khẩu chủ lực như cá tra, cá basa, tôm sú,…cho đến những ngành hàng
phục vụ cho nhu cầu trong nước, cho thấy TS là ngành nhận được sự quan tâm rất
lớn từ các cấp, ban, ngành, các nhà nghiên cứu cho đến các DN, các nhà đầu tư,
đặc biệt là sự đón nhận của các khách hàng trong và ngoài nước.
- Theo nghiên cứu của Đỗ Minh Chung & Lê Xuân Sinh (2010) về việc “Phân
tích chuỗi giá trị cá lóc (Channa sp.) nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long”, thì nhìn
chung lợi nhuận phân phối của các tác nhân tham gia là không đồng đều, tập
trung nhiều cho các vựa thu mua (chiếm từ 87,9 – 93,4% lợi nhuận của toàn
chuỗi). Việc thiếu sự đồng bộ, kỹ thuật nuôi và vốn là vấn đề đáng lo ngại đối với
ngành hàng cá lóc nói riêng và ngành hàng thủy sản nói chung.
- Khác với ngành hàng cá lóc, trong các kênh phân phối tôm sú ở ĐBSCL thì
người nuôi được hưởng một tỉ lệ đáng kể trong giá trị gia tăng và lợi nhuận toàn
chuỗi. Nhưng khi tính trên tổng lợi nhuận thuần thì lợi nhuận tập trung hầu hết ở
các nhà máy chế biến, nếu có sự tham gia của họ. Và để nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh thì các hộ nuôi nên có sự liên kết với nhau và với các nhà máy
chế biến để giảm chi phí trung gian, đảm bảo chất lượng sản phẩm. (Lê Xuân Sinh
& ctv., 2010) được thể hiện qua tài liệu “Phân tích chuỗi giá trị tôm sú (Penaneus
monodon) ở Đồng bằng sông Cửu long”).
- Bên cạnh những nghiên cứu có phạm vi rộng như trên, thì cũng có những
nghiên cứu riêng cho từng tỉnh về tình hình tiêu thụ và chuỗi cung ứng của một số
ngành hàng thủy sản. Tuy phạm vi nghiên cứu hạn chế nhưng vẫn cung cấp được
những thông tin cần thiết cho các nhóm đối tương nghiên cứu như việc “Phân
tích chuỗi giá trị cá kèo (Psedapocryptes elongatus) ở tỉnh Sóc Trăng & Bạc
Liêu” được mô tả và phân tích của Bùi Thị Mỹ Duyên & ctv., (2009) cùng đã mô
tả rất chi tiết các kênh phân phối và lợi ích kinh tế của từng tác nhân tham gia
trong chuỗi giá trị. Trong nghiên cứu này, do giống cá kèo còn hạn chế và chủ
yếu là khai thác tự nhiên nên người có lợi nhuận cao nhất là người khai thác và
người nuôi, kế đó là người bán lẻ ở chợ và thương lái. Nghiên cứu đã đề xuất việc
rút ngắn kênh phân phối và chủ động nguồn giống thông qua các nghiên cứu việc
sản xuất giống nhân tạo để thoát khỏi sự khống chế của mùa vụ và nhu cầu về số
lượng lẫn chất lượng giống trong tương lai.
15
CHƢƠNG 3
PHẠM VI VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Phạm vi và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu đã tiến hành từ tháng 08/2013 đến 12/2013 tại địa bàn Quận Thốt
Nốt – TP. Cần Thơ.
3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Thu thập thông tin thứ cấp: từ các website và các đề tài nghiên cứu trước đây,
các báo cáo của địa phương có liên quan đến lĩnh vực nhiên cứu như Sở Nông
nghiệp, chi cục thuỷ sản, phòng kinh tế Quận Thốt Nốt; các nghiên cứu trong và
ngoài nước, được xuất bản, các báo cáo về các hoạt động khai thác, tiêu thụ sản
phẩm thủy sản tại Quận Thốt Nốt, đặc biệt là các sản phẩm làm từ cá lau kính.
- Thông tin sơ cấp: được thu thập trực tiếp thông qua sử dụng bảng phỏng vấn
được soạn sẵn, có hiệu chỉnh và phỏng vấn thử. Tiến hành phỏng vấn các nhóm
đối tượng, khi hoàn chỉnh bảng phỏng vấn. Trong đó, có 03 loại biểu bảng để
phỏng vấn các nhóm đối tượng sau:
(1). Người khai thác cá lau kính bao gồm khai thác tự nhiên và trong ao nuôi:
đã 20 mẫu.
(2). Người thu mua – sơ chế sản phẩm cá lau kính: từ 5 cơ sở (75% - 80% cơ
sở trên địa bàn nghiên cứu).
(3). Người tiêu thụ cuối cùng: 10 mẫu, được lựa chọn ngẫu nhiên.
(Tổng số mẫu đã thu: 35 mẫu)
- Số liệu thu được kiểm tra, mã hóa trước khi nhập vào máy tính để tính toán.
Việc phân tích và xử lý số liệu thu thập được thông qua phần mềm SPSS for
windowns & Microsoft Excel.
- Các chỉ tiêu nghiên cứu cần thiết và các nhóm tác nhân được tính toán và trình
bày theo phương pháp thống kê mô tả (độ lớn, nhỏ, giá trị trung bình, độ lệch
chuẩn và giá trị %), sau đó tiến hành phân tích, giải thích kết quả.
- Sử dụng công cụ ma trận SWOT để phân tích các yếu tố mạnh, yếu, cơ hội và
nguy cơ. Từ đó đề ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho
các tác nhân tham gia kênh phân phối.
16