Đề tài: CHÍNH SÁCH NÔNG NGHIỆP THÁI LAN
PHỤ LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay ở một số nước đang phát triển, nông nghiệp vẫn giữ một vai trò quan
trọng trong việc phát triển kinh tế. Phần lớn các nhà nghiên cứu lý thuyết phát triển
cho rằng khắc phục tình trạng lạc hậu trong nông nghiệp là yếu tố then chốt để tăng
trưởng kinh tế, đặc biệt trong bước quá độ nông công nghiệp. Một trong số những
phương pháp mang lại hiệu quả tốt nhất đó là sự điều hành của Chính phủ thông qua
hàng loạt các biện pháp chính sách phù hợp với từng giai đoạn thời kì phát triển của
từng quốc gia.
Thái Lan là một nước lớn ở khu vực Đông Nam Á và có nền kinh tế nông
nghiệp vô cùng phát triển. Nhiều mặt hàng nông sản của Thái Lan có vị thế nhất
định với người tiêu dùng toàn cầu. Chính vì vậy có thể nói đối với quá trình tăng
trưởng nhanh và đa dạng hóa mạnh mẽ của nền nông nghiệp Thái Lan trong thời
gian qua chính sách nông nghiệp của chính phủ là yếu tố có tính quyết định . Thực
hiện định hướng phát triển nông nghiệp cần nhiều nhân công, lấy nông nghiệp làm
điểm xuất phát trong bước quá độ nông- công – nghiệp, chính phủ Thái Lan đã thực
hiện chính sách và biện pháp có hiệu quả để can thiệp vào nông nghiệp. Dựa trên cơ
chế thị trường tự do, Nhà nước chủ yếu can thiệp một cách gián tiếp vào quá trình
sản xuất và phân phối sản phẩm thông qua một số chính sách: chính sách thương
mai, chính sách đối với sản phẩm đầu vào, chính sách tiếp thị, chính sách giá, chính
sách khuyến nông, chính sách đầu tư, chính sách giống, chính sách đối với nông
dân, chính sách công nghiệp phục vụ nông nghiệp.
1
I. TỔNG QUAN VỀ NỀN NÔNG NGHIỆP THÁI LAN
I.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên Thái Lan
I.1.1. Vị trí địa lý, lãnh thổ
Thái Lan là một quốc gia nằm ở vùng Đông Nam Á, phía bắc
giáp Lào và Myanma, phía đông giáp Lào và Campuchia, phía nam giáp vịnh Thái
Lan và Malaysia, phía tây giáp Myanma và biển Andaman. Lãnh hải Thái Lan phía
đông nam giáp với lãnh hải Việt Nam ở vịnh Thái Lan, phía tây nam giáp với lãnh
hải Indonesia và Ấn Độ ở biển Andaman. Với diện tích 513.120 km² (tương đương
diện tích Việt Nam cộng với Lào), Thái Lan xếp thứ 50 trên thế giới về diện tích,
rộng thứ ba tại Đông Nam Á, sau Indonesia và Myanma.
Thái Lan là mái nhà chung của một số vùng địa lý khác nhau, tương ứng
với các vùng kinh tế. Phía bắc có địa hình đồi núi, với điểm cao nhất (2.576 m)
là Doi Inthanon. Phía đông bắc là Cao nguyên Khorat có biên giới tự nhiên về phía
đông là sông Mekong đây là vùng trồng nhiều sắn nhất của Thái Lan do khí hậu và
đất đai phù hợp với cây sắn. Trung tâm của đất nước chủ yếu là vùng đồng
bằng sông Chao Phraya đổ ra vịnh Thái Lan. Miền Nam là eo đất Kra mở rộng dần
về phía bán đảo Mã Lai.
I.1.2. Tài nguyên
2
Thái Lan thuộc khu vực giàu tài nguyên, dưới lòng đất ở đây rất giàu
vonphram, thiếc, ga tự nhiên, tantalium, chì, thạch cao, than non, fluorite. Ngoài ra
Thái Lan còn có một tài nguyên phong phú nữa là đất, với diện tích 514,000 km2
(tương đương diện tích Việt Nam + Lào). Rộng thứ 3 ở Đông Nam Á sau Indonesia
va Myanma.
Thái Lan có bờ biển dài, tiếp giáp với 2 đại dương (Thái Bình Dương, Ấn
Độ Dương), và nhiều sông ngòi chằng chịt,nên rất thuận lợi cho việc khai thác,
đánh bắt, nuôi trồng thủy sản. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết nóng, mưa nhiều,
nên tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cây nông nghiệp. với 55% đất đao
trồng trọt được sử dụng để trồng lúa, đất có thể canh tác của thái lan có tỷ trọng lớn,
22,25% của toàn bộ khu vực sông Mê Kông. Chăn nuôi cũng trở thành một trong
những ngành kinh tế quan trọng của Thái Lan. Ngành chăn nuôi gà công nghiệp với
quy mô lớn và kỹ thuật hiện đại đã có bước nhảy vọt,Điều đó đã khẳng định rằng,
việc công nghiệp hóa ở thái lan chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở của một nên
nông nghiệp hoàn chỉnh.
Thái Lan có một vị trí địa lý không những thuận lợi cho việc phát triển
ngành nông nghiệp mà ngành dịch vụ du lịch cung phát triển không kém. Trong
những năm 60, ngành du lịch của Thái Lan có cơ hội phát triển mạnh, bởi vì vào
giai đoạn đó Thái Lan đã được Mỹ chọn là một trong những nơi chính cung cấp
dịch vụ nghỉ cuối tuần cho binh lính Mỹ (trong chiến tranh Đông Dương). Sau khi
Mỹ rút khỏi Đông Dương, ngành kính tế này bị suy giảm, nhưng với những kinh
nghiệm thu được họ đã tích lũy được kinh nghiệm để phát triển sau này. Từ đầu
năm 80 Thái Lan đã chủ trương lấy “du lịch để dựng nước”. Kết quả đã làm bùng
nổ ngành du lịch, điều đó đã nói lên rằng du lịch đóng vai trò hết sức quan trọng
trong sự phát triển kinh tế của Thái Lan.
I.2. Vai trò của nền nông nghiệp Thái Lan
Thái Lan vốn là một nuớc nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn
chiếm khoảng 80% dân số cả nước. Nông nghiệp Thái Lan trong hàng thập kỷ qua
3
có vai trò quan trọng, góp phần tăng trưởng kinh tế, bảo đảm chất lượng cuộc sống
cho người dân. Bắt đầu từ năm 1960 Thái Lan thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội lần thứ nhất và đến nay là kế hoạch thứ 9. Trong thập niên 1970 Thái Lan
thực hiện chính sách "hướng xuất khẩu", ASEAN, Mỹ, Nhật Bản, Âu Châu là thị
trường xuất khẩu chính của Thái Lan. Ngành công nghiệp và dịch vụ đã dần dần
đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và vai trò của nông nghiệp giảm dần. Tuy
nhiên, nền nông ghiệp Thái Lan vẫn đóng vai trò rất quan trọng được coi là “xương
sống” của đất nước Thái Lan
Nông nghiệp cung cấp nguồn lương thực và đầu vào cho nhiều ngành khác
Là nguồn sống cho tỷ lệ lớn dân cư Thái Lan
Hình 1. Tỷ lệ dân số Thái Lan làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp
Sản phẩm của nông nghiệp Thái Lan là mặt hàng mũi nhọn để xuất khẩu
Vào cuối những năm 1970, ngành nông nghiệp Thái Lan tạo ra gần như 100%
doanh thu cho hoạt động xuất khẩu cả nước. Ngày nay, tỷ trọng đó đã giảm nhưng
vẫn còn chiếm giá trị rất lớn, vào khoảng 30%.
4
Bảng 1: Bảng xếp hạng trên toàn thế giới các sản phẩm nông sản xuất
khẩu của Thái Lan
Nguồn: Ban Đầu tư Thái Lan (2013)
Thái lan trở thành nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới. Các loại cây trồng
khác cũng được chú trọng phát triển: cao su, cà phê, mía, ngô, cây ăn quả. Ngành
đánh bắt cá biển, nuôi tôm ven biển và chăn nuôi cũng đem lại nhiều ngoại tệ (cá
hộp, tôm đông lạnh nguồn gốc Thái lan xuất hiện trong gian hàng các siêu thị của
nhiều nước trên thế giới).
Nông nghiệp thu hút vốn đầu tư và là nền tảng giúp tái cơ cấu kinh tế
I.3. Thành phần nền nông ngiệp Thái Lan
Thái Lan được xem là quốc gia đứng đầu trong sản xuất nông nghiệp ở một số
lĩnh vực quan trọng trong cây trồng, vật nuôi, lâm nghiệp và thủy sản. Chỉ đứng sau
Trung Quốc, Thái Lan là nước xuất khẩu lương thực lớn thứ hai Châu Á. Những sản
phẩm chính bao gồm gạo, bột sắn, bột mì, hải sản và dứa đóng hộp, bắp, xoài và
mía.
Trong đó thành phần nông nghiệp Thái Lan bao gồm: Trồng trọt; chăn nôi;
thủy sản; lâm nghiệp.
5
II. CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THÁI LAN
II.1. Vai trò của nhà nước
Thái Lan là nước đi lên từ nông nghiệp. Trong quá trình phát triển, chính phủ
nước này có vai trò điều khiển và thúc đẩy nền kinh tế cũng như nền nông nghiệp
phát triển. Chính phủ Thái Lan hoạt động dưới ba chức năng chủ yếu:
Thứ nhất, tạo điều kiện và môi trường để kinh tế thị trường phát triển.
Bảo đảm ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội như: ổn định thị trường tài chính, bình
ổn giá, thực hiện biện pháp tăng dân trí…
Tạo cơ sở hạ tầng cho kinh tế. Về cơ sở vật chất như xây dựng hệ thống giao
thông, điện, nước sinh hoạt, thủy lợi…; cơ sở hạ tầng hệ thống pháp lý, chính sách
thuế…; hệ thống giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực
Thứ hai, định hướng cho sự phát triển bằng các kế hoạch rõ ràng. Các kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội thường là các kế hoặc 5 năm
Thứ ba, quản lý ngân sách nhà nước
II.2. Các chính sách được nhà nước áp dụng
Thái Lan vốn là một nuớc nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn
chiếm khoảng 80% dân số cả nước. Nông nghiệp Thái Lan trong hàng thập kỷ qua
có vai trò quan trọng, góp phần tăng trưởng kinh tế, bảo đảm chất lượng cuộc sống
cho người dân
Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng
một số chiến lược như: Tăng cường vai trò các cá nhân và các tổ chức hoạt động
trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của
6
từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn
trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho
nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết
lập hệ thống bảo đảm rủi ro cho nông dân. Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà
nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với hình thức như: Tổ chức hội chợ triển lãm
hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị… Ngoài ra, Nhà nước Thái Lan còn
tính toán phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ
đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi
những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; Giải quyết tốt những mâu thuẫn về tư
tưởng trong nông dân có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản,
đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác. Về xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà
nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn
phục vụ cho nông nghiệp. Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh
tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong
sản xuất nông nghiệp. Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các
trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…
Trong các quốc gia ASEAN, Thái Lan là nước có nền nông nghiệp mạnh
nhất. Hiện nay Thái Lan đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, sản xuất và xuất khẩu
cao su, tôm sú, đứng thứ ba về xuất khẩu đường. Nông nghiệp Thái Lan tăng trưởng
khá và bền vững, ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng tài chính sản xuất nông nghiệp
tăng trưởng khá ổn định, đạt 2-3%/năm.
Trong những năm gần đây thị trường thế giới của nhiều mặt hàng nông sản
diễn ra tình trạng cung lớn hơn cầu làm giảm giá gây thiệt hại cho ngành nông
nghiệp Thái Lan. Xuất khẩu giảm cùng với nhu cầu tiêu thụ nông sản trong nước
tăng chậm buộc Chính phủ Thái Lan phải có những chính sách mới nhằm ổn định
giá. Sản xuất phù hợp với nhu cầu là chiến lược được Thái Lan nghiên cứu thực
hiện nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước, đảm bảo doanh thu xuất khẩu đồng thời tiết
7
kiệm nguồn lực sản xuất. Kế hoạch sản xuất của Thái Lan đối với một số mặt hàng
như sau:
- Duy trì mức sản xuất như hiện nay đối với gạo, lúa miến, sắn, bông, đậu tương, lạc,
cao su, cà phê, dứa, lợn, bò, gà, trứng.
- Tăng sản xuất dầu cọ, khoai tây, sầu riêng và sữa bò.
- Giảm sản xuất ngô, tỏi, hành đỏ, tôm hùm. Phát triển dịch vụ và sản phẩm phi nông
nghiệp.
Bên cạnh thay đổi về cơ cấu sản xuất, Thái Lan đã tiến hành một loạt điều
chỉnh trong các chính sách về thương mại, đầu tư, giá, thị trường, tiếp thị
II.2.1. Chính sách thương mại
Để bảo vệ sản xuất trong nước, Thái Lan áp dụng thuế nhập khẩu đối với
nhiều mặt hàng nông sản như thịt, rau quả, đường. Tuy nhiên, Thái Lan không áp
dụng chính sách hạn chế số lượng nhập khẩu đối với nông sản. Năm 2000, Thái Lan
giảm thuế nhập khẩu xuống dưới 20% trong khối AFTA. Tuy nhiên, Thái Lan vẫn
áp dụng mức thuế nhập khẩu khá cao các mặt hàng nông sản và thực phẩm, khoảng
25% với hàng thực phẩm, 40-50% các thực phẩm có thể tiêu dùng ngay. Áp dụng
mức thuế nhập khẩu thấp đối với các mặt hàng phục vụ các ngành sản xuất trong
nước. Phân loại mức thuế quan theo các nhóm mặt hàng khác nhau. Số nhóm giảm
dần từ 36 xuống còn 6: 0% cho các thiết bị y học và phân bón; 1% cho nguyên liệu
thô, hàng điện tử, và các phương tiện vận chuyển quốc tế; 3% cho các hàng hoá
thiết yếu và tư liệu sản xuất như máy móc, công cụ lao động, và máy tính; 10% cho
hàng hoá trung gian; 20% cho hàng hoá cuối cùng. Tạo thuận lợi nhập khẩu nguyên
liệu thức ăn cho chăn nuôi, như ngô, đậu tương, bột đậu. Mức thuế nhập khẩu ngô
khá ưu đãi nhưng Chính phủ lại quy định khoảng thời gian được phép nhập khẩu,
thường chỉ khoảng từ tháng 2 đến tháng 6 trong năm. Thuế nhập khẩu ngô trong
8
biểu thuế được quy định dựa trên giá bán buôn. Mức thuế nhập khẩu ngô trong hạn
ngạch là 20%, đậu tương là 5%, lúa mì khoảng 30%. Tiến hành trợ cấp xuất khẩu,
nhất là đối với các mặt hàng nông sản chế biến. Những chính sách này bao gồm
việc bán gạo trả chậm giữa hai Chính phủ (theo từng hợp đồng cụ thể), hỗ trợ cho
các nhà xuất khẩu thông qua cơ chế tín dụng trước và sau xuất khẩu, thành lập ngân
hàng xuất nhập khẩu, giảm lãi suất ngân hàng và giảm thuế nhập khẩu đối với
những hàng hoá tạm nhập tái xuất. Tiêu chuẩn hoá, kiểm tra, dán nhãn và chứng
nhận đối với các mặt hàng thực phẩm nhập khẩu, khuyến khích các doanh nghiệp
xuất khẩu được gạo chất lượng cao có nhãn hiệu Thái Lan, đấu tranh bảo vệ nhãn
hiệu. Đẩy mạnh thu mua lúa nhằm ổn định mức giá cho người sản xuất, thực hiện
cơ chế cầm cố lúa gạo. Trong năm 2001 nông dân Thái Lan được nhận một số tiền
vay thông qua cầm cố lúa gạo, khoảng 90% giá trị cầm cố. Chính phủ Thái Lan
cũng yêu cầu các cơ quan đẩy mạnh thu mua lúa gạo. Năm 2001, văn phòng HTX
nông nghiệp chi 2,6 triệu USD mua lúa, xay xát và bán tại thị trường nội địa, Hội
Nông dân chi 2,8 triệu USD mua lúa ước tính Thái Lan mua 800 ngàn tấn gạo để
đẩy giá lúa gạo lên trong thị trường nội địa. Để hỗ trợ cho công tác xuất khẩu, Bộ
thương mại đã thành lập Cục Xúc tiến xuất khẩu với các nhiệm vụ: tổ chức các phái
đoàn thương mại, hội chợ thương mại và phòng trưng bày; cung cấp dịch vụ thông
tin; tổ chức các cuộc gặp gỡ giữa những nhà nhập khẩu nước ngoài và doanh nhân
Thái Lan; đào tạo về xuất khẩu; thành lập các trung tâm thương mại tại nước ngoài.
II.2.2. Chính sách đối với sản phẩm đầu vào
Các cơ quan của Chính phủ chịu trách nhiệm phân phối phân bón bao gồm
Hiệp hội tiếp thị của nông dân (MOF), Ngân hàng nông nghiệp và HTX nông
nghiệp (BAAC) và Quĩ hỗ trợ tái sinh cây cao su (ORRAF). MOF là cơ quan nhà
nước thuộc Bộ nông nghiệp và HTX. Chương trình trợ giá phân bón của MOF bắt
đầu từ năm 1977. Mục tiêu của chương trình là cung cấp ít nhất 1/3 tổng nhu cầu
phân bón của nông dân cho trồng lúa. Tuy nhiên, khi vào vụ gieo trồng MOF chậm
trễ phân phối nên lượng phân bón thực tế không đạt được mục tiêu. Thông thường,
9
vào thời điểm MOF chuyển giao phân bón, nông dân đã mua phân bón qua các
nguồn khác. Từ năm 1981, ngân hàng Nông nghiệp và BAAC bắt đầu can thiệp vào
thị trường phân bón, cho nông dân vay vốn đầu tư vào phân bón. Năm 1983, BAAC
áp dụng hệ thống phân phối theo cách nông dân báo trước cho BAAC về số lượng
và loại phân bón để ngân hàng biết được tổng nhu cầu. Chi phí dịch vụ của BAAC
là lãi 2% cộng với chi phí vận chuyển. Lượng phân bón được phân phối qua BAAC
lên tới 453 nghìn tấn năm 1988, chiếm 68% tổng số phân bón qua kênh Nhà nước.
Trong năm 1992, BAAC không thu mua phân bón. Tuy nhiên từ năm 1993 đến
1995, MOAC đã thu mua phân bón và phân phối đến nông dân thông qua MOF,
BAAC và Liên đoàn HTX nông nghiệp Thái Lan. ORRAF chỉ tham gia vào việc
phân phối phân bón đến những người trồng cao su.
II.2.3. Chính sách tiếp thị
Nâng cao chất lượng nông sản và cải thiện hệ thống vận chuyển hàng hoá từ
trang trại tới các thị trường trong và ngoài nước nhanh và hiệu quả hơn. Phát triển
các khu chế xuất nông nghiệp và công nghiệp nông thôn và chế biến nông sản tại
trang trại. Thực hiện giảm thuế đối với sản phẩm này. Xây dựng các trung tâm phát
triển công nghệ và sản phẩm nông nghiệp, phát triển ngành nghề nông nghiệp.
II.2.4. Chính sách giá
Hỗ trợ và bảo hộ giá: Kể từ năm 1955, Chính phủ Thái Lan triển khai chương
trình hỗ trợ và bảo hộ giá, thiết lập mức giá tối thiểu nhằm tạo thu nhập ổn định cho
người sản xuất các mặt hàng nông sản lúa gạo, ngô, mía đường, bông, cà phê, đỗ
tương, lạc, tỏi, hành, và gần đây là cao su. Cơ chế hỗ trợ giá được tiến hành như sau
khi giá thị trường xuống thấp hơn mức giá sàn, cơ quan được chỉ định sẽ thu mua
phần lớn hàng hoá nhằm tăng nhu cầu, nâng giá bán của nông sản cho nông dân. Để
duy trì chương trình bảo hộ và hỗ trợ giá cần một số điều kiện sau: Khi được bảo hộ
giá, người sản xuất sẽ tăng mức sản xuất của họ trong mùa vụ tới, và như vậy sẽ
10
làm tăng gánh nặng cho Chính phủ. Vì vậy chi tiêu của Chính phủ cho chương trình
phải tăng theo thời gian. Phải có đủ cơ sở kho tàng thuận tiện để bảo đảm chất
lượng của nông sản. Một chương trình bảo hộ giá muốn thành công phải có đủ kho
tàng ở những vị trí cần thiết. Mạng lưới tiếp thị cần phải được chuẩn bị trước để
tránh gặp phải vấn đề bảo quản thiết bị và đầu tư, v.v. Ngoài ra, cần tổ chức và quản
lý đội ngũ cán bộ kế hoạch tin cậy, đủ năng lực. Lưu kho: Lưu kho là một công cụ
quan trọng tác động đến giá của Chính phủ Thái Lan, áp dụng chủ yếu cho các mặt
hàng gạo, sắn, một số loại đỗ và ngô. Công cụ này được áp dụng cho cả xuất khẩu
và các thị trường trung tâm ở những vùng sản xuất lớn nhằm dự trữ đủ nông sản
theo chỉ tiêu, tập trung khi phần lớn nông sản được bán ra vào đầu vụ thu hoạch.
Mặc dù lưu kho không tiến hành trực tiếp với người sản xuất như chương trình trợ
giá hay bảo hộ giá, cách can thiệp này cũng nhằm tăng giá thu mua cho nông dân
trên mức giá tối thiểu. Thời gian bán hàng dự trữ vào cuối vụ thu hoạch khi nguồn
cung sản phẩm giảm, giá nông sản tăng lên nhằm tăng lượng cung hạ bớt và ổn định
giá sản phẩm.
II.2.5. Chính sách khuyến nông
Thái Lan trích 1,3 triệu USD từ quỹ hỗ trợ nông nghiệp Myazawa (Nhật Bản)
để thành lập Cơ quan Giám sát và Kiểm tra Lương thực Nhà nước. Cơ quan này tiến
hành nghiên cứu và sáng chế các kỹ thuật mới, trao đổi kinh nghiệm và kiến thức
chuyên môn nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của các
mặt hàng nông sản.
Cơ chế hoạt động khuyến nông ở Thái Lan:
Cục Khuyến nông có mối liên hệ chặt chẽ với Cục Nông nghiệp. Cục Nông
nghiệp là cơ quan trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã Thái Lan. Cục Nông
nghiệp chủ yếu làm công tác quản lý và nghiên cứu, không trực tiếp chuyển giao
11
tiến bộ kỹ thuật, kết quả nghiên cứu tới người nông dân, những công việc này được
giao cho Cục Khuyến nông để thực hiện các hoạt động chuyển giao tới nông dân.
Các hoạt động khuyến nông của Thái Lan chủ yếu tập trung vào hoạt động đào
tạo huấn luyện và thông tin tuyên truyền, tư vấn dịch vụ. Những hoạt động này hoàn
toàn miễn phí đối với người nông dân.
Hoạt động xây dựng mô hình trình diễn chỉ xây dựng trong phạm vi các Viện
nghiên cứu, các Trung tâm phát triển xúc tiến nghề nông và Văn phòng Khuyến
nông huyện để nông dân, những người quan tâm đến học tập, trao đổi kinh nghiệm
về phương pháp SX, kỹ năng phương pháp khuyến nông (không giống ở Việt Nam).
Kinh phí hỗ trợ của nhà nước dành cho hoạt động khuyến nông lớn, nên thuận lợi
trong triển khai nhiều hoạt động. Người nông dân không phải lo đóng góp kinh phí
đối ứng nên việc triển khai nhân rộng các mô hình ở nhiều địa bàn khác nhau rất
thuận lợi.
II.2.6. Chính sách đầu tư
Bộ khoa học-công nghệ và môi trường của Thái Lan đang triển khai dự án trị
giá 10 triệu USD xây dựng đường ống dẫn nước tưới cho đồng ruộng ở khu vực
Đông Bắc, nơi chiếm tới 60% diện tích đất nông nghiệp, nhưng mới chỉ có 12%
diện tích đất được tưới tiêu. Quỹ Myazawa còn giành 500 triệu USD để đầu tư xây
dựng cơ cơ sở hạ tầng, phát triển thêm hệ thống thuỷ lợi, cải thiện đời sống cộng
đồng ở nông thôn. Đáng chú ý là kế hoạch xây dựng các tuyến đường vận chuyển
nông sản từ nơi sản xuất đến các kho bãi lưu trữ và xuất khẩu. Dự tính dự án đi vào
hoạt động sẽ tạo thêm 400 ngàn việc làm cho các vùng nông thôn.
II.2.7. Chính sách giống
Ở Thái Lan cần phải phát triển một bộ giống tốt phù hợp với các vùng đất tưới
bằng mưa tự nhiên cũng như những vùng tưới bằng hệ thống thuỷ lợi. Đây là yếu tố
12
quan trọng làm tăng năng suất cây trồng và sản lượng. Tuy nhiên, cho đến nay năng
lực tạo ra các giống có chất lượng cao, tỷ lệ nảy mầm và sinh sản nhanh của các
Viện nghiên cứu vẫn còn yếu. Đối với lúa, do hạn chế về ngân sách nên Bộ nông
nghiệp và HTX chỉ có khả năng đáp ứng 3% tổng chi phí để nghiên cứu các loại
giống mới. Vì vậy, năng suất lúa vẫn còn thấp. Tuy nhiên, trong những năm qua các
doanh nghiệp tư nhân nghiên cứu giống hoạt động rất hiệu quả, tạo ra nhiều loại
giống tốt của ngô, cao lương và rau. ở Thái Lan, giống động vật nuôi cũng không
đủ đáp ứng nhu cầu trong một thời gian dài, đặc biệt là giống bò thịt và sữa, gà thịt
và gà lấy trứng. Hàng năm Thái Lan vẫn phải nhập khẩu một lượng giống lớn.
Chính phủ Thái Lan đã và đang triển khai chương trình giống với mục tiêu là đảm
bảo thu nhập cho người sản xuất giống, nhân rộng các loại giống tốt, đào tạo nông
dân về cách thức sử dụng giống. Ngân sách hoạt động của chương trình lên tới 79
triệu USD năm 1994.
II.2.8. Một số chính sách của Chính phủ Thái Lan đối với nông dân
Thứ nhất, chính sách trợ giá nông sản
Nhiều ưu đãi về vốn và tăng cường bảo hiểm cho người nông dân được Chính
phủ Thái Lan thực hiện; thuế nông nghiệp được bãi bỏ. Chính phủ hỗ trợ các
chương trình tiếp thị, tìm kiếm địa chỉ xuất khẩu những sản phẩm sau thu hoạch và
chế biến nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho tiêu thụ nông sản thông qua việc đẩy mạnh
hình thức hợp đồng “chính phủ với chính phủ”; và đồng bộ hóa các chính sách để
bảo đảm tính liên thông từ khâu gieo trồng, sản xuất đến bao tiêu xuất khẩu và giảm
rủi ro cho người nông dân.
Chính phủ Thái Lan thực hiện trợ giá cho nông dân đối với các nông sản chủ
yếu như gạo, cao su, trái cây,… Khi giá thị trường thấp, Chính phủ đã dùng ngân
sách bao tiêu nông sản cho nông dân. Việc trợ giá nông sản không chỉ thực hiện ở
việc mua nông sản với giá ưu đãi, mà nông dân trồng lúa còn được hưởng những ưu
13
đãi như mua phân bón với giá thấp, miễn cước vận chuyển phân bón, được cung cấp
giống mới có năng suất cao, được vay vốn lãi xuất thấp từ ngân hàng nông nghiệp,
… Ngoài ra, Thái Lan cũng hỗ trợ về giá cho nông dân trồng 5 loại cây chủ lực là
sầu riêng, nhãn, vải, măng cụt và chôm chôm. Để thực hiện tốt chính sách hỗ trợ
này, Chính phủ Thái Lan sử dụng các chuyên viên cao cấp phụ trách chương trình
với nhiệm vụ giám sát từ việc sản xuất, phân phối, chế biến, giá cả cho đến tìm thị
trường xuất khẩu mới.
Thứ hai, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới
trong nông nghiệp
Do diện tích đất nông nghiệp có hạn nên Thái Lan đẩy mạnh phát triển nông
nghiệp theo hướng đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhằm cải tạo đất
trồng, lai tạo các giống cây trồng mới có khả năng thích ứng với những vùng đất
canh tác bạc màu, khô hạn. Để giữ và nâng cao độ phì nhiêu đất nông nghiệp, Thái
Lan sử dụng các loại phân bón hữu cơ, phân vi sinh và thuốc trừ sâu sinh học.
Thông qua đó, vừa giúp sử dụng quỹ đất hiệu quả, giảm nhập khẩu phân bón và
nâng cao xuất khẩu nông sản hữu cơ sạch.
Ở Thái Lan hiện nay, mức độ cơ giới hóa đã bao phủ từng thửa ruộng. Ngay
cả những khâu sau thu hoạch cũng được cơ giới hóa toàn bộ. Nhưng bí quyết thành
công của nông dân Thái Lan chính là sự kết hợp khéo léo giữa kinh nghiệm canh tác
truyền thống với việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới. Bởi do
điều kiện tự nhiên khác nhau nên nhiều vùng cần phải có những công nghệ và kỹ
thuật canh tác đặc thù. “Nút thắt cổ chai” trong việc nâng cao chất lượng nông sản
theo hướng phát triển bền vững đã được các nhà khoa học tháo gỡ bằng công nghệ
sinh học (công nghệ biến đổi gien, lai tạo giống cây trồng, vật nuôi, ).
Thứ ba, chính sách cơ cấu lại công nghiệp nông thôn
14
Chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các công việc: Cơ cấu lại ngành nghề
phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, xem xét, đánh giá đầy đủ các nguồn tài
nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và
tiếp thị,… Từ đó, tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông
sản, thủy sản, hải sản phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước.
Công nghiệp chế biến thực phẩm Thái Lan phát triển mạnh nhờ thực hiện một
số chương trình sau:
- Thực hiện chương trình “Mỗi làng một sản phẩm” (One tambon, One product -
OTOP), tức là mỗi làng làm ra một sản phẩm tiêu biểu, đặc trưng và có chất lượng
cao; chương trình “Quỹ Làng” (Village Fund Progam) nghĩa là mỗi làng sẽ nhận
được một triệu baht từ Chính phủ cho dân làng vay mượn để phát triển kinh tế - xã
hội. Trên thực tế đã có trên 75.000 ngôi làng ở Thái Lan được nhận khoản vay này.
- Chương trình: “Thái Lan là bếp ăn của thế giới” nhằm khuyến khích các nhà chế
biến và nông dân có những hành động thiết thực kiểm soát chất lượng vệ sinh thực
phẩm, đảm bảo an toàn cho hàng nông sản xuất khẩu và người tiêu dùng.
Thứ tư, đẩy mạnh đào tạo kỹ thuật canh tác, chuyển giao công nghệ cho nông
dân
Công tác đào tạo kỹ thuật, nâng cao nhận thức cho người nông dân được coi
trọng. Nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học mở các khóa học tại chỗ về kỹ
thuật canh tác, chuyển giao công nghệ nhằm thu hút và nâng cao trình độ nguồn
nhân lực nông nghiệp. Thí dụ trường Chulalongkorn (lọt vào top 200 trường đại học
hàng đầu thế giới) đã đầu tư thiết bị thí nghiệm hiện đại, hợp tác với chuyên gia từ
những nước đi đầu trong nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp, đồng thời tạo
cơ chế đãi ngộ cho nhiều nghiên cứu sinh trẻ sang nghiên cứu tại các trường đại học
ở Mỹ, Nhật Bản và châu Âu. Nhờ những hướng đi đúng đắn trong đào tạo nguồn
nhân lực chất lượng cao nên những vùng đất hoang, địa hình đồi núi dốc và cả
15
những vùng khô cằn cũng được khai thác, sử dụng trồng không chỉ có ngô, lúa
nương, mà còn trồng được nhiều loại lúa cao sản với năng suất cao.
II.2.9. Chính sách công nghiệp phục vụ nông nghiệp
Chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề
phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn
tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất
và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu.
Cụ thể, Thái lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng
nông, thủy hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến
nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát
triển. Ngành Công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan phát triển rất mạnh nhờ
một số chính sách sau:
- Chính sách phát triển nông nghiệp: Một trong những nội dung quan trọng nhất của
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2000-2005 là kế hoạch cơ cấu lại mặt hàng
nông sản của Bộ Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và sản
lượng của 12 mặt hàng nông sản, trong đó có các mặt hàng: gạo, dứa, tôm sú, gà và cà
phê. Chính phủ Thái Lan cho rằng, càng có nhiều nguyên liệu cho chế biến thì ngành
Công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm mới phát triển và càng thu được nhiều ngoại
tệ cho đất nước. Nhiều sáng kiến làm gia tăng giá trị cho nông sản được khuyến khích
trong chương trình “One Tambon, One Product - OTOP” (mỗi làng, một sản phẩm) và
chương trình quỹ làng (Village Fund Program).
- Chính sách đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, Chính phủ Thái Lan thường
xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm. Năm 2004, Thái Lan
phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm và Thái Lan là bếp ăn của thế giới”.
Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có hành động
kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng trong
16
nước và xuất khẩu. Bên cạnh đó, Chính phủ thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải
thiện chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Do đó, ngày nay, thực phẩm chế biến của
Thái Lan được người tiêu dùng ở các thị trường khó tính như: Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU
chấp nhận.
- Mở cửa thị trường khi thích hợp: Chính phủ Thái Lan đã xúc tiến đầu tư, thu hút
mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất trong nước để phát
triển ngành Công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua việc mở cửa cho các quốc gia dù
lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh. Về tiếp cận thị trường xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan
là người đại diện thương lượng với Chính phủ các nước để các doanh nghiệp đạt được lợi
thế cạnh tranh trong xuất khẩu thực phẩm chế biến. Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan có
chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào cơ sở hạ
tầng như: Cảng kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; Xúc tiến
công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Xúc tiến công nghiệp là trách nhiệm
chính của Cục xúc tiến công nghiệp (Department of Industrial Promotion), thuộc Bộ
Công nghiệp. Tuy nhiên, việc xúc tiến và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm ở
Thái Lan do nhiều cơ quan nắm giữ như: Cục Xúc tiến nông nghiệp (Department of
Agricultural Promotion) thuộc Bộ Nông nghiệp và hợp tác xã (Ministry of Agriculture
and Cooperative - MAC), Cục Hợp tác xã (Department of Cooperatives) thuộc Bộ Nông
nghiệp và Hợp tác xã giúp nông dân xây dựng hợp tác xã để thực hiện các hoạt động,
trong đó có chế biến thực phẩm, Cục Thủy sản (Department of Fishery) thuộc Bộ Nông
nghiệp và Hợp tác xã giúp đỡ nông dân từ nuôi trồng, đánh bắt đến chế biến thủy sản, Cơ
quan Tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp (Office of Industrial Product Satndard) thuộc Bộ
Công nghiệp xúc tiến tiêu chuẩn hoá và hệ thống chất lượng, Cơ quan Phát triển công
nghệ và khoa học quốc gia (National Science and Technology Development Agency) xúc
tiến việc áp dụng khoa học và công nghệ cho chế biến, Bộ Đầu tư (Board of Invesment –
BOI) xúc tiến đầu tư vào vùng nông thôn.
II.3. Đánh giá chính sách nông nghiệp Thái Lan
17
Chính sách xây dựng phát triển nông thôn ở Thái Lan là một loạt chính sách ra
đời từ thách thức của nền nông nghiệp Thái Lan, đó là diện tích canh tác bị thu hẹp,
nông dân bỏ ruộng vườn đi làm thuê, nông dân không được hưởng lợi từ các chính
sách của chính phủ.
Đây là chính sách nhằm “bắt bệnh” và tìm thuốc chữa xuất phát từ sự quan
tâm của vua Thái Lan đến chính phủ và chính quyền của các địa phương. Các chính
sách ấy đã kết hợp được kinh nghiệm truyền thống và công nghệ hiện đại đề từng
bước làm cho suy nghĩ, nhận thức cùa người nông dân Thái Lan thay đổi, họ đã
hiểu sản xuất nông nghiệp không chỉ để ăn mà còn để xuất khẩu. Từ đây họ đã
chung sức, chung lòng phát triển nền nông nghiệp với tốc độ tăng trưởng nhanh,
công nghệ cao và một số lĩnh vực đứng đầu thế giới.
III. MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Qua nghiên cứu hệ thống chính sách của Chính phủ Thái Lan hỗ trợ nông
nghiệp, nông dân, trong đó, có những chính sách rất thành công cũng như những
chính sách còn có vấn đề (ví dụ chính sách trợ giá với các hệ lụy về tham nhũng,
lãng phí,…) có thể tham khảo một số kinh nghiệm cho Việt Nam, như:
Một là, đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, đưa
khoa học công nghệ thâm nhập sâu vào tất cả các quá trình từ sản xuất đến thu
hoạch, bảo quản, chế biến, lưu thông
18
Kinh nghiệm của Thái Lan chỉ ra rằng, khoa học công nghệ giúp con người
không chỉ tiết kiệm thời gian mà con nâng cao hiệu quả sản xuất. Chính khoa học
công nghệ hiện đại và đồng bộ trong các khâu cũng như ở các địa phương trên cả
nước đã giúp Thái Lan phát triển mạnh nhiều ngành sản xuất nông nghiệp, giải
phóng sức lao động của nông dân và cải thiện thu nhập cho họ. Việt Nam cũng đã
có kinh nghiệm trong việc đón đầu một số thành tựu khoa học công nghệ mới cho
phép rút ngắn khoảng cách với các quốc gia khác trong quá trình đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Quá trình này cần phải được tiếp
tục tại các vùng, miền, đối với tất cả các khâu khác nhau của chu trình sản xuất
nông nghiệp và cần định hướng, quy hoạch phát triển và đầu tư của Nhà nước.
Hai là, đẩy mạnh phát triển những loại nông sản có chất lượng tốt, giá trị kinh
tế cao nhằm nâng cao thu nhập cho nông dân
Việt Nam tuy là nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới nhưng các số liệu thống
kê chỉ ra rằng loại gạo mà chúng ta sản xuất chưa có sức cạnh tranh cao với gạo của
các nước khác trên thế giới, hiệu quả không cao. Điều này dẫn đến một thực trạng là
chúng ta để mất thị phần không nhỏ trong nước cho các loại gạo chất lượng cao của
Thái Lan,… Hơn nữa, tuy nước ta có khối lượng xuất khẩu gạo lớn nhưng do hạn
chế về giá nên kim ngạch không cao tương ứng với khối lượng. Ở Thái Lan có xu
hướng sản xuất gạo chất lượng cao và có sức cạnh tranh cao để xuất khẩu, nhằm
tăng thu nhập cho nông dân. Đây là vấn đề Việt Nam cần quan tâm, bởi lẽ, chúng ta
cũng có nhiều loại lúa hay các cây, con trong nông nghiệp có chất lượng cao và
được ưa chuộng trên thị trường quốc tế.
Ba là, gắn phát triển kinh tế nông nghiệp với việc giữ gìn tài nguyên, bảo vệ
nguồn sống của nông dân
Hiện nay, ở Việt Nam, nhiều giống cây, con bị khai thác quá mức hoặc do môi
trường sống của chúng quá ô nhiễm nên bị thoái hóa, năng xuất suy giảm. Với vị trí
19
địa lý và điều kiện tự nhiên của mình, Việt Nam là một trong những nước có nguy
cơ tổn thất nhiều nhất trên thế giới trước biến đổi khí hậu. Khi xảy ra thảm họa hay
thiên tai thì những người nghèo, những nông dân, cần đến môi trường tự nhiên để
sản xuất lại là những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội. Như vậy, phát triển
bền vững là cái đích mà chúng ta phải hướng tới, và mô hình nông nghiệp hữu cơ ở
Thái Lan (hay Ấn Độ) rất đáng để chúng ta học tập, phổ biến kinh nghiệm cho nông
dân nhằm thay đổi tập quán sản xuất của họ theo hướng tiến bộ, thân thiện với môi
trường.
Bốn là, thực hiện bảo hiểm trong nông nghiệp
Ở Thái Lan, các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp dành cho tất cả nông dân và
là bắt buộc đối với người vay vốn. Phạm vi bảo hiểm áp dụng cho cây lương thực,
cây lấy dầu, cây vườn, cây thương mại hàng năm, Mức bồi thường nhiều loại cây,
con từ 60-90% của sản lượng trung bình trong những năm trước. Đương nhiên, để
phát triển bảo hiểm nông nghiệp rộng khắp, Chính phủ Thái Lan hỗ trợ nguồn kinh
phí đáng kể. Đây là những tham số có thể xem xét khi thực hiện bảo hiểm nông
nghiệp cho nông dân Việt Nam, nhất là trong những tình huống mùa màng thất bát,
thiên tai./.
Năm là, qui hoạch và quản lý sử dụng, tích tụ đất nông nghiệp ở Việt
Nam hiện nay:
- Đất đai là tiềm lực sản xuất cơ bản không thể thay thế nông nghiệp. Khoảng 10
năm trước đây khâu đột phá trọng yếu là giao quyền sử dụng ruộng đất ổn định cho nông
dân và thực tế cho thấy chủ quyền sử dụng những thửa ruộng nhỏ bé, manh mún của của
nông dân là loại chủ quyền mong manh yếu ớt trước cơn bão thị trường và hội nhập. Do
vậy, công tác qui hoạch quản lý sử dụng đất nông nghiệp đang nổi lên vấn đề bức xúc,
nan giải là người nông dân vùng đô thị hóa mất đất canh tác, nẩy sinh vấn đề khiếu kiện
về đất đai gây yếu tố bất ổn định. Do vậy, bài học Trung Quốc có thể vận dụng cho Việt
20
Nam là: hạn chế tối đa lấy đất nông nghiệp trồng lúa cho mục đích công nghiệp, và nên
ban hành mức thuế đánh mạnh vào chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, nhằm
ngăn chặn việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp nhằm ngăn chặn việc nông
dân mất đất do đô thị hóa tạo nên. Mặt khác, cũng cần ban hành chính sách và giám sát
thật chặt chẽ việc qui hoạch sử dụng đất đai nông nghiệp trên cả nước và từng địa
phương một cách có căn cứ, ổn định, lâu dài công tác qui hoạch, quản lý, sử dụng đất
nông nghiệp để bảo vệ nông dân. Phải có căn cứ khoa học và thúc tiến, có quan điển
khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và tầm nhìn xa về xây dựng và phát triển nông
thôn. Kiên quyết giữ các vùng đất tốt chuyên canh ở đồng bằng, sông Cửu Long ở mức
2,5 triệu ha, đồng bằng sông Hồng 0,8 triệu ha, qui hoạch từng vùng, từng địa phương và
phải bảo vệ từng vùng đất này cho tốt.
- Khi cần thu hồi đất của nông dân phải đền bù thỏa đáng, thật thấu đáo và bố trí
công ăn việc làm thích hợp cho người nông dân. Phần lợi nhuận thu từ đất thu hồi trích
theo tỷ lệ nộp lại cho địa phương sử dụng cho mục đích công cộng và xã hội.
- Để mở rộng qui mô sản xuất nông nghiệp, chúng ta cũng cần tạo điều kiện cho quá
trình tích tụ ruộng đất, nên nới rộng hạn điền và thời gian giao quyền sử dụng đất từ 50
đến 100 năm để người dân an tâm đầu tư lâu dài. Trong trường hợp người dân chuyển
sang các ngành nghề khác thì nhà nước đứng mua và cho thuê nhằm bảo đảm diện tích
đất nông nghiệp, thúc đẩy tích tụ đất ruộng ở nông thôn.
Sáu là, hỗ trợ tích cực cho nông dân bằng việc chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp, nông thôn:
Nông nghiệp Việt Nam vừa qua có một bước tiến bộ như tăng trưởng về diện
tích, qui mô, sản lượng, .v v… thậm chí nhiều nông dân đã làm ra các nông sản
xuất khẩu sang thị trường các nước nhưng về cơ bản thì các cơ cấu nông nghiệp
Việt Nam vẫn chưa đổi về chất, nông dân ta vẫn xuất khẩu dưới dạng thô hoặc sơ
chế, hàm lượng dinh dưỡng thấp, giá trị hàng hóa vẫn còn bị thua thiệt. Do vậy, bài
21
học là tới đây chúng ta cần phải chuyển dịch cơ cấu theo hướng nông nghiệp công
nghệ cao, giá trị cao, cần phải chú trọng đầu tư nghiên cứu và khuyến khích chuyền
giao sử dụng các kết quả khoa học công nghệ trong nông nghiệp, nhất là công nghệ
sinh học (Thái Lan làm rất tốt hướng hỗ trợ này).
Chúng ta đang đề ra nhiệm vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn, quá
trình ấy không chỉ là áp dụng những tiến bộ của công nghệ thông tin, tự động hóa
vào chăn nuôi và trồng trọt,.v v… mà còn là phải thay đổi các qui trình và công
nghệ, qui luật sinh học, tạo ra các cây công nghiệp ngắn ngày, cho năng xuất cao,
chất lượng cao có khả năng chống chịu thời tiết khắc nghiệt và có sức kháng bệnh
tốt. Có như thế chúng ta mới có một nền nông nghiệp cao và cùng đồng nghĩa chất
lượng sản xuất và đời sống nông dân ở bậc cao, phát triển bền vững.
Để thực hiện bài học này thì chính phủ, bộ và các ngành có liên quan phải hổ
trợ nông dân cách sử dụng công nghệ sinh học từ những nguyên liệu sẵn có như
mía, sắn, ngô, khoai dùng cho công nghệ sinh học, thậm chí là các chất tưởng như
bỏ đi cũng có thể dùng vi sinh vật tạo ra năng lượng rơm, rạ, lau sậy, mùn cưa,
.v v
Trước mắt chúng ta cần tập trung nghiên cứu chọn lọc và hoàn thiện bộ giống
chuẩn quốc gia về các cây lượng thực chủ yếu như lúa cao sản, ngắn ngày, các
giống cây ăn trái Nam bộ, chè, cao su, càfê và thủy hải sản thế mạnh của Việt Nam.
Ở đây chính phủ có trách nhiệm chuẩn bị tốt tri thức nhiều mặt để nông dân bắt kịp
với nền nông nghiệp hiện đại.
Bảy là, Chính phủ phải có bước đột phá về thị trường và nâng cao sức cạnh
tranh của hàng hóa nông sản, hoàn thiện thể chế lưu thông, nhất là lưu thông hàng
nông sản: lúa gạo, cá, tôm:
Việc gia nhập WTO là thách thức lớn nhất với nông dân và hàng hóa nông sản
Việt Nam. Ở đây, phương thức canh tác nông nghiệp còn lạc hậu, năng xuất thấp và
22
chi phí cao, chất lượng và qui cách sản phẩm không đồng đều, .v v… đang là khó
khăn cho việc cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam. Để khắc phục tình trạng trên
Việt Nam cần có bước đột phá thị trường để xa thương hiệu, quảng bá sản phẩm,
chiếm lĩnh thị phần ở thị trường EU, Úc, Nhật, Hoa Kỳ, .v v… Trách nhiệm này
không thề phó thác cho nông dân hay một doanh nghiệp cụ thế nào mà đó phải là
trách nhiệm của chính phủ và các bộ chuyên nghành, các cơ quan hoạch định chiến
lược quốc gia cùng chung tay phối hợp thực hiện thì mới đem lại hiệu quả được.
Cú sốc giá lúa gạo vừa qua đã cho ta thấy hệ thống các thể chế điều hành vĩ
mô và điều hành thể chế thương mại cần thiết của chúng ta còn rất yếu và thiếu,
chưa bắt kịp yêu cầu hội nhập thị trường hiện đại. Chính sách và phản ứng còn thiếu
nhạy bén và thiếu chính xác từ chính phủ đã gây tổn thất nặng nề cho nông dân.
Đây là bài học xót xa để hỗ trợ nông dân của Việt Nam, chúng ta đã chậm chạp và
lạc hậu trước diễn biến của thị trường. Không điều hành thống nhất được kênh thu
mua phân phối thâm chí bỏ trống cho tư thương lũng đoạn, tùy tiện gây bất lợi cho
nông dân là người sản xuất, họ là “gốc” nhưng luôn phải chịu thiệt thòi và rủi ro.
Điều đáng chú ý hiện nay là đầu cơ, lạm phát và chỉ số CPI tăng cao trong thời gian
qua đã và đang tác động mạnh đến các hộ nông dân nghèo, thu nhập thấp, họ chịu
thiệt thòi nhất bởi nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng khá cao chiếm tới 70%
cơ cấu tiêu dùng của các hộ nông dân nghèo. Mặt khác, tăng giá bình quân đầu vào
của các vật tư sản xuất nông nghiệp cao hơn đầu ra của sản phẩm nông sản từ 20
đần 25% đang đặt ra bài toán cho chính sách hỗ trợ nông dân hiện nay như thế nào?
Chúng tôi xin kiến nghị biện pháp kiện toàn tổ chức và thể chế cơ bản để đẩy
mạnh lưu thông hàng hóa như sau:
- Nông dân trồng lúa.
- Các kênh đại lý thu mua lúa gạo.
- Hợp tác xã hay hiệp hội nhiều người sản xuất lúa.
23
- Nhà nước và cơ quan quản lý điều hành xuất khẩu.
Các chủ thể này tương tác và chế ước lẫn nhau trong đó nhà nước đóng vai trò
trung tâm (đề ra luật chơi và điều hành, kiểm tra, giám sát) chúng ta nên chuyển từ
điều tiết hạn ngạch sang hình thức xuất nhập khẩu thì sẽ có lợi cho nông dân nhiều
hơn.
Tám là, cần có biện pháp hỗ trợ có hiệu quả cho nông dân:
Như đã phân tích trên, trong cơ chế thị trường nông dân luôn là người chịu
thiệt và yếu thế vì sự cạnh tranh khóc liệt làm họ cho yếu dần đi. Bản thân sự sản
xuất của họ lại luôn hàm chứa rủi ro vì biến động giá cả và thời tiết, việc đầu tư cho
nông nghiệp mang lại lợi nhuận thấp ít hấp dẫn các nhà đầu tư nhưng sản xuất nông
nghiệp và sản phẩm của nông dân lại là bắt buộc và không thể thiếu đối với xã hội.
Ở các nước nông nghiệp phát triển người ta rất quan tâm và có điều kiện tài chính
để trợ cấp, bảo hộ rất mạnh cho nông nghiệp. Sự thật các nước này luôn dưng lên
một hàng rào bảo hộ ở mức cao gây khó khăn cho hàng nông sản của chúng ta thâm
nhập vào thị trường các nước.
Còn ở nước ta, vừa nghèo chưa đủ điều kiện lại vừa chưa nhận thức đúng điều
này nên sự hỗ trợ cho nông nghiệp và nông dân bị xem nhẹ. Việc gia nhập WTO
đang dự báo nông nghiệp và nông dân ta sẽ phải chịu nhiều tác động do năng lực
cạnh tranh và trình độ sản xuất thấp như đã phân tích trên và do vậy, hỗ trợ có hiệu
quả cho nông dân là một thực tế đặt ra và cũng là bài học rúi kinh nghiệm từ các
nước. Tới đây chúng ta nên chú trọng mấy vấn đề xung quanh bài học này như sau:
Phải hỗ trợ đúng nguyên tắc của WTO, WTO cho phép trợ cấp nông nghiệp
(trừ trợ cấp xuất khẩu) đến 10% GPD của ngành. Do vậy, chúng ta có thể dành 1,2
tỷ USD + 20.000 tỷ VNĐ (từ ngân sách) để hỗ trợ cho nông dân. Nên chú ý là
WTO chỉ cấm hỗ trợ bóp méo giá cả thị trường hoặc hàng hóa xuất khẩu gây tổn hại
cho xuất khẩu của nước nhập mà thôi.
24
Nên tập trung hỗ trợ phát triển hạ tầng kỹ thuật thủy sản và mở mang giao
thông nông thôn, đào tạo và nâng cao dân trí, chuyển dịch lao động nông thôn,
chuyển giao nâng cao ứng dụng khoa học công nghệ hỗ trợ cho vùng khó khăn, chi
trả trực tiếp cho người sản xuất, trợ cấp chi phí tiếp thị và vận chuyển trong và
ngoài nước.
Hỗ trợ để thu hẹp khoảng cách thu nhập và mức sống giữa nông thông và
thành thị thông qua các chương trình lớn của chính phủ như chương trình 35, 135,
134, .v v…
Nên nhận thức rằng hỗ trợ của nhà nước phải là chất xúc tác để phát huy hiệu
quả của các thành phần kinh tế vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Hiện nay
nông dân Việt Nam chiếm đa số trong dân cư nhưng đầu tư vào nông nghiệp chỉ
chiếm 14% tổng đầu tư ngân sách là chưa hợp lý. Nên cải tiến tỷ lệ đầu tư đạt gấp
đôi hiện nay thì sẽ rất có ý nghĩa.
Tất cả các quốc gia có thế mạnh nông nghiệp trên thế giới hiện nay đều đã và
đang thực thi các chính sách hỗ trợ nông nghiệp nông thôn một cách tích cực. Đó là
các chính sách trợ giá cho nông dân sản xuất các mặt hàng nông sản chủ yếu; chính
sách công nghiệp nông thôn; chính sách mở cửa thị trường để thu hút đầu tư mạnh
cùa nước ngoài cho nông nghiệp của Thái Lan. Đó cũng là chính sách nhanh chóng
giảm thuế, miễn thuế để thu hút vốn đầu tư vào nông nghiệp; là chính sách Tam
nông trong xây dựng nông thôn mới với tiêu chí “Hai mở, một điều chỉnh” nhằm
đạt các mục tiêu “Nông nghiệp gia tăng sản xuất, nông thôn phát triển, nông dân
tăng thu nhập”; là chính sách gắn khuyến nông tăng quyền cho nông dân và mở
hướng phát triển ra nước ngoài ở Trung Quốc. Tất cả các chính sách ấy đều có thể
tham khảo vận dụng tốt ở Việt Nam.
25