THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NGÀNH NÔNG NGHIỆP THÁI BÌNH.
I. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH
THÁI BÌNH.
1. Đặc điểm, vị trí tỉnh Thái Bình .
Thái Bình là một tỉnh đồng bằng ven biển châu thổ sông Hồng, có toạ độ địa lý
là: 20
o
17 đến 22
o
44 độ vĩ bắc và 106
o
06 đến 106
o
39 kinh độ đông. Phía Đông giáp
vịnh Bắc bộ, phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Nam Định và Hà Nam, phía Bắc giáp
tỉnh Hải Dương, Hưng Yên và thành phố Hải Phòng. Từ Tây sang Đông dài 54 km,
từ Bắc xuống Nam dài 49 km. Thái Bình ở trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam
giác tăng trưởng: Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long và được bao bọc bởi hệ thống
sông biển khép kín, có 5 cửa sông lớn (Văn Úc, Diêm Điền, Ba Lạt, Trà Lý, Lân)
có các sông lớn của miền Bắc như: Sông Hồng 67 km, Sông Luộc 53 km, Sông
Hoá 35 km, và phía Đông tiếp giáp vịnh Bắc bộ với chiều dài bờ biển trên 49 km
(Thái Thuỵ 21.5 km, Tiền Hải 27.7 km) và tổng số chiều dài đê sông, đê biển là
366 km.
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, bức xạ mặt trời lớn, tạo nên nhiệt độ cao.
Nhiệt độ trung bình trong năm là 23 - 24
o
C, nhiệt độ thấp nhất ở 4
o
C và cao nhất
tới 38 - 39
o
C. Số giờ nắng trong năm từ 1600 - 1800 giờ. Lượng mưa trung bình
hàng năm 1500 - 1900 mm, cao nhất là 2528 mm thấp nhất là 1173mm. Có trận
mưa trong vòng 1 - 2 ngày từ 300 - 500 mm nên công tác phòng chống bão lụt
được các cấp các ngành trong tỉnh hết sức quan tâm chỉ đạo.
Thái Bình có 105.5 ngàn ha đất nông - lâm nghiệp, thuỷ sản trong đó: diện tích
đất nông nghiệp 96.382 ha chiếm 62.67% so với tổng diện tích đất tự nhiên, diện
tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 6.652 ha và diện tích đất lâm nghiệp 2259 ha.
Vị trí địa lý như vậy, đã tạo cho Thái Bình điều kiện thuận lợi là đất đai màu
mỡ, bằng phẳng dễ canh tác và hàng năm được phù sa Sông Hồng bồi đắp. Song
cũng có mặt khó khăn do chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nên hàng
năm Thái Bình vẫn gặp nhiều khó khăn do thiên tai, bão lụt gây ra làm thiệt hại về
mùa màng, của cải, công trình kiến trúc và thậm chí cả con người.
Tuy diện tích hẹp và mật độ dân cư đông đúc nhưng đồng ruộng Thái Bình phì
nhiêu, xóm làng nối tiếp, giao thông liên lạc thuận tiện, nông dân có truyền thống
và kỹ thuật thâm canh lúa nước từ lâu đời và cũng có nhiều làng nghề thủ công nổi
tiếng. Từ xa xưa và đặc biệt là trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ, Thái Bình được coi là “kho người, vựa lúa”. Trong công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội hiện nay, Thái Bình là một tỉnh trọng điểm về sản xuất lương thực của
cả nước.
Xuất phát từ một tỉnh kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, mật độ dân cư đông đúc,
bình quân ruộng đất cho một nhân khẩu nông nghiệp thấp nhất so với nhiều tỉnh
vùng đồng bằng Sông Hồng, việc đảm bảo đời sống cho toàn dân trong tỉnh và có
tích luỹ là một bài toán khó cho các cấp lãnh đạo. Thời gian qua, với sự nỗ lực cố
gắng, đồng lòng, nhìn chung tình hình kinh tế xã hội của tỉnh đạt được những kết
quả đáng khích lệ.
2. Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Thái Bình 1991 - 2000.
Từ năm 1991 - 2000 là thời kỳ tiếp tục phát huy hiệu quả của công cuộc đổi
mới được khởi xướng từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. cơ sở vật chất của nền
kinh tế của tỉnh được tăng cường và ngày càng hoàn thiện, nền kinh tế đã đạt tốc
độ tăng trưởng tương đối cao. Giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh năm 2000 gấp hơn
2 lần năm 1990, bình quân hàng năm tăng 7%. Tuy nhiên, trong giai đoạn này thì
thời kỳ 1991 - 1995 có kết quả đạt được cao nhất, bình quân hàng năm
tăng10,25%, trong đó sc nông nghiệp tăng 5,8%, công nghiệp xây dựng tăng 21%,
các ngành dịch vụ tăng 22,8%.m Thời kỳ 1996 - 2000 với nhiệm vụ trọng tâm là
thực hiện định hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá nhưng lại có nhiều khó khăn
mới xuât hiện như cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính trong khu vực, thị trường
tiêu thụ sản phẩm bị thu hẹp, sự mất ổn định ở nông thôn kéo dài... Tình hình trên
đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Tốc độ
tăng trưởng kinh tế thời kỳ này chỉ đạt 4,5% hàng năm, trong đó sản xuất nông
nghiệp tăng 2,6%, công nghiệp xây dựng tăng 3,3%, và khu vực dịch vụ tăng
9,4%.
Như vậy mặc dù có những khó khăn xuất hiện trong những năm gần đây,
nhưng nền kinh tế của tỉnh vẫn tăng trưởng liên tục dù mức độ có khác nhau giữa
các thời kỳ, giữa các ngành nghề...
- Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản: Tổng giá trị sản xuất ngành
nông, lâm nghiệp, thuỷ sản năm 2000 đạt 3.893 tỷ đồng (giá so sánh năm 1994)
tăng 52,1%so với năm 1990. Giá trị tổng sản phẩm GDP của khu vực này dự kiến
đạt 2.677 tỷ đồng so với năm 1990 tăng 51,49%, bình quân mỗi năm tăng 4,2%. Cả
hai ngành trồng trọt và chăn nuôi đều có sự tăng trưởng khá (bình quân mỗi năm
sản phẩm trồng trọt tăng 3,8%, chăn nuôi tăng 5,25%). Sự chuyển dịch cơ cấu
trong nông nghiệp sau 10 năm (1990 - 1999) cho thấy tỷ trọng sản phẩm trồng trọt
trong GDP của nông nghiệp từ 85,17% năm 1990 giảm xuống còn 83,84% năm
1999 và sản phẩm chăn nuôi từ 12,56% năm 1990 tăng lên 14,24% năm 1999. Tuy
nhiên từ năm 1996 đén nay tốc độ tăng trưởng của khu vực này đạt thấp hơn thời
kỳ 1991 -1995; Tổng sản phẩm ngành nông nghiệp, thuỷ sản năm 2000 so với năm
1995 tăng 14,25%, bình quân mỗi năm tăng 2,7%. Nhìn chung sau 10 năm, đến
nay nông nghiệp của tỉnh Thái Bình đã có bước tiến khá dài, trong đó nổi bật nhất
là kết quả thực hiện chương trình an ninh lương thực và chăn nuôi các đàn gia súc
gia cầm và nuôi trồng đánh bắt thuỷ sản.
- Sản xuất công nghiệp : Đã được tổ chức và sắp xếp lại sản xuất, tăng cường
đầu tư mua sắm thiết bị và đổi mới công nghệ ở một số ngành nghề đồng thời tích
cực tìm kiếm thị trường tiêu thụ đã tạo cho sản xuất công nghiệp thời kỳ 1991 -
1995 phát triển khá mạnh mẽ. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 1995 đạt 960 tỷ
đồng tăng 134% so với năm 1990, bình quân hàng năm tăng 18,75%, giá trị tăng
thêm năm 1995 đạt 302 tỷ đồng tăng 94.2% so với năm 1990 bình quân hàng năm
tăng 14,2%. Thời kỳ 1996 - 2000, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ khu vực, thị trường tiêu thụ sản phẩm bị thu hẹp, nhiều cơ sở phải dừng sản
xuất hoặc sản xuất cầm chừng, tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp thời kỳ
này chậm hơn so vớt các thời kỳ trước. Giá trị sản xuất năm 2000 đạt 1.403 tỷ
đồng tăng 46,14% so với năm 1995, bình quân hàng năm tăng 8%. Giá trị tăng
thêm năm 2000 đạt 429 tỷ đồng tăng 44,4% bình quân mỗi năm tăng 7,3%. Nhìn
chung cả thời kỳ từ 1991 - 2000: Giá trị sản xuất công nghiệp bình quân hàng năm
tăng 13%. Giá trị tăng thêm năm 2000 gấp 2,8% lần năm 1990, bình quân hàng
năm tăng 9,8%. Như vậy, sản xuất công nghiệp của tinh Thái Bình trong 10 năm
qua đã có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, nhất là các năm 1991 - 1995. Những
năm tiếp theo có một số khó khăn nảy sinh như việc áp dụng thiết bị công nghệ,
khả năng đầu tư vốn và sức cạnh tranh trên thị trường còn hạn chế, tốc độ tăng
chậm lại nhưng vẫn giữ được sự tăng trưởng liên tục.
- Tổng mức đầu tư xây dựng cơ bản toàn xã hội 10 năm (1991 - 2000)thực hiện
được 6.513 tỷ đồng, trong đó khối lượng vốn đầu tư năm 2000 dự kiến thực hiện
trên 961 tỷ đồng gấp 2,1 lần năm 1991 và 1,4 lần năm 1995. Riêng vốn đầu tư thời
kỳ 1996 - 2000 đạt 3.589 tỷ đồng tăng 28% so với thời kỳ 1991 -1995. Như vậy,
xét trong cả thời kỳ 1991 - 2000, tổng số vốn đầu tư khá lớn và tăng liên tục, bình
quân hàng năm tăng 8,6%.
- Các ngành Giao thông vận tải - Bưu điện trong những năm vừa qua cũng
được đầu tư khá lớn và phát triển nhanh.
- Công tác xuất nhập khẩu từ năm 1996 đến nay dã có nhiều chuyển biến đáng
kể, các mặt hàng và thị trường xuất khẩu đã ổn định hơn. Tổng giá trị hàng xuất
khẩu năm 2000 đạt 35 triệu 566 nghìn USD tăng 17 triệu 432 nghìn USD so với
năm 1995. Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm (1996 - 2000) đạt 136,2 triệu USD.
Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của tỉnh hiện nay là gạo tẻ, lợn sữa, hàng mây
tre đan, gang tay da, ...
Tổng giá trị hàng nhập khẩu 5 năm qua dự kiến đạt 141,2 triệu USD, trong đó
năm 2000 nhập khẩu khoảng 32,6 triệu USD. Những mặt hàng chủ yếu nhập khẩu
là thép , bông, men sản xuất gạch, nguyên liệu may mặc,...
- Hoạt động tài chính ngân hàng đã đảm bảo được cân đối thu chi phục vụ tốt
cho các mặt công tác của tỉnh.
- Các hoạt động văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục thể thao đều có bước phát
triển. Công tác giáo dục đã được chú trọng đầu tư, tăng cường cơ sở vật chất cho
công tác giảng dạy và học tập. Đến nay cả tỉnh Thái Bình đã có 295 trường mẫu
giáo và 608 trường phổ thông các cấp, lực lượng giáo viên và học sinh cũng tăng
lên khá nhiều, chất lượng giảng dạy được nâng lên đáng kể. Công tác y tế, chăm
sóc sức khoẻ và kế hoạch hoá gia đình đã có nhiều tiến bộ. Các cơ sở vật chất của
ngành y tế từ xã đến các trung tâm y tế đều được nâng cấp. Cán bộ ngành y tế cũng
tăng lên đáng kể. Có 98,9% số trẻ em dưới 4 tuổi được tiêm chủng đủ loại vác xin,
tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn 33,6%. Các năm qua những bệnh dịch xảy ra đều
được dập tắt kịp thời.Công tác khám chữa bệnh có nhiều tiến bộ, việc quản lý bảo
hiểm y tế được chặt chẽ đã giảm bớt khó khăn cho người bệnh.
Tình hình lao động việc làm và đời sống của nhân dân: Kết quả điều tra dân số
1/4/1999 cho thấy số người từ 13 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành
KTQD chiếm 69% và số ngươì không có việc làm hoặc thiếu việc chiếm 5,93%.
Thời gian qua giải quyết việc làm đối với người lao động đã được các cấp các
ngành trong tỉnh quan tâm đúng mức với các biện pháp như đầu tư xây dựng thêm
các cả sản xuất dịch vụ, chuyển dân đi xây dựng các vùng kinh tế mới ngoài tỉnh,
xuất khẩu lao động, cho các hộ vay vốn đầu tư sản xuất, mở rộng ngành
nghề...Những chính sách và biện pháp trên đã góp phần giải quyết việc làm và từng
bước nâng cao đời sống của nhân dân.
Sự phát triển kinh tế xã hội trong những năm qua mà tỉnh Thái Bình dã đạt
được là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: Bên cạnh sự chỉ đạo, hướng dẫn của
UBND tỉnh, ý thức người dân còn có sự đóng góp quan trọng của nguồn vốn ngân
sách, các nguồn hỗ trợ chính thức (ODA), xuất nhập khẩu ...
Tuy nhiên ngoài những nét chung, sự phát triển kinh tế xã hội vẫn mang những
đặc điểm của một tỉnh mà sản xuất nông nghiệp giữ vai trò chủ yếu (56%), điểm
xuất phát của sản xuất công nghiệp và dịch vụ rất thấp. Sản xuất nông nghiệp trong
những năm qua phát triển ổn định và đat được mục tiêu phấn đấu của tỉnh, nhưng
nhìn chung vẫn chưa có những đột phá quan trọng và mới đạt được mục tiêu số
lượng bảo đảm an toàn về lương thực nhưng hiệu quả kinh tế chưa cao. Sản phẩm
nông nghiệp tiêu thụ ở dạng thô là chủ yếu. Trồng trọt và chăn nuôi vẫn còn mất
cân đối. sản xuất công nghiệp và dịch vụ tuy có tốc độ phát triển cao nhưng chưa
ổn định. Giá trị hàng hoá xuất khẩu bình quân đầu người mới đạt 19,7 USD dạt
thấp hơn tiềm năng hiện có...
Để giải quyết vấn đề trên, tỉnh Thái Bình cần phải có một chính sách đầu tư
thoả đáng, hợp lý. Nguồn vốn dùng để đầu tư ngoài nguồn ngân sách ra còn có thể
khai thác từ nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA của các Chính phủ nước
ngoài, tổ chức quốc tế, tổ chức phi Chính phủ (NGO), huy động nguồn vốn từ dân.
II. THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
TỈNH THÁI BÌNH NHỮNG NĂM VỪA QUA.
1. Tình hình đầu tư nói chung tại tỉnh Thái Bình.
Trong những năm vừa qua, với những chính sách đầu tư được cụ thể hoá, chi
tiết hoá và được phân cấp nhỏ quản lý, do vậy mà vai trò về quản lý, huy động vốn
của tỉnh Thái Bình nói riêng và 61 tỉnh thành trong cả nước nói chung được nâng
cao. Đối với tỉnh Thái Bình, tỉnh đã thực hiện đúng đắn và nghiêm túc các chính
sách của Chính phủ về huy động và sử dụng các nguồn vốn đã được huy động.
Tỉnh đã cụ thể hoá các chính sách và áp dụng chi tiết sao cho phù hợp với những
điều kiện, những hoàn cảnh của tỉnh đặc biệt là những chính sách khuyến khích
đầu tư vào các lĩnh vực như nông - lâm - ngư nghiệp, thuỷ sản ... Đó là những
chính sách miễn giảm thuế, giá cả, tín dụng, tiêu thụ... nhằm ngày càng thu hút
được nhiều nguồn vốn với số lượng vốn hơn nữa đầu tư trong tỉnh. Tỉnh đã giao
nhiệm vụ và chỉ đạo sát sao cho Sở Kế hoạch và Đầu tư thực hiện tốt kế hoạch thu
hút và sử dụng vốn đầu tư, thực hiện các nhiệm vụ như thẩm định, lập kế hoạch,
quản lý dự án... Một vấn đề quan trọng nữa là các thủ tục hành chính liên quan đến
đầu tư, xin thành lập doanh nghiệp , đăng ký kinh doanh, đã được Tỉnh chỉ đạo
nhanh chóng, nghiêm túc và đúng quy định. Đồng thời, giảm bớt các thủ tục hành
chính rườm rà không cần thiết gây nản lòng cho chủ đầu tư. Nhờ vậy, trong những
năm qua tỉnh Thái Bình đã thu hút được nhiều nguồn vốn với số lượng đáng kể
( vốn ngân sách, vốn tín dụng, vốn đầu tư từ dân, đặc biệt là vốn đầu tư cuả các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh...).
Cụ thể các nguồn vốn được thể hiện ở bảng sau:(trang bên)
Theo bảng 1 chúng ta thấy tổng số vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Thái
Bình giảm mạnh trong năm 1998 (giảm 112.276 triệu đồng so với năm 1997)
nhưng được phục hồi vào năm 1999 (tăng 139.155 triệu đồng so với năm 1998).
Cũng theo bảng này, vốn đầu tư các đơn vị do điạ phương quản lý bị giảm mạnh
trong năm 1998 và được phục hồi vào năm 1999, cụ
thể là năm 1998 giảm 131.282 triệu đồng so với năm 1997 và năm 1999 tăng
113.803 triệu đồng so với năm 1998. Vốn đầu tư các đơn vị TW trên
lãnh thổ địa phương năm 1997 giảm đáng kể và được tăng dần trong những
Bảng 1 : Thực hiện vốn đầu tư XDCB toàn xã hội địa bàn tỉnh Thái Bình.
(Theo giá hiện hành)
Đơn vị tính: Triệu đồng.
1995 1996 1997 1998 1999
Tổng số vốn 681912 670646 679003 566727 705882
A.Các đơn vị do địa phương
quản lý
671412 627519 645500 514218 628021
I. Khu vực trong nước
Chia theo nguồn vốn
1. Vốn ngân sách Nhà nước 98791 53867 52504 56348 96239
Trong đó: Nsách TW trợ cấp 61565 30000 58858
2. Vốn tín dụng ưu đãi 16100 27108 12407 25884 28826
3. Vốn đầu tư của các
d.nghiệp ngoài q.doanh
47965 21035 115968 29855 30726
4. Vốn đ.tư XDCB của dân 400000 397000 400000 350000 390000
5. Các nguồn vốn khác 108556 125509 64621 52131 82230
II. Khu vực vốn đầu tư nước
ngoài
B. Các đơn vị TW trên lãnh
thổ địa phương
10500 46127 33503 52509 77861
Vốn ngân sách Nhà nước 10500 45649 33503 52509 69861
Ghi chú: Riêng vốn đầu tư XDCB của dân là số liệu suy rộngtừ điều tra mẫu.
Niên giám thống kê 1990 - 1999 Cục thống kê Thái Bình.
năm kế tiếp. Các điều này xảy ra là do vốn đầu tư của các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh giảm mạnh, đồng thời vốn đầu tư XDCB của dân và các nguồn vốn khác
cũng giảm. Cụ thể nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh năm
1997 giảm 86.113 triệu đồng so với năm 1998... Như chúng ta đã biết, nguyên
nhân chủ yếu là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế ở châu á trong thời
gian qua, đã gây nên sự mất ổn định kinh tế trong khu vực và nước ta cũng không
tránh khỏi tầm bị ảnh hưởng làm tâm lý chung của người dân Thái Bình không
dám tiếp tục bỏ tiền ra đầu tư và chủ yếu tích luỹ tiền. Do vậy, lượng vốn đầu tư bị
giảm đáng kể. Hiện nay cuộc khủng hoảng đã qua, nền kinh tế châu á đang được
phục hồi, chúng ta cần có những biện pháp hợp lý nhằm thu hút nhiều hơn nữa các
nguồn vốn đầu tư vào mọi lĩnh vực nhằm đưa nền kinh tế của tỉnh phát triển góp
phần thúc đẩy nền kinh tế đất nước.
Bảng 2: Cơ cấu vốn đầu tư XDCB toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Bình .
Đơn vị: %
1995 1996 1997 1998 1999
Tổng số vốn 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
A.Các đơn vị do đ.phương quản lý 98.46 93.57 95.06 90.73 88.97
I. Khu vực trong nước
Chia theo nguồn vốn
1. Vốn nsách Nhà nước 14.49 8.00 7.70 9.90 13.63
Trong đó: Nsách TW trợ cấp 9.00 - - 5.30 8.30
2. Vốn tín dụng ưu đãi 2.26 4.04 1.82 4.57 4.08
3.Vốn đầu tư các D.N ngoài q.doanh 7.03 3.14 17.08 5.27 4.35
4. Vốn đ.tư XDCB của dân 58.66 59.19 58.91 61.76 55.25
5. Các nguồn vốn khác 15.92 18.71 9.52 9.20 11.65
II. Khu vực vốn đầu tư nước
ngoài
B.Các đơn vị TW trên địa phương 1.54 6.88 4.93 9.26 11.03
Vốn ngân sách Nhà nước 1.54 6.81 4.93 9.26 9.90