Tải bản đầy đủ (.pdf) (32 trang)

Xây dựng danh lục cây trồng tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.14 MB, 32 trang )


2
MỤC LỤC

DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI VÀ
ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH 1
MỤC LỤC 2
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3
MỞ ĐẦU 7
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 8
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
2. 1. Đối tượng nghiên cứu 10
2. 2. Phạm vi nghiên cứu 10
2. 3. Thời gian nghiên cứu 10
2. 4. Phương pháp nghiên cứu 10
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 11
3. 1. Danh lục các loài 11
3. 2. Một số thông tin về phân loại 13
3. 3. Giá trị sử dụng 28
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
PHỤ LỤC

3
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ

Tên đề tài: Xây dựng danh lục cây trồng tại trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2
Mã số: C.10.61
Chủ nhiệm đề tài: TS. Hà Minh Tâm Tel.: 0983752188
E-mail:


Cơ quan chủ trì đề tài: Trường đại học Sư phạm Hà Nội 2
Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện:
Cơ quan:
– Phòng Thực vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Khoa học và
Công nghệ Việt Nam.
Cá nhân:
– Nguyễn Thị Luyện: Sinh viên K33A, khoa Sinh – KTNN, Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2.
– Trần Kim Giang, Phạm Thị Mai Hương và Nguyễn Thị Thanh Loan: Sinh viên
K33C, khoa Sinh – KTNN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
– Nguyễn Thị Hải, Khúc Thị Hằng, Nguyễn Văn Hiếu, Trần Thị Hồng, Ngô Thị
Huệ, Lê Văn Hưng, Nguyễn Hoàng Oanh, Nguyễn Thị Thanh Tâm, Trần Thị
Tươi và Bùi Thị Xuân: Sinh viên K34C, khoa Sinh – KTNN, Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2.
Thời gian thực hiện: 2010-2011
1. Mục tiêu:
– Xây dựng Danh lục các loài cây được trồng tại Trường ĐHSPHN 2 (bao gồm tên
khoa học và tên Việt Nam).
– Cung cấp các thông tin về phân bố và giá trị tài nguyên của các loài.
2. Nội dung chính
– Nghiên cứu thực địa tại các địa điểm trồng cây tại trường để quan sát và thu
thập mẫu vật.
– Phân tích mẫu vật để xác định tên khoa học và tên Việt Nam.
– Tìm hiểu nguồn gốc phân bố và giá trị tài nguyên của các loài.
3. Kết quả chính đạt đƣợc
3. 1. Về khoa học
– Đã xây dựng danh lục 50 loài cây trồng tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.

4
– Cung cấp các thông tin về phân bố, sinh thái, và giá trị tài nguyên của 50 loài

cây trồng tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
3. 2. Về sản phẩm của đề tài: Đã công bố 1 bài báo
1. Hà Minh Tâm (2011), “Xây dựng danh lục cây trồng tại trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2 theo định hướng giáo dục”, Tạp chí khoa học (trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2), tr. 140-146.
3. 3. Về ứng dụng
Đề tài cung cấp các dữ liệu về đặc điểm nhận biết, phân bố, sinh thái và giá trị tài
nguyên, của 50 loài cây trồng tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Kết quả của đề
tài giúp cho việc học tập và nghiên cứu về phân loại thực vật và các môn có liên quan
được tốt hơn. Đây cũng là những dữ liệu được sử dụng để gắn biển tên khoa học cho
các loài cây trồng trong khuôn viên Nhà trường.




5
SUMMARY
Project Title: Build checklist of crop plants in hanoi pedagogical university 2
Code number: C.10.61
Coordinator: Ha Minh Tam Tel.: 0983752188
E-mail:
Implementing Institution: Hanoi Pedagogical University Number 2
Cooperating Institution(s):
Organs: Botanic department, Institute of Ecology and Biological Resources –
Vietnamese Academy of Sience and Techonology
Colleagues:
– Nguyen Thi Luyen: Student of K33A, Faculty of Biology and Agricultures,
Hanoi Pedagogical University Number 2.
– Tran Kim Giang, Pham Thi Mai Huong, Nguyen Thi Thanh Loan: Student of
K33C, Faculty of Biology and Agricultures, Hanoi Pedagogical University

Number 2.
– Nguyen Thi Hai, Khuc Thị Hang, Nguyen Van Hieu, Tran Thi Hong, Ngo Thi
Hue, Le Van Hung, Nguyen Hoang Oanh, Nguyen Thi Thanh Tam, Tran Thi
Tuoi, Bui Thi Xuan: Student of K34C, Faculty of Biology and Agricultures,
Hanoi Pedagogical University Number 2.
Duration: from 2010 to 2011
1. Objectives:
– Construct taxonomycal system of Nephelieae Radlk. in Vietnam.
– Provide informations about resources of Nephelieae Radlk. in Vietnam.
2. Main contents
– Build checklist of crop plants in Hanoi Pedagogical University 2.
– Find out informations about distribution, ecology and resources of crop plants
in Hanoi Pedagogical University 2
3. Results obtained
3.1. Science
– Build checklist of 50 species plants in Hanoi Pedagogical University 2.
– Provide informations about distribution, ecology and resources of 50 species
plants in Hanoi Pedagogical University 2.
3.2. Publication
1. Ha Minh Tam, Tran Kim Giang, Nguyen Thị Thanh Loan, Nguyen Thi Luyen
(2010), “Build checklist of crop plants in Hanoi Pedagogical University 2 to
serve education”, Journal of Science (Hanoi Pedagogical University N
0
2), pp. 140-
146.
3.3. Application
Result of subject provide informations about science name, description,
distribution, ecology and resources of 50 species plants in Hanoi Pedagogical

6

University 2. This informations helps study about taxonomy and related subject of
biology students of HPU2 become better than. It is base data to attach science name
for crop plants in Hanoi Pedagogical University 2.


7
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài:
Phân loại học thực vật là một trong những môn học cơ sở cho nhiều môn học
khác. Để học tốt môn học này, người học phải biết kết hợp kiến thức lý thuyết trên lớp
với việc thực hành trên phòng thí nghiệm và nhận biết ngoài thực địa. Chính vì vậy,
sinh viên khoa Sinh – KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 (và hầu như tất cả
sinh viên khoa Sinh của các trường Đại học, Cao đẳng khác trong cả nước) đều phải
đến học tập và nghiên cứu tại các Phòng tiêu bản, Vườn quốc gia, Khu bảo tồn,
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 với diện tích hơn 12 ha, bên cạnh các công
trình xây dựng, trong khuôn viên Nhà trường đã trồng nhiều loài cây thuộc các họ, bộ
khác nhau tạo thành hệ thống cây cảnh quan và bóng mát. Đồng thời chúng được xem
là những mẫu vật sống, rất hữu ích cho việc học tập, nghiên cứu về phân loại thực vật
và các môn học khác có liên quan, như: Đa dạng sinh học, Sinh thái học, Sinh lý học
thực vật, của sinh viên khoa Sinh – KTNN.
Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn như vậy, chúng tôi đã chọn đề tài “Xây dựng
danh lục cây trồng tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2”. Kết quả của đề tài còn cung
cấp những cơ sở dữ liệu cho việc gắn biển tên khoa học cho các loài, phục vụ cho việc
học tập và nghiên cứu của sinh viên khoa Sinh – KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2, đồng thời khơi dậy tình yêu thiên nhiên đất nước và ý thức bảo vệ môi trường.
Mục tiêu của đề tài: Xây dựng danh lục cây trồng tại trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, đồng thời cung cấp các thông tin về phân bố, sinh thái và giá trị tài
nguyên, cho các loài nghiên cứu.
Bố cục của báo cáo gồm 33 trang được chia thành các phần chính như sau: danh
sách các thành viên tham gia thực hiện đề tài và đơn vị phối hợp chính (1 trang), mục

lục (1 trang), tóm tắt kết quả nghiên cứu (4 trang), mở đầu (1 trang), tổng quan tài liệu
(2 trang), đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu (1 trang), kết quả nghiên
cứu (21 trang), kết luận và đề nghị (1 trang), tài liệu tham khảo (1 trang). Ngoài ra, còn
có phần phụ lục (không đánh số trang).

8
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Vấn đề đa dạng sinh vật nói chung và đa dạng thực vật nói riêng, cũng như bảo
tồn chúng, đã trở thành một chiến lược quan trọng trên toàn thế giới. Nhiều tổ chức
quốc tế đã ra đời để hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển
đa dạng sinh vật trên phạm vi toàn thế giới. Đó là Hiệp hội quốc tế bảo vệ thiên nhiên
(IUCN), Chương trình môi trường liên hợp quốc (UNEP), Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên
nhiên (WWF), Viện Tài nguyên Di truyền quốc tế (IPGRI), Để tránh sự phá huỷ tài
nguyên và duy trì sự sống một cách bền vững trên trái đất, Hội nghị thượng đỉnh bàn
về môi trường và đa dạng sinh vật đã được tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil) tháng
6/1992 và 150 quốc gia đã ký vào Công ước về Đa Dạng sinh vật và bảo vệ chúng. Từ
đó nhiều cuộc hội thảo được tổ chức và nhiều cuốn sánh chỉ dẫn ra đời. Năm 1990,
WWF xuất bản sách về tầm quan trọng của đa dạng sinh vật; IUCN, UNEP và WWF
đưa ra chiến lược bảo tồn thế giới; IUCN và WWF xuất bản cuốn Bảo tồn đa dạng
sinh vật thế giới; IUCN và UNEP xuất bản sách Chiến lược đa dạng sinh vật và
chương trình hành động; Tất cả các công trình đó nhằm hướng dẫn và đề xuất
phương pháp để bảo tồn đa dạng sinh vật, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và phát
triển trong tương lai. WCMC (1992) công bố công trình đánh giá đa dạng sinh vật toàn
cầu, cung cấp tư liệu về đa dạng sinh vật của các nhóm sinh vật khác nhau, ở các vùng
khác nhau trên toàn thế giới làm cơ sở cho việc bảo tồn có hiệu quả. Cùng với các
công trình đó, đã có hàng ngàn cuộc hội thảo khác nhau được tổ chức nhằm thảo luận
về quan điểm, phương pháp, cùng các kết quả đạt được ở khắp mọi nơi trên toàn thế
giới. Nhiều tổ chức quốc tế và khu vực được tạo thành mạng lưới phục vụ cho việc
đánh giá bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật.
Tất cả tình hình trên đây chứng tỏ tầm quan trọng vô cùng to lớn của vấn đề đa

dạng sinh học nói chung và da dạng thực vật nói riêng đối với toàn thế giới, đối với
mỗi quốc gia và đối với mỗi vùng lãnh thổ địa phương trong mỗi nước, đặc biệt là các
Khu du lịch sinh thái, Vườn Quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên, và sự cần thiết phải
nghiên cứu đánh giá đa dạng sinh học, trong đó có thực vật phục vụ cho mục đích bảo
tồn và phát triển bền vững.
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hệ thực vật rất phong phú
và đa dạng, là một trong những trung tâm đa dạng sinh vật có tính đa dạng sinh học
cao trên thế giới với nhiều giống loài có giả trị khoa học và kinh tế cao, loài đặc hữu,
nhiều nguồn gen quý hiếm. Theo các tài liệu đã công bố, Việt Nam có khoảng 17000
loài thực vật, trong đó ngành Tảo có 2200 loài, ngành Rêu 480 loài, ngành Khuyết lá
Thông 1 loài, ngành Thông đất 55 loài, ngành Cỏ tháp bút 2 loài, ngành Dương xỉ 700
loài, ngành Hạt trần 70 loài và ngành Hạt kín 13000 loài. [2, 3, 7, 9, 10].
Việc nghiên cứu, điều tra, đánh giá về đa dạng thực vật ở Việt Nam được tiến
hành hơn 2 thế kỷ và được công bố nhiều ở khoảng 50 năm trở lại đây. Bên cạnh các
công trình mang tính chất chung về taxon hay vùng lãnh thổ cả nước, còn rất nhiều
công trình về kết quả nghiên cứu Đa dạng thực vật của mỗi khu vực và các Vườn quốc
gia, Khu bảo tồn thiên nhiên, như Đa dạng thực vật các Vườn quốc gia Cúc Phương
(Ninh Bình), Hoàng Liên – Sa Pa (Lào Cai), Ba Bể (Bắc Kạn), Cát Bà (Hải Phòng), Pù
Mát (Nghệ An), Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình), Cát Tiên (Đồng Nai), Yok Đôn

9
(Đắk Lắk), Xuân Sơn (Phú Thọ), Bạch Mã (Thừa Thiên -Huế), Tam Đảo (Vĩnh Phúc),
Mũi Cà Mau (Cà Mau),. Đa dạng thực vật các Khu bảo tồn nhiên nhiên Khau Ca (Hà
Giang), Na Hang (Tuyên Quang), Chạm Chu (Tuyên Quang), Hữu Liên (Lạng Sơn),
Pù Huống (Nghệ An), Yên Tử (Quảng Ninh). Các khu vực Tây Bắc; vùng núi đá vôi
Hoà Bình, Sơn La; vùng ven biển Phong Điền (Thừa Thiên -Huế); Khu Di sản thiên
nhiên thế giới Vịnh Hạ Long; Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh, [16]. Tuy nhiên, các
công trình này chủ yếu chỉ dừng lại ở các công trình công bố trong tài liệu; ở một số
Vườn quốc gia, Khu bảo tồn, Khu du lịch sinh thái, cũng tiến hành những nghiên
cứu xây dựng danh lục và gắn biển tên khoa học các loài thực vật cho đơn vị mình,

nhằm phục vụ việc nghiên cứu của các nhà khoa học, việc học tập của học sinh - sinh
viên, việc tham quan của khách du lịch và định hướng giáo dục môi trường, nhưng
không phải ai cũng có thể đến tham quan được.
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 với diện tích hơn 12 ha, các cây trồng trong
khuôn viên Nhà trường rất đa dạng về số lượng taxon cũng như đặc điểm hình thái,
nhưng cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá về thành phần loài
cũng như giá trị tài nguyên các loài cây ở nơi đây. Chính vì vậy, công trình nghiên cứu
“Xây dựng danh lục các loài cây trồng tại trường Đại học sư phạm Hà Nội 2” của
chúng tôi là công trình đầu tiên đề cập đến lĩnh vực này.


10
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2. 1. Đối tƣợng nghiên cứu
Các loài cây được trồng làm cảnh và bóng mát trong khuôn viên trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2
2. 2. Phạm vi nhiên cứu
Toàn bộ khuôn viên của trường đại học Sư phạm Hà Nội 2, với tổng diện tích
khoảng trên 12 ha.
2. 3. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 9 năm 2010 đến tháng 8 năm 2011
2. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu thành phần các loài cây được trồng tại trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2, chúng tôi dựa vào phương pháp nghiên cứu của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997 và
2007).
Việc nhận biết các họ dựa vào Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt
kín ở Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (1997) và Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh
vật của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997).
Việc định loại mẫu vật dựa vào tài liệu Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ
(1999-2001).

Việc chỉnh lý tên khoa học dựa vào Danh lục các loài thực vật Việt Nam do
Nguyễn Tiến Bân và Phan Kế Lộc chủ biên.
Việc sắp xếp các họ, chi, loài dựa vào Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực
vật hạt kín ở Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (1997) và bổ sung của Takhtajan (2009).
Để tìm hiểu giá trị tài nguyên, chúng tôi dựa vào tài liệu (như: Sách đỏ Việt Nam,
Từ điển cây thuốc, Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, [4-6]) và thực tế
điều tra trong nhân dân.

11
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3. 1. Danh lục các loài
Trường đại học Sư phạm Hà Nội 2 có diện tích không lớn, nhưng các cây được
trồng tại đây rất đa dạng về thành phần loài và đặc điểm hình thái. Qua nghiên cứu,
chúng tôi đã xác định được 50 loài thuộc 27 họ, 2 ngành. Ngành Hạt trần
(Gymnospermae) có 3 họ với 4 loài; các họ và loài còn lại đều thuộc ngành Hạt kín
(Angiospermatophyta). (Bảng 1).
Bảng 1. Danh lục các loài cây được trồng tại trường ĐHSP Hà Nội 2
1
)

STT
TÊN HỌ
TÊN LOÀI
SỐ

THỂ
Khoa học
Việt Nam
Khoa học
Việt Nam

NGÀNH HẠT THÔNG (PINOPHYTA) HAY HẠT TRẦN (GYMNOSPERMAE)
1.
Araucariaceae
Bách tán
Araucaria heterophylla Franco
Bách tán
5
2.
Cupressaceae
Pơ mu
Juniperus chinensis L.
Tùng tháp
38
3.
Thuja orientalis L.
Trắc bách
diệp
3
4.
Cycadaceae
Tuế
Cycas revoluta Thunb.
Vạn tuế
2
NGÀNH NGỌC LAN (MAGNOLIOPHYTA) HAY HẠT KÍN (ANGINOSPERMAE)
5.
Anacardiaceae
Xoài
Allospondias lakonensis (Pierre)
Stapf

Giâu da
xoan
2
6.
Dracontomelum duperreanum
Pierre
Sấu
4
7.
Annonaceae
Na
Polyalthia longifolia (Sonn.)
Thw.
Hoàng Nam
6
8.
Amaryllidaceae
Thủy tiên
Eucharis grandiflora Planch. &
Link
Ngọc trâm
30
9.
Hippeastrum puniceum (Lamk.)
Kuntze
Loa kèn đỏ
11
10.
Zephyranthes ajax Hort.
Tóc tiên

vàng

11.
Zephyranthes carinata Herb.
Tóc tiên
hồng to

12.
Apocynaceae
Trúc đào
Alstonia scholaris (L.) R. Br.
Sữa
58
13.
Nerium oleander L.
Trúc đào
46
14.
Plumeria obtusa L.
Đại
3
15.
Araceae
Ráy
Spathiphyllum patinii (R. Hogg)
N. E. Br.
Lan ý
2
16.
Arecaceae

Cau
Areca catechu L.
Cau
1


1
) Thứ tự các ngành và loài trong ngành được sắp xếp theo trật tự của bảng chữ cái, từ A-Z.

12
17.
Chrysalidocarpus lutescens H.
Wendl.
Cau vàng
3
18.
Livistona chinensis (Jacq.) R. Br.
Cọ xẻ
35
19.
Roystonea regia (H.B.K) Cook
Cau vua
86
20.
Asteliaceae
Huyết dụ
Cordyline fruticosa (L.) Goepp.
Huyết dụ
3
21.

Begoniaceae
Thu hải
đường
Begonia x dianna Hort.
Thu hải
đường
2
22.
Combretaceae
Bàng
Lagerstroemia speciosa (L.) Pers.
Bàng
7
23.
Commelinaceae
Thài lài
Tradescantia pallida (Rose) Hunt
Thài lài tía
6
24.
Tradescantia spathacea Sw.
Lẻ bạn
5
25.
Crassulaceae
Thuốc bỏng
Kalanchoe crenata (Andr.) Haw.
Trường sinh
lá to
6

26.
Dracaenaceae
Huyết giác
Dracaena fragans (L.) Ker
Gawl.
Thiết mộc
lan
2
27.
Sansevieria trifasciata Hort. ex
Prain.
Lưỡi hổ
3
28.
Euphorbiaceae
Thầu dầu
Acalypha wilkesiana Muell Arg.
Tai tượng đỏ
2
29.
Codiaeum variegatum (L.) Blume
Cô tòng
12
30.
Euphorbia pulcherrima Wild. ex
Klotzsch
Trạng
nguyên
10
31.

Fabaceae
Đậu
Delonix regia (Bojer ex Hook.)
Raf.
Phượng vĩ
44
32.
Lythraceae
Bằng lăng
Cuphea hyssopifolium Griseb
Cẩm tú mai

33.
Lagerstroemia speciosa (L.) Pers.
Bằng lăng
18
34.
Magnoliaceae
Ngọc lan
Michelia alba L.
Ngọc lan
8
35.
Malvaceae

Hibiscus syriacus L.
Râm bụt kép
9
36.
Meliaceae

Xoan
Aglaia odorata Lour.
Ngâu
41
37.
Chukrasia tabularis A. Juss.
Lát
1
38.
Khaya senegalensis A. Juss.
Xà cừ
9
39.
Moraceae
Dâu tằm
Ficus benjamina L.
Si
5
40.
Ficus drupacea Thunb.
Đa hạch
4
41.
Ficus microcarpa L. f.
Sanh
1
42.
Nyctaginaceae
Hoa giấy
Bougainvillea brasiliensis

Rauesch.
Hoa giấy
1
43.
Mirabilis jalapa L.
Bông phấn

44.
Portulacaceae
Rau sam
Portulaca grandiflora Hook.
Hoa mười
giờ

45.
Poaceae
Hòa thảo
Paspalum conjugatum Berg.
Cỏ lá tre

46.
Zoysia pacifica (Gouds.) M.
Cỏ nhật


13
Hotta & S. Kuroki
47.
Rubiaceae
Cà phê

Ixora coccinea L.
Mẫu đơn

48.
Serissa foetida (L. f.) Poir.
Bạch tuyết
mai

49.
Verbenaceae
Cỏ roi ngựa
Duranta repens L.
Găng

50.
Lantana camara L.
Ngũ sắc
6

3. 2. Một số thông tin về phân loại
2

1. Bách tán (Araucaria
heterophylla Franco, 1952): Cây
gỗ thường xanh, cao tới 50 m với
đường kính tới 1,5 m, cành mọc
thành từng tầng. Cây trung sinh và
ưa sáng; mọc hoang dại ở châu Đại
Dương, được nhập trồng làm cảnh
phổ biến; gỗ có phẩm chất trung

bình. [10, 1148]. (Ảnh 1).


Ảnh 1. Araucaria heterophylla Franco

2. Tùng tháp (Juniperus chinensis
L. 1767): Cây gỗ thường xanh, cao
tới 20 m (ở trạng thái tự nhiên).
Mọc hoang dại ở Trung Quốc,
Nhật Bản, Bắc Triều Tiên, Nga,
được nhập trồng làm cảnh phổ
biến; gỗ có phẩm chất trung bình.
[10: 1150]. (Ảnh 2).

Ảnh 2. Juniperus chinensis L.



2
) Thứ tự các loài được sắp xếp theo thứ tự ở bảng 1.

14
3. Trắc bách diệp (Thuja orientalis
L. 1753 = Biota orientalis (L.)
Endl. 1847): Cây gỗ thường xanh,
cao tới 20 m với đường kính tới 1
m (nơi nguyên sản); phân nhành
cành nhiều từ gốc; lá hình vảy;
thân có dầu thơm. Cây trung sinh
và ưa sáng, mọc hoang dại (ở độ

cao 300-3300 m) ở Trung Quốc và
Triều Tiên, được trồng làm cảnh
phổ biến và làm thuốc chữa ho.
[10: 1151]. (Ảnh 3).









Ảnh 3. Biota orientalis Endl.

4. Vạn tuế (Cycas revoluta Thunb.
1784): Cây gỗ với thân cột, cao
đến 6 m, giữa thân (ruột) là mô
mềm tuỷ; lá xẻ thùy lông chim, tập
trung ở ngọn, cứng, chóp nhọn, dài
đến 2,5 m. Cây mọc tự nhiên ở
Nhật Bản và Trung Quốc, được
trồng làm cảnh; hạt được dùng làm
thuốc chữa huyết áp cao; rễ trị lao
phổi, đau thắt lưng. [10: 1154].
(Ảnh 4).

Ảnh 4. Cycas revoluta Thunb.

5. Giâu da xoan, Dâu da xoan,

Xoan nhừ, Sơn cóc,
(Allospondias lakonensis (Pierre)
Stapf, 1900): Gỗ cao tới 20 m,
đường kính tới 1 m. Mọc rải rác ở
nơi sáng trong rừng miền Bắc và
Tây Nguyên, được trồng làm cây
bóng mát; gỗ màu vàng nâu, dùng
trong xây dựng nhà cửa; quả ăn
được; dầu hạt dùng trong công
nghiệp chế biến xà phòng. [2: 941].
(Ảnh 5).











Ảnh 5. Allospondias lakonensis Pierre


15
6.

Sấu, Sấu trắng, Long cóc
(Dracontomelum duperreanum

Pierre, 1898): Gỗ cao tới 40 m,
đường kính tới 1 m, có gốc bạnh.
Mọc hoang trong rừng thường
xanh, núi đất ở độ cao dưới 1200 m
và được trồng làm cây bóng mát;
gỗ trung bình; quả làm gia vị, ô
mai, làm thuốc chữa ngứa cổ, giải
rượu; lá chữa mụn nhọt; vỏ cây trị
bỏng, xuất huyết tử cung; vỏ rễ trị
sưng vú…[2: 944]. (Ảnh 6).


Ảnh 6. Dracontomelum duperreanum Pierre

7. Hoàng Nam, Tùng thái lan hay
Huyền diệp (Polyalthia longifolia
(Sonn.) Thw. 1864): Cây gỗ cao
tới 15 m; cành và lá buông rủ.
Nguồn gốc từ Ấn Độ, được nhập
làm cảnh; tinh dầu có tác dụng
kháng khuẩn, hạ huyết áp. (Ảnh 7).


Ảnh 7. Polyalthia longifolia Thw.

8. Ngọc trâm (Eucharis
grandiflora Planch. & Link, 1853):
Cỏ nhiều năm, thân hành hình cầu
đường kính 4-5 cm, hoa màu trắng;
cây ưa bóng và ẩm. Trồng phổ biến

để làm cảnh. [3: 438]. (Ảnh 8).











Ảnh 8. Eucharis grandiflora Planch. & Link


16
9. Loa kèn đỏ hay Lan huệ
(Hippeastrum puniceum (Lamk.)
Kuntze, 1891): Cỏ nhiều năm, thân
hành hình cầu cỡ 5-10 cm, hoa
màu đỏ; cây ưa bóng và ẩm. Trồng
làm cảnh, làm thuốc đắp cầm máu.
[3: 439; 6: 674]. (Ảnh 9).


Ảnh 9. Hippeastrum puniceum Kuntze

10. Tóc tiên vàng (Zephyranthes
ajax Hort.): Cỏ nhiều năm, thân
hành hình cầu cỡ 1 cm ngoài có

vảy trong nạc; lá hình kim, màu
xanh bóng, mềm, đặc, mọc từ củ
sát đất; cụm hoa mọc trên cuống
chung dài giữa đám lá, hoa màu
vàng hay trắng. Có nguồn gốc từ
Cu Ba, trồng quanh vườn, chậu
cảnh, [3: 440]. (Ảnh 10).


Ảnh 10. Zephyranthes ajax Hort.

11.

Tóc tiên hồng to (Zephyranthes
carinata Herb. 1821): Cỏ nhiều
năm, thân hành hình cầu cỡ 2 cm;
lá dẹt, đặc; hoa màu hồng. Trồng
quanh vườn, chậu cảnh, [3: 440].
(Ảnh 11).


Ảnh 11. Zephyranthes rosea Lindl.


17
12.

Sữa, Mò cua (Alstonia
scholaris (L.) R. Br. 1810): Cây gỗ
cao tới 30 m; lá mọc vòng; hoa

thơm về đêm. Mọc hoang ở ven
rừng, ven suối ở nhiều tỉnh từ Bắc
vào Nam và được trồng phổ biến
làm cây bóng mát; vỏ cây sữa có vị
đắng, tính hàn có tác dụng thanh
nhiệt, giải độc, giảm đau, giảm
ho được dùng trong một số bài
thuốc hạ sốt, trị ho hen. [3: 32; 6:
1079]. (Ảnh 12).


Ảnh 12. Alstonia scholaris R. Br.

13.

Trúc đào (Nerium oleander L.
1753): Cây bụi cao 3-5 m. Hoa
màu trắng đến đỏ hồng, mọc thành
cụm; nhị 5, đính trên ống tràng.
Cây ưa sáng, chịu hạn; có nguồn
gốc từ Địa Trung Hải, trồng làm
cảnh; nhựa chứa glucosid có tác
dụng trợ tim, dùng chữa suy tim,
nhưng hàm lượng cao gây trụy tim,
tụt huyết áp, dẫn đến thiếu máu
não và tử vong. [3: 43; 6: 1277].
(Ảnh 13).


Ảnh 13. Nerium oleander L.


14.

Đại, (hoa) Chăm pa, Sứ lá tù
(Plumeria obtusa L. 1753): Cây gỗ
cao 4-5 m, có nhựa mủ trắng; lá
mọc cách; hoa màu trắng; bao hoa
mẫu 5; nhị 5, đính trên gốc ống
tràng; quả nang gồm 2 đại; Cây ưa
sáng, chịu hạn; có nguồn gốc từ
châu Mỹ, nhập trồng làm cảnh;
nhựa làm thuốc bôi chữa chai chân.
[3: 45]. (Ảnh 14).

Ảnh 14. Plumeria obtusa L.


18
15.

Lan ý hay Bạch diệp
(Spathiphyllum patinii (R. Hogg)
N. E. Br. 1878): Cỏ phân nhánh
nhiều, mo màu trắng, sau có thể
xanh, có lá nhọn hình ô-van. Cây
ưa bóng. Nguồn gốc từ rừng mưa
nhiệt đới của vùng Trung và Nam
Mỹ, được nhập trồng làm cảnh. [3:
894]. (Ảnh 15).



Ảnh 15. Spathiphyllum patinii N. E. Br.

16.

Cau (Areca catechu L. 1753):
Cây cao tới 30 m, đường kính 10-
20 cm; lá đơn, xẻ thùy lông chim.
Cây thích hợp với nhiều loại đất.
Nguồn gốc từ Ấn Độ, trồng phổ
biến để làm cảnh (không gặp
hoang dại) với nhiều giống khác
nhau; quả ăn trầu; hạt và vỏ rễ làm
thốc kích thích tiêu hóa, chữa sốt
rét, bí tiểu tiện; mo dùng gói cơm,
ép giò; thân làm máng nước, [3:
853]. (Ảnh 16).


Ảnh 16. Areca catechu L.

17. Cau đẻ hay cau vàng
(Chrysalidocarpus lutescens H.
Wendl. 1878): Cây mọc thành bụi,
cao tới 2-4 m. Cây có nguồn gốc từ
châu Phi (Mađagasca), nhập trồng
làm cảnh; lá nấu nước trị ghẻ, làm
thuốc cầm máu. [3: 853; 6: 188].
(Ảnh 17).


Ảnh 17. Chrysalidocarpus lutescens H. Wendl.

19
18. Cọ xẻ (Livistona chinensis
(Jacq.) R. Br. 1810): Cây cao tới
25 m, đường kính tới 30 cm; lá xẻ
thùy cách gốc 30-40 cm; thùy
buông rủ rất rõ; quả và hạt hình
bầu dục, quả chín màu xanh đậm.
Mọc hoang và trồng ở một số nơi
để làm cảnh; hạt chữa ung thư mũi,
ruột; rễ trị hen suyễn; lá trị chảy
máu tử cung. [3: 864]. (Ảnh 18).

Ảnh 18. Livistona chinensis (Jacq.) R. Br.
19. Cau vua, Cau bụng (Roystonea
regia (H.B.K.) Cook, 1900): Gỗ
cao tới 30 m, thân cây màu nâu,
mo màu xanh, bóng; lá cây dài 3-4
m, màu xanh, xẻ thùy lông chim;
cụm hoa có mo, mọc ở thân mang
hoa màu trắng. Cây có nguồn gốc
từ Cu Ba, nhập trồng làm cảnh phổ
biến, lá lợp nhà. [3: 869]. (Ảnh
19).

Ảnh 19. Roystonea regia Cook.
20. Huyết dụ hay Huyết dụ tía
(Cordyline fruticosa (L.) Goepp.
1855): Cây cao 2-3 m, đường kính

4-6 cm. Cây có nguồn gốc ở khu
vực miền tây Thái Bình Dương,
miền đông Australia, đông nam
châu Á. Được trồng làm cảnh; lá,
hoa và rễ làm thuốc cầm máu, tan
vết bầm tím, đái ra máu, băng
huyết, lao phổi, [3: 442; 6: 590].
(Ảnh 20).

Ảnh 20.Cordyline fruticosa Goepp.

20
21. Thu hải đường cảnh (Begonia x
dianna Hort.): Cỏ cao tới 1,5 m,
gióng dài 5-10 cm, không có lông;
phiến lá nguyên, mặt trên có đốm
trắng; hoa màu hồng, quả có cánh
mỏng màu hồng đến đỏ. Cây lai
giữa Begonia dichroa và Annie
louria. Trồng phổ biến để làm
cảnh. [2: 410]. (Ảnh 21).

Ảnh 21. Begonia x dianna Hort.
22. Bàng, Bàng biển, Bàng nhóc
(Terminalia catappa L. 1767): Gỗ
cao 7-10(-25) m, cành mọc ngang
thành tầng. Mọc hoang và được
trồng phổ biến làm cây bóng mát;
lá trộn bột săt làm thuốc nhuộm
vàng hoặc ngâm với bùn để nhuộm

đen; quả chín ăn được; hạt chứa
dầu; vỏ nhiều tanin, sắc uống chữa
lị, rửa vết thương; lá non chữa đau
răng; nhựa lá non trộn với dầu hạt
bông nấu chín làm thuốc chữa
bệnh hủi. [2: 888]. (Ảnh 23).

Ảnh 22. Terminalia catappa L.
23. Lẻ bạn, Sò huyết,
(Tradescantia spathacea Sw. 1788;
syn. Tradescantia discolor L’Her.
1788): Cỏ nhiều năm, cao 20-30
cm; lá to, mặt trên màu xanh, mặt
dưới màu đỏ tía; cụm hoa hình tán
đựng trong 2 cái mo úp vào nhau
như vỏ sò. Có nguồn gốc từ Trung
Mĩ, được trồng phổ biến khắp cả
nước để làm cảnh; làm thuốc chữa
ho ra máu, đại tiện ra máu. [3:
742]. (Ảnh 23).

Ảnh 23.Tradescantia spathacea Sw.

21
24. Thài lài tía, Trai đỏ
(Tradescantia pallida (Rose) Hunt,
1975): Cỏ nhiều năm, bò, dài 20-
30 cm; lá màu đỏ tía; lá bắc hình
máng như vỏ Trai. Nguồn gốc từ
Mêhicô, nhập trồng làm cảnh ở

miền Bắc; cả cây dùng làm thuốc
bó khớp, mụn nhọt [3: 742]. (Ảnh
23).

Ảnh 24.Tradescantia pallida (Rose) Hunt
25. Trường sinh lá to, Trường sinh
muỗng (Kalanchoe crenata (Andr.)
Haw. 1812): Cỏ cao 30-70 cm;
thân nằm rồi đứng; lá đơn, mép
nguyên hay hơi có răng. Mọc rải
rác trên các bãi hoang và được
trồng làm cảnh; lá có chứa axit
malia, axit nitơric, có tác dụng ức
chế các vi khuẩn tụ cầu vàng, trực
khuẩn màu xanh cho nên được
dùng làm thuốc chữa bỏng và mụn
nhọt, viêm tai giữa. [2: 670]. (Ảnh
25).

Ảnh 25. Kalanchoe crenata Haw.
26. Thiết mộc lan, Phất rủ thơm
(Dracaena fragans (L.) Ker Gawl.
1805): Cây gỗ cao tới 6 m, lá mọc
tụm ở đỉnh các lá mọc thành hình
nơ (hoa thị), bóng và sẫm màu,
phiến lá có sọc rộng nhạt màu hơi
vàng, cụm hoa chùy, hoa thơm về
đêm. Có nguồn gốc từ Tây Phi,
nhập trồng làm cảnh. [3: 452].
(Ảnh 26).


Ảnh 26. Dracaena fragans Ker Gawl.

22
27. Lưỡi hổ, Lưỡi hổ xanh hay lưỡi
cọp xanh (Sansevieria
hyacinthoides (L.) Druce, 1799):
Cỏ nhiều năm, cao 50 cm, lá mọc
thẳng lên, hình ngọn giáo hẹp,
nhọn, cao 50-70 cm, phiến có rằn
ri ngang và có 2 dải bên màu xám.
Cây có nguồn gốc từ châu Á nhiệt
đới, trồng phổ biến để làm cảnh; lá
cho sợi bện dây thừng, làm thuốc
chữa nhức đầu, khát nước. [3:
454]. (Ảnh 27).

Ảnh 27. Sansevieria hyacinthoides Druce.
28. Tai tượng đỏ, Tai tượng trổ
(Acalypha wilkesiana Muell Arg.
1886): Bụi thường xanh; lá màu đỏ
đậm có đốm màu đồng. Cây ưa
sáng và đất có nhiều mùn. Cây có
nguồn gốc từ Polynesia (thuộc
Pháp), được nhập trồng phổ biến
để làm cảnh và làm thuốc. [2: 574;
6: 1088]. (Ảnh 28).

Ảnh 28. Acalypha wilkesiana Muell Arg.
29. Cô tòng, Ngũ sắc, Lá màu, Cô

tòng đuôi lươn (Codiaeum
variegatum (L.) Blume, 1825): Bụi
nhỏ; ưa đất mùn ẩm, độ cao dưới
700 m. Thân có nhựa mủ đục, phân
cành nhánh nhiều, hoa đơn tính
cùng gốc hay khác gốc. Cây có
nguồn gốc từ Niu Ghinê, được
trồng làm cây cảnh và làm thuốc
với nhiều dạng trồng tạo ra nhiều
dạng cây và lá khác nhau. [2:599;
6: 851]. (Ảnh 29).

Ảnh 29. Codiaeum variegatum Blume

23
30. Trạng nguyên (Euphorbia
pulcherrima Wild. ex Klotzsch,
1834, non L.): Nguồn gốc từ Trung
Mỹ, nhập trồng làm cảnh và lấy
nhựa làm thuốc chữa mụn nhọt. [2:
612; 6: 1251]. (Ảnh 30).

Ảnh 30. Euphorbia pulcherrima Wild. ex
Klotzsch
31. Phượng vĩ, Phượng, Phượng
đỏ, Điệp tây, (Delonix regia
(Bojer ex Hook.) Raf. 1837): Cây
gỗ trung bình, rụng lá, cành nằm
ngang; hoa đỏ. Có khả năng thích
ứng rộng. Nguyên sản ở châu Phi

(Mađagasca), nhập trồng làm cây
bóng mát; vỏ thân làm thuốc chữa
sốt rét, tê thấp, hạ huyết áp. [2:
740]. (Ảnh 31)

Ảnh 31. Delonix regia (Bojer ex Hook.)Raf.
32. Bằng lăng, Bằng lăng nước, Tử
vi tàu, (Lagerstroemia speciosa
(L.) Pers. 1806): Gỗ cao tới 15 m;
thân thẳng, khá nhẵn; hoa tím hoặc
tím nhạt. Mọc hoang và được trồng
phổ biến ở nước ta và nhiều nước
khác để lấy bóng mát, làm cảnh; vỏ
cây làm thuốc trị tiêu chảy. [2:
873; 6: 76]. (Ảnh 32).








Ảnh 32. Lagerstroemia speciosa Pers.

24
33. Cẩm tú mai hay Tiểu hồng
(Cuphea hyssopifolia Griseb,
1874): Cỏ cao 20-30 cm, nẩy chồi
nhiều; hoa màu tím; quả rất hiếm.

Nguồn gốc từ Trung Mỹ, được
trồng làm cảnh ở công viên, công
sở, (Ảnh 33).

Ảnh 33. Cuphea hyssopifolia Griseb
34. Ngọc lan, Ngọc lan trắng, Sứ
(Michelia alba DC. 1818): Gỗ cao
20 m, vỏ màu xám; , lá kèm dính
thành ống bao lấy chồi non và sớm
rụng tạo thành vòng trên thân. Cây
ưa sáng; trồng phổ biến làm cảnh;
gỗ mềm, dùng khắc dấu, đóng đồ
thông thường; hoa chứa tinh dầu
dùng ướp chè; rễ lợi kinh, chữa
viêm đường tiết niệu; hoa trị viêm
tuyến tiền liệt, bạch đới, [2: 12;
6: 842]. (Ảnh 34).

Ảnh 34. Michelia alba DC.
35. Râm bụt kép, Dâm bụt kép,
Bụp hồng cận, (Hibiscus syriacus
L. 1753): Bụi cao 3-4 m; hoa màu
vàng, hồng, tím với nhiều cánh hoa
(ít khi trắng). Trồng làm cảnh; hoa
sắc uống chữa lị, trĩ, nghiền nhỏ và
pha dầu vừng chữa đinh nhọt; quả
sắc uống trị cảm, thiên đầu
thống, [2: 563; 6: 977]. (Ảnh 35).

Ảnh 35. Hibiscus syriacus L.


25
36. Ngâu hay Hoa ngâu (Aglaia
odorata Lour. 1790): Bụi hoặc gỗ
nhỏ, cao 1-4(12) m; nhánh non có
lông hình khiên; lá kép lông chim
lẻ gồm 3-5(-7) lá chét. Mọc hoang
dại và trồng rải rác khắp cả nước
để làm cảnh; hoa dùng ướp trà, làm
thuốc chữa đầy bụng, hen suyễn;
quả và rễ làm thuốc gây nôn; lá
nấu nước tắm trị ghẻ; tinh dầu làm
thuốc sát trùng; cành và lá làm
thuốc dắp trị gãy xương. [2: 990; 6:
823]. (Ảnh 36).

Ảnh 36. Aglaia odorata Lour.
37. Lát (Chukrasia tabularis A.
Juss. 1830): Gỗ cao tới 30 m,
đường kính tới 1 m; lá kép lông
chim một lần, có 15-25 lá chét, lúc
non màu nâu đỏ. Mọc hoang trên
núi đá vôi ở một số tỉnh ở độ cao
dưới 800 m và được trồng rải rác
làm cây bóng mát; gỗ có vân rất
đẹp, không bị mối mọt, dùng đóng
đồ gỗ cao cấp; vỏ và gỗ sắc nước
uống trị tiêu chảy. [2: 996; 6: 662]
(Ảnh 36).


Ảnh 37. Chukrasia tabularis A. Juss.
38. Xà cừ, Sọ khỉ, Lim trắng, Báng
súng (Khaya senegalensis A. Juss.
1830): Cây gỗ cao tới 30(-45) m
với đường kính tới 1,5 m. Cây có
khả năng thích ứng rộng, rễ thường
ăn nông; có nguồn gốc từ châu Phi,
nhập trồng làm cây bóng mát; gỗ
dùng đóng đồ thông thường; vỏ và
lá chứa nhiều tanin được dùng làm
thuốc trị ghẻ, thuốc trừ sâu; hoa
sắc uống làm thuốc hạ sốt, đau dạ
dày. [2: 1000; 6: 1343]. (Ảnh 38).

Ảnh 38. Khaya senegalensis A. Juss.

26
39. Si, Gừa hay Si quả nhỏ (Ficus
microcarpa L. f. 1781, non F.
retusa L.): Gỗ lớn; cành non và
cuống lá màu nâu tía; lá màu xanh
thẫm, chóp kéo dài; quả chín màu
phớt hồng-tím, gần hình cầu. Mọc
hoang và được trồng phổ biến làm
cây cảnh và bóng mát; rễ phụ sắc
uống trị cảm mạo, sưng amygdal,
sốt rét, viêm ruột cấp tính. [2: 191;
6: 534]. (Ảnh 39).

Ảnh 39. Ficus microcarpa L. f.

40. Đa hạch, Đa lông, Sung hạch
(Ficus drupacea Thunb. 1786):
Gỗ, lá non có nhiều lông màu
vàng, sau nhẵn; cụm hoa có 3 lá
bắc; quả không có cuống, đơn độc
hoặc thành đôi. Mọc ở ven suối ở
một số tỉnh và được trồng phổ biến
làm cây cảnh; rễ phụ làm thuốc
chữa phù nề do xơ gan; vỏ sao làm
thuốc chữa đau dạ dày, (Ảnh 39).

Ảnh 40. Ficus drupacea Thunb.
41. Sanh, Gừa, Si (Ficus
benjamina L. 1767): Gỗ cao tới 30
m; cành và cuống lá màu xanh
xám; lá màu xanh nhạt, mỏng,
chóp ngắn; quả chín màu vàng,
hình bầu dục. Mọc hoang và được
khắp cả nước để làm cảnh và cây
bóng mát và làm thuốc chống
viêm. [2: 182; 6: 1046]. (Ảnh 41).

Ảnh 41. Ficus benjamina L.

×