Trng i Hc Kinh T Quc Dõn
Viện Thơng Mại Và Kinh Tế Quốc Tế
Chuyên đề
thực tập tốt nghiệp
Đề tài
Y MNH HOT NG NHP KHU ễ Tễ CA
CễNG TY C PHN U T CMC
Giáo viên hớng dẫn : Th.S Nguyễn Xuân Hng
Sinh viên thực hiện : Chu Th Thng
Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
Mã sinh viên : CQ528742
Hà nội - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng báo cáo thực tập này là do chính tôi thực hiện. Các số liệu
thu thập và kết quả phân tích trong báo cáo là trung thực, không sao chép từ bất cứ
đề tài nghiên cứu khoa học nào. Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong chuyên đề đã
được ghi rõ nguồn.
Ngày 17 tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Chu Thị Thương
2
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Th.s Nguyễn Xuân Hưng - Giảng viên
Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế Trường Đại Kinh Tế Quốc Dân đã tận tình
hướng dẫn giúp đỡ em trong suốt quá trình làm báo cáo.
Em xin chân thành cảm ơn Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế; Ban giám
đốc; phòng Tài chính - Kế toán, phòng Tổ chức – Hành chính, phòng Xuát nhập
khẩu,… của Công Ty Cổ phần đầu tư CMC đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để giúp
đỡ em hoàn thành báo cáo này.
Một lần nữa chúng em xin bày tỏ lòng biêt ơn sâu sắc về sự giúp đỡ này.
Hà nội, ngày 17 tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Chu Thị Thương
3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Tiếng Anh Tiếng Việt
1 BKS Ban kiểm soát
2 CKD Completely Knock Down Xe lắp ráp trong nước
3 CBU Completely Built Up Xe nhập khẩu nguyên chiếc
4 ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông
5 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm nội địa
6 GNP Gross National Product Tổng sản phẩm quốc gia
7 HĐQT Hội đồng quản trị
8 NK Nhập khẩu
9 XNK Xuất nhập khẩu
10 WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
11 VAT Value Added Tax Thuế giá trị gia tăng
12 VAMA Vietnam Automibile &
Machinery Association
Hiệp hội ô tô Việt Nam
13 USD United States dollar Đô la Mỹ
4
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm 2013 của Công ty
cổ phần đầu tư CMC
Bảng 1.2: Chi phí hoạt động kinh doanh trong năm 2013 của Công ty cổ phần
đầu tư CMC
Bảng 3.1 : Kế hoạch hoạt động kinh doanh nhập khẩu ô tô của Công ty cổ
phần đầu tư CMC trong năm 2014
Biểu đồ 2.1: Lượng nhập khẩu ô tô của Việt Nam từ 2008 đến 2013
Biều đồ 2.2 : Lượng và trị giá nhập khẩu ô tô nguyên chiếc theo tháng trong
năm 2012
Sơ đồ 1.1: Tổ chức Công ty cổ phần đầu tư CMC
5
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, cùng với quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh
tế quốc tế, các hoạt động giao thương quốc tế ngày càng được mở rộng, không chỉ
là các mối quan hệ hợp tác, giao lưu đối ngoại mà còn là các hoạt động xuất nhập
khẩu hàng hoá, giúp đưa nền kinh tế Việt Nam hòa nhập với nền kinh tế thế giới.
Hoạt động nhập khẩu là một trong những hoạt động có tác động rất lớn đến nền kinh
tế và sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước. Do vậy, nghiên cứu hiệu
quả kinh doanh nhập khẩu để hiểu rõ, nhận thức được các vấn đề hữu ích và rút ra
những kinh nghiệm là điều rất cần thiết.
Tại Việt Nam, thị trường ôtô hiện nay rất sôi động và kinh doanh mặt hàng
này đang tạo nguồn lợi cho nhiều công ty. Công ty cổ phần đầu tư CMC cũng tham
gia vào thị trường đó và liên tục có lãi trong nhiều năm qua. Tuy nhiên Công ty vẫn
gặp phải nhiều khó khăn trong lĩnh vực nhập khẩu ôtô do ảnh hưởng của nhiều nhân
tố khách quan và chủ quan từ môi trường bên ngoài và bên trong. Xuất phát từ hiểu
biết của mình và trong thời gian thực tập tại Công ty cổ phần đầu tư CMC, em đã
chọn đề tài “Đẩy mạnh hoạt động nhập khẩu ôtô của Công ty cổ phần đầu tư
CMC” làm nghiên cứu cho chuyên đề thực tập của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu là trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động kinh
doanh nhập khẩu ôtô tại Công ty từ năm 2008 đến nay để tìm ra những mặt đã đạt
được và những mặt còn hạn chế trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu ôtô của
Công ty, từ đó đề xuất một số giải pháp để đẩy mạnh nhập khẩu ô tô của Công ty cổ
phần đầu tư CMC.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu là thông qua việc tìm hiểu và nghiên cứu sẽ đề ra
một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu ôtô của
Công ty cổ phần đầu tư CMC trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu là hoạt động nhập khẩu ôtô của Công ty cổ phần
đầu tư CMC từ năm 2008 đến 2013.
6
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài sẽ tập trung vào các hoạt động nhập khẩu ôtô
của Công ty và trong giới hạn tìm hiểu các ví dụ thực tế cho phép từ nãm 2008 đến
2013.
4. Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê, so sánh
- đối chiếu,
5. Kết cấu đề tài
Ngoài lời nói đầu và kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài
được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương I: Tổng quan về Công ty cổ phần đầu tư CMC
Chương II: Thực trạng nhập khẩu ôtô của Công ty cổ phần đầu tư CMC từ
2008 đến nay
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả nhập
khẩu ôtô của Công ty cổ phần đầu tư CMC trong thời gian tới
7
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
ĐẦU TƯ CMC
1.1 Quá trình hình thành và phát triển công ty
Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ CMC
Tên tiếng Anh: CMC INVESTMENT JOINT COMPANY
Tên viết tắt: CMCI., JSC
Giấy CNĐKDN: 0100104309
Vốn điều lệ: 45.610.500.000 đồng
Vốn đầu tư của chủ sở hữu: 45.610.500.000 đồng
Trụ sở chính: Ngõ 83 Đường Ngọc Hồi, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng
Mai, Hà Nội.
Điện thoại: 043 8615239
Fax: 043 8612718
Địa chỉ E-mail :
Tiền thân của Công ty là Nhà máy đại tu ôtô số 1 trực thuộc Cục vận tải
đường bộ, được chính thức thành lập vào ngày 08 tháng 09 năm 1969 theo Quyết
định số: 2339/QĐ của Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải.
Ngày 14 tháng 05 năm 1993, chuyển đổi thành doanh nghiệp Nhà nước và đổi
tên thành Nhà máy sửa chữa ô tô số 1 trực thuộc Cục đường bộ Việt Nam theo
Quyết định số: 911/QĐ/TCCB-LĐ của Bộ trưởng Bộ giao thông với vốn ngân sách
Nhà nước cấp tại thời điểm thành lập là 747 triệu đồng.
Năm 2001, đổi tên từ Nhà máy sửa chữa ô tô số 1 thành Công ty xây dựng và
cơ khí số 1 trực thuộc Tổng Công ty cơ khí giao thông vận tải.
Năm 2005, chuyển đổi, sắp xếp lại Công ty nhà nước, cổ phần hoá doanh
nghiệp theo quyết định số: 3854/QĐ-BGTVT. Công ty chính thức đi vào mô hình
doanh nghiệp cổ phần từ 14/10/2005 với số vốn điều lệ công ty cổ phần là 7,5 tỷ
đồng.
1
Năm 2006, công ty tăng vốn điều lệ từ 7,5 tỷ đồng lên 15,2 tỷ đồng. Vào ngày
11/12/2006, công ty đã lần đầu tiên giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán Hà
Nội.
Ngày 16 tháng 4 năm 2008, công ty bổ sung đăng ký kinh doanh và đổi tên
doanh nghiệp thành Công ty cổ phần đầu tư CMC (tên viết tắt: CMCI., JSC) và
hoàn thành tăng vốn điều lệ lần thứ hai lên 30,4 tỷ đồng.
Ngày 20 tháng 12 năm 2011, công ty tăng vốn điều lệ từ 30,4 tỷ đồng lên
45,610,050,000 đồng.
Do xu hướng phát triển chung của nền kinh tế thế giới, dựa trên những ưu đãi
và các chính sách đầu tư phát triển của nhà nước, công ty đã mở rộng các mối quan
hệ liên doanh, liên kết và sẵn sàng hợp tác với các tổ chức, cá nhân nước ngoài ở
Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung quốc… dưới hình thức xuất, nhập khẩu, trao đổi hàng
hoá, sản phẩm, hợp tác kinh doanh…theo đúng quy định của nhà nước.
Doanh thu của công ty đã không ngừng tăng lên, mặc dù phải đối mặt với
cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, song lợi nhuận của công ty vẫn đạt ở mức khá
cao.
1.2. Mô hình và cơ cấu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của các đơn vị của
công ty
Công ty cổ phần đầu tư CMC được tổ chức và điều hành theo mô hình Công
ty cổ phần, tuân thủ theo các quy định của Luật Doanh nghiệp Việt Nam và các văn
bản pháp luật hiện hành và theo quan điểm gọn nhẹ, linh hoạt cho phù hợp với hoạt
động kinh doanh đa dạng, nhiều ngành nghề của công ty. Các vị trí lãnh đạo được
phân công quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng, các phòng ban được sắp xếp hợp lý tối
đa để bảo đảm hiệu quả hoạt động và giảm chi phí quản lý.
2
Nguồn: Phòng hành chính Công ty
Sơ đồ 1.1: Tổ chức Công ty cổ phần đầu tư CMC
1.2.1. Đại hội đồng cổ đông
Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu
quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của Công ty. ĐHĐCĐ họp ít nhất mỗi năm
một lần và trong thời hạn theo quy định của Pháp luật. ĐHĐCĐ quyết định các vấn
đề sau:
- Quyết định sửa đổi, bổ sung Điều lệ Công ty;
- Quyết định tổ chức lại và giải thể Công ty;
- Quyết định hoặc ủy quyền cho HĐQT quyết định loại cổ phần và tổng số cổ
phần được quyền chào bán của từng loại;
- Quyết định hoặc ủy quyền cho HĐQT quyết định mức cổ tức hàng năm của
từng loại cổ phần;
- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT, BKS;
- Quyết định mức thù lao và các quyền lợi khác cho các thành viên HĐQT và
BKS;
- Thông qua báo cáo tài chính hàng năm của Công ty và báo cáo của BKS;
3
- Quyết định hoặc ủy quyền cho Hội đồng quản trị quyết định phương hướng,
nhiệm vụ, kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư của năm tài chính mới.
1.2.2. Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị (HĐQT) là cơ quan quản lý Công ty gồm có năm (05) thành
viên do ĐHĐCĐ bầu hoặc miễn nhiệm. HĐQT là cơ quan quản lý cao nhất của
Công ty, quản lý Công ty giữa hai kỳ ĐHĐCĐ. HĐQT đại diện cho các cổ đông, có
toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích,
quyền lợi của Công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ.
1.2.3. Ban kiểm soát
Ban kiểm soát (BKS) là cơ quan trực thuộc ĐHĐCĐ, do ĐHĐCĐ bầu ra. BKS
có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong điều hành hoạt động kinh doanh,
kiểm tra báo cáo tài chính của Công ty. BKS hoạt động độc lập với HĐQT và Ban
giám đốc.
1.2.4. Ban giám đốc
Ban giám đốc của Công ty gồm 01 Tổng Giám đốc và 02 Phó Tổng giám đốc.
Tổng Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của Công ty, điều hành mọi
hoạt động hàng ngày của Công ty và chịu trách nhiệm trước HĐQT về việc thực
hiện các quyền và nhiệm vụ được giao.
Phó Tổng giám đốc là người giúp Tổng Giám đốc thực hiện các quyền và
nhiệm vụ được giao và thực hiện các quyền và trách nhiệm theo phân công, ủy
quyền của Tổng Giám đốc.
1.2.5. Các phòng ban nghiệp vụ
Các phòng, ban nghiệp vụ có chức năng tham mưu và giúp việc cho Ban Giám
đốc, trực tiếp điều hành theo chức năng chuyên môn và chỉ đạo của Ban Giám đốc.
Công ty hiện có 6 phòng, ban nghiệp vụ như sau:
- Phòng kinh doanh tổng hợp: theo dõi các vấn đề liên quan đến các hợp
đồng thương mại trong và ngoài nước; hoạch định các kế hoạch và chiến lược kinh
doanh; xây dựng và quảng bá thương hiệu…
- Phòng Đầu tư và quản lý dự án: quản lý danh mục đầu tư, thực hiện đầu tư
tài chính trên thị trường vốn, thị trường chứng khoán, nghiên cứu các dự án và lĩnh
vực đầu tư mới.
4
- Phòng Kỹ thuật-công nghệ: theo dõi, giám sát tình trạng máy móc, trang
thiết bị kỹ thuật phục vụ hoạt động sản xuất và kinh doanh; bảo trì, bảo dưỡng và
khắc phục các sự cố về kỹ thuật; nghiên cứu và áp dụng công nghệ mới, tiên tiến,
hiện đại góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, quản lý các dự án xây
dựng.
- Phòng Tổ chức hành chính: Có chức năng theo dõi các vấn đề về hồ sơ
người lao động; giải quyết các chế độ chính sách đối với người lao động; xây dựng
quy hoạch cán bộ; theo dõi công tác tiền lương, công tác thi đua khen thưởng, thanh
tra; thực hiện nghiệp vụ văn thư, lưu trữ, quản lý con dấu, quản lý tài sản trang thiết
bị khối văn phòng và các nhiệm vụ khác liên quan đến thủ tục hành chính của Công
ty.
- Phòng Tài chính kế toán: Có chức năng chính là kế toán tổng hợp, tìm
nguồn vốn, cân đối nguồn vốn phục vụ đầu tư và sản xuất kinh doanh; quản lý và sử
dụng hiệu quả vốn và các quỹ; phân tích tài chính, hoạch định kế hoạch tài chính;
tham mưu về các hợp đồng vay vốn và theo dõi triển khai các hợp đồng này; quản
lý kho bãi; kiểm toán nội bộ; kiểm tra các công ty và xí nghiệp thành viên; tìm hiểu
và là đầu mối cung cấp thông tin để cùng phối hợp với Phòng Đầu tư kinh doanh
trên thị trường vốn, thị trường chứng khoán.
- Ban Bảo vệ: Đảm bảo các vấn đề về an ninh, trật tự an toàn lao động trong
toàn Công ty.
1.2.6. Các xí nghiệp, phân xưởng
- Xí nghiệp xe máy công trình. Địa chỉ: Ngõ 83 Đường Ngọc Hồi, Hoàng Liệt,
Hoàng Mai, Hà Nội. Điện thoại: (84-4) 36523317.
- Xí nghiệp xây dựng công trình 9. Địa chỉ: Ngõ 83 Đường Ngọc Hồi, Hoàng
Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội. Điện thoại: (84-4) 36811700
- Phân xưởng cơ khí: Ngõ 83 Đường Ngọc Hồi, Hoàng Liệt, Hoàng Mai, Hà
Nội.
5
1.3 Khái quát tình hình sản xuất kinh doanh của công ty
1.3.1. Đặc điểm về thị trường và khách hàng của công ty
1.3.1.1. Đặc điểm thị trường
Thị trường Miền Bắc là thị trường chủ yếu của công ty mà trọng điểm là khu
vực Hà Nội, nơi tập trung dân cư có mức thu nhập khá và ổn định. Do vậy, doanh
thu tại khu vực này liên tục tăng và ổn định qua các năm. Thị trường thứ hai của
công ty là các tỉnh Miền Trung trong đó tập trung chủ yếu là ở Nghệ An, Hà Tĩnh.
Mặc dù tại khu vực này đã có khá nhiều công ty và chi nhánh cung cấp mặt hàng ô
tô nhập khẩu, nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Vẫn có một
lượng khách hàng có nhu cầu mua hàng tại Hà Nội do đây là mặt hàng có giá trị
cao, khách hàng luôn có nhu cầu tìm hiểu thông tin về mặt hàng tại thị trường lớn,
đa dạng về chủng loại sản phẩm, mẫu mã và giá cả. Do công ty chưa có chi nhánh
tại khu vực này nên doanh thu tại thị trường này là chưa đáng kể. Tuy nhiên trong
tương lai, công ty đang có kế hoạch đầu tư vào thị trường này.
Thị trường Miền Nam là thị trường có tiềm năng lớn nhưng do có khoảng cách
địa lý đã hạn chế khâu vận chuyển cũng như việc nghiên cứu xâm nhập vào thị
trường này. Hơn nữa khu vực này đã có rất nhiều đối thủ cạnh tranh hoạt động lâu
năm và có kinh nghiệm hơn tại khu vực này. Do vậy, tại thị trường này công ty vẫn
chưa tạo dựng được một vị thế vững chắc để có thể đương đầu với các đối thủ cạnh
tranh xâm nhập vào thị trường lớn này.
1.3.1.2. Đặc điểm khách hàng
Việt Nam có là một nước có dân số đông, hiện nay có khoảng 90 triệu dân.
Sau năm 2020 dự kiến sẽ vượt ngưỡng 100 triệu. Với mức sống và thu nhập dần
được cải thiện và nâng cao (dự kiến sau năm 2020, thu nhập bình quân đầu người
vượt ngưỡng 2.000 USD/người/năm), điều kiện hạ tầng giao thông được cải thiện là
các yếu tố hết sức quan trọng để tăng nhu cầu sử dụng ô tô. Dự kiến năm 2020 sẽ có
400 ngàn xe, và đến năm 2030, con số này sẽ là khoảng 2 triệu xe. Sự ảnh hưởng
của thu nhập của khách hàng đối với cầu ôtô là cực kỳ quan trọng do ô tô là sản
phẩm đắt tiền nên cần phải có mức thu nhập cao mới có thể sử dụng được.
Bên cạnh đó, thị hiếu của khách hàng có ảnh hưởng rất lớn đến cầu ôtô trên thị
trường. Bởi thị hiếu được hình thành do các yếu tố xã hội, tâm lý, sở thích
6
Khách hàng của Công ty cổ phần đầu tư CMC là các đại lý và khách hàng tiêu
thụ cuối cùng.
Khách hàng là các đại lý : có quan hệ chặt chẽ với nhà phân phối. Họ là
những người tiếp xúc trực tiếp với khách hàng do vậy hiểu rõ nhu cầu của khách
hàng, sức mua, khả năng tiêu thụ của mặt hàng, hiểu rõ về đặc điểm của hàng hóa.
Do đây là những nhà trung gian, mua sản phẩm không phải để thỏa mãn nhu cầu
của chính bản thân mình mà để bán lại trên thị trường, do vậy cái mà họ quan tâm
chính là lợi ích thu được khi tiêu thụ hàng hóa : tỉ lệ hoa hồng thu được. Lượng đặt
hàng, chất lượng và chủng loại sản phẩm của nhóm khách hàng này yêu cầu có ảnh hưởng
đến số lượng, chất lượng cũng như chủng loại mặt hàng nhập khẩu của công ty.
Khách hàng là người tiêu thụ cuối cùng : mua sản phẩm để thỏa mãn nhu
cầu của chính họ. Người tiêu thụ cuối cùng chính là người hiểu rõ mục đích của họ
và biết được chủng loại mặt hàng nào phù hợp với nhu cầu của họ nhất. Vấn đề mà
họ quan tâm trước hết của đối tượng khách hàng này là chất lượng và giá cả của mặt
hàng. Tuy đây là những khách hàng không thường xuyên mà mua số lượng ít nhưng
hoạt động bán lẻ là một hoạt động mang ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và
phát triển của công ty.
1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu của công ty
1.3.2.1. Nhân tố bên trong công ty
a. Nhân tố bộ máy quản lý và tổ chức hành chính
Hoạt động nhập khẩu đòi hỏi cần phải có một bộ máy lãnh đạo hoàn chỉnh, có
tổ chức phân cấp quản lý, phân công lao động trong công ty sao cho phù hợp với
đặc trưng của công ty kinh doanh nhập khẩu. Do vậy, vai trò của bộ máy quản lý là
rất quan trọng. Nếu bộ máy quản lý cồng kềnh không cần thiết sẽ làm cho việc kinh
doanh của công ty trở nên không hiệu quả và ngược lại.
b. Nhân tố con người
Trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng, tất cả
các công đoạn từ nghiên cứu tìm hiểu thị trường đến khâu ký kết và thực hiện hợp
đồng đòi hỏi cán bộ nhập khẩu phải nắm vững các chuyên môn nghiệp vụ, năng động,
trình độ tay nghề cao và được đào tạo bài bản. Yếu tố con người luôn luôn là yếu tố
7
tiên quyết để đi tới thành công trong bất kì lĩnh vực nào, đóng vai trò quyết định
đến hiệu quả hoạt động kinh doanh, sự tồn tại và phát triển của công ty.
c. Nhân tố vốn và công nghệ
Vốn và công nghệ có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của công
ty nói chung cũng như hoạt động kinh doanh nhập khẩu nói riêng. Theo các chuyên
gia, có 3 điều kiện để có được ngành công nghiệp ôtô là thị trường, con người và
công nghệ kỹ thuật. Trong 3 điều kiện đó Việt Nam có 2 là thị trường và con
người. Riêng yếu tố công nghệ ở Việt Nam vẫn còn nhiều yếu kém và lạc hậu so
với các nước khác. Đây cũng là một khó khăn của ngành công nghiệp ô tô.
1.3.2.2. Nhân tố bên ngoài công ty
a. Nhân tố chính trị, pháp luật
Trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu nói chung và hoạt động nhập
khẩu nói riêng, do là hoạt động giao dịch buôn bán trao đổi thương mại mang tính
chất quốc tế cho nên nó chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố chính trị, luật pháp
của mỗi quốc gia cũng như quốc tế. Chế độ chính sách, luật pháp của Nhà nước là
những yếu tố mà các công ty xuất nhập khẩu buộc phải nắm rõ và tuân thủ. Hoạt
động nhập khẩu được tiến hành giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau, do đó nó
không chỉ chịu sự tác động của chế độ, chính sách, luật pháp trong nước mà còn
chịu những điều kiện tương tự ở phía nước đối tác. Dựa vào những chính sách và
công cụ của mình, Chính phủ sẽ điều chỉnh thị trường sao cho hợp lý nhất đối với
các doanh nghiệp và đối với một quốc gia. Một thị trường nếu không có sự quản lý
của Nhà nước sẽ phát triển tự do và không có điểm dừng. Do vậy nó sẽ có ảnh
hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp do không xác định được mục tiêu sản xuất của
mình .
Tuỳ theo từng điều kiện của từng quốc gia cũng như ở mỗi thời kỳ mà Chính
phủ áp dụng các biện pháp sao phù hợp. Các biện pháp thường được sử dụng phổ
biến là: chính sách thuế, chính sách đầu tư và phát triển, chính sách tiền tệ
Bên cạnh đó, môi trường chính trị ổn định, luật pháp thông thoáng chặt chẽ
không thay đổi thường xuyên có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của nền kinh tế
nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng. Môi trường ổn định thúc đẩy hoạt
8
động thương mại quốc tế giữa các quốc gia với nhau và giữa các chủ thể kinh tế ở
các quốc gia với nhau.
Ngược lại, khi môi trường chính trị, luật pháp không ổn định nó sẽ hạn chế
rất lớn tới hoạt động thương mại quốc tế của quốc gia nói chung và hoạt động xuất
nhập khẩu của công ty nói riêng.
Vấn đề đặt ra đối với các cán bộ nhập khẩu của công ty là luôn phải trau dồi
kiến thức không chỉ về chuyên môn và cả về luật pháp, từ đó để tránh không bị vi
phạm luật pháp, hạn chế xảy ra tranh chấp và những hành vi lừa đảo của kẻ xấu
nhằm chuộc lợi.
b. Thuế quan nhập khẩu và hạn ngạch
Phần lớn các quốc gia trên thế giới khi muốn kiểm soát một thị trường nào đó ,
thì các công cụ thường dùng là chính sách thuế và hạn ngạch. Thị trường ôtô nước
ta cũng không ngoại lệ. Ở nước ta thị trường ôtô được chính phủ quản lý rất chặt
chẽ bằng hạn ngạch. Chính phủ không cho nhập khẩu các loại xe dưới 12 chỗ ngồi
chỉ trừ những trường hợp đặc biệt như là xe của các ngoại giao đoàn. Chính phủ ra
hạn ngạch cho nhập khẩu các loại xe chuyên dùng như xe cứu hỏa, xe đông lạnh
Điều này nhằm bảo vệ nền công nghiệp sản xuất ôtô còn non trẻ trong nước.
Ngoài hạn ngạch, Chính phủ còn áp dụng chính sách thuế nhập khẩu cho các
loại xe nguyên chiếc hoặc các loại linh kiện để lắp ráp cũng như thiết bị đồng bộ để
sản xuất các loại ôtô. Điều này tác động trực tiếp đến cung cầu ôtô trên thị trường.
Nếu thuế nhập khẩu xe tăng dẫn đến giá xe tăng dẫn đến cầu sẽ giảm làm cho
lượng cung ôtô trên thị trường giảm . Và ngược lại nếu thuế nhập khẩu giảm dẫn
đến giá giảm làm cho cầu tăng lên và lượng cung ra thị trường cũng tăng lên.
c. Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh nhập khẩu
giữa các quốc gia, nó quyết định việc lựa chọn đồng tiền thanh toán của các quốc
gia. Do tỷ giá hối đoái không cố định, có sự biến động lên xuống nên công ty cần
phải có sự nghiên cứu và dự đoán xu hướng biến động của tỷ giá hối đoái để đưa ra
các quyết định phù hợp cho việc nhập khẩu như lựa chọn bạn hàng, lựa chọn đồng
tiền thanh toán,…
9
d. Yếu tố thị trường trong nước và ngoài nước
Vì ôtô là một loại hàng hóa đắt tiền nên phải chịu rất nhiều ảnh hưởng của
GDP, GNP. Nếu một thị trường mà có mức GDP hay GNP thấp thì loại hình sản
phẩm này khó có thể tiêu thụ, dẫn đến các doanh nghiệp sản xuất ôtô khó có điều
kiện để tồn tại và phát triển. Ngược lại ở một thị trường có GDP cao, đi liền với đó
là đời sống người dân cũng cao hơn thì loại hình sản phẩm sẽ dễ được tiêu thụ hơn
và doanh nghiệp cũng có thể dễ ràng tồn tại và phát triển hơn.
Tình hình và sự biến động của thị trường trong và ngoài nước như : sự thay
đổi của giá cả, khả năng cung cấp hàng hóa, khả năng tiêu thụ và xu hướng biến
động của dung lượng thị trường… Tất cả các yếu tố này đều có ảnh hưởng tới hoạt
động nhập khẩu của công ty. Sự thay đổi lên xuống của giá cả sẽ làm ảnh hưởng tới
khả năng tiêu thụ hàng nhập khẩu. Sự biến động của nguồn cung và dung lượng thị
trường có ảnh hưởng đến sự biến động của giá cả hàng nhập khẩu, từ đó ảnh hưởng
tới khả năng tiêu thụ và hoạt động nhập khẩu của công ty.
Theo PGS.TS Nguyễn Đăng Tuất, để được coi là một thị trường theo đúng
nghĩa thì phải có mức tiêu thụ ít nhất là 500.000 xe/năm. Tuy nhiên ở Việt Nam,
mức tiêu thụ hiện vẫn chỉ dừng lại ở con số dưới 100.000 xe/năm. Chính vì vậy Việt
Nam vẫn chỉ được coi là “thị trường tiềm năng” với gần 90 triệu dân. Tuy nhiên,
“tiềm năng” này chưa biết bao giờ mới được “đánh thức” khi cơ sở hạ tầng giao
thông còn quá yếu kém cộng với mức thuế cao đã khiến cho giá xe tăng vọt và việc
sở hữu một chiếc xe hơi của người dân trở nên rất khó khăn.
Thực tế cho thấy, thị trường càng nhỏ thì giá xe sẽ càng cao vì công suất của
các nhà máy không thể bù đắp được chi phí sản xuất. Từ việc thiếu công nghệ, con
người sẽ dẫn đến tăng chi phí sản xuất, chất lượng sản phẩm thấp nhưng giá bán lại
cao, dẫn đến thị trường phát triển chậm tạo ra một vòng luẩn quẩn cho chính ngành
công nghiệp ô tô.
e. Yếu tố cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa quốc tế
Các yếu tố cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động mua bán trao
đổi hàng hóa quốc tế có ảnh hưởng trực tiếp đến nhập khẩu như :
- Hệ thống giao thông vận tải, cảng biển : nếu hệ thống này được trang bị
hiện đại sẽ cho phép giảm bớt thời gian bốc dỡ, thủ tục giao nhận. Bên cạnh đó
10
cũng đảm bảo an toàn cho hàng hóa được mua bán nhanh chóng, nâng cao tính kịp
thời, nhanh gọn trong quá trình nhập khẩu.
- Hệ thống Ngân hàng : Nếu một quốc gia có hệ thống Ngân hàng phát triển thì
càng thuận tiện cho việc thanh toán quốc tế cũng như huy động vốn. Ngân hàng là một nhân
tố đảm bảo tin cậy cho nhà kinh doanh bằng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng.
- Hệ thống bảo hiểm, kiểm tra chất lượng : Cho phép các hoạt động mua bán
hàng hoá quốc tế được thực hiện một cách an toàn hơn đồng thời giảm bớt được rủi ro và
thiệt hại có thể xảy ra cho các nhà kinh doanh trong buôn bán thương mại quốc tế.
f. Các quan hệ kinh tế quốc tế
Việc tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế như : ASEAN, WTO…đã đem
lại lợi ích thiết thực cho quốc gia tham gia, trong đó có Việt Nam. Các nhà sản xuất
kinh doanh sẽ có thêm cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ ra nước ngoài khi hàng
rào thuế quan và phi thuế quan dần nới lỏng. Điều này sẽ thúc đẩy các quốc gia tích
cực trong quan hệ ngoại giao với nước khác, tích cực tham gia vào các tổ chức kinh
tế quốc tế nhằm tạo được những mối quan hệ bền vững, tạo ra các xu hướng tích
cực hoá trong quá trình nhập khẩu, xuất khẩu hàng hóa của nước mình.
1.3.3. Khái quát tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty:
Công ty kinh doanh thương mại, chuyên bán các loại xe ô tô, máy công trình
nguyên chiếc nhập khẩu nên doanh thu và lợi nhuận của Công ty phụ thuộc nhiều
vào sản lượng tiêu thụ sản phẩm. Sản lượng tiêu thụ sản phẩm của Công ty lại phụ
thuộc vào giá thành sản phẩm, nhu cầu thị trường và diễn biến chung của nền kinh
tế Việt Nam và thế giới.
Mặc dù khó khăn như vậy nhưng Hội đồng quản trị, Ban lãnh đạo Công ty
luôn theo sát tình hình, đề ra các quyết định và chiến lược kinh doanh phù hợp, kịp
thời như: Cơ cấu lại các danh mục đầu tư tài chính, bất động sản; rà soát, rút vốn tại
những hạng mục đầu tư nhằm đảm bảo an toàn vốn trong tình hình thị trường đang
gặp nhiều khó khăn; điều chỉnh giá hàng bán…nhằm tìm mọi biện pháp để từng
bước nâng cao hiệu quả quản trị về sản xuất kinh doanh cũng như về lĩnh vực tài
chính. Kết quả là năm 2013, Công ty đạt được kết quả như sau:
Bảng 1.1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm 2013 của công ty
cổ phần đầu tư CMC
11
ĐVT: triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2012 Năm 2013
% tăng
giảm
2013/2012
Kế hoạch
năm 2013
% hoàn
thành năm
2013
Tổng doanh thu 36.852 17.577 47,69% 30.000 58,59%
Lợi nhuận trước
thuế
978 635 64,92% 3.000 21,16%
Nguồn : Phòng kế toán Công ty
Doanh thu của Công ty chủ yếu từ hoạt động kinh doanh các loại xe ô tô
và máy công trình, máy móc và linh phụ kiện kèm theo. Do ảnh hưởng từ sự khó
khăn chung của toàn nền kinh tế nên doanh thu của Công ty cũng giảm khiến doanh
thu năm 2013 giảm 52,31% so với năm 2012 và giảm 41,41% so với kế hoạch đề ra.
Lợi nhuận trước thuế năm 2013 chỉ đạt 21,16% kế hoạch đề và cũng giảm
35,08% so với năm 2012. Mặc dù mức lợi nhuận trước thuế chưa hoàn thành so với
chỉ tiêu kế hoạch nhưng trong bối cảnh kinh tế còn rất nhiều khó khăn thì kết quả
đạt được như trên là những cố gắng không nhỏ mà Ban lãnh đạo và toàn thể công ty
thực hiện trong thời gian qua.
Bảng 1.2: Chi phí hoạt động kinh doanh trong năm 2013 của công ty cổ phần
đầu tư CMC
ĐVT: Triệu đồng
TT Yếu tố chi phí
Năm 2012 Năm 2013
Giá trị %/TDT Giá trị %/TDT
1 Tổng doanh thu 36.852 17.577
2 Giá vốn hàng bán 23.600 64,03% 14.505 82,52%
3 Chi phí bán hàng 168 0,45% 121 0,68%
4 Chi phí quản lý doanh nghiêp 2.015 5,46% 3.266 18,58%
5 Chi phí hoạt động tài chính 9.475 22,71% -304 -1,72%
Nguồn: Phòng kinh doanh Công ty
Giá vốn hàng bán chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí. Do mặt
hàng kinh doanh chính của Công ty là các loại xe ô tô và máy công trình của Nhật
Bản và Trung Quốc nên giá vốn hàng bán luôn chiếm tỷ trọng cao so với doanh thu.
Chi phí quản lý doanh nghiệp tăng do tăng lương cho cán bộ công nhân
viên để đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên trong thời kỳ khó khăn.
12
13
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG NHẬP KHẨU ÔTÔ
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ CMC TỪ NĂM
2008 ĐẾN 2013
2.1. Khái quát hoạt động nhập khẩu ôtô của Việt Nam từ 2008 đến 2013
2.1.1. Quản lý của nhà nước đối với hoạt động nhập khẩu ôtô
Quan điểm nhất quán bảo hộ ngành Công nghiệp ô tô và hạn chế nhập khẩu
luôn được Chính phủ Việt Nam triệt để duy trì và áp dụng. Điều này thể hiện rõ nhất
trong chính sách thuế Chính phủ đã đề ra. Về cơ bản, chính sách thuế quan được xây
dựng với các biện pháp thuế quan và phi thuế quan nhằm áp đặt mức thuế cao đối với
xe nhập khẩu và hạn chế tối đa nhập khẩu miễn thuế. Hàng rào thuế quan và phi thuế
quan đã tạo sự ngăn cách to lớn giữa xe nhập khẩu và xe lắp ráp trong nước. Bộ
trưởng Bộ KH&ĐT Bùi Quang Vinh phát biểu: “Không có nước nào trên thế giới
mà lại “đánh” thuế ngành ô tô cao như ở Việt Nam”.
Hiện ở Việt Nam có 3 loại thuế là thuế nhập khẩu 82%, thuế tiêu thụ đặc biệt
30%-45%, thuế giá trị gia tăng 10%. Với 7 loại phí: trước bạ, biển số, đăng kiểm,
bảo hiểm trách nhiệm dân sự, phí xăng dầu và phí quỹ bình ổn, phí bảo trì đường
bộ, chưa kể 2 loại khác sắp được thông qua là phí lưu hành và phí nội đô giờ cao
điểm, chiếc ô tô ở Việt Nam có giá cao gấp 3 lần ở quốc gia giàu nhất thế giới.
Tỷ lệ bảo hộ với xe nguyên chiếc là rất cao. Việc áp dụng đánh cả thuế nhập
khẩu, VAT và thuế tiêu thụ đặc biệt làm cho giá bán xe nhập khẩu cao hơn rất nhiều
so với giá bán xe lắp ráp trong nước. Đây chính là sự thiệt thòi lớn mà người tiêu
dùng Việt Nam phải gánh chịu. Thế nhưng chính sách bảo hộ cao đã dần dần bộc lộ
những hạn chế. Các doanh nghiệp trong nước thì lắp ráp trong nước, doanh nghiệp
liên doanh nước ngoài thì ỷ lại việc được bảo hộ nên chậm chạp trong việc nội địa
hóa và nâng cao tính cạnh tranh. Thuế suất thuế nhập khẩu cao kích giá xe nhập
khẩu lên cao nên các công ty kinh doanh hạn chế nhập khẩu. Chính những điều này
khiến cho quy mô thị trường ô tô rất nhỏ.
Năm 2006, chính sách ưu đãi thuế quan theo tỷ lệ nội địa hóa đối với các sản
phẩm, phụ tùng ngành cơ khí – điện – điện tử (được áp dụng từ năm 1999) chính
14
thức bị bãi bỏ. Biểu thuế nhập khẩu linh kiện phụ tùng ô tô sẽ được xây dựng theo 5
mức thuế suất là 30%, 20%, 10%, 5% và 0%; sự chênh lệch giữa mức thuế suất của
cụm chi tiết và chi tiết rời phần lớn là 5% hoặc 10% tùy theo chủng loại. Cũng
trong năm này, ô tô đã qua sử dụng được loại ra khỏi danh sách mặt hàng cấm nhập
khẩu. Cho phép nhập khẩu tô tô cũ là một yêu cầu bắt buộc khi chúng ta tham gia
hội nhập WTO.
Năm 2007 là năm Việt Nam chính thức gia nhập WTO, thuế quan nhập khẩu
chịu tác động trực tiếp nhất, đi tiên phong trong hội nhập. Ô tô, linh kiện ô tô cũng
là một trong những mặt hàng được điều chỉnh thuế. Thuế nhập khẩu ô tô nguyên
chiếc (CBU, 5 chỗ) giảm từ mức 100% năm 1999 xuống còn 80% năm 2009, cũng
trong năm 2009 thuế tiêu thụ đặc biệt mặt hàng này cũng giảm, mức thuế suất vào
khoảng 45 -60%. Trong khoảng thời gian từ năm 2003 trở lại đây, mặc dù thuế nhập
khẩu ô tô và thuế tiêu thụ đặc biệt giảm xuống kéo theo tỷ lệ bảo hộ giảm, nhưng ô
tô trong nước vẫn được bảo hộ ở tỷ lệ cao (hơn 200%). Việc đưa tỷ lệ nội địa hóa
mà làm mục tiêu phát triển của công nghiệp ô tô còn rất nhiều bất cập vì thị trường
Việt Nam chưa thích hợp để phát triển các ngành công nghiệp có kỹ thuật cao như
công nghiệp ô tô, tâm lý ưa chuộng hàng ngoại ăn sâu vào tâm lý người tiêu dùng
do đó một chiếc xe có linh kiện ngoại 100% sẽ hấp dẫn người tiêu dùng Việt Nam
nếu cùng một mức giá.
Ngoài công cụ thuế quan, Nhà nước tăng cường quản lý nhập khẩu bằng các
biện pháp Hải quan như : quản lý chặt tính giá thuế hàng nhập khẩu, tăng cường rà
soát thủ tục nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu, các chỉ tiêu kỹ thuật để điều tiết việc
nhập khẩu. Tuy nhiên các chính sách của Nhà nước còn chưa đồng bộ và thiếu ổn
định, gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu. Nhiều chính
sách còn mang tính nhất thời và chưa tính đến lợi ích lâu dài. Đòi hỏi các nhà hoạch
định chính sách phải có kế hoạch, chiến lược dài hạn nhất định phù hợp với mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
2.1.2. Tình hình nhập khẩu ôtô của Việt Nam từ 2008 đến 2013
Mặc dù kinh tế khó khăn, song giá trị kim ngạch nhập khẩu ô tô năm 2008 vẫn cao kỷ
lục, đạt mức 2,44 tỷ USD. Trong đó, giá trị kim ngạch nhập khẩu các loại ô tô nguyên
chiếc đạt hơn 1 tỷ USD, với số lượng xe đạt 50.400 chiếc.
15
Biểu đồ 2.1 : Lượng nhập khẩu ô tô của Việt Nam từ 2008 đến 2013
Nguồn : Tính toán của tác giả
Theo Tổng cục Thống kê, ước tính riêng tháng 12/2008 giá trị kim ngạch nhập
khẩu ô tô nguyên chiếc đã đạt 57,3 triệu USD với khoảng 2.000 chiếc được đưa về
nước, cao hơn tháng trước đó 13,6 triệu USD về giá trị và 500 xe về số lượng. Như
vậy, giá trị kim ngạch nhập khẩu các loại sản phẩm ôtô năm 2008 đã cao hơn năm
2007 tròn 1 tỷ USD. Riêng với ô tô nguyên chiếc, kim ngạch nhập khẩu nãm 2008
đã tăng gần gấp đôi so với năm trước về giá trị và tăng 22.400 chiếc về số lượng.
Đối với xe nguyên chiếc, có thể nói 2008 là năm nhiều biến động nhất từ trước tới
nay của thị trường ô tô nhập khẩu. Đặc biệt ở giai đoạn giữa năm, các trào lưu tranh
thủ nhập khẩu “chạy” thuế và mua “chạy” giá đã tạo nên những cơn sốt “nóng”,
“lạnh” bất thường của thị trường. 2007 cũng là một năm đáng chú ý của thị trường ô
tô nhập khẩu, với 3 lần liên tiếp thuế suất thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc được
điều chỉnh giảm, đưa từ mức 90% xuống còn 60%, kéo giá xe trong nước cũng
giảm mạnh. Tuy nhiên, thuế thấp và giá thấp cũng không làm cho lượng xe nhập
khẩu tăng lên là mấy.
Vậy tại sao trong năm 2008 thuế suất thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc cũng
có đến 2 lần liên tiếp tăng trở lại vào tháng 3 và tháng 4, đưa từ mức 60% lên 83%,
lại khiến lượng xe nhập khẩu tăng vọt ngay trong thời điểm đó? Lý giải dễ hiểu nhất
16
chính là trong khi thị trường vẫn đang sôi động, các nhà nhập khẩu đã tiến hành
nhập khẩu ồ ạt để tránh các mức thuế mới trong khi người tiêu dùng cũng tranh thủ
mua để tránh mức giá mới được dự báo là sẽ tăng mạnh theo thuế.
Trong năm 2009, có trên dưới 76.300 chiếc ô tô mới - cũ nguyên chiếc các
loại được nhập khẩu về Việt Nam, với tổng kim ngạch đạt 1,171 tỷ USD. Như vậy,
so với con số 50.400 chiếc và kim ngạch 1,034 tỷ USD của năm 2008 thì lượng ô tô
nhập khẩu tăng tới 50% và kim ngạch tăng 13%.
Trong năm 2010, chính sách thuế và các biện pháp kiềm chế nhập khẩu, cùng
với một số yếu tố như giá USD trên thị trường tự do tăng mạnh đã có tác dụng giảm
lượng xe ngoại cập cảng Việt Nam. Điều này đặc biệt thể hiện rõ ở những tháng
cuối năm, thời điểm thông thường thị trường ô tô nói chung rất sôi động, nhưng
năm 2010 lượng xe nhập về trong dịp này không tăng mạnh như mọi năm. Kết thúc
năm 2010, lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu vào nước ta đạt 53.841 chiếc, giảm
33,2% so với năm 2009, tương đương giá trị 978,5 triệu USD, giảm 22,9%. Dù kinh
tế còn khó khăn và nhiều biện pháp được áp dụng để kiềm chế nhập khẩu xe ô tô
nhưng năm 2011 đã khép lại với khoảng 1,02 tỉ đô la Mỹ đã được chi cho việc nhập
khẩu xe ô tô nguyên chiếc, cao hơn kết quả của năm 2010.
Bước sang năm 2011, theo số liệu từ Tổng cục Thống kê Việt Nam, trong
tháng cuối cùng của năm 2011, có 4.000 xe ô tô nguyên chiếc được nhập khẩu vào
Việt Nam với giá trị kim ngạch khoảng 64 triệu đô la Mỹ, cao hơn tháng trước đó
1.000 xe và 12 triệu đô la Mỹ. Lượng xe nhập khẩu tháng cuối cùng của năm 2011
tăng cao đã đẩy tổng kim ngạch nhập khẩu xe ô tô nguyên chiếc vào Việt Nam
trong năm qua lên đến 55.000 xe với giá trị lên đến 1,02 tỉ đô la Mỹ.
Giới kinh doanh ô tô cho rằng đây là kết quả khá cao trong bối cảnh nền kinh
tế còn khó khăn, thị trường cũng liên tiếp phải đối mặt với những thách thức về siết
chặt vốn vay của các ngân hàng trong việc cho vay mua ô tô.
Đặc biệt, vào giai đoạn nửa năm cuối của năm 2011, Bộ Công Thương ban
hành Thông tư 20 với các quy định siết chặt ô tô nhập khẩu không chính hãng, thuế
nhập khẩu xe đã qua sử dụng tăng mạnh… khiến nhiều nhà nhập khẩu ô tô và cửa
hàng kinh doanh xe ô tô phải đóng cửa, chuyển hướng kinh doanh. Thế nhưng tổng
17
kim ngạch nhập khẩu ô tô nguyên chiếc năm 2011 vẫn tăng 2,1% về lượng và 4,2%
về giá trị so với năm 2010.
Lượng nhập khẩu trong năm 2012 đạt 27,4 nghìn chiếc, trị giá đạt 615 triệu
USD, giảm 50% về lượng và giảm 40,2% về trị giá so với năm 2011. Lý giải cho sự
sụt giảm này chủ yếu do: thứ nhất là năm 2012, tình hình kinh tế khó khăn, khiến
nhu cầu mua sắm ô tô giảm sút; thứ hai là mức thu phí trước bạ đối với ô tô đăng ký
lần đầu tại hai thị trường lớn nhất cả nước là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
tăng lên; thứ ba là tâm lý người tiêu dùng bị tác động bởi thông tin thu phí bảo trì
đường bộ.
Biều đồ 2.2 : Lượng và trị giá nhập khẩu ô tô nguyên chiếc theo tháng trong
năm 2012
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, lượng nhập khẩu xe ô tô nguyên
chiếc bắt đầu vào đợt giảm mạnh kể từ tháng 7/2011 với 3,92 nghìn chiếc và liên
tiếp các tháng sau đó, lượng nhập khẩu đều ở mức thấp hơn con số này. Đây cũng là
thời điểm mà Thông tư 20/2011/TT-BCT quy định về việc bổ sung thủ tục nhập
khẩu đối với ô tô chở người loại từ 09 chỗ ngồi trở xuống chưa qua sử dụng do Bộ
Công Thương ban hành ngày 12/5/2011 có hiệu lực (hiệu lực của Thông tư 20 tính
từ ngày 26/6/2011). Theo đó, Thông tư này yêu cầu “thương nhân nhập khẩu phải
nộp bổ sung giấy chỉ định hoặc giấy ủy quyền là nhà nhập khẩu, nhà phân phối của
chính hãng sản xuất, kinh doanh loại ô tô đó hoặc hợp đồng đại lý của chính hãng
sản xuất, kinh doanh loại ô tô đó và giấy chứng nhận cơ sở bảo hành, bảo dưỡng ô
18