Tải bản đầy đủ (.pdf) (50 trang)

Nghiên cứu chế biến ba kích

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (47.84 MB, 50 trang )

BỘ Y TÊ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
if: ^ if:
HOÀNG THÁI HOÀ
NGHIÊN cúu CHẾ BIẾN BA KÍCH
(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược sĩ ĐẠI HỌC KHOÁ 1996 - 2001)
Người hướng dẫn. PGS.TS. Phạm Xuân Sinh
Ths. Nguyễn Thê Hùng
Nơi thực hiện. Bộ môn Dược học cổ truyền
Thời gian thực hiện'. Từ 5/3 —>22/5/2001
HÀ NỘI, THÁNG 5 ■ 2001
u A A i
_______________________
_
LỜI CẢM ƠN
/ ^ ^ ^ r ư ớ c tiên, em xin được bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy
PGS.TS. Phạm Xuân Sinh
ThS. Nguyễn Thế Hùng
Là' những thầy đã trực tiếp hướng dẫn em làm đề tài, cùng các
thầy cô bộ môn Dược học cổ ữuyền, bộ môn Hoá sinh, PGS.TS. Bế Thị
Thuấn, TS. Đỗ Ngọc Thanh đã giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này.
Thưa các thầy cô kính mến! Từ đáy lòng mình em m uốn thầm
cảm ơn chân thành tất cả các thầy cô trường đại học Dược Hà Nội đã
dạy bảo em trong suốt 5 năm qua, cùng toàn thể cán bộ công chức
phòng giáo tài, phòng quản lý khoa học, thư viện Đại học Dược, Xí
nghiệp Dược Phẩm TW3 Hải Phòng
Tôi cũng xin cảm ơn rất nhiều các bạn đã giúp đỡ tôi hoàn thành
khoáluận.
Sau cùng, em muốn gửi lời kính chúc tới các thầy cô cùng toàn
thể các bạn và gia đình luôn vui vẻ, mạnh khỏe, hạnh phúc.
Sinh viên


Hoàng Thái Hoà
MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1 . ĐẶT VẨN ĐỂ 1
PHẦN 2. TỔNG QUAN 2
1.Vài nét về cây Ba kích 2
1.1. Tên khoa học 2
1.2. Đặc điểm thực vật 2
1.3. Phân bố thu hái 3
1.4. Đặc điểm sinh thái và trồng trọt 3
1.5. Bộ phận dùng 3
1.6. Thành, phần hoá học 3
1.7. Tác dụng dược lý 5
1.8. Công năng-chủ trị. 5
2. Chê biến Ba kích theo y học cổ truyền 7
PHẨN 3. THỰC NGHIỆM VÀ KẾT q u ả . 9
1.Nguyên liệu và phương pháp thục hiện 9
1.1 Nguyên liệu 9
1.2 Phương pháp thực nghiệm 9
1.2.1 .Chê biến Ba kích theo phương pháp cổ truyền 9
1.2.2.Định tính một số thành phần hoá học của Ba kích trước và sau khi 10
chế
1.2.3.Định lượng một số thành phần hoá học của Ba kích trước và sau chế 10
1.2.4.Sơ bộ thử tác dụng dược lý của dịch chiết nước Ba kích trước và sau 11
chế
2.Kết quả thực nghiệm và nhân xét 11
2.1 Chế biến Ba kích theo phương pháp cổ truyền 11
2.2.Định tính một số thành phần hoá học của Ba kích trước và sau chế 16
2.3.Định lượng một số thành phần hoá học của Ba kích trước và sau chế 23
2.3.1 Định lượng Anthranoid ' 23

2.3.2 Định lượng iridoid 25
2.3.3 Định lượng đường khử 27
2.4.Sơ bộ thử tác dụng dược lý 29
2.5.Dự kiến một số chỉ tiêu trong quy trình chế biến Ba kích 34
PHẨN 4. KET l u ậ n Và đ ể x u Ất 3 8
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
CHÚ GIẢI CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BKC ; Ba kích chế cam thảo
BKM • g a kích chê' muối
BKR : Ba kích chế rượu
BKT ; Ba kích thiên
DĐVN ; Dược điển Việt nam
SKĐ ; sắc ký đồ
PHẦN 1
ĐẶT VÂN ĐỂ
Ngày nay,Việt Nam cũng như các nước trên thế giới có xu hướng sử
dụng đông dược ngày càng trở nên phổ biến vì chúng đã đưa lại những hiệu
quả đáng kể cho việc phòng chữa bệnh của con người. Và trong đông y các vị
thuốc nói chung trước khi dùng để uống đều phải qua chế biến theo một hoặc
nhiều phương pháp cổ truyền khác nhau để đạt được những mục đích của việc
phòng chữa bệnh: tăng quy kinh, giảm độc tính, tăng tác dụng của vị thuốc.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu chế biến đông dược dựa trên cơ sở chứng minh
khoa học cho mỗi phương pháp hiện nay chưa có nhiều nên việc sử dụng đông
dược thực sự là chưa có sức thuyết phục lớn.
Để góp phần tìm hiểu sự thay đổi thành phần hoá học, tác dụng dược lý
của một vị thuốc qua quá trình chế biến, chúng tôi chọn Ba kích, một vị thuốc
quý đã được sử dụng từ lâu để nghiên cứu trong khoá luận này, với các mục
tiêu sau :
1 - Chê biến cổ truyền vị thuốc Ba kích.

2 - Định tính một sô thành phần hoá học của Ba kích trước và sau
khi chế.
3 - Định lượng một sô thành phần : Anthranoid, iridoid, đường
khủ của Ba kích trước và sau khi chế.
4 - So bộ thử tác dụng dược lý của dịch chiết nước Ba kích trước
và sau khi chế.
5 - Dự kiến một sô tiêu chuẩn cho quy trình chê biến Ba kích.
Kết quả thực nghiệm là định hướng cho việc chọn ra phương pháp chế
Ba kích tối ưu nhất nhằm nâng cao giá trị sử dụng và hiệu quả kinh tế của vị
thuốc Ba kích.
1
PHẦN 2
TỔNG QUAN
1. VÀI NÉT VỂ CÂY BA KÍCH.
1.1. Tên khoa học :
Morinda officinalis How, họ Cà phê (Rubiaceae).
Ngoài'ra Ba kích có tên gọi khác : Ba kích thiên, liên châu ba kích, cây
ruột gàịdây ruột gà), chẩn phóng xì, thau cày táy (Tày), chôì hoàng kim,
sáy cấy (Thái)[ 1 j, [14], [21].
1.2. Đặc điểm thực vật.
♦ Mô tả cây:
Ba kích là một loại cây thảo, sống lâu năm, leo bằng thân quấn. Thân
non màu tím, có lông, khi già trở nên nhẩn. Cành non có cạnh. Lá mọc đối,
hình mác hoặc hình bầu dục, thuôn nhọn, dài 6- 14 cm, rộng 2-6 cm, cuống
ngắn, lá non có lông, lông mặt dưới dày hơn mặt trên, khi già lá ít lông hơn
và có màu trắng mốc, lá kèm nhỏ hợp thành ống ôm lấy thân. Cây thường
xanh quanh năm, không có hiện tượng rụng lá theo mùa, chỉ rụng lá già rải
rác quanh năm. Hoa nhỏ, lúc đầu trắng sau hơi vàng, mọc thành tán ở đầu
cành, nách lá. Đài hoa hình chén, tràng hoa hàn liền ở phía dưới thành ống
ngắn, phía trên chia 3-4 thuỳ. Quả hình cầu, khi chín màu đỏ[2],[7],[9],

[14], [21],[22].
Mùa hoa : tháng 5-6
Mùa quả : tháng 7-10
♦ Vi phẫu rễ.
Lớp bần gồm 3-4 hàng tế bào hình chữ nhật nằm ngang, xếp đều. Sát
lớp bần có một lớp tế bào mô cứng dày. Xen giữa lớp bần và lớp mô cứng
rải rác có các bó tinh thể calcioxalat hình kim nằm ngang. Mô mềm vỏ gồm
2
nhiều hàng tế bào hình nhiều cạnh, tròn hoặc dẹt. Rải rác trong mô mềm có
những tế bào chứa tinh thể calcioxalat hình kim ngắn chụm thành bó. Libe
tạo bởi một lớp uốn lượn bao quanh gỗ. ở gần libe có những tế bào mô
cứng riêng lẻ hoặc từng đám. Gỗ chiếm toàn bộ phần giữa rễ [6].
1.3. Phân bỏ thu hái.
Ba kích mọc hoang nhiều ở các tỉnh trung du miền núi: Quảng Ninh,
Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên, ít thấy ở đồng bằng, chưa
thấy mọc ở các tỉnh phía nam Việt Nam[7],[19].
Ba kích cũng mọc nhiều ở Trung Quốc như Quảng Đông, Quàng Tây [ 13J.
Rễ Ba kích có thể đào quanh năm nhưng tốt nhất là vào vụ thu đông.
1.4.Đặc điểm sinh thái và trồng trọt.
Ba kích là cây ưa sáng.Tuy nhiên, khi non cần tán che thì tỉ lệ cây sống
mới cao[9].
Có thể trồng bằng mầm của đoạn thân dính liền rễ hoặc mầm dây (dây
sát gốc, bánh tẻ) hoặc bằng hạt[8],[10].
1.5. Bộ phận dùng.
Rễ-Radix Morindae.
Đặc điểm rễ: Hình trụ tròn hoặc dẹt, cong queo, nhiều đoạn nứt sâu để lại
lõi gỗ bên trong. Mặt ngoài màu nâu nhạt hoặc hồng nhạt, có nhiều vân
dọc. Mặt cắt ngang có lớp bần mỏng, mô mềm dày, màu hồng hay tím, giữa
có lõi gỗ dài, màu vàng nâu[6].
l.ó.Thành phần hoá học.

Trong rễ Ba kích có anthranoid, đường, acid hữu cơ, ít tinh dầu, chất đường,
nhựa, phytosterol. Rễ tươi có chứa vitaminC [7], [14].
Năm 1995, một nhóm nhà khoa học trường Đại học dược Kyoto- Nhật Bản đã
phân lập và xác định công thức một số nhóm chất trong rễ Ba kích gồm 5 họp chất
3
anthranoid: tertoquinon, alizarin-1-methylether, lucidin-(0 -methylether,l-
hydroxy-2,3-dimethylanthraquinon, 1 -hydroxy-3-hydroxymethylanthraquinon; 6
hợp chất iridoid:morindolid, morofficinalosid, asperulosid, asperulosidic acid,
monotropein, desacetyl asperulosidic acid; 1 monoterpenglycosid: 1-borneol-6-o-
p-D-apiosyl- p-D-glucosid; 2 sterol: p-sitosterol, oxositosterol; 1
saponintriterpen kiểu ursan:rotungenic acid; và một hợp chất lacton: (4R,5S) -5-
hydroxyhexan-4-olid. [24]. Đặc biệt, 2 iridoiđ: morindolid, morofficinalosid là 2
chất mới, chỉ thấy có trong Ba kích.
Công thức cấu tạo một số hợp chất điển hình trong rễ Ba kích:
c o o c h 3
Morindolide Morofficinaloside
H
Tectoquinone
Alizarin -1-methyl ether
Cũng năm 1995 người ta đã tách chiết được 5 hợp chất có tác dụng
chống trầm uất từ rễ Ba kích : acid succinic, nystose, 1 -F-fructose-
furanosylnystose, hexassaccarid kiểu inulin và heptasaccarid[23J.
4
1.7. Tác dụng dược lý.
♦ Với nghiệm pháp chuột bơi, dịch chiết nước Ba kích với liều 5-10g/kg,
dùng liên tiếp 7 ngày, có tác dụng tăng sức dẻo dai cho súc vật thí nghiệm
[2],[21 ].Tác dụng tăng sức dẻo dai cho cơ thể của Ba kích tương đương với
nhân sâm, hơn đinh lăng gần 2 lần [13] .
♦ Dùng phương pháp pháp gây nhiễm độc cấp bằng NH4C1 trên chuột nhắt
trắng, với liều 15-20g/ kg. Ba kích có tác dụng tăng sức đề kháng chung

của cơ thể với các yếu tố độc hại [15],[21].
♦ Trên mô hình gây viêm thực nghiệm ở chuột cống trắng bằng kaolin với
liều lượng 5-10g/ kg.Ba kích có tác dụng chống viêm rõ ràng[15], [21 ].
♦ Đối với hệ thống nội tiết, thí nghiệm trên chuột cống đực thấy Ba kích
không có tác dụng kiểu androgen, Ba kích làm tăng trọng lượng tinh
hoàn,cơ nâng hậu môn và túi tinh còn trọng lượng tuyến tiền liệt không có
gì thay đổi đáng kể [15], [21].
♦ Nước sắc Ba kích 20% đem thử trên ruột và tử cung cô lập thỏ, có tác dụng
tăng nhu động ruột và tăng co bóp tử cung [13].
♦ Tác dụng trên huyết áp tuỳ thuộc vào nồng độ. Nói chung, liều cao mới
cho tác dụng hạ áp [13], [20].
♦ LD30 của Ba kích xác định trên chuột nhắt trắng bằng đường uống là 193g/
kg[15], [21].
1.8. Công năng- chủ trị.
Theo Đông y, Ba kích là vị thuốc có tính ôn, vị cay ngọt, quy kinh thận, có
các công năng chủ trị :
5
♦ Bổ thận dương, mạnh gân cốt. Sử dụng cho những người thận dương suy
nhược dẫn đến di tinh, liệt dương, xuất tinh sớm, phụ nữ đau bụng dưới,
không có con, người già lưng gối mỏi đau.[3],
♦ Bổ tỳ vị,ích tinh tuỷ, điều huyết mạch [3].Sử dụng trong các thang thuốc bổ
cho người suy nhược,ăn uống kém
Tại bệnh viện phụ sản khoa đã tiến hành thử tác dụng của Ba kích đối
với hoạt động dục của nam giới trên các đối tượng là những bệnh nhân nam
có hoạt động bất thường về sinh dục: không xuất tinh, giao hợp thưa, yếu,
di tinh liệt dương, tinh dịch ít, tinh trùng ít, không có tinh trùng. Kết quả
trong 11 trường hợp giao hợp thưa và yếu có 2 trường hợp người vợ vô sinh
đã có thai sau khi người chồng được điều trị bằng Ba kích 2 tháng,các
trường hợp khác không có tác dụng. Hai trường hợp đạt kết quả có thai
được coi là do hiệu quả của điều trị bằng Ba kích, có thể do Ba kích có tác

dụng tăng đồng hoá androgen, tăng sức dẻo dai, hoặc có thể do Ba kích có
tác dựng xúc tác giúp chuyển dạng testosteron—» dihydrotesteron có tác
dụng mạnh hơn.
♦ Ba kích còn được dùng làm thuốc chống trầm cảm'[23].
Liều dùng trung bình của Ba kích 4-12g/ngày dưới dạng thuốc sắc, cao
lỏng hoặc ngâm rượu uống, có thể dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc
khác.
Người âm hư hỏa vượng, đại tiện táo kết không nên dùng [3J.
6
MOT SỐ ĐƠN THUOC CÓ BA KÍCH:
Trên thực tế Ba kích được dùng phối hợp với các vị thuốc khác nhu'
trong đơn thuốc: Bổ thận cố tinh hoàn (Ba kích, nam bạch truật, cẩu tích, liên
nhục, tục đoạn, hoài sơn, liên tu, kim anh, cam thảo dây, mẫu lệ)[ 13], Bổ thận
cố tinh thang (Ba kích sao rượu, tiểu hồi, mẫu lệ nung, đỗ trọng, khiếm thực,
tang chi, quế nhục)[22], Bổ thận tráng dương (Ba kích, hoài sơn, liên nhục,
cẩu tích, sừng nai, tục đoạn, bố chính sâm, liên tu, đậu đen, hoàng tinh, hạt tơ
hồng)[22],Ba kích thang( Ba kích, sinh địa, hà thủ ô đỏ, trần bì)[l8], Nhị tiên
thang( Ba kích, tiên mao, dâm hương hoắc, tri mẫu, hoàng bá, đương quy)
[13]
2. CHÊ BIẾN BA KÍCH THEO Y HỌC c ổ TRUYỂN
Ba kích đựơc Đông y xếp vào nhóm thuốc bổ dương nên các phương
pháp chế biến Ba kích đa phần nhằm tăng tác dụng bổ dương. Mặt khác, trong
phép bổ dương của y học phương Đông người ta chú trọng nhiều đến 2 tạng
thận và tỳ (thận chủ nạp khí, tỳ ích khí, mà khí lại thuộc dương). Ta có thê kể
một số phương pháp chê biến Ba kích sau: [17]
♦ Ba kích chế muối (diêm Ba kích).
Muối dùng chế là muối ăn.
Rễ Ba kích rửa sạch bỏ lõi, được tẩm nước muối ủ một giờ, sao vàng.
Chế muối làm cho Ba kích có vị mặn hướng thuốc đi vào kinh thận nhiều
hơn. Theo quan điểm Đông y coi thận gồm cả cơ quan sinh dục, thận là nơi

tàng tinh, chủ nạp khí. Do vậy chế muối để tăng tác dụng dãn vị thuốc vào
kinh thận tức là tăng tác dụng bổ dương của Ba kích .
♦ Ba kích chế rượu
Rượu thường dùng là rượu trắng (35°- 40°)
7
Rễ Ba kích được tẩm rượu sao khô
Rượu có tác dụng tăng tính ấm cho vị thuốc, tăng tác dụng ôn bổ, làm cho
khí vị của thuốc thăng đề, đi lên phía trên. Tăng tác dụng bổ tỳ, vì khí tỳ
chủ thăng. Tỳ lại chủ cơ nhục, chân tay nên bổ tỳ đồng nghĩa với tăng sức
dẻo dai, cơ bắp, tăng bổ dương.
♦ Ba kích chế cam thảo (Ba kích trích).
Dùng dịch chiết nước cam thảo tẩm Ba kích sao vàng.
Cam thảo có vị ngọt, tăng tác dụng bổ tỳ vị của Ba kích. Vì cam tháo là
thuốc bổ khí đồng thời cam thảo có tác dụng khử bớt vị ngứa của Ba kích.
♦ Ba kích chế với khởi tử và cúc hoa.
Ngâm Ba kích với nước sắc khởi tử ngâm tiếp với rượu sau đó sao khô Ba
kích, rồi thêm cúc hoa vào sao nhỏ lửa đến vàng, rây bỏ cúc hoa.
Câu kỷ tử (khởi tử) là một vị thuốc bổ âm được chế với vị thuốc bổ dương
Ba kích vì theo nguyên lý của y học cổ truyền là Âm dương hỗ căn, khởi tử
tăng tác dụng bổ thận dương của Ba kích
8
PHẦN 3
THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ
1. NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM
1.1. Nguyên liệu
- Dược liệu
+ Rễ Ba kích khô lấy từ xí nghiệp Dược phẩm TW3 Hái Phòng
+Cam thảo bắc.
- Súc vật thí nghiệm: chuột nhắt trắng 40 con
- Hoá chất đạt tiêu chuẩn phân tích

- Phương tiện nghiên cứu
Máy đo quang 752 Trung Quốc
Máy cất quay chân không Buchi-Thuỵ Sĩ
Tử sấy Memment
Đèn tử ngoại Camag
Cân xác định độ ẩm Precisa PH 60- Thuỵ Sĩ
Các dụng cụ thuỷ tinh
1.2. Phương pháp thực nghiệm
1.2.1. Chê biến Ba kích theo phương pháp cổ truyền
Chọn ba phương pháp chế:
Ba kích chế rượu
Amoniac
Natrihydroxyd
Đồng sulfat
Natri Kali tartrat
Glucose
Acid acetic (> 99,5%)
Acid clohydric
Etanol, Metanol
9
Ba kích chế muối ăn
Ba kích chế cam thảo bắc
Để đảm bảo độ đồng đều cho các mẫu Ba kích chế theo phương pháp sao
vàng, lấy một lượng nhỏ Ba kích của các mẫu chế đưa vào tủ sấy ở 5 mức
nhiệt độ hằng định 100°c, 110°c, 120°c, 130°c, 140°c trong thời gian 10
phút, 20 phút, 30 phút. Kết quả chọn ra được mẫu sấy ở 140°C/20 phút có màu
vàng để làm mức chuẩn đối chúng cho các mẫu Ba kích chế theo phương
pháp sao vàng.
1.2.2. Định tính một sô thành phần hoá học của Ba kích trước và sau khi
chê biến

* Định tính bằng các phản ứng trong ống nghiệm:
Anthraglycosid
Iridoid
Đường khử
Acid amin, acid hữu cơ, saponin, chất béo
* Định tính bằng sắc ký lớp mỏng :
Anthraglycosid, Iridoid, Đường khử
Dùng bản mỏng tráng sẩn Silicagel 60 F254-Merck
Hiện màu dưới ánh sáng tử ngoại và thuốc khử
1.2.3. Định lượng một sô thành phần hoá học
Anthraglycosid, Iridoid, Đường khử
♦ Đinh lương Anthraglycosid
Theo phương pháp đo quang của Auterhoff
Nguyên tắc: các Anthraglycosid dạng oxi hoá phản ứng với kiềm tạo dẫn chất
Phenolat có màu đỏ (Phản ứng Bomtraeger). Đo mật độ quang của dung dịch,
căn cứ vào đồ thị đường chuẩn tính được hàm lượng Anthraglycosid trong Ba
kích.
♦ Đinh lương iridoid toàn phán
10
Nguyên tắc: iridoid glycosid tác dụng với thuốc thử
Paradimethylaminobenzaldehyd cho màu bền trong môi trường acid. Đo
mật độ quang, tính được hàm lượng iridoidglycosid toàn phần trong Ba kích
[12].
♦ Đinh lương đường khử: phương pháp Lane- Eynon [ 16]
Nguyên tắc: các đường khử phản ứng với thuốc thử Fehling, đồng thời
có khả năng làm mất màu xanhmetylen trong môi trường kiềm nóng. Vì vậy
dùng xanhmetylen làm chỉ thị cho phản ứng oxy hoá đường khử bằng thuốc
thử Fehling.
Hầm lượng đường khử được tính theo Glucose.
1.2.4. Sơ bộ thử tác dụng dược lý của dịch chiết nước Ba kích trước và sau

khi chê [ 15]
Thử tác dụng tăng lực (với nghiệm pháp chuột bơi): phương pháp
Gaerensroom- Coquet- Robellet.
Kết quả được xử lý theo phương pháp thống kê.
2. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ NHẬN XÉT
2.1. Chế biến Ba kích theo phương pháp cổ truyền
2.1.1. Sờ chê
Rễ Ba kích khô rửa sạch, ủ mềm, bỏ lõi, cắt đoạn 1-2 cm. Sấy trong tủ ở
nhiệt độ < 60°c đến khô (độ ẩm 5-8%) được sán phẩm gọi là Ba kích thiên.
2.1.2. Ba kích chế rượu.
Dùng Ba kích thiên tẩm rượu trắng (35-40°) với tỷ lệ 150ml rượu/lkg Ba
kích thiên, trộn đều cho vào bình thuỷ tinh đậy kín bằng vải xô ẩm. ủ một
giờ, sao nhỏ lửa tới khô (độ ẩm 5-8%).
2.1.3. Ba kích chê muôi.
Dùng Ba kích thiên tẩm dung dịch muối ăn 5% với tỷ lệ 150 ml dung
11
dịch NaCl 5%/l kg Ba kích thiên, trộn đều cho vào bình thuỷ tinh đậy kín
bằng vải xô ẩm. ủ một giờ, sao nhỏ lửa tới khô (độ ẩm 5-8%). Sau đó sao
vàng (có màu sắc tương đương với Ba kích chế cùng loại được sấy ở
140°C/20 phút).
2.1.4. Ba kích chế cam thảo
Tỷ lệ 5g cam thảo/lOOg Ba kích.
- Chuẩn bị dich chiết cam thảo: lấy cam thảo bắc cắt nhỏ, sắc nước 3
lần, mỗi lần 30 phút. Cô đặc nước cam thảo để có tỉ lệ 150 ml dịch chiết
cam thảo/lkg Ba kích thiên.
- Dùng Ba kích thiên tẩm dịch chiết cam thảo ở trên, trộn đều, cho vào
bình thuỷ tinh đậy kín bằng vải xô ẩm. ú 6 giờ, lấy ra sao vàng (có màu sắc
tương đương với Ba kích chế cùng loại được sấy ở 140°C/20 phút).
Các mẫu Ba kích được nghiền nhỏ để tiên hành các nghiên cứu sau
này.

Tất cả các nghiên cứu dưới đây đều được tiến hành trên 4 mầu Ba
kích: Ba kích thiên, Ba kích chê rượu, Ba kích chê muối, Ba kích
chê cam thảo.
12
Ảnh 1: Rễ Ba kích tươi
Ảnh 2: Rễ Ba kích khô
13
Ảnh 3: Ba kích thiên
Anh 4: Ba kích chê rượu
14
Ảnh 5: Ba kích chế muối
Ảnh 6: Ba kích chế cam thảo

15
2.2. Định tính một sô thành phần hoá học của Ba kích trước và sau
khi chế.
2.2.1. Định tính bằng các phản ứng
♦ Định tính Anthranoid: phản ứng Bomtraeger
- Định tính dạng tự do:
Cân khoảng 5g bột Ba kích cho vào ống nghiệm to (10ml). Thêm 5ml
nước cất, đun trực tiếp với nguồn nhiệt đến sôi. Lọc dịch chiết còn nóng qua
giấy lọc hoặc qua một lớp bông mỏng vào bình gạn dung tích 50ml. Làm
nguội dịch lọc, thêm 5ml Cloroform. Lắc nhẹ, gạn riêng lớp cloroform. Lấy
lml dịch chiết cloroform cho vào ống nghiệm nhỏ, thêm lml NaOH 10%,
lắc nhẹ. Lớp nước có màu hồng nhạt. Phản ứng dương tính với tất cả các
mẫu.
- Định tính dạng toàn phần.
4 Cân khoảng 2g bột Ba kích cho vào ống nghiệm to (10ml). Thêm 5ml dung
dịch H2S04 in . Đun trực tiếp trên nguồn nhiệt đến sôi rồi chiết tiếp như
định tính dạng tự do. Lấy lml dịch chiết Clorform cho vào ống nghiệm nhỏ,

thêm lml dung dịch NaOH 10%, lắc nhẹ. Lớp nước có màu đỏ sim. Phản
ứng dương tính với tất cả các mẫu.
♦ Định tính iridoid glycosid.
- Chiết xuất: cân 2g bột Ba kích cho vào bình gạn. Ngâm lạnh với
Metanol 12 giờ. Chiết bằng phương pháp ngấm kiệt tới khi thu được khoảng
50ml dung dịch chiết. Cô dưới áp lực giảm (nhiệt độ < 50°C) đến còn 3-5ml.
Cho dịch cô vào cột than hoạt (cột dài 30cm đường kính 2,5cm, lượng than
dùng 0,5-lg được trộn với cát theo tỷ lệ 1:10. Cột đã được rửa bằng nước cất
đến trung tính). Dùng nước cất rửa cột đến khi không còn đường (1-2 giọt dịch
chảy ra không cho phản ứng dương tính với thuốc thử Fehling) dùng cồn 50°
ngâm cột 12 giờ. Rút dịch chiết bằng cồn 50° và cồn 96° đến khi thu được
16
50ml dịch chiết. Cô áp lực giảm còn 3-5ml được dịtíh chiết định tính iridoid
toàn phần.
- Phản úng với thuốc thử Stalia 1%: lấy 0,1 ml dịch chiết ở trên cho vào
ống nghiệm nhỏ, thêm lml thuốc thử Stalia 1%
(lg paradimethylaminobenzaldehyd pha trong dung dịch cồn HC1 5% vừa đủ
y«ì lOOml). Đun cách thuỷ 70°C/5 phút. Xuất hiện màu xanh. Phản ứng dương
- Phản ứng Trim- Hill: cân lg bột Ba kích ngâm trong 5ml HC1 1%
trong 5 giờ. Lọc, lấy lml dịch cho vào ống nghiệm nhỏ, thêm lml thuốc thử
Trim- Hill (gồm 10ml acidacetic đặc, lml CuS04 0,2% và 0,5ml HC1 đặc) đun
cách thủy 70°C/5 phút xuất hiện màu xanh thảm. Phản ứng dương tính với tất
cả các mẫu.
♦ Định tính đường khử.
Lấy lg bột Ba kích thấm ẩm bằng 5ml nước cất, để 15 phút. Nghiền nhỏ
trong cối sứ 5 phút. Thêm 20ml nước cất, khuấy đều. Lọc qua bông, cho vào
dịch lọc 0,5g than hoạt, khuấy đều 2 phút, lọc qua máy hút chân không, được
dịch chiết định tính đường khử.
+ Phản ứng với thuốc thử Fehling: cho vào ống nghiệm nhỏ lml dịch
chiết. Thêm lml thuốc thử Fehling A, lml thuốc thử Fehling B, đun sôi cách

thuỷ 3 phút xuất hiện tủa đỏ gạch. Phản ứng dương tính với tất cả các mẫu.
+ Phản ứng với thuốc thử AgN03/NH40H 5%: cho vào ống nghiệm nhỏ
lml dịch chiết thêm 2ml dung dịch AgN03/NH40H 5%, đun sôi cách thuỷ 3
phút.
Thành ống nghiệm xuất hiện lớp bạc trắng. Phản ứng dương tính với tất cá
các mẫu.
♦ Định tính Saponin
Cho lg bột Ba kích vào ống nghiệm lớn. Thêm 5ml etanol 90°. Đun
cách thuỷ 10 phút lọc dịch sang ống nghiệm khác. Cô cạn eòfní/4thé tích,
.JJA
tính với tất cả các mẫu.
X
17
thêm nước để được khoảng 10ml. Lắc mạnh 2 phút, để yên và quan sát cột bọt
bền hơn 15 phút. Cột bọt ở mẫu Ba kích chế cam thảo cao nhất. Phản ứng
dương tính với tất cả các mẫu.
♦ Định tính acid amin. Cân lg bột Ba kích cho vào ống nghiêm lớn. Thêm
5ml nước, đun cách thuỷ 5 phút, lọc lấy dịch. Lấy lml dịch cho vào ống
nghiệm nhỏ, thêm 3 giọt thuốc thử Ninhydrin 3%. Đun cách thuỷ 5 phút
xuất hiện màu xanh tím. Phản ứng dương tính với tất cả các mẫu.
♦ Định tính acid hữu cơ.
Lấy lg bột Ba kích, thêm 5ml nước cất, đun sôi trong 3 phút, lọc lấy 2ml
dịch lọc, cho vào ống nghiệm nhỏ, thêm vài tinh thể Na2C 03 thấy có bọt
khí bay lên. Phản ứng dương tính với tất cả các mẫu.
♦ Định tính Sterol, chất béo, caroten.
Lấy lOg bột Ba kích cho vào bình Soxhlet. Chiết với ete dầu hoả trong 2
giờ. Lấy dịch chiết ete dầu hoả làm phản ứng định tính.
- Định tính chất béo: nhỏ lên tờ giấy lọc 1-2 giọt dịch chiết ete dầu, hơ
khô, xuất hiện vết mờ. Phản ứng dương tính với tất cả các mẫu.
- Định tính caroten: dịch chiết ete dầu bốc hơi tới cắn khô. Thêm 1-2

giọt H2S04 đặc. Không xuất hiện màu xanh. Phản ứng âm tính với tất cả các
mẫu.
- Định tính Sterol: cho lOml dịch chiết ete dầu vào cốc thuỷ tinh, thêm
2ml NaOH 10%, đun cách thuỷ đến khô. Hòa tan cắn trong 3ml
Cloroform.
Lấy dịch cloroform làm phản ứng Lieberman- Burchard: hỗn hợp lml
anhydrit acetic và lml cloroform để lạnh 0°c, thêm 1 giọt H2S04 đặc. Cho
hỗn hợp này tác dụng với dịch Cloroform trên, thấy dung dịch có màu xanh.
Phản ứng dương tính với tất cả các mẫu.
18
♦ Định tính Alcaloid.
Bột Ba kích được kiềm hoá bằng dung dịch amoniac và lắc với ete.
Dịch chiết ete được lắc với H2S04. Dịch chiết nước acid đem làm phản ứng
với các thuốc thử sau: thuốc thử Mayer, thuốc thử Bouchardat, thuốc thử
Dragendoff. Phản ứng âm tính với tất cả các mẫu.
Bảng 1: Kết quả định tính các hợp chất trong rễ Ba kích trước và sau khi chế.
STT Nhóm chất
Phản ứng đinh tính
Kết quả định tính
BKT BKR BKM BKC
1 Anthranoid
TD
Phản ứng Borntraeger
+
+
+
+
( /
TP
Phản ứng Borntraeger + + + +

2 Iridoid
Phản ứng Stalia
++
++
++ ++
Phản ứng Trim- Hill
++ ++ ++ ++
3
Đường khử
Phản ứng với thuốc thử Fehling
+++ +++ +++ +++
Phản ứng với AgN 03/NH40H 5%
+++ +++ +++ +++
4 Saponin
Tạo bọt
+ +
+ +
5 Acidamin
Phản ứng với thuốc thử Ninhydrin
' + + + +
6
Acid hữu cơ
Phản ứng với Na2C 0 3
+
+
+ +
7
Sterol
Phản ứng với (CH^CO^O+H^SC^ đặc
+ + + +

8
Chất béo
Vết trên giấy
+ + +
+
9
Caroten
Phản ứng với H2S 04 đặc -
- - -
10
Alkaloid
Phản ứng với thuốc thử Dragendoff - - - -
Phản ứng VỚI thuốc thử Mayer - - - -
Phản ứng với thuốc thử Buchardat
- - - -
(-): không có phản ứng
(+): phản úng lên không rõ
(+): phản ứng dương tính
(++): phản ứng lên rõ
(+++): phản ứng lên rất rõ
TD: dạng tự do
TP: dạng toàn phần
19
Nhân xét:
- Trong rễ Ba kích trước và sau khi chế đều có Anthranoid, iridoid,
đường khử, saponin, acid amin, acid hữu cơ, sterol, chất béo
- Định Anthranoid dạng tự do cho màu không rõ (mặc dù lượng cân lớn
hơn định tính dạng toàn phần khoảng 2,5 lần), chứng tỏ trong Ba kích các
Anthranoid tồn tại chủ yếu ở dạng glycosid.
2.2.2. Định tính bằng sắc ký lớp mỏng

♦ Định tính Anthranoid (dạng toàn phần)
- Chuẩn bị dịch chấm sắc ký: Lấy khoảng 3g bột Ba kích cho vào bình
nón nút mài. Thêm 10ml H9 SO4 10%, đun hồi lưu cách thuỷ 15 phút. Để
nguội, thêm 15ml Cloroform, đun cách thuỷ tiếp 5 phút, để nguội lọc qua
bông vào bình gạn. lấy lớp cloroform cồ đặc được dịch chấm sắc ký.
- Hệ dung môi khai triển: Toluen—Ethylacetat—Acidformic [5:2:1]
- Hiện màu: soi đèn tử ngoại 254 nm hoặc hơi amoniac hoặc dung dịch
KOH 5%/Etanol
Kết quả được trình bày ở bảng 2, hình 1:
Hình 7: SKĐ của Anthranoid Bảng 2: RF và màu sắc của Anthranoid
Số vết
Rf
Hiên
màu
BKT
BKR
BKM BKC
1 0, 21
0, 21
0,21 0, 21
Tím
2 0, 42
0, 42 0, 42 0, 42
Tím
3
0, 63 0, 63
0, 63
0, 63
Hồng
(1): BKT

(2): BKR
(3): BKM
(4): BKC
Nhận xét: các mẫu đều có số vết là 3. Rf và
màu sắc các vết giống nhau. Vết 1, 2 có màu
tím, vết 3 màu hồng.
20
♦ Định tính iridoid:
- Chuẩn bị dịch chấm: lấy dịch chiết ở phần làm phản ứng định tính iridoid
ự - Hệ dung môi triển khai: n-Butanol-acid acetic-nước [63:40:15]
- Thuốc thử Stalia 1%. Sấy 80°c trong 5 phút. á"{'(^
Kết quả được trình bày ở bảng 3, hình 2:
Hình 2: SKĐ của iridoid Bảng 3: Rị và màu sắc của iridoid
Số vết
R,
Hiên
màu
BKT
BK,R BKM BKC
1
0.41 0.41
0.41 0.41 Xanh
2 0.6
0.6 0.6
0.6 Xanh
3 0.74 0.74
0.74 0.74
Xanh
(1): BKT
(2): BKR

(3): BKM
(4): BKC
Nhân xét: Các mẫu có sô vết là 3. R, và màu sắc
các vết giống nhau.
♦ Định tính đường khử
- Chuẩn bị dịch chấm
+Dạng tự do: Lấy dịch chiết của phản úng định tính đường tự do, cô cách
thuỷ đến cạn. Hoà tan cắn bằng 1-2 ml cồn được dịch chấm sắc ký.
+Dạng toàn phần: lấy lg bột Ba kích thấm ẩm bằng 5ml nước, để 15 phút.
Nghiền nhỏ trong cối sứ 5 phút, thêm 20 ml nước cất, quấy đều, lọc qua
bông. Cho vào dịch lọc lml HC1 đặc. Đun cách thuỷ 70°c trong 5 phút.
Trung hoà acid dư bằng dung dịch NaOH 20%, chỉ thị phenolphtalein.
Dùng dung dịch HC1 5% để trung hoà kiềm dư. Cho vào dịch thuỷ phân
21

×