HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC KX. 04/06-10
********************
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP NHÀ NƯỚC
Mã số: KX. 04.07/06-10
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG
PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
CƠ QUAN CHỦ TRÌ: TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ -
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: PGS. TS. PHẠM VĂN DŨNG
8835
HÀ NỘI - 2010
1
BAN CHỦ NHIỆM VÀ CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI
I. BAN CHỦ NHIỆM
TT HỌ VÀ TÊN CƠ QUAN CÔNG TÁC
1 PGS. TS. Phùng Xuân
Nhạ
Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế, Đại
học Quốc gia Hà Nội
2 PGS.TS. Phạm Văn Dũng Chủ nhiệm Khoa Kinh tế Chính trị,
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia
Hà Nội
3 PGS.TS. Lê Cao Đoàn Viện Kinh tế Việt Nam
4
PGS.TS. Phan Huy Đường Trường Đại học Kinh t
ế, Đại học Quốc gia
Hà Nội
5 TS. Nguyễn Mạnh Hải
Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung
Ương
6 PGS.TS. Nguyễn Ngọc
Hồi
Tổng biên tập Tạp chí Quốc phòng toàn
dân
7
PGS.TS. Nguyễn Khắc
Thanh
Phó Viện trưởng Viện Kinh tế, Học viện
Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí
Minh
8 TS. Nguyễn Ngọc Thanh Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế,
Đại học Quốc gia Hà Nộ
i
9 NCS, Th.S. Trần Quang
Tuyến
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia
Hà Nội
2
II. CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI
TT Họ và tên Cơ quan
1. NCS, Th.S. Lê Vân Anh Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN
2. Th.S. Phạm Văn Chiến Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN
3. TS. Vũ Thị Dậu Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN
4. Ngô Thùy Dung Bộ Kế hoạch & Đầu tư
5. TS. Phạm Thị Hồng Điệp Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN
6. Hà V
ăn Đổng Trường Cao đẳng Kinh tế - Thái Bình
7. TS. Trần Đức Hiệp Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN
8. Th.S. Hoàng Triều Hoa Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN
9. Nguyễn Tuấn Hùng Học viện Ngân hàng
10. Th.s. Phạm Ngọc Hương
Quỳnh
Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN
11. PGS. TS. Mai Thị Thanh
Xuân
Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN
12. TS. Nguyễn Hữ
u Sở Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN
13. Th.S. Phùng Nam Thái Ủy ban Chứng khoán nhà nước
14. NCS, Th.S. Ngô Đăng
Thành
Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN
15. TS. Đinh Văn Thông Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN
16. TS. Nguyễn Thị Thường Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
17. NCS, Th.S. Trần Quang
Tuyến
Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN
III. THƯ KÝ ĐỀ
TÀI:
1 TS. Phạm Thị Hồng Điệp Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN
2 NCS, Th.S. Trần Quang
Tuyến
Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN
3
MỤC LỤC
Trang
Danh mục các từ viết tắt 6
Phần mở đầu 7
CHƯƠNG 1: KHÁI LUẬN VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ ĐỊNH
HƯỚNG XHCN TRONG PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
24
1.1. KHÁI LUẬN VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 24
1.1.1. Khái lược về lịch sử hình thành, phát triển của kinh tế thị
trường
24
1.1.2. Bản chất và các đặc trưng chủ yếu của kinh tế thị trường 29
1.1.3. Điều kiện phát triển kinh tế thị trường và kinh tế thị trường
“rút ngắn”
46
1.1.4. Hoạt động can thiệp, định hướng của nhà nước trong một số nền
kinh tế thị trường tiêu biểu trên thế giớ
i
56
1.2. ĐỊNH HƯỚNG XHCN TRONG PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG
64
1.2.1. Quan hệ giữa kinh tế thị trường và CNXH 64
1.2.2. Thực chất, tính tất yếu và nội dung định hướng XHCN trong
phát triển kinh tế thị trường
76
1.2.3. Những điều kiện thực hiện định hướng XHCN trong phát triển
nền kinh tế thị trường
92
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN ĐỊNH HƯỚNG XHCN TRONG
PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
99
2.1. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CSVN VỀ ĐỊNH HƯỚNG XHCN
TRONG PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
99
2.1.1. Chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế hành chính - bao cấp sang
cơ chế thị trường
99
4
2.1.2. Quan điểm của Đảng CSVN chỉ đạo thực hiện định hướng
XHCN trong phát triển kinh tế thị trường
105
2.2. NHỮNG THÀNH TỰU THỰC HIỆN ĐỊNH HƯỚNG XHCN TRONG
PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM NHỮNG NĂM
QUA
111
2.2.1. Phát triển kinh tế thị trường theo con đường rút ngắn 111
2.2.2. Phát triển kinh tế thị trường theo hướng bền vững 144
2.3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN
ĐỊNH HƯỚNG XHCN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
174
2.3.1. Những hạn chế trong phát triển bền vững về kinh tế
174
2.3.2. Một số vấn đề xã hội chưa bền vững 180
2.3.3. Bảo vệ tài nguyên và môi trường còn nhiều bất cập 186
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TIẾP TỤC THỰC
HIỆN ĐỊNH HƯỚNG XHCN TRONG PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
196
3.1. BỐI CẢNH MỚI TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN ĐỊNH
HƯỚNG XHCN TRONG PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Ở VIỆT NAM
196
3.1.1. Bối cảnh quốc tế 196
3.1.2. Bối cảnh đất nước 208
3.2. CÁC QUAN ĐIỂM THỰC HIỆN ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
213
3.2.1. Phát triển kinh tế thị trường rút ngắn và bền vững là trọng tâm
thực hiện định hướng XHCN
213
3.2.2. Phát triển khoa học - công nghệ, nhanh chóng tiếp cận và phát
triển kinh tế tri thức là chìa khóa để phát triển kinh tế thị trường rút
ngắn và bền vững
213
3.2.3. Tranh thủ ngoại lực, phát huy nội lực là điều kiện đặc biệt
quan trọng để phát triển rút ngắn và bền vững
214
3.2.4. Hoàn thi
ện cơ chế, thể chế là khâu đột phá trong thực hiện định 215
5
hướng XHCN nền kinh tế thị trường
3.2.5. Định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường chỉ được
thực hiện thông qua nỗ lực của Đảng, Nhà nước và sự đồng thuận
của người dân
216
3.3. HỆ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC THỰC HIỆN ĐỊNH HƯỚNG XHCN
TRONG PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA
TRONG THỜI GIAN TỚI
217
3.3.1. Hệ giải pháp tiếp cận nhanh chóng các tiêu chí kinh tế thị
trường hiện đại
217
3.3.2. Phát triển kinh tế tri thức
237
3.3.3. Hệ giải pháp thực hiện phát triển bền vững về xã hội và môi
trường
247
3.3.4. Hệ giải pháp củng cố các điều kiện thực hiện định hướng
XHCN trong phát triển nền kinh tế thị trường
258
KẾT LUẬN 272
Danh mục tài liệu tham khảo 274
The socialist oriented in developing the market economy of Vietnam
6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
APEC : Diễn đàn kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
ASEAN : Hiệp hội các nước Đông Nam Á
ASXH : An sinh xã hội
BCHTƯ : Ban chấp hành Trung ương
BHXH : Bảo hiểm xã hội
BHYT : Bảo hiểm y tế
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNXH : CNXH
CNTB : Chủ nghĩa tư bản
CPI : Chỉ số giá cả
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
DOC : Bộ Thương mại Hoa Kỳ
Đảng CSVN : Đảng CSVN
ĐDSH : Đa dạng sinh học
ĐH - CĐ : Đại họ
c - cao đẳng
EC : Cộng đồng kinh tế châu Âu
EU : Liên minh châu Âu
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FED : Cục dự trữ liên bang Mỹ
GD&ĐT : Giáo dục & đào tạo
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
HDI : Chỉ số phát triển nguồn nhân lực
HTX : Hợp tác xã
JPY : Đồng yên Nhật
KH-CN : Khoa học-công nghệ
NATO : Khối quân sự Bắc Đại Tây dương
NEP : Chính sách kinh tế mới
NICs : Các nước công nghiệp mới
NIE
S
: Các lãnh thổ công nghiệp mới
ODA : Viện trợ phát triển chính thức
OECD : Tổ chức các nước có nền kinh tế phát triển
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
XHDS : Xã hội dân sự
TBCN : Tư bản chủ nghĩa
TĐSX : Tập đoàn sản xuất
TNC
S
: Các công ty xuyên quốc gia
UBND : Ủy ban nhân dân
UNIDO : Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc
UNDP : Tổ chức Hợp tác Phát triển Liên hợp quốc
USD : Đô la Mỹ
VCB : Ngân hàng ngoại thương
VNĐ : Đồng tiền Việt Nam
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
7
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong 25 năm đổi mới ở nước ta, những nghiên cứu về nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN đã đạt được không ít thành tựu. Nhận thức về kinh
tế thị trường ngày càng đầy đủ, sáng rõ hơn. Giờ đây, phát triển kinh tế thị
trường là điều không còn phải tranh cãi. Nhưng nội dung của
định hướng
XHCN là gì và việc thực hiện các nội dung đó trong phát triển kinh tế thị
trường đến đâu? Những thành tựu và hạn chế chủ yếu? Một loạt vấn đề thực
tiễn bức xúc đòi hỏi phải giải quyết: xử lý tương quan giữa kinh tế nhà nước và
kinh tế tư nhân; vai trò của nhà nước và tự do hoá kinh tế; hội nhập kinh tế
quốc tế và thực hi
ện mục tiêu CNXH; các điều kiện cơ bản và các thể chế đảm
bảo định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam Trong
bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập, nền kinh tế của mối quốc gia trở thành bộ
phận không thể tách rời của nền kinh tế thế giới; những luật lệ mới, những sân
chơi mới, những đối tác và đố
i thủ mới… chi phối đời sống kinh tế toàn cầu.
Bối cảnh mới có cho phép Việt Nam tiếp tục thực hiện định hướng XHCN?
Nếu câu trả lời là có thì câu hỏi tiếp theo là chúng ta sẽ phải làm gì và làm như
thế nào để thực hiện định hướng đó? Đây là những câu hỏi không dễ trả lời
nhưng không thể né tránh.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên CNXH được thông
qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991) đã đề cập một vấn
đề kinh tế quan trọng: Phát triển triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần theo định hướng XHCN. Những thành tựu về kinh tế - xã hội và hội nhập
kinh tế quốc tế trong những năm qua đã đưa đất nước ta sang một kỷ nguyên
mới. Đi
ều này đòi hỏi phải có sự bổ sung, phát triển Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Để làm được điều đó phải nghiên cứu
công phu, hệ thống nhiều vấn đề, trong đó có định hướng XHCN trong phát
triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Việc nghiên cứu này còn trực tiếp góp
phần soạn thảo các Văn kiện Đại hội XI v
ề những vấn đề liên quan đến định
hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Nghiên cứu đề tài này còn có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất
lượng giảng dạy và học tập các môn khoa học lý luận Mác - Lênin. Trong các
trường đại học, việc giảng dạy nội dung nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở Việt Nam chủ yếu mới dừng lại
ở những nguyên lý được nêu trong
8
các Văn kiện Đại hội của Đảng CSVN. Điều đó làm cho hoạt động giảng dạy
khô cứng, thiếu hấp dẫn và thuyết phục.
Trong xã hội nước ta hiện nay, nhận thức về vấn đề rất quan trọng này
đang có nhiều luồng ý kiến khác nhau, nhiều khía cạnh cần làm rõ hơn: định
hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế thị trường là gì? Định hướng XHCN
và kinh tế th
ị trường quan hệ với nhau như thế nào? Có thể định hướng XHCN
nền kinh tế thị trường hay không? Những chủ thể nào tham gia thực hiện định
hướng XHCN? Thực hiện định hướng XHCN nền kinh tế thị trường như thế nào
trong điều kiện kinh tế nhà nước kém hiệu quả, kinh tế tư nhân phát triển tự
phát, quản lý nhà nước nhiều yếu kém, bất cập?
Rõ ràng là, trong bối c
ảnh mới của đất nước, việc nghiên cứu định hướng
XHCN trong phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta là hết sức cấp thiết, cả
về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu
Kinh tế thị trường - xét cả về phương diện lý luận và thực tiễn - đã được
hình thành, phát triển và kiểm nghiệm ở các quốc gia phát triển. Vào nửa sau
của thế k
ỷ XX, thế giới đã chứng kiến quá trình chuyển sang kinh tế thị trường
và sự thiết lập cơ chế thị trường ở các nước thuộc địa sau khi giành được độc
lập. Từ cuối thập niên bảy mươi, đầu thập niên tám mươi của thế kỷ XX, hàng
loạt quốc gia áp dụng mô hình kinh tế Xô viết đã cảm nhận được sự bất ổn của
mô hình này và chuyể
n sang mô hình kinh tế thị trường với những cách thức
và bước đi khác nhau. Trong xu thế chung của thời đại, Việt Nam và Trung
Quốc từng bước chuyển đổi nền kinh tế, phát triển kinh tế thị trường. Tuy
nhiên, Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia phát triển theo con đường
XHCN. Do đó, nền kinh tế thị trường ở các nước này sẽ phải thực hiện mục
tiêu đó và sẽ có những đặc thù riêng. Đây là mô hình kinh tế thị
trường có
nhiều nét mới, độc đáo. Vì vậy, nhiều vấn đề, về lý luận cũng như thực tiễn
cần làm sáng tỏ và nghiên cứu sâu hơn.
Ở trong và ngoài nước, nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến các
khía cạnh khác nhau đề tài đã được công bố.
* Về nền kinh tế thị trường
- A. J. Isachsen, C.B. Hamilton, T. Gylfason (1993): Tìm hiểu nền kinh
tế thị trường, NXB Đại học Oxford. Cuốn sách đã phân tích sâu sắc về c
ơ chế
vận hành của nền kinh tế kế hoạch hóa và so sánh nó với kinh tế thị trường.
9
Các tác giả đã luận giải về các quy luật của kinh tế thị trường trong bối cảnh
những khó khăn nảy sinh trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa
tập trung sang cơ chế thị trường. Những vấn đề quan trọng của quá trình
chuyển đổi ở các nước Đông Âu như: tư nhân hóa, vai trò của chính sách tiền
tệ, chính sách tài chính, chính sách môi trường và thương mại quốc tế
được
lựa chọn để nghiên cứu điển hình.
- James C. Van Hook (2004): Tái thiết nước Đức: Sự sáng tạo của mô
hình kinh tế thị trường xã hội, 1945 -1957, NXB Đại học Cambridge. Tác giả
làm rõ về mô hình kinh tế thị trường xã hội được áp dụng trong quá trình tái
thiết nước Đức giai đoạn 1945 - 1957 và khẳng định, khác với nền kinh tế của
nhiều nước phương Tây lúc bấy giờ thiên về đề cao vai trò của nhà n
ước theo
học thuyết Keynes, kinh tế thị trường xã hội Đức là một hệ thống kinh tế chỉ
chịu sự ảnh hưởng ở mức độ nhất định của nhà nước. Tác giả cũng luận giải về
hai vấn đề cơ bản: một là, nước Đức đã có đóng góp gì cho việc áp dụng kinh
tế thị trường xã hội với các đặc trưng cơ bả
n là bảo vệ sở hữu tư nhân, thị
trường tự do và nhà nước can thiệp hạn chế vào nền kinh tế; hai là, kinh tế thị
trường xã hội đã có bước phát triển như thế nào trong thập kỷ năm mươi của
thế kỷ trước ở Đức với sự xuất hiện của Luật Hỗ trợ đầu tư và Luật Chống hạn
chế cạnh tranh. Tóm l
ại, nghiên cứu của Van Hook là một sự bổ sung có giá trị
cho hiểu biết về lịch sử áp dụng kinh tế thị trường xã hội ở Đức.
- Radke Detlef (1994): Nền kinh tế thị trường xã hội Đức, NXB Frank
Cass. Cuốn sách nghiên cứu về hệ thống kinh tế của Cộng hòa liên bang Đức,
nền kinh tế thị trường xã hội. Tác giả đã mô tả các thành tố của hệ thống kinh
tế này
để đảm bảo tính mở, năng động, hiệu quả, ổn định và cân bằng xã hội.
Nghiên cứu trường hợp nước Đức, tác giả muốn làm rõ tính đặc biệt của mô
hình kinh tế đang áp dụng ở Đức.
- Osman Suliman (1998): Quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường
XHCN ở Trung Quốc, NXB Quorum Books, Hoa Kỳ. Đây là công trình nghiên
cứu quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường XHCN. Các tác giả khẳng
định tính độc đáo và ch
ưa có tiền lệ của mô hình kinh tế này. Dường như
những đặc điểm đặc sắc của cải cách kinh tế ở Trung Quốc thể hiện sự rút kinh
nghiệm từ cách tiếp cận kiểu “big bang” ở các nước Đông Âu. Cuốn sách bao
gồm nhiều chủ đề như chính sách kinh tế vĩ mô, cải cách các khu vực (thành
phần) kinh tế và chiến lược phát triển bền vững trong quá trình cải cách và
những thách th
ức có thể Trung Quốc phải đối mặt.
10
- K. Murphy, A. Shleifer, R. Vishny (1992): Quá trình chuyển đổi sang
kinh tế thị trường: những cạm bẫy của cải cách từng phần, NXB MIT Press.
Các tác giả phân tích lý luận về cải cách kinh tế từng phần của nền kinh tế kế
hoạch hóa, tương tự với nền kinh tế đã từng tồn tại ở Nga và Trung Quốc trước
đây. Trong kiểu cải cách này, một vài loại thị trường được tự do hóa theo nghĩa
là nhà s
ản xuất được tự do bán sản phẩm cho bất cứ ai họ muốn, kể cả các
doanh nghiệp tư nhân, theo giá tự do, nhưng cùng lúc đó phải bán cho doanh
nghiệp nhà nước theo giá nhà nước. Kiểu cải cách này có thể dẫn đến tình
trạng bao cấp đầu vào không đến được với doanh nghiệp nhà nước, mà lại sang
khu vực tư nhân, thậm chí ngay cả khi các doanh nghiệp nhà nước định giá
những đầu vào này cao hơn. Kết quả có thể là s
ự giảm sút tổng sản lượng đầu
ra. Sự phân tích cho thấy những hậu quả của kiểu cải cách này ở Liên xô. Các
tác giả cũng lý giải vì sao cải cách từng phần không thành công ở Nga nhưng
lại thành công ở Trung Quốc.
- Blanco Milanovic (1998): Thu nhập, bất bình đẳng và nghèo đói trong
quá trình chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường, Ngân hàng
thế giới xuất bản. Cuốn sách đề cập đến nhữ
ng biến động lớn về kinh tế trong
quá trình chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường ở các nước
Đông Âu, Trung Á; những ảnh hưởng của chuyển biến kinh tế này tới vấn đề
thu nhập, bất bình đẳng và nghèo đói ở những nước này. Tác giả nêu một số đề
xuất về chính sách xã hội liên quan đến chế độ lương hưu, bảo hiểm thất
nghi
ệp, khu vực kinh tế phi chính thức và các chính sách an sinh xã hội có thể
áp dụng để giải quyết vấn đề nảy sinh.
- Viện Kinh tế thế giới (1994): Các mô hình kinh tế thị trường trên thế
giới (Chủ biên: PGS.TS. Lê Văn Sang). Đây là cuốn sách có nhiều nhà khoa
học Việt Nam tham gia viết và biên tập. Xuất phát từ nghiên cứu lịch sử hình
thành, phát triển kinh tế thị trường trên thế giới, các tác giả đã khái quát những
vấn đề
chung, mang tính quy luật của quá trình này. Từ đó, các tác giả đi sâu
phân tích những mô hình kinh tế thị trường tiêu biểu trên thế giới. Cuốn sách
đã cung cấp những những kiến thức cơ bản, toàn diện để nhận diện nền kinh tế
thị trường.
* Về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và nền kinh tế thị trường
XHCN
Như trên đã đề cập, kinh tế thị trườ
ng được phát triển ở tất cả các nước
tư bản phát triển. Tuy nhiên, kinh tế thị trường ở các khu vực và những nước
11
khác nhau lại có sắc thái khác nhau. Theo cách phân loại của các học giả
phương Tây, trên thế giới hiện nay có ba loại hình kinh tế thị trường điển hình.
Đó là kinh tế thị trường kiểu Anh - Mỹ, kinh tế thị trường kiểu Nhật Bản; kinh
tế thị trường xã hội của các nước châu Âu lục địa. Nếu xem xét kỹ có thể nhận
thấy là, nền kinh tế thị trường phát triển hay kém phát triển đề
u là những nền
kinh tế hỗn hợp, có sự kết hợp giữa thị trường và chính sách điều tiết của nhà
nước. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa thị trường và nhà nước, hay sự tương quan
giữa điều tiết thị trường và chính sách kinh tế nhà nước trong từng nước là
khác nhau. Chính vì vậy, về cơ bản thì kinh tế thị trường xã hội cũng chỉ khác
các mô hình kinh tế thị trường khác ở
mức độ tương quan giữa chính sách kinh
tế của nhà nước và cơ chế điều tiết của thị trường với nền kinh tế. Bản chất của
mô hình này vẫn là nền kinh tế thị trường với vai trò của khu vực tư nhân là
chủ đạo. Cần phải thấy rằng vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế tư nhân không
có nghĩa là loại bỏ sự tồn tại c
ủa khu vực kinh tế nhà nước và trên thực tế có sự
khác biệt khá lớn ngay trong nhóm nước có nền kinh tế thị trường phát triển.
Khu vực kinh tế nhà nước ở Hoa Kỳ có quy mô rất nhỏ trong khi ở Áo lại rất
lớn. Hơn nữa, sự điều phối của cơ chế thị trường và sự can thiệp chính sách
của nhà nước cũng rất khác nhau. Chính phủ Anh ít can thiệp mang tính hành
chính vào nền kinh tế; trong khi đó
ở Pháp và Thụy Điển, sự can thiệp mang
tính hành chính của nhà nước lại lớn hơn nhiều. Tuy vậy, về bản chất, chúng
đều là kinh tế thị trường. Theo Kornai Zános
1
, đây chỉ là các phiên bản khác
nhau của cùng một hệ thống
2
.
Vậy nền kinh tế thị trường XHCN ở Trung Quốc và kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở Việt Nam có điểm gì giống và khác với kinh tế thị trường
và kinh tế thị trường xã hội? Kornai Zános (tác giả của một số công trình
nghiên cứu về các hệ thống kinh tế của các nước trên thế giới) đã đưa ra ba mô
hình về ba hệ thống kinh tế tiêu biểu đã và đang tồn t
ại. Đó là hệ thống kinh tế
XHCN cổ điển, hệ thống kinh tế XHCN cải cách và hệ thống kinh tế TBCN.
Ông đã chỉ ra mô hình kinh tế của Trung Quốc và Việt Nam, được coi là các
nền kinh tế XHCN cải cách theo hướng thị trường với đặc điểm như: cơ cấu
quyền lực vẫn thuộc Đảng Cộng sản, tự do hoá chính trị có mức độ và ưu ái
khu vực s
ở hữu công, đồng thời chấp nhận sở hữu tư nhân. Về hình thức sở
1
Nhà kinh tế học nguời Hungary, Viện sỹ Viện Hàn lâm khoa học Hungary, Giáo sư kinh tế Đại học Havard
và Collegium Budapest.
2
Mô hình Kornai về các hệ thống kinh tế – Talawas, , ngày 07/07/2005.
12
hữu, chiếm ưu thế là sở hữu nhà nước nhưng sở hữu tư nhân được chấp nhận
và có vai trò quan trọng. Ông cũng chỉ ra cơ chế điều phối của các quốc gia
này dựa vào thị trường nhưng với sự can thiệp hành chính mang tính quan liêu
mạnh. Ngoài ra, ông còn chỉ ra một số đặc điểm như méo mó giá cả do can
thiệp của chính phủ, độc quyền… Bên cạnh đó, ông c
ũng cho rằng, các nước
XHCN cải cách theo con đường một đảng cầm quyền là Đảng Cộng sản,
nhưng trên thực tế thân thiện với khu vực tư nhân và ủng hộ cơ chế thị trường.
Nếu lý thuyết ba đại diện của Chủ tịch Giang Trạch Dân được phổ quát thì đây
là một sự thay đổi căn bản về phương diện lý luận và thực tiễn. Điề
u này - theo
ông - có thể dẫn tới một tiến trình cho sự xuất hiện nền dân chủ ở Trung Quốc.
Kinh tế thị trường và con đường XHCN, bài in trong kỷ yếu Hội thảo quốc
tế Chủ nghĩa Mác trong thế kỷ XXI, Paris, Sorbonne của tác giả
người Trung
Quốc
Đoàn Hồng Kiều (2007). Dựa trên quan điểm duy vật lịch sử, tác giả xem
xét mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và CNXH theo quan điểm của chủ nghĩa
Mác. Từ đó, tác giả lý giải vì sao những nước XHCN như Trung Quốc lại phải
phát triển kinh tế thị trường. Đồng thời, tác giả cũng lý giải vì sao các nước
TBCN phát triển như Hoa Kỳ lại không thể tiến lên CNXH thông qua kinh tế th
ị
trường được.
Sự kết hợp giữa CNXH và kinh tế thị trường, hay kinh tế thị trường
XHCN ở Trung Quốc, kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam cũng
được nhiều nhà nghiên cứu, học giả cũng như các cơ quan lãnh đạo cao cấp
của Việt Nam và Trung Quốc nghiên cứu. Hai nước có các đợt tiếp xúc, hội
thảo thường xuyên trong các năm gần đây với nội dung tổng kết kinh nghiệm
từ thực tiễn, trao đổi kinh nghiệm và các quan điểm về xây dựng CNXH thông
qua việc sử dụng kinh tế thị trường. Về cơ bản, mô hình kinh tế thị trường của
hai nước đều có những điểm chung giống nhau như: vai trò chủ đạo hay chủ
thể của khu vực sở hữu công, phát triển kinh tế đi liền với giải quyết các vấn
đề xã hội và công bằng xã hộ
i… Hai nước chủ trương không đa nguyên chính
trị, không đa đảng đối lập, không tam quyền phân lập. Hai bên cũng đề ra các
giải pháp để từng bước tạo lập các điều kiện cần thiết cho mô hình kinh tế của
mỗi nước phát triển theo định hướng đã lựa chọn. Báo cáo của giáo sư, tiến sỹ
Nguyễn Phú Trọng tại hội thảo “CNXH và kinh tế thị trường: Kinh nghiệm củ
a
Trung Quốc và kinh nghiệm của Việt Nam” tại Bắc Kinh, ngày 8-9/10/2003
(Tạp chí Cộng sản điện tử) đã đề cập tới một số vấn đề về bản chất và đặc
trưng của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Về bản chất, đây
13
là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị
trường; kinh tế thị trường là “cái phổ biến” còn định hướng XHCN là “cái đặc
thù” của Việt Nam, phù hợp với đặc điểm cụ thể của Việt Nam và đây là mô
hình kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH
3
. Trong báo cáo cũng đề cập tới
các đặc trưng về cấu trúc sở hữu, cơ chế quản lý nền kinh tế, chế độ phân phối,
mục tiêu của phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
Trong một nghiên cứu của đề tài cấp nhà nước, chương trình KX.01
“Đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam” do
GS.TS Vũ
Đình Bách
4
chủ trì thực hiện đã lý giải được khá nhiều vấn đề còn
tranh cãi xung quanh mô hình kinh tế tổng thể của Việt Nam. Các tác giả đã
nêu ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa kinh tế thị trường định hướng
XHCN của Việt Nam với kinh tế thị trường nói chung, kinh tế thị trường xã
hội nói riêng và cũng có một số điểm khác biệt với kinh tế thị trường XHCN
ở
Trung Quốc. Tác giả cho rằng, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
Việt Nam như là bước chuyển đổi đặc thù trong tiến trình chung của nhân loại
sang xã hội hậu công nghiệp và kinh tế tri thức. Bên cạnh đó, đề tài cũng đi sâu
phân tích 5 đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt
Nam: đặc trưng về chế độ sở hữu;
đặc trưng về cơ cấu kinh tế; đặc trưng về
khu vực kinh tế tư nhân; đặc trưng về cơ chế phân phối; đặc trưng về lực
lượng sản xuất. Như vậy, cách lý giải về các đặc trưng nêu trên của đề tài đã
bao hàm các vấn đề liên quan tới trình độ phát triển của nền kinh tế như cấu
trúc, cơ cấu kinh tế và lực l
ượng sản xuất; tới quan hệ sản xuất, đặc biệt là khu
vực tư nhân ở Việt Nam.
PGS.TS. Hà Huy Thành cùng các cộng sự cũng đã bàn về Thể chế kinh tế
thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam (sách chuyên khảo, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội - 2006). Các tác giả bắt đầu từ việc nghiên cứu về kinh tế thị
trường và thể chế kinh tế thị trường, từ khái ni
ệm, cấu trúc… đến những mô
hình tiêu biểu ở các nước phát triển và các nước đang phát triển. Các tác giả đã
dành nhiều công sức để nghiên cứu thể chế kinh tế thị trường XHCN Trung
Quốc, từ nhận thức lý luận đến các hoạt động thực tiễn nhằm xây dựng thể chế
kinh tế này.
Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên đây, công trình tập trung nghiên
cứu thể
chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam và hệ thống thể
5
Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 21/01/2007.
4
Chủ nhiệm đề tài, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
14
chế tương ứng. Sau khi trình bày thể chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các
tác giả cho rằng, việc thay thế thể chế đó bằng thể chế kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở Việt Nam là tất yếu. Từ đó, công trình trình bày quá trình hình
thành thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam và đưa ra các
nhận xét đánh giá về những thành công và hạn chế. Cuối cùng, các tác gi
ả
công trình đưa ra các quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế
thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
Trong công trình này, mặc dù có hẳn một mục mang tiêu đề kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở Việt Nam nhưng các tác giả lại chưa bàn trực diện
về vấn đề này, mà chỉ trình bày phương pháp tiếp cận.
TS. Đinh Văn Ân - TS. Lê Xuân Bá khi bàn về vấn đề: Ti
ếp tục xây
dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
(sách chuyên khảo, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2006) cũng đã có ý kiến
về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Các nhà khoa học này bắt đầu từ
việc nghiên cứu các khái niệm như: thể chế, thể chế kinh tế, trong đó trọng tâm
là khái niệm thể chế kinh tế thị tr
ường. Các nhà khoa học luận giải sự cần thiết
xây dựng thể chế kinh tế thị trường và trình bày kinh nghiệm quốc tế về xây
dựng và thực thi các mô hình thể chế kinh tế thị trường của các nước phát
triển, mô hình “phát triển độc đoán” ở một số nước Đông Á và Đông Nam Á;
mô hình thể chế “CNXH thị trường” ở những nước theo “con đường thứ ba”;
“cải cách thể chế kinh t
ế” ở một số nước Đông Âu; cải cách hệ thống thể chế
kinh tế nhằm xây dựng nền kinh tế thị trường XHCN ở Trung Quốc. Từ đó, các
tác giả đã nêu ra các đặc trưng của nền kinh tế thị trường XHCN ở Trung
Quốc. Tiếp đó, các tác giả trình bày quá trình tìm kiếm mô hình Kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở Việt Nam thể hiệ
n thông qua các văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc các khoá VI, VII, VIII, IX và X của Đảng CSVN. Tuy
nhiên, các tác giả mới chỉ nêu ra được một số đặc trưng của mô hình Kinh tế
thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, còn bản thân khái niệm này lại
không được nêu ra.
PGS. TS. Nguyễn Cúc - PGS. TS. Kim Văn Chính cũng đã bàn về nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam trong cuốn sách Sở hữu nhà
nướ
c và doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở Việt Nam (sách chuyên khảo, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội - 2006).
Tên cuốn sách cho thấy chủ đề chính là Sở hữu nhà nước và doanh nghiệp nhà
15
nước nhưng không thể không bàn bàn đến nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở Việt Nam.
Trong phần đầu của cuốn sách: Một số vấn đề lý luận về sở hữu nhà
nước và doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, các tác giả tập trung nghiên cứu các khái niệm sở hữu, sở hữu nhà
nước dưới các góc độ khác nhau. Từ
đó, các tác giả bàn về vai trò của sở hữu
nhà nước và doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường nói chung và
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nói riêng.
Các tác giả cho rằng, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN phải mang
đầy đủ những đặc điểm của nền kinh tế thị trường. Đồng thời, tính định hướng
XHCN đòi hỏi các yếu tố cấu thành ph
ải được thực hiện triệt để ngay từ giai
đoạn đầu, phục vụ đồng thời cho cả hai mục tiêu: tăng trưởng kinh tế và công
bằng xã hội, hướng đến thực hiện chế độ dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh. Các tác giả nhấn mạnh: phải coi mục tiêu phát triển
kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội mới là tiêu chuẩn bảo đảm tính định
hướng XHCN. Theo chủ đề cuốn sách, các tác giả còn bàn thêm về vấn đề:
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhà nước đóng vai trò chủ đạo
chứ không phải sở hữu nhà nước hoặc doanh nghiệp nhà nước. Việc bàn về
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mới dừng lại ở đó.
GS. TSKH. Lương Xuân Quỳ cùng các cộng sự đã thể hiện ý kiến của
mình về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam trong cuốn sách
Quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
(sách chuyên khảo, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2006). Trong cuốn sách
này, để làm rõ được chủ đề quản lý nhà nước, các tác giả đã bàn đến thuật ngữ
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Các tác giả cho rằng
đ
ây là mô hình kinh tế được hình thành trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam,
do Đảng CSVN khởi xướng và lãnh đạo.
Các tác giả cho rằng, khởi đầu của mô hình này là việc thừa nhận nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần tại Hội nghị lần thứ sáu BCHTƯ Đảng khoá
IV (1979). Tiếp đến là Đại hội VI, VII, VIII, mô hình này ngày càng sáng rõ
dần. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng CSVN chính thức đưa ra
thuậ
t ngữ “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”.
Theo các tác giả, “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” là mô hình
kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Đây là một kiểu
kinh tế thị trường mới trong lịch sử. “Nền kinh tế thị trường định hướng
16
XHCN” vừa mang những đặc điểm chung của kinh tế thị trường hiện đại đã và
đang tồn tại, phát triển trên thế giới, vừa có những đặc điểm riêng phù hợp với
điều kiện của Việt Nam. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt
Nam có những đặc trưng chủ yếu sau:
- Hệ thống mục tiêu: “Nề
n kinh tế thị trường định hướng XHCN” hướng
tới mục tiêu tổng quát là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh”.
- Chế độ sở hữu và thành phần kinh tế: Nền kinh tế có nhiều thành phần,
vận động theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước, theo định hướng
XHCN. Các thành phần kinh tế đa dạng và bình đẳng với nhau.
- Cơ ch
ế quản lý kinh tế: Kết hợp giữa phát huy sức mạnh của cơ chế thị
trường trong việc phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, kích thích lực
lượng sản xuất phát triển… với vai trò định hướng, quản lý của Nhà nước
XHCN.
- Hình thức phân phối: Kết hợp giữa phân phối theo lao động và theo
đóng góp các nguồn lực khác vào quá trình sản xuất, kinh doanh.
Trong bài viết: “Một số lý thuyế
t kinh tế và bài học đối với Việt
Nam”, GS.TS. Nguyễn Thị Doan có nhận xét về nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở nước ta: “Đây là nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng XHCN. Sử dụng cơ chế thị trường, cạnh tranh để phát huy được sức
mạnh tổng hợ
p của các thành phần kinh tế, nhưng luôn bảo đảm sự quản lý,
điều tiết của Chính phủ. Điều này được thể hiện rõ trong quá trình hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN vừa qua là luôn được tiến
hành đồng thời trên cả ba mặt: một là, nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý
của Nhà nước; hai là, phát huy đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành
các lo
ại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh; ba là, phát
triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất, kinh
doanh ”
5
.
Ngoài những công trình đề cập trên đây, còn có không ít các công trình
nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến đề tài. Nhìn chung, các công
trình nghiên cứu về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam gồm
có các đề tài khoa học các cấp, các cuốn sách, các kỷ yếu hội thảo khoa học và
5
Kỷ yếu hội thảo quốc gia: Mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam - cơ sở lý
luận và thực tiễn, Hà Nội, 9 - 2009, tr.15.
17
các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học. Về nội dung, các công trình nghiên
cứu tập trung vào 3 mảng vấn đề:
- Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng, phát
triển nền kinh tế thị trường.
- Những đặc trưng chủ yếu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
ở Việt Nam.
- Các khía cạnh kinh tế- xã hội trong nền kinh tế thị
trường định hướng
XHCN ở Việt Nam.
* Về định hướng XHCN
Cuộc hội thảo lớn về chủ đề “Định hướng XHCN trong phát triển kinh tế
thị trường ở Việt Nam” (vòng 1 và 2) do Hội đồng Lý luận Trung ương chủ trì
(năm 2005) với sự tham gia của các nhà khoa học hàng đầu của đất nước trong
lĩnh vực lý luận chính trị. Nhiều ý kiến quý báu về chủ đề này đã
được trình
bày, trao đổi
6
. Các ý kiến này sẽ được tổng hợp và trình bày ở mục 1.2. trong
Báo cáo tổng hợp của đề tài.
Trong cuộc hội thảo quốc gia Mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ
quá độ lên CNXH ở Việt Nam: cơ sở lý luận và thực tiễn tại Hà Nội vào tháng
9 - 2009 do Hội đồng Lý luận Trung ương và Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân phối hợp tổ chức, một số bài viết đã có thêm ý kiế
n về vấn đề này. Trên cơ
sở nghiên cứu văn kiện các Đại hội của Đảng CSVN, GS.TS. Nguyễn Văn
Nam và Th.S. Nguyễn Đức Hiển tổng kết là, “Theo đó, định hướng XHCN
được thể hiện như sau:
- Thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh”.
- Giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao
đời sống nhân dân,
đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích mọi người
vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước
khá giả hơn.
- Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh
tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với
kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc
dân.
6
Xem: Kỷ yếu hội thảo “Định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam” (Hội
đồng Lý luận Trung ương), Hà Nội - 2005.
18
- Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng
chính sách phát triển, tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế,
giáo dục , giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người.
- Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả
kinh tế, đồng thời theo mức
độ đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác, thông
qua phúc lợi xã hội.
- Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đảm bảo vai trò quản lý, điều
tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng”
7
.
Trong cuộc hội thảo khoa học quốc gia: Các lý thuyết kinh tế chính trong
bối cảnh phát triển mới của thế giới và những vấn đề rút ra cho Việt Nam, do
Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức tại Tuần Châu - Quảng Ninh (tháng 1-
2010), một số nhà khoa học đã có ý kiến về định hướng XHCN trong phát triển
nền kinh tế thị trường ở nước ta.
GS. TS. Trần Ngọc Hiên cho rằng, đánh giá
đúng bản chất kinh tế thị
trường là thước đo chiều sâu của nhận thức về chủ nghĩa xã hội khoa học. Theo
ông, kinh tế thị trường đã và đang có những đóng góp to lớn vào sự phát triển
lực lượng sản xuất, từ đó quyết định sự phát triển văn hoá, xã hội. Trong giai
đoạn hiện nay, kinh tế thị trường đang có những thay đổi quan trọng v
ề định
hướng phát triển: dựa vào sự đồng thuận về kinh tế, xã hội và môi trường; hướng
tới xã hội vì con người. Đó cũng chính là những vấn đề mà định hướng XHCN
đòi hỏi. Từ đó, GS. TS. Trần Ngọc Hiên rút ra những kết luận quan trọng:
muốn đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp phải phát triển kinh tế thị trường,
phát triển mô hình kinh tế thị trường bề
n vững
8
Trong cuộc hội thảo đó, GS. TS. Chu Văn Cấp đã bàn luận về sử dụng
kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ lên CNXH và quá trình xây dựng CNXH.
Ý kiến rất quan trọng đầu tiên là: nếu gạt bỏ tính chất TBCN của các vấn đề được
nghiên cứu trong Bộ “Tư bản”, có thể thấy rằng C. Mác đã nghiên cứu khá kỹ
lưỡng về kinh tế thị trường. Ông cũng lưu ý, C. Mác cho rằ
ng không còn sản xuất
hàng hóa, thị trường trong CNCS chứ không phải là trong CNXH. Theo ông, gián
tiếp C. Mác đã đề cập đến sử dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ, quan hệ thị trường
7
GS.TS. Nguyễn Văn Nam và Th.S. Nguyễn Đức Hiển: Về mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam đến năm
2020. Bài in trong kỷ yếu hội thảo quốc gia: Mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt
Nam: cơ sở lý luận và thực tiễn, Hà Nội, 9 - 2009, tr.31.
8
Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia: Các lý thuyết kinh tế chính trong bối cảnh phát triển mới của thế giới và
những vấn đề rút ra cho Việt Nam, Hà Nội, tháng 1- 2010, tập I, tr.457 - 465.
19
trong CNXH. Tiếp theo, ông đã đề cập đến tư tưởng của Lênin về sử dụng kinh tế
thị trường trong thời kỳ quá độ lên CNXH và xây dựng CNXH. Trên cơ sở đó,
ông đưa ra những kết luận về việc vận dụng học thuyết kinh tế Mác - Lênin trong
việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.
9
Cũng trong cuộc hội thảo này, PGS. TSKH. Nguyễn Văn Đặng có bài
tham luận Kế thừa, phát triển tư tưởng, quan điểm đường lối đổi mới của Đảng
để tiếp tục hoàn thiện mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở giai
đoạn 2011 - 2020
10
. Trong phần đầu bài tham luận, tác giả điểm lại quá trình
nhận thức của Đảng CSVN qua các kỳ Đại hội của Đảng, từ Đại hội lần thứ VI
đến Đại hội lần thứ X, về định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường
ở nước ta, về những vấn đề lớn liên quan đến định hướng XHCN như: các yếu
tố quan trọng gi
ữ vững định hướng XHCN; mối quan hệ giữa phát triển lực
lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất; chính
sách đối với các thành phần kinh tế; đảm bảo công bằng trong phân phối.
Trong phần tiếp theo, tác giả đã đưa ra hàng loạt những kiến nghị về định
hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta: những đặc
tr
ưng (tiêu chí) thể hiện định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường;
phát huy cao độ nguồn lực của các loại hình sở hữu, các thành phần kinh tế và
các loại hình doanh nghiệp; phân định các thành phần kinh tế; vai trò của Nhà
nước và DNNN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta; chế
độ phân phối.
Như vậy, đã có không ít công trình khoa học bàn về nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã có nhiều
đóng góp trong việc hệ thống hoá, phân tích về kinh tế thị trường nói chung và
cố gắng chỉ ra những đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
ở Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn sự không đồng thuận trong nhận
thức về định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế thị trường. Sự không
đồng thuận trước hết là do tính chất h
ết sức phức tạp của vấn đề này; đồng thời
còn do góc nhìn và quan điểm khác nhau. Một số vấn đề cụ thể là:
Thứ nhất, phát triển kinh tế thị trường là khách quan còn định hướng
XHCN là chủ quan. Do đó, định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế thị
trường mang tính chủ quan, áp đặt, không thể thực hiện được.
9
Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia: Các lý thuyết kinh tế chính trong bối cảnh phát triển mới của thế giới và
những vấn đề rút ra cho Việt Nam, Hà Nội, tháng 1- 2010, tập I, tr.419 - 426.
10
Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia: Các lý thuyết kinh tế chính trong bối cảnh phát triển mới của thế giới và
những vấn đề rút ra cho Việt Nam, Hà Nội, tháng 1- 2010, tập II, tr.404 - 427.
20
Thứ hai, để thực hiện định hướng XHCN, kinh tế nhà nước giữ vai trò
chủ đạo. Lý do không đồng thuận về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là
khu vực này hoạt động kém hiệu quả; mang tính độc quyền trái với yêu cầu
của các quy luật thị trường, không phù hợp với trình độ hiện nay của lực lượng
sản xuất.
Thứ ba, định hướng XHCN trong phát triể
n nền kinh tế thị trường là vấn
đề rất rộng, phức tạp. Để thực hiện mối quan hệ này cần giải quyết các quan hệ
hẹp hơn, cụ thể hơn như: quan hệ giữa nhà nước và thị trường; quan hệ giữa
tốc độ và chất lượng tăng trưởng; quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với giải
quyết các vấn đề xã hộ
i, bảo vệ môi trường
Thứ tư, giữa nhận thức lý luận và tổ chức thực hiện vẫn còn khoảng
cách. Đó là việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường; thực hiện
bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; tăng trưởng kinh tế gắn kết với tiến bộ
và công bằng xã hội trên thực tế còn nhiều bất cập. Nhiều quan đi
ểm, chủ
trương đúng đắn của Đảng chưa được thực hiện trong thực tế.
Bởi vậy, thế nào là định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường
vẫn chưa được trả lời thật rõ ràng và vì vậy càng chưa thể trả lời được các câu
hỏi hết sức quan trọng, bức xúc là trong những năm qua, định hướng XHCN
trong phát triển nền kinh tế thị trườ
ng ở nước ta được thực hiện như thế nào?
Có gì được và chưa được? Bối cảnh mới của thế giới và đất nước ảnh hưởng ra
sao đến định hướng đó? Cần phải làm gì để thực hiện định hướng đó trong bối
cảnh mới?
3. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
* Cách tiếp cận
Định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế thị trườ
ng ở Việt Nam là
vấn đề rất rộng lớn và rất phức tạp. Để thực hiện được các mục tiêu đặt ra, vấn
đề cần được tiếp cận thật sự khoa học, dưới nhiều góc độ.
- Định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam là
đề tài khoa học thuộc lĩnh vực lý luận chính trị nên trước hết cần được tiếp cận
dưới góc độ Kinh tế chính trị học. Kinh tế tự nhiên và kinh tế thị trường là
những giai đoạn phát triển của nền sản xuất xã hội. Do đó, sự vận động phát
triển và các đặc trưng của kinh tế thị trường chịu sự chi phối của các quy luật
kinh tế khách quan. Để làm rõ được định hướng XHCN trong phát triển kinh tế
thị trường cần phải tiếp c
ận từ góc độ đó.
Cách tiếp cận này đòi hỏi việc nghiên cứu định hướng XHCN trong phát
21
triển kinh tế thị trường phải xuất phát từ các quy luật chung, trước hết là quy
luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất; từ các quy luật của nền kinh tế thị trường: quy luật giá trị, quy
luật cạnh tranh, quy luật cung - cầu Chính các quy luật kinh tế là một trong
những nhân tố quan trọng nhất chi phối định h
ướng của nền kinh tế thị trường.
- Việt Nam là nước đang phát triển. Do đó, định hướng XHCN trong
phát triển nền kinh tế thị trường còn phải được tiếp cận dưới góc độ kinh tế
học phát triển. Hàng loạt nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng kinh tế
ở các nước đang phát triển như: các nguồn lực cơ bản (vốn, lao động, tài
nguyên, khoa học - công nghệ
); cơ cấu kinh tế; các chính sách của nhà nước;
các nhân tố phi kinh tế (quản lý hành chính, truyền thống, tập quán…), trật tự
kinh tế quốc tế… sẽ tác động trực tiếp đến việc thực hiện định hướng XHCN
trong phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Do đó, để thực hiện mục
tiêu đặt ra, việc nghiên cứu phải đặt trong bối cảnh chung, những cơ hội và
thách thức chung của các nước đang phát triển.
- Đề tài còn phải được tiếp cận dưới góc độ triết học. Định hướng
XHCN trong phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam nhằm mục tiêu xây
dựng thành công CNXH trên đất nước ta, tức là xây dựng một hình thái kinh tế
- xã hội mới, bao gồm: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất (cơ sở hạ tầng) và
kiế
n trúc thượng tầng. Những yếu tố cấu thành đó có quan hệ chặt chẽ, tác
động lẫn nhau. Vì vậy, nghiên cứu định hướng XHCN trong phát triển nền
kinh tế thị trường không chỉ là nghiên cứu những vấn đề về lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất, mà phải gắn chặt với thể chế và đường lối chính trị, nhà
nước, giai cấp, văn hoá, xã hội…
Như v
ậy, đề tài cần được tiếp cận dưới góc độ liên ngành.
* Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, các tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; các
phương pháp của kinh tế học hiện đại để nghiên cứu. Phương pháp luận này
đòi hỏi phải xem xét sự hình thành và phát triển của kinh t
ế thị trường một
cách khách quan, theo các quy luật; phải đặt kinh tế thị trường trong mối liên
hệ phổ biến, chịu sự tác động của nhiều nhân tố: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã
hội và không ngừng vận động, phát triển. Từ đó, đề tài làm rõ khả năng vận
động của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
22
Đồng thời, để nghiên cứu định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế
thị trường, cần xuất phát từ sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối
với cơ sở hạ tầng; vai trò và giới hạn của các nhân tố chủ quan Trên cơ sở
đó, đề tài làm rõ nội hàm, điều kiện và các hệ giải pháp thực hiện định hướng
XHCN trong phát triển n
ền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được cụ thể
bằng một loạt các phương pháp nghiên cứu sau đây: trừu tượng hoá khoa học;
phân tích và tổng hợp; lô gích và lịch sử; thống kê…
Để làm rõ định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế thị trường,
trước hết đề tài bắt đầu từ việc nghiên cứu bản ch
ất, các đặc trưng, ưu việt, các
khuyết tật và xu thế vận động của kinh tế thị trường. Phương pháp lịch sử được
sử dụng nhằm cung cấp những hiểu biết trung thực, khách quan về kinh tế thị
trường. Đồng thời với phương pháp lịch sử, phương pháp lô gích được sử dụng
để làm rõ bản chất, các quy luật vận động, phát triển của nền kinh t
ế thị trường.
Sử dụng kết hợp phương pháp lô gích và phương pháp lịch sử được thể hiện
tập trung nhất ở chương 1.
Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp được sử dụng trong
toàn bộ đề tài. Những nội dung được đề cập trong đề tài đều được phân tích
đến mức cần thiết, sau đó được tổng hợp, khái quát lại và rút ra các nhận xét,
đánh giá.
Định hướng XHCN trong phát tri
ển nền kinh tế thị trường là vấn đề rộng
lớn, phức tạp, liên quan đến rất nhiều vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội Để
thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp trừu tượng hóa
khoa học được sử dụng trong toàn bộ đề tài. Những hiện tượng bề ngoài, những
yếu tố ngẫu nhiên, không bản chất được loại bỏ trong quá trình nghiên cứ
u.
Ở chương 2, để làm rõ những thành tựu và hạn chế trong thực hiện định
hướng XHCN nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, một số phương pháp nghiên
cứu khác được sử dụng: thống kê, phân tích định lượng
Các phương pháp tổ chức thực hiện đề tài:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về đề tài này
nhằm kế thừa những kết quả đã đạt được; tìm ra nh
ững vấn đề chưa được chú ý
nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc; xem xét các nhận xét, đánh giá, các kết luận
trước đây có còn phù hợp với điều kiện hiện nay hay không.
- Tìm hiểu tình hình, số liệu liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề
tài. Trên cơ sở phân tích tình hình, số liệu, rút ra các nhận xét đánh giá.
23
- Tổ chức các cuộc hội thảo, có sự tham gia của các chuyên gia trong các
lĩnh vực có liên quan đến đề tài nhằm tranh thủ các ý kiến đóng góp và các ý
kiến phản biện.
- Trên trên cơ sở ý kiến của các chuyên gia, những người thực hiện đề
tài tiếp tục bổ sung tài liệu, số liệu và chỉnh sửa những nhận xét đánh giá. Quy
trình trên có thể được lặp lại với số lần cần thiế
t.
- Công bố các kết quả nghiên cứu trên các tạp chí khoa học và các
phương tiện thông tin đại chúng để lắng nghe ý kiến phản biện của giới khoa
học và dư luận xã hội.
4. Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận của định hướng XHCN trong phát triển nền kinh
tế thị trường ở Việt Nam. Đây là cơ sở quan trọng để có được nhận thức và
hành động đúng đắn, từ
đó tạo ra sự đồng thuận của xã hội trong việc thực hiện
mục tiêu này.
- Chỉ ra những thành tựu, hạn chế của việc thực hiện định hướng XHCN
trong phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta những năm qua.
- Luận giải những nội dung mới của định hướng XHCN trong nền kinh
tế thị trường ở Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 và đư
a ra hệ quan điểm định
hướng, hệ thống các giải pháp mới nhằm tiếp tục định hướng XHCN trong
phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
- Từ việc làm rõ những vấn đề trên, đề tài góp phần giải quyết những
vấn đề thực tiễn bức xúc có liên quan đến định hướng XHCN trong phát triển
nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay: xử
lý tương quan giữa kinh tế nhà
nước và kinh tế tư nhân; vai trò của nhà nước và tự do hoá kinh tế; hội nhập
kinh tế quốc tế và thực hiện mục tiêu CNXH; các điều kiện cơ bản và các thể
chế đảm bảo định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt
Nam
- Trên cơ sở làm rõ hơn lý luận chính trị và thực tiễn về định hướng
XHCN trong phát triển n
ền kinh tế thị trường ở Việt Nam, đề tài sẽ trực tiếp
góp phần bổ sung, phát triển Cương lĩnh 1991 và soạn thảo các Văn kiện Đại
hội XI về những vấn đề liên quan đến định hướng XHCN trong phát triển nền
kinh tế thị trường ở Việt Nam.
- Lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là nội
dung quan trọng của lý lu
ận Kinh tế chính trị. Ở Việt Nam hiện nay, nghiên
cứu vấn đề này sẽ góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu và giảng dạy Kinh
tế chính trị ở bậc đại học và sau đại học, đặc biệt đối với chuyên ngành kinh tế
chính trị.
24
CHƯƠNG 1
KHÁI LUẬN VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG XHCN
TRONG PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. KHÁI LUẬN VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1.1. Khái lược về lịch sử hình thành, phát triển của kinh tế thị trường
Bí mật sâu xa nhất của lịch sử bộc lộ ra khi phân tích những hoạt động
chủ yếu của con người, mà trước hết và quan trọng nhất là hoạt động sả
n xuất
vật chất. Hoạt động này cho đến nay vẫn là tất yếu và là cơ sở của đời sống xã
hội. Tiến trình lịch sử được hình thành từ hoạt động của con người làm biến
đổi trong thực tế các điều kiện vật chất và xã hội của sự hình thành của họ
11
.
Thời nguyên thuỷ, để tồn tại con người phải sống thành bầy đàn; sống
dựa vào săn bắn và hái lượm; làm chung ăn chung. Như thế, trong mỗi cộng
đồng người nguyên thuỷ (công xã, bộ tộc, bộ lạc), sự tồn tại của mỗi cá nhân
trực tiếp phụ thuộc vào cộng đồng. Lực lượng sản xuất quá thấp kém nên chưa
thể có trao đổi sản phẩm.
Khi lực lượng sản xuất phát triển, sản phẩm thặng dư xuất hiện, quan hệ
trao đổi sản phẩm giữa các công xã, bộ tộc, bộ lạc bắt đầu hình thành; sản xuất
hàng hóa bắt đầu từ đó. Tuy nhiên, sản xuất hàng hóa ở thời kỳ này hết sức sơ
khai, mang tính ngẫu nhiên. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất,
quan hệ hàng hóa - tiền tệ c
ũng ngày càng phát triển cả về quy mô và trình độ.
Kinh tế hàng hoá phát triển đến trình độ mà toàn bộ các yếu tố “đầu vào” và
“đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trường thì kinh tế thị trường xuất hiện.
Như vậy, xét về mặt lịch sử, kinh tế thị trường là sản phẩm tất yếu của
sản xuất hàng hoá, của sự phát triển lực lượng sản xuất xã hộ
i. Tuy nhiên,
trong phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ và phương thức sản xuất phong
kiến, mặc dù lực lượng sản xuất từng bước phát triển nhưng vẫn chưa thể có
kinh tế thị trường vì mục đích của sản xuất vẫn là để thỏa mãn nhu cầu trực
tiếp của người sản xuất; sản xuất mang tính khép kín. Đến CNTB, lực lượng
sả
n xuất phát triển hết sức nhanh chóng; mục đích của sản xuất là cho “người
khác”, cho xã hội; hoạt động sản xuất mang tính “mở” trên phạm vi địa
phương, quốc gia và khu vực nên kinh tế thị trường mới xuất hiện và ngày
càng phát triển. Bởi vậy, sự hình thành phát triển kinh tế thị trường gắn liền
11
GS.TS. Nguyễn Phú Trọng: Đổi mới và phát triển ở Việt Nam: một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội-2006, tr.170.