Tải bản đầy đủ (.pdf) (61 trang)

Đánh giá hoạt động hành nghề dược tại quận hoàng mai hà nội giai đoạn 2004 đến 2008

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.82 MB, 61 trang )

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
TRẦN THỊ AN
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHÊ Dược
■ ■ m
TẠI QUẬN HOÀNG MAI, HÀ NẬI
GIAI ĐOẠN 2004 - 2008

(KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Dược SỸ KHÓA 2005 - 2008)
Ngưòi hưổíig dẫn: Khổng Đức Mạnh
Nơi thực hiện: Bộ môn Quản lý và Kinh tê dược
Thời gian thực hiện: Từ tháng 1/2008 đến tháng 6/2008
HÀ NỘI - 2008
Lời cảm 0fn
Nhân dịp hoàn thành khoá luận tốt nghiệp, tôi xin chân thành cảm ơn Ban
Giám hiệu trường Đại học Dược Hà Nội, các thầy cô giáo trong trường đã nhiệt
tình giảng dạy và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập tại trường.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- Th.s Khổng Đức Mạnh - Giảng viên bộ môn Quản lý và Kinh tế dược. Người
thầy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp.
- Các thầy cô tại bộ môn Quản lý và Kinh tế dược đã tạo điều kiện thuận lợi
giúp tôi hoàn thành khoẩ luận tốt nghiệp.
- Trung tâm Y tế dự phòng, Phòng Y tế Quận Hoàng Mai và các cộng sự đồng
nghiệp đã cung cấp số liệu và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khoá luận tốt
nghiệp.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn các bạn cùng học lớp văn bằng 2 khoá 2 trường Đại
học Dược Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập.
'Kin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2008
Sinh viên
Trần Thị An


MỤC LỤC
ĐẠT VAN ĐE
1
PHẦN 1:
TONG QUAN 3
1.1.
Thực trạng về cung ứng và sử dụng thuốc trên thế giới và
ở Việt Nam
3
1.1.1.
Vài nét về tình hình cung ứng và sử dụng thuốc trên thế giới
3 ;
1.1.2.
Vài nét về tình hình cung ứng và sử dụng thuốc ở Việt Nam
4
1.2.
Một số chỉ tiêu cung ứng thuốc và vai trò của dược sỹ
trong việc cung ứng thuốc
7
1 Ị
1.2.1.
Một số chỉ tiêu cung ứng thuốc cho cộng đồng
7
1.2.2.
Vai trò của dược sỹ trong việc cung ứng thuốc
9
1.3.
Thực hành tốt nhà thuốc
10
1.3.1

Khái niệm
10
1.3.2
Nguyên lấc của "TTiực hằnh tốt nhẵ Ihuổc
11
1.3.3.
Các tiêu chuẩn của “Thực hành tốt nhà thuốc”
11
1.4.
Một số đề tài nghiên cứu về hoạt động hành nghề dược ở
Việt Nam trong những năm gần đây
16
1.5.
Một vài nét về Quận Hoàng Mai
17
PHAN 2: ĐỔI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÉN cứ u 20
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Ị 20

.

Ì 2 Thời gian nghiên cứu
20
2.3.
Phương pháp nghiên cứu
20 1
2.3.1.
I^hương pháp nghiên cứu
í
20

2.3.2.
Phưcmg pháp phân tích và trình bày số liệu
21
2.3.3. Phưoíig pháp sử lý số liệu
21
2.4.
Các chỉ tiêu nghiên cứu
21
PHAN 3:
KẾT QUẢ NGHIÊN cứu VÀ BÀN LUẬN
23
3.1.
Kết quả nghiên cứu
23

3.1.1. Sự phát triển và phân bố của hệ thống hành nghề dược tại Quận Hoàng Mai
23
3.1.2.
Nghiên cứu về các điều kiện nhân sự, cơ sở vật chất, trang
thiết bị, sổ sách và tài liệu chuyên môn tại các nhà thuốc tư
nhân
25
3.1.3.
Kết quả nghiên cứu về chất lượng thuốc
31
3.1.4.
Khảo sát về việc thực hiện các quy chế chuyên môn tại nhà
thuốc
31
3.1.5.

Khảo sát về kỹ năng thực hành của nhân viên bán hàng tại nhà
thuốc
34
3.1.6.
Khảo sát việc thực hiện các quy định về giá thuốc
36
3.2. Bàn luận
38
3.2.1.
Sự phát triển và phân bố của hệ thống hành nghề dược tại Quận
Hoàng Mai
38

3.2.2.
Nghiên cứu về các điều kiện nhân sự, cơ sở vật chất, trang
thiết bị, sổ sách và tài liệu chuyên môn
39
3.2.3.
Kết quả nghiên cứu về chất lượng thuốc
42
3.2.4.
Khảo sát về việc thực hiện các quy chế chuyên môn tại nhà
thuốc
42
3.2.5.
Khảo sát về kỹ năng thực hành của nhân viên bán hàng tại nhà thuốc
44
3.2.6.
Thực hiện các quy định về giá thuốc
45

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
46
Kết luận
46
Khảo sát hoạt động hành nghề dược tại Quận Hoàng Mai giai
đoan 2004 - 2008
1 46 1
Chất lượng hoạt động hành nghề dược tại Quận Hoàng Mai
46
Kiến nghị và đề xuất
47
1
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Sự phân bố cơ sở hành nghề y dược tư nhân Quận Hoàng Mai năm 2007 18
Bảng 2: Sự phát triển các loại hình bán thuốc tại Quận Hoàng Mai 23
Bảng 3: Sự phát triển của nhà thuốc tư nhân ở Quận Hoàng Mai (2004 - 2008) 23
Bảng 4: Phân bố của nhà thuốc tư nhân theo 14 phường tại Quận Hoàng Mai 24
Bảng 5: Thời gian hành nghề của dược sỹ chủ nhà thuốc 25
Bảng 6: Trình độ chuyên môn của người làm công việc
chuyên môn giúp 26
việc cho chủ nhà thuốc
Bảng 7: Diện tích nhà thuốc 27
Bảng 8: Đánh giá thiết bị bảo quản thuốc 28
Bảng 9: Thiết bị bảo quản để đáp ứng với yêu cầu bảo quản ghi trên nhãn 29
Bảng 10: Số lượng tài liệu, sổ sách chuyên môn tại nhà thuốc 29
Bảng 11: Chất lưcmg ghi chép sổ sách 30
Bảng 12: Hạn dùng, số đăng ký, chất lượng về mặt cảm quan của thuốc 3 Ị
Bảng 13; Kết quả khảo sát về hạn dùng, số đăng ký, chất lượng về mặt cảm quan của thuốc 3 ]

Bảng 14: Thực hiện quy chế bán thuốc theo đơn 32
Bảng 15: Thực hiện quy định về dự trù thuốc độc, thuốc hưótig tâm thần 33
Bảng 16: Thực hiện ghi chép sổ theo dõi thuốc độc, sổ xuất nhập thuốc hướng tâm thần 3 3
Bảng 17: Tỷ lệ % các câu hỏi mà người bán thuốc đã hỏi 34
Bảng 18: Tỷ lệ % các lời khuyên mà người bán thuốc đã đưa ra 35
Bảng 19: Hoạt động tư vấn cho khách hàng của người bán thuốc 36
Bảng 20: Thực hiện các quy định về giá thuốc 37
Biểu đồ 1: Sự phát triển NTTN tại Quận Hoàng Mai giai đoạn 2004 - 2008 24
Biểu đồ 2: Sự phân bố NTTN tại quận Hoàng Mai năm 2007 25
Biểu đồ 3: Thời gian hành nghề của DS chủ nhà thuốc năm 2007 26
Biểu đồ 4; Xu hướng phát triển của DSĐH và DSTH tại nhà thuốc 27
giai đoạn 2004 - 2008
Biểu đồ 5: Thực hiện quy chế bán thuốc theo đơn 32
Biểu đồ 6: Hoạt động tư vấn của người bán thuốc 36
Biểu đồ 7: Thực hiện niêm yết giá thuốc đúng quy định năm 2007 37
DANH MỤC BIỂU Đổ
CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHOÁ LUẬN
DSĐH:
Dược sỹ đại học
DSTH:
Dược sỹ trung học
GPP:
Thực hành tốt nhà thuốc
HN:
Hành nghề
HNY:
Hành nghề y
HNYHCl:
Hành nghề y học cổ truyền
NĐ - CP:

Nghị định Chính phủ
NTTN:
Nhà thuốc tư nhân
QĐ - BYT
Quyết định Bộ Y tế
WHO;
Tổ chức Y tế thế giới
ĐẶT VẤN ĐỂ

Sử dụng thuốc an toàn hợp lý, hiệu quả đã và đang được các cấp chmh
quyền, người dân quan tâm. Mọi nguồn thuốc sản xuất trong nước hay nhập khẩu
đến được tay người sử dụng hầu hết đều trực tiếp thông qua hoạt động của các cơ
sở bán lẻ thuốc.
Tuy nhiên, hiện nay chất lượng hoạt động của mạng lưới cung ứng thuốc,
đặc biệt là các cơ sở bán lẻ còn nhiều hạn chế. Các điều kiện bảo quản thuốc tại
đa số các cơ sở cung ứng còn chưa đảm bảo. Tình trạng vi phạm các quy chế
dược, chưa thực hiện tốt hoạt động tư vấn và hướng dẫn sử dụng thuốc tại các cơ
sở cung ứng thuốc còn tương đối phổ biến.
Cùng với thói quen tự ý sử dụng thuốc của người dân đã tạo nên những
thách thức, bất lợi cho công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân. Hiện
tượng lạm dụng thuốc, đặc biệt là kháng sinh, corticoid, thuốc độc dẫn đến
tình trạng vi khuẩn kháng kháng sinh và những phản ứng bất lợi do sử dụng
thuốc không đúng ngày một gia tăng [8,15].
Việc triển khai áp dụng các tiêu chuẩn Thực hành tốt nhà thuốc là giải
pháp quan trọng góp phần nâng cao chất lượng hoạt động hành nghề dược nhưng
đòi hỏi hơn nữa sự quan tâm của các cấp chính quyền, người dân và cần sự đầu tư
rất lớn từ phía chủ nhà thuốc nên còn gặp nhiều khó khăn.
Đến nay, đã có một số nghiên cứu đánh giá hoạt động hành nghề dược để
đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động hành nghề dược.
Nhưng những yếu tố liên quan đến chất lượng hoạt động hành nghề dược ở những

vùng khác nhau thì khác nhau [8, 15], Bởi vậy các hưófng nghiên cứu về hoạt
động hành nghề dược trong tưofng lai vẫn tiếp tục được triển khai.
Quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội mới được thành lập tháng 01 năm
2004. Mạng lưới hành nghề dược ở đây được hình thành trên cơ sở một phần các
cơ sở hành nghề dược của Quận (Hai Bà Trưng) kết hợp với một phần các cơ sở
hành nghề dược của huyện (Thanh Trì) nên còn nhiều khó khăn bất cập. Để đánh
giá hoạt động hành nghề dược tại Quận Hoàng Mai, tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài:
“Đánh giá hoạt động hành nghề dược tại Quận Hoàng Mai, Hà Nội giai đoạn
2004 - 2008 ” với các mục tiêu nghiên cứu như sau:
1. Mô tả, khảo sát hoạt động hành nghề dược trên địa bàn Quận Hoàng Mai,
Thành phố Hà Nội, giai đoạn 2004 - 2008.
2. Đánh giá chất lượng hoạt động hành nghề dược trên địa bàn Quận Hoàng
Mai, Thành phố Hà Nội, giai đoạn 2004 - 2008.
Từ những kết quả nghiên cứu, chúng tôi sẽ đưa ra những đề xuất, kiến nghị
góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động hành nghề dược trên địa bàn quận Hoàng
Mai nói riêng và Thành phố Hà Nội nói chung.
PHẦN 1- TỔNG QUAN
1.1. THựC TRẠNG VỀ CƯNG Ú^G VÀ SỬDỤNG THUỐC TRÊN THẾ GIỚI
VÀ ở VIỆT NAM
1.1.1. Vài nét về tình hình cung ứng và sử dụng thuốc trên thế giói
Trong những năm qua, ngành dược trên thế giới đã có những bước tiến
mạnh mẽ. Vào những năm 1975, thị trường dược phẩm trên thế giới vào khoảng
30 tỉ USD. Kháng sinh là nhóm dẫn đầu với hơn 5 tỉ USD, nhóm tim mạch
khoảng 4 tỉ USD. Trải qua hai mươi năm đến năm 1995, thị trường dược phẩm
thế giới đã tăng 8 - 10 lần đạt 250 tỉ USD. Trong đó, nhóm thuốc tim mạch đạt
khoảng 30 tỉ USD bằng vói thị trường dược phẩm thế giới của hai mươi năm về
trước [4].
Sản lượng thuốc trên thế giới đang tăng với tốc độ 9 - 10% mỗi năm. Sản
phẩm của thuốc hết sức đa dạng và phong phú, vói khoảng 2000 loại nguyên liệu

hoá dược sản xuất thuốc và khoảng 100.000 biệt dược khác nhau. Chỉ riêng
kháng sinh đã có hàng ngàn biệt dược lưu hành và sử dụng [7].
Việc sản xuất ra nhiều loại dược phẩm đã tạo điều kiện thuận lợi để nâng
cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho ngưòd dân nhưng cũng tạo nên những
thách thức lớn với họ. Hiện tượng lạm dụng thuốc, tự mua thuốc chữa bệnh, sử
dụng thuốc không đúng hoặc không tuân thủ chỉ định dùng thuốc của bác sỹ
đang ngày càng trở nên phổ biến. Các công trình nghiên cứu đã đánh giá khoảng
50% bệnh nhân không tuân thủ các chỉ định dùng thuốc thường là không sử dụng
đúng liều [6].
Sử dụng kháng sinh không hợp lý là một trong những yếu tố làm tăng tình
trạng kháng thuốc đang lan tràn trên toàn thế giới. Theo một nghiên cứu ở 100
điểm bán lẻ tại Kathmandu, Nepan cho thấy 97% bán thuốc kháng sinh không
cần thiết cho bệnh ỉa chảy cấp, 44% bán kháng sinh cùng với Oresol [17]. Trong
khi đó tại Mexico, trong tổng số 1659 bà mẹ được phỏng vấn có tới 37% dùng
kháng sinh khi bị ỉa chảy, 27% số người được hỏi trả lời dùng kháng sinh khi
mắc bệnh hô hấp và 66% trả lời dùng kháng sinh dưới 5 ngày và tỉ lệ tự điều trị
gắn liền với việc dùng thuốc không phù hợp hoặc không đúng liều (72%) [16].
Tại các nước đang phát triển diễn ra tình trạng bán thuốc không cần đcfn
dẫn đến hiện tượng lạm dụng kháng sinh, corticoid, thuốc an thần ngày càng
phổ biến.
Bên cạnh đó sự lớn mạnh của hệ thống hành nghề y dược tư nhân cũng
đang là vấn đề liên quan đến chính sách y tế của nhiều nước hiện nay, nhất là
việc cung ứng bán lẻ thuốc, ở Ấti Độ, có tới hơn một nửa sô bệnh nhân là của tư
nhân và có 47% bác sĩ hành nghề tư nhân cả ngày. Cùng với sự tư nhân hoá là sự
ra đời các qui chế hành nghề y dược tư nhân, nhưng mức độ và hiệu quả còn thấp
và khồng được kiểm soát sát sao. ở Thái Lan, việc tổ chức sản xuất và kinh
doanh thuốc khá đa dạng, riêng về tổ chức bán thuốc thì hiệu thuốc nhà nước chỉ
chiếm 5% thị phần còn lại 95% do tư nhân đảm nhận, tình trạng này cũng khá
phổ biến ở các nước đang phát triển [19],
Thời gian qua, các nước đang phát triển đang nỗ lực thực hiện cải thiện

tình hình sử dụng thuốc bất hợp lý trong cộng đồng. Các biện pháp can thiệp giáo
dục đã được nghiên cứu, thử nghiệm, một số biện pháp tìm ra được đánh giá là có
hiệu quả [19]. Để thu được kết quả, cần phải tác động một cách đồng bộ, giáo dục
cả ngưòi kê đơn, người bán thuốc, cũng như nâng cao hiểu biết cho người sử dụng.
1.1.2. Vài nét về tình hình cung ứng và sử dụng thuốc ở Việt Nam
Trong giai đoạn mười năm 1991 - 2000 và giai đoạn 2001 - 2005, thực
hiện chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước; ngành dược Việt Nam đã có
những bước phát triển rất cơ bản về tổ chức, quản lý, sản xuất và cung ứng thuốc
đáp ứng nhu cầu về thuốc trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
Từ thành thị đến nông thôn, đặc biệt tói các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo
đều được Nhà nước đảm bảo cung cấp đủ thuốc thiết yếu kể cả thuốc chuyên
khoa đặc tậ eho nhân dân phù hợp với mô hình bệnh tật theo từng vùng sinh thái.
Thị trường thuốc Việt Nam rất phong phú với trên 10.000 mặt hàng,
khoảng 1000 hoạt chất đã đáp ứng được cơ bản nhu cầu thuốc phòng và chữa
bệnh cho nhân dân, chấm dứt được tình trạng thiếu thuốc trước đây [15].
Nguồn cung ứng cho thị trường thuốc Việt Nam là thuốc sản xuất trong
nước và thuốc nhập khẩu từ nước ngoài. Trong những năm gần đây, bên cạnh các
loại thuốc xuất sứ từ nước ngoài, đã xuất hiện ngày càng nhiều thuốc sản xuất nội
địa có chất lượng cao. Thuốc sản xuất trong nước ngày càng đa dạng, số mặt
hàng mói ngày càng nhiều hơn, mẫu mã phong phú hơn. Từ chỗ thiếu thuốc,
thuốc chủ yếu dựa vào nhập khẩu, đến năm 2004 thuốc sản xuất trong nước đã
đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu trong nước [4]. Đặc biệt chất lượng thuốc
được đảm bảo.
Việc áp dụng thực hiện tốt các quy trình thực hành chuẩn trong sản xuất,
lưu thông, tồn trữ và phân phối là giải pháp cơ bản góp phần đảm bảo chất lượng
thuốc. Triển khai thực hiện các tiêu chuẩn Thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP),
Thực hành tốt bảo quản thuốc (GSP), Thực hành tốt phòng thí nghiệm thuốc
(GLP) và Thực hành tốt nhà thuốc (GPP) đã đòi hỏi các cơ sở sản xuất, kinh
doanh thuốc phải đổi mới công nghệ, tăng cường đầu tư từng bước hiện đại để đạt
các tiêu chuẩn chất lượng. Tính đến cuối năm 2007 đã có 77 doanh nghiệp sản

xuất thuốc đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc, 85 cơ sở kinh doanh dược
phẩm đạt tiêu chuẩn thực hành tốt bảo quản thuốc, 77 cơ sở đạt tiêu chuẩn thực
hành tốt phòng thí nghiệm thuốc [2].
Cùng với việc ra đời và triển khai áp dụng Luật Dược năm 2005, Nghị định
số 79/NĐ - CP năm 2006; Các nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt nhà thuốc”
GPP đang được triển khai áp dụng tại nước ta theo lộ trình kể từ ngày
01/01/2011, tất cả các nhà thuốc trong cả nước phải đạt nguyên tắc, tiêu chuẩn
“Thực hành tốt nhà thuốc” theo quy định tại Quyết định số 11/2007/QĐ - BYT
ngày 24 tháng 01 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Điều này góp phần nâng cao
chất lượng thuốc, đảm bảo sử dụng thuốc an toàn hợp lý. Tại Hà Nội đến hết
tháng 12/2007 có 18 nhà thuốc đạt tiêu chuẩn “Thực hành tốt nhà thuốc”, trong
đó có 14 nhà thuốc tư nhân. Quận Hoàng Mai chưa có nhà thuốc nào đạt tiêu
chuẩn này [12].
Hệ thống hành nghề y dược tư nhân phát triển nhanh chóng đã góp phần
quan trọng vào công tác cung ứng thuốc cho cộng đồng. Hiện nay cả nước có
khoảng 8650 nhà thuốc tư nhân và 11.500 đại lý bán lẻ; hơn 680 công ty cổ phần,
công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân sản xuất và kinh doanh dược [5].
Bên cạnh những mặt tích cực mà thị trường thuốc thời mở cửa đem lại,
những bất cập của cơ chế thị trưòíng cũng bộc lộ, có tác động mạnh đến hành
nghề dược tư nhân. Tình trạng các cơ sở hành nghề dược tư nhân chạy theo lợi
nhuận, vi phạm các quy chế chuyên môn như quy chế thuốc độc, quy chế thuốc
hướng tâm thần, quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn là tựơng đối phổ biến
và khó quản lý. Hiện tượng thuê bằng, chứng chỉ, người bán thuốc liên kết với
bác sỹ, cơ sở khám bệnh để kê đcfn vì lợi ích của họ là tương đối phổ biến hiện nay.
Cũng như nhiều nước đang phát triển, thói quen tự ý sử dụng thuốc đặc
biệt là kháng sinh của người dân càng làm cho tình trạng lạm dụng thuốc trở nên
lo ngại với các hậu quả đáng tiếc. Mức độ kháng kháng sinh trong những năm
gần đây ở Việt Nam ngày càng tăng và khó kiểm soát. Đây là kết quả trực tiếp
của sự lạm dụng thuốc, sử dụng thuốc không đủ liều, sự hiểu biết không đầy đủ
về dược lý, dược lâm sàng của một bộ phận không nhỏ bác sỹ, dược sỹ người bán

thuốc và ngưòi sử dụng thuốc.
Kết quả điều tra của chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu của Bộ Y tê
tại 09 tỉnh Sơn La, Cao Bằng, Nam Hà, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Cần
Thơ, Long An cho thấy, hiện tượng lạm dụng kháng sinh rất rõ rệt, trong đó 34%
- 37,5% dùng kháng sinh điều trị cảm cúm, 78% dùng cho bệnh nhân đau đầu,
đau thần kinh [5].
Để thực hiện mục tiêu đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả
của Chính sách Quốc gia về thuốc của Việt Nam cần ưu tiên đẩy mạnh triển khai
“thực hành tốt nhà thuốc” tại các cơ sở bán lẻ thuốc kết hợp tuyên truyền, tăng
cường đào tạo nâng cao kiến thức về sử dụng thuốc cho thầy thuốc, người bán
thuốc và người dân góp phần làm giảm hiện tượng lạm dụng thuốc và tác hại của
nó đến sức khoẻ cộng đồng.
1.2. MỘT SỐ CHỈ TIÊU CƯNG ÚNG THƯỐC VÀ VAI TRÒ CỦA Dược
SỸ TRONG VIỆC CUNG ỨNG THUỐC
1.2.1. Một số chỉ tiêu cung ứng thuốc cho cộng đồng
Tổ chức Y tế thế giói (WHO) đưa ra 6 tiêu chuẩn để hướng dẫn, giám sát việc
cung ứng thuốc ở tuyến cơ sở như sau [4]:
• Thuận tiện:
- Điểm bán thuốc gần dân:
Theo tổ chức Y tế thế giới thì các điểm bán thuốc cần bố trí để người dân có
thời gian đi mua thuốc trong khoảng từ 30 - 60 phút bằng phương tiện thông
thường (xe đạp, đi bộ).
- Giờ bán thuốc;
+ Phải phù hợp với tập quán sinh hoạt của địa phương
+ Cần có hiệu thuốc phục vụ 24/24 giờ để phục vụ cấp cứu
7
+ Thủ tục mua bán thuận tiện, nhất là thuốc thông thường không cần đofn (OTC).
• Kịp thời:
- Có sẵn và đủ các loại thuốc đáp ứng nhu cầu, các thuốc cùng loại để thay thế.
- Có sẵn và đủ các loại thuốc thiết yếu.

- Có đủ số lượng thuốc đáp ứng yêu cầu người mua.
• Chất lượng thuốc đảm bảo:
- Thuốc đảm bảo chất lượng cần thiết.
- Không bán thuốc:
+ Chưa có số đăng ký hoặc chưa được phép nhập, sản xuất
+ Thuốc giả - thuốc kém chất lượng.
+ Thuốc quá hạn dùng.
• Giá cả hợp lý:
- Có niêm yết giá công khai.
- Giá hợp lý.
• Hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn hợp lý:
- Khả năng chuyên môn ngưcd bán thuốc đáp ứng trình độ chuyên môn theo
quy định (tối thiểu là dược tá).
- Có đạo đức:
+ Tôn trọng quyền lợi của người tiêu dùng.
+ Không đơn thuần chạy theo lợi nhuận.
- Có trách nhiệm cao:
+ Hướng dẫn tận tình cho khách hàng về kiến thức dùng thuốc.
+ Bao gói chu đáo thuốc trước khi giao cho khách hàng.
+ Ghi chép đầy đủ các nội dung, yêu cầu cần thiết trên túi thuốc giao cho khách.
- Chấp hành tốt các quy chế chuyên môn và các quy định khác:
+ Không bán các thuốc phải bán theo đơn cho người mua không đơn.
8
+ Chấp hành nghiêm chỉnh các quy chế thuốc độc, thuốc gây nghiện và
các quy chuyên môn khác.
+ Chấp hành nghiêm túc chế độ kế toán, làm nghĩa vụ nộp thuế với nhà nước.
• Kinh tế:
- Giá thành điều trị, giá thuốc hợp với khả năng chi trả của người bệnh.
- Đảm bảo điều tn tốt và chi phí thấp, hợp lý với toàn xã hội.
- Tiết kiệm chi phí cho cộng đồng và cá thể.

- Thực hiện đúng, đủ các chính sách kinh tế, thuê của nhà nước đã quy định.
- Đảm bảo thu nhập và lãi hơp lý cho người bán thuốc.
1.2.2. Vai trò của dược sỹ trong việc cung ứng thuốc
Tại các nước đang phát triển, với thói quen người dân khi có nhu cầu
phòng và chữa bệnh thường đi thẳng đến nhà thuốc hoặc hỏi bệnh mà không cần
qua thầy thuốc là tương đối phổ biến. Chính vì vậy, người dược sĩ không chỉ đóng
vai trò của người cung cấp thuốc mà còn đóng vai trò của nhà tư vấn để cung cấp
những thông tin quan trọng về thuốc cho bệnh nhân để thoả mãn yêu cầu của họ.
Người dược sĩ phải là người hướng dẫn và giám sát, luôn coi trọng bệnh nhân,
coi trọng và phối hợp với những người làm việc trong lĩnh vực sức khoẻ cộng
đồng hay đúng hơn các dược sĩ chính là một bộ phận của hệ thống chăm sóc sức
khoẻ có vai trò quản lý, phân phối thuốc.
Theo Tổ chức Y tế thế giới, vai trò của người dược sỹ bao gồm:
- Là người tư vấn về thuốc:
+ Trao đổi với bệnh nhân để biết về tiền sử bệnh.
+ Chỉ định thuốc ở những bệnh nhân thông thường không cần đến bác sĩ.
+ Cung cấp thông tin khách quan về thuốc.
+ Giúp bệnh nhân thực hiện việc tự dùng thuốc hợp lý và có trách nhiệm hoặc
khi cần thiết khuyên bệnh nhân nên đi khám bác sĩ.
+ Giữ bí mật những thông tin liên quan đến sức khoẻ của bệnh nhân.
- Là người cung cấp thuốc có chất lượng
+ Bán thuốc có nguồn gốc đáng tin cậy và có chất lượng tốt.
+ Thuốc phải được bảo quản đúng theo yêu cầu
- Cộng tác viên
+ Cộng tác viên với các tổ chức chăm sóc sức khoẻ, hiệp hội nghề nghiệp
quốc gia, công nghiệp dược, chính quyền địa phương, bệnh nhân và công
đồng.
+ Cộng tác với đồng nghiệp của mình trong các tổ chức chuyên môn.
- Người giám sát và đào tạo
+ Cam kết tham gia các hoạt động có liên quan đến đào tạo liên tục về y dược.

+ Giám sát và đào tạo nhân viên của mình (dược tá, dược trung .)•
+ Chuyển khách hàng đến nhà thuốc khác khi cần thiết.
- Người giáo dục sức khoẻ
+ Nhà thuốc là điểm tiếp cận đầu tiên của bệnh nhân, người dược sĩ nên
khuyên bệnh nhân không cần dùng thuốc nếu thấy không cần thiết.
1.3. THỰC HÀNH TỐT NHÀ THƯỐC
Ban hành kèm theo Quyết định số 11/2007/QĐ-BYT ngày 24 tháng 01
năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế [3].
1.3.1. Khái niệm:
"Thực hành tốt nhà,thuốc" (Good Pharmacy Practice, viết tắt: GPP) là văn
bản đưa ra các nguyên tắc, tiêu chuẩn cơ bản trong thực hành nghề nghiệp tại
nhà thuốc của dược sỹ và nhân sự dược trên cơ sở tự nguyện tuân thủ các tiêu
chuẩn đạo đức và chuyên môn ở mức cao hơn những yêu cầu pháp lý tối thiểu.
10
1.3.2. Nguyên tắc của "Thực hành tốt nhà thuốc":
“Thực hành tốt nhà thuốc” phải đảm bảo thực hiện các nguyên tắc sau:
- Đặt lợi ích của người bệnh và sức khoẻ của cộng đồng lên trên hết.
- Cung cấp thuốc đảm bảo chất lượng kèm theo thông tin về thuốc, tư vấn thích
hợp cho ngưòi sử dụng và theo dõi việc sử dụng thuốc của họ.
- Tham gia vào hoạt động tự điều trị, bao gồm cung cấp thuốc và tư vấn dùng
thuốc, tự điều trị triệu chứng của các bệnh đon giản.
- Góp phần đẩy mạnh việc kê đơn phù hợp, kinh tế và việc sử dụng thuốc an toàn,
hợp lý, có hiệu quả.
1.3.3. Các tiêu chuẩn của “Thực hành tốt nhà thuốc”
a) Nhân sự:
- Người phụ trách chuyên môn hoặc chủ cơ sở bán lẻ phải có Chứng chỉ
hành nghề dược theo quy định hiện hành.
- Cơ sở bán lẻ có nguồn nhân lực thích hợp (số lượng, bằng cấp, kinh
nghiệm nghề nghiệp) để đáp ứng quy mô hoạt động.
- Nhân viên trực tiếp tham gia bán thuốc, giao nhận, bảo quản thuốc, quản

lý chất lưọng thuốc, pha chế thuốc phải đáp ứng các điều kiện sau:
+ Có bằng cấp chuyên môn dược và có thời gian thực hành nghề nghiệp
phù hợp với công việc được giao;
+ Có đủ sức khoẻ, không đang bị mắc bệnh truyền nhiễm;
+ Không đang trong thời gian bị kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên có
liên quan đến chuyên môn y, dược.
11
b) Cơ sà vật chất, kỹ thuật cơ sở bán lẻ thuốc
* Xây dưng và thiết kế
- Địa điểm cố định, riêng biệt; bố trí ở nơi cao ráo, thoáng mát, an toàn,
cách xa nguồn ô nhiễm;
- Xây dựng chắc chắn, có trần chống bụi, tường và nền nhà phải dễ làm vệ
sinh, đủ ánh sáng nhưng không để thuốc bị tác động trực tiếp của ánh sáng mặt trời.
* Diên tích
- Diện tích phù hợp với quy mô kinh doanh nhưng tối thiểu là lOm^, phải có
khu vực để trưng bày, bảo quản thuốc và khu vực để người mua thuốc tiếp xúc và
trao đổi thông tin về việc sử dụng thuốc với người bán lẻ;
- Phải bố trí thêm diện tích cho những hoạt động khác như:
+ Phòng pha chế theo đơn nếu có tổ chức pha chế theo đơn;
+ Phòng ra lẻ các thuốc không còn bao bì tiếp xúc trực tiếp vói thuốc để
bán lẻ trực tiếp cho người bệnh;
+ Nơi rửa tay cho người bán lẻ và người mua thuốc;
+ Kho bảo quản thuốc riêng (nếu cần);
+ Phòng hoặc khu vực tư vấn riêng cho bệnh nhân và ghế cho người mua
thuốc trong thời gian chờ đợi.
- Trường họp kinh doanh thêm mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, dụng cụ y
tế thì phải có khu vực riêng, không bày bán cùng với thuốc và không gây ảnh
hưởng đến thuốc;
12
- Nhà thuốc có pha chế theo đơn hoặc có phòng ra lẻ thuốc không còn bao

bì tiếp xúc trực tiếp với thuốc
+ Phòng pha chế thuốc theo đơn hoặc ra lẻ thuốc thuốc không còn bao bì
tiếp xúc trực tiếp với thuốc có trần chống bụi, nền và tường nhà bằng vật liệu dễ
vệ sinh lau rửa, khi cần thiết có thể thực hiện công việc tẩy trùng;
+ Có chỗ rửa tay, rửa dụng cụ pha chế;
+ Bố trí chỗ ngồi cho người mua thuốc ngoài khu vực phòng pha chế.
* Thiết bi bảo quản thuốc tai cơ sở bán lẻ thuốc
- Có đủ thiết bị để bảo quản thuốc tránh được các ảnh hưởng bất lợi của ánh
sáng, nhiệt độ, độ ẩm, sự ô nhiễm, sự xâm nhập của côn trùng, bao gồm:
+ Tủ, quầy, giá kệ chắc chắn, trơn nhẵn, dễ vệ sinh, thuận tiện cho bày bán,
bảo quản thuốc và đảm bảo thẩm mỹ;
+ Nhiệt kế, ẩm kế để kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm tại cơ sở bán lẻ thuốc. Có hệ
thống chiếu sáng, quạt thông gió.
- Thiết bị bảo quản thuốc phù hợp với yêu cầu bảo quản ghi trên nhãn thuốc.
Điều kiện bảo quản ở nhiệt độ phòng duy trì ở nhiệt độ dưới 30°c, độ ẩm không
vượt quá 75%.
- Có các dụng cụ ra lẻ và bao bì ra lẻ phù hợp vói điều kiện bảo quản thuốc,
bao gồm:
+ Trưòng hợp ra lẻ thuốc mà không còn bao bì tiếp xúc trực tiếp với thuốc
phải dựng đồ bao gói kín khí, khuyến khích dùng các đồ bao gói cứng, có nút kín
để trẻ nhỏ không tiếp xúc trực tiếp được với thuốc. Tốt nhất là dùng đồ bao gói
13
nguyên của nhà sản xuất. Có thể sử dụng lại đồ bao gói sau khi đã được xử lý
theo đúng quy trình xử lý bao bì;
+ Không dùng các bao bì ra lẻ thuốc có chứa nội dung quảng cáo các thuốc
khác để làm túi đựng thuốc;
+ Thuốc dùng ngoài/thuốc gây nghiện, thuốc hưófng tâm thần cần được
đóng trong bao bì dễ phân biệt;
+ Thuốc pha chế theo đơn cần được đựng trong bao bì dược dụng để không
ảnh hưởng đến chất lưọng thuốc và dễ phân biệt với các sản phẩm không phải

thuốc - như đồ uống/thức ăn/sản phẩm gia dụng.
- Ghi nhãn thuốc:
+ Đối với trưÒTíg hơp thuốc bán lẻ không đựng trong bao bì ngoài của thuốc
thì phải ghi rõ; tên thuốc; dạng bào chế; nồng độ, hàm lượng thuốc; trường hợp
không có đơn thuốc đi kèm phải ghi thêm liều dựng, số lần dùng và cách dùng;
+ Thuốc pha chế theo đơn: ngoài việc phải ghi đầy đủ các quy định trên
phải ghi thêm ngày pha chế; ngày hết hạn; tên bệnh nhân; tên và địa chỉ cơ sở
pha chế thuốc; các cảnh báo an toàn cho trẻ em (nếu có).
- Nhà thuốc có pha chế thuốc theo đơn phải có hoá chất, các dụng cụ phục
vụ cho pha chế, có thiết bị để tiệt trùng dụng cụ (tủ sấy, nồi hấp), bàn pha chế
phải dễ vệ sinh, iau rửa.
* Hồ sơ. sổ sách và tài liêu chuyên môn của cơ sở bán lẻ thuốc
- Có các tài liệu hướng dẫn sử dụng thuốc, các quy chế dược hiện hành để
ngưòi bán lẻ có thể tra cứu và sử dụng khi cần.
- Các hồ sơ, sổ sách liên quan đến hoạt động kinh doanh thuốc, bao gồm:
14
+ sổ sách hoặc máy tính để quản lý thuốc tồn trữ (bảo quản), theo dõi số
lô, hạn dùng của thuốc và các vấn đề khác có liên quan. Khuyến khích các cơ sở
hán lẻ có hệ thống máy tính và phần mềm để quản lý các hoạt động và lưu trữ
các dữ liệu;
+ Hồ sơ hoặc sổ sách lưu trữ các dữ liệu liên quan đến bệnh nhân (bệnh
nhân có đơn thuốc hoặc các trường hợp đặc biệt) đặt tại nơi bảo đảm để có thể
tra cứu kịp thời khi cần;
+ Sổ sách, hồ sơ và thường xuyên ghi chép hoạt động mua thuốc, bán
thuốc, bảo quản thuốc đối với thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần và tiền
chất theo quy định của Quy chế quản lý thuốc gây nghiện và Quy chế quản lý
thuốc hướng tâm thần, sổ pha chế thuốc trong trưÒTig hợp có tổ chức pha chế theo đon;
+ Hồ sơ, sổ sách lưu giữ ít nhất một năm kể từ khi thuốc hết hạn dùng.
- Xây dựng và thực hiện theo các quy trình thao tác chuẩn dưới dạng văn
bản cho tất cả các hoạt động chuyên môn để mọi nhân viên áp dụng, tối thiểu

phải có các quy trình sau:
+ Quy trình mua thuốc và kiểm soát chất lượng;
+ Quy trình bán thuốc theo đon;
+ Quy trình bán thuốc không kê đơn;
+ Quy trình bảo quản và theo dõi chất lượng;
+ Quy trình giải quyết đối với thuốc bị khiếu nại hoặc thu hồi;
+ Quy trình pha chế thuốc theo đon trong trưÒTig hợp có tổ chức pha chế theo đơn;
+ Các quy trình khác có liên quan.
15
1.4. MỘT SỐ ĐỀ TÀI NGHIÊN cứu VỀ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ DƯỢC
ở VIỆT NAM TRONG NHŨNG NĂM GẦN đ â y
Trong những năm gần đây đã có một số đề tài nghiên cứu để tìm ra các
giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ dược ở Việt Nam.
Năm 2002, Hồ Phương Vân đã khảo sát chất lương dịch vụ dược ở nội
thành Hà Nội trong luận văn thạc sĩ dược học “Nghiên cứư đánh giá chất lượng
dịch vụ của nhà nước và tư nhân ở nội thành Hà Nội”. Tác giả đã tiến hành
nghiên cứu với 30 nhà thuốc tư nhân và 30 hiệu thuốc nhà nước bằng phưcmg
pháp đóng vai khách hàng. Qua kết quả nghiên cứu thu được, tác giả đã so sánh
chất lương dịch vụ dược của nhà nước và tư nhân, thành công của tác giả ỉà đã
cho thấy mạng lưới dịch vụ dược (quầy thuốc,nhà thuốc) ở Hà Nội phát triển rất
mạnh phục vụ người bệnh thuận lợi. Chất lượng thuốc của hai loại hình dịch vụ
đều đạt được yêu cầu của qui chế chuyên môn. giá thuốc tương đối ổn định,
không có sự khác nhau giữa hai loại hình dịch vụ.
Năm 2006, Trần Thị Thanh Phương đã hoàn thành khoá luận tốt nghiệp
dược sỹ đại học khoá 2001 - 2006 với đề tài “ Đánh giá hoạt động hành nghề
dược của hệ thống nhà thuốc tư nhân trên địa bàn Thành phố Hà Nội” Tác giả đã
nghiên cứu với mẫu 100 nhà thuốc tư trên địa bàn Hà Nội bằng phương pháp
khảo sát trực tiếp và đóng vai khách hàng.
Năm 2007, Vi Thị Thuý Vân đã hoàn thành khoá luận tốt nghiệp dược sỹ
đại học khoá 2002 - 2007 với đề tài “Đánh giá hoạt động hành nghề dược của hệ

thống nhà thuốc tư nhân trên địa bàn Quận Đống Đa Thành phố Hà Nội giai đoạn
2002 - 2006”. Tác giả đã nghiên cứu với mẫu 30 nhà thuốc tư nhân bằng phưcmg
pháp đóng vai khách hàng.
16
Các tác giả đã tiến hành đề tài trên phạm vi rộng nên đều sử dụng kỹ thuật
chọn mẫu, chọn ra mẫu đại diện và tiến hành nghiên cứu đánh giá hoạt động
hành nghề dược để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hành
nghề dược góp phần đảm bảo sử dụng thuốc an toàn hợp lý. Tuy nhiên việc đánh
giá hoạt động hành nghề dược còn chưa dựa trên các tiêu chuẩn Thực hành tốt
nhà thuốc.
1.5. Một vài nét về Quận Hoàng Mai
Quận Hoàng Mai là một đơn vị hành chính mới của Thành phố Hà Nội,
được thành lập theo Nghị định 132/2003/NĐ-CP ngày 06/11/2003 của Thủ tướng
Chính phủ trên cơ sở sát nhập 9 xã của Huyện Thanh Trì và 5 phường của Quận
Hai Bà Trưng. Nằm ở phía Nam Thủ đô Hà Nội có diện tích đất tự nhiên là
4.104,1 ha nằm trải ngang từ phía Đông (Giáp sông Hồng) sang phía Tây (Giáp
huyện Thanh Trì, quận Thanh Xuân) với chiều dài 15km.
Dân số chung của Quận là 259. 041 người (tháng 12/2007) với 14 phường.
Quận có địa hình trũng, tập trung nguồn nước thải của Thành phố, thường xuyên
úng ngập về mùa mưa. Dân số cơ học tăng nhanh với nhiều ngành nghề phong
p
hú phù hợp với sự chuyển đổi từ nền sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản
là chủ yếu sang phát triển công nghiệp vừa và nhỏ kết hợp phát triển dịch vụ
thương mại. Đời sống của một phần nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, ý thức của
người dân về phòng chống dịch bệnh, chăm sóc bảo vệ sức khỏe chưa cao.
Các đặc điểm này đã và đang làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường, ảnh
hưởng đến sức khỏe của nhân dân trên địa bàn quận Hoàng Mai.
Hiện nay trên địa bàn Quận có một số cơ sở y tế như Bệnh viện Bưu điện,
Bệnh viện Y học cổ truyền quân đội, Trung tâm Y tế dự phòng, Phòng Y tế và 14
trạm y tế phường. Ngoài ra, đến hết tháng 12 năm 2007 có 237 cơ sở hành nghi y

17
dược tư nhân đang hoạt động trên địa bàn. Trong đó có 154 cơ sở hành nghề dược
và 83 cơ sở hành nghề y. Cụ thể như sau:
Bảng 1: Sự phân bô cơ sở hành nghề y dược tư nhân
Quận Hoàng Mai năm 2007
TT
Tên phường TS. Cơ sở
HNY
TS. cơ sở
HN YHCT
TS. cơ sở
HN dược
Tổng
1 Hoàng Văn Thụ
5
2
19 26
2
Đại Kim
6 1
16 23
3 Giáp Bát
6
5
11
22
4 Định Công
10
5
24 39

5 Tương Mai
8
1
17 26
6
Vĩnh Hưng
5
2
8 15
7
Thịnh Liệt
2 2
12 16
8
Hoàng Liệt
3
2
6
11
9
Thanh Trì
0
0
4 4
10
Tân Mai
3
0
19 22
11

Mai Động
5
2
6 13
12
Lĩnh Nam
3 1
7
11
13 Trần Phú
1 0
3 4
14 Yên Sở
3
1
2 6
Tổng 59
24
154
237
(TS là tổng số, HN là hành ngi
hề, YHCT là y học cổ truyền).
Năm 2004, mạng lưới hành nghề dược của Quận được hình thành trên cơ sở
một phần các cơ sở hành nghề dược của Quận (Hai Bà Trưng) kết hợp với một
phần các cơ sở hành nghề dược của huyện (Thanh Trì) nên còn nhiều bất cập. Để
đánh giá hoạt động hành nghề dược tại Quận Hoàng Mai, tôi tiến hành nghiên
18

×