Tải bản đầy đủ (.pdf) (77 trang)

Hoạt động tuyển chọn võ quan thời lý trần (1009 1400)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (488.31 KB, 77 trang )


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
*********



NGUYỄN THỊ MINH LÝ



HOẠT ĐỘNG TUYỂN CHỌN VÕ QUAN
THỜI LÝ - TRẦN
(1009 - 1400)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. NINH THỊ HẠNH






HÀ NỘI, 2014
LỜI CẢM ƠN
Đề hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin gửi lời cảm ơn
chân thành và sâu sắc tới cô giáo ThS. Ninh Thị Hạnh người đã tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận.


Qua đây em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ thư viện
trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; trường Đại học KHXH& NV cùng
cán bộ Thư viện quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ em trong quá trình thu thập
tài liệu để làm khóa luận.
Em xin cảm ơn sự quan tâm của gia đình và bạn bè đã động viên
giúp đỡ em hoàn thành khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 08 tháng 05 năm 2014
Tác giả khóa luận



Nguyễn Thị Minh Lý
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự
hướng dẫn của ThS. Ninh Thị Hạnh. Các số liệu, dữ liệu, kết quả trong
khóa luận là hoàn toàn trung thực. Các nguồn tài liệu, trích dẫn có nguồn
gốc xuất xứ rõ ràng. Tôi xin cam đoan những điều trên là đúng sự thật.

Hà Nội, ngày 08 tháng 05 năm 2014
Tác giả khóa luận



Nguyễn Thị Minh Lý

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 4
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5. Đóng góp của khóa luận 5
6. Bố cục 6
Chƣơng 1. HOẠT ĐỘNG TUYỂN CHỌN VÕ QUAN TRƢỚC
THỜI LÝ - TRẦN 7
1.1. Hoạt động tuyển chọn võ quan trước thời Lý - Trần 7
1.2. Đặc điểm hoạt động tuyển chọn võ quan trước thời Lý - Trần 17
Chƣơng 2. HOẠT ĐỘNG TUYỂN CHỌN VÕ QUAN THỜI LÝ -
TRẦN (1009 - 1400) 24
2.1. Bối cảnh lịch sử 24
2.1.1. Tình hình kinh tế 24
2.1.2. Tình hình chính trị 27
2.1.3. Tình hình văn hóa - giáo dục 28
2.1.4. Tình hình xã hội 30
2.2. Hoạt động tuyển chọn võ quan thời Lý - Trần 31
2.2.1. Hình thức tuyển chọn 31
2.2.1.1. Giảng Võ Đường 32
2.2.1.2. Nhiệm tử hay tập ấm, tiến cử 35
2.2.1.3. Thông qua cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm 38
2.2.2. Các tiêu chí tuyển chọn 42
Chƣơng 3. ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG TUYỂN
CHỌN VÕ QUAN THỜI LÝ - TRẦN 50
3.1. Đặc điểm của hoạt động tuyển chọn võ quan thời Lý - Trần 50
3.2. Vai trò của hoạt động tuyển chọn võ quan thời Lý - Trần 63
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
1



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ xưa đến nay việc tuyển chọn quan lại, chọn người hiền tài để phục
vụ đất nước là công việc vô cùng quan trọng của mỗi triều đại, quốc gia. Thân
Nhân Trung từng nói “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì
đất nước mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà càng
xuống thấp. Bởi vậy các bậc vua tài giỏi đời xưa, chẳng có đời nào lại không
chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài bồi đắp thêm nguyên khí”. Như vậy
có thể thấy được vai trò tầm quan trọng của người hiền tài đối với sự phát
triển của đất nước.
Dân tộc ta sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đặc biệt, thường xuyên bị
đe dọa bởi thiên tai và dịch họa, do đó dân tộc ta không thể tồn tại và phát
triển được nếu thiếu đi tinh thần yêu nước và khí phách anh hùng của toàn thể
dân tộc. Trên nền tảng vật chất và tinh thần ấy trong lịch sử thường xuyên
xuất hiện nhiều nhân tài lỗi lạc đem trí tuệ và lòng yêu nước của mình để
phục vụ đất nước. Cho dù ở thời đại nào cũng cần đến đội ngũ những bậc hiền
tài để phục vụ đất nước. Đất nước muốn giàu mạnh phát triển thì chắc chắn
cần phải có một đội ngũ trí thức lớn, có cả tâm và tài.
Trong các triều đại phong kiến Việt Nam, việc tuyển chọn quan lại có
vai trò cũng như ý nghĩa vô cùng quan trọng, đây là một trong những công
việc cần thiết ngay từ khi bắt đầu thành lập bởi việc tuyển chọn quan lại nhằm
xây dựng lên một hệ thống quan trường vững chắc, góp phần củng cố và phát
triển hơn nữa quyền lực các triều đại. Với một đội ngũ quan lại đông đảo có
đức có tài sẽ đóng góp vai trò quan trọng trong việc duy trì sự phát triển đi lên
của đất nước.
Nằm trong công việc chung của tuyển chọn quan lại là việc tuyển chọn
võ quan. Ngay từ thời kỳ đầu lịch sử những người am hiểu võ thuật làm điều
2



trượng nghĩa luôn được khen ngợi cũng như là tấm gương sáng để mọi người
soi vào học tập. Vì vậy mà từ rất sớm võ thuật đã giữ vị trí quan trọng trong
cuộc sống, người thượng võ thì được đề cao trong xã hội. Do đó dù ở thời kỳ
nào thì người có võ cũng không bao giờ bị thất thế. Khi đất nước, quốc gia
dân tộc được xác lập thì đã đẩy mạnh quá trình tuyển chọn quan lại, trong đó
ý nghĩa cũng như mục đích của việc tuyển chọn võ quan không nằm ngoài
việc tuyển chọn quan lại. Quan võ đóng vai trò quan trọng hơn cả trong bộ
máy nhà nước, họ trực tiếp nắm giữ vận mệnh của đất nước cũng như gách
vác trọng trách cao cả bảo vệ non sông đất nước. Thông qua công tác tuyển
chọn võ quan nhằm phát hiện, bồi dưỡng nhân tài võ thuật cho đất nước.
Cũng như hoàn thành trách nhiệm dân tộc giao phó.
Dưới thời Lý - Trần việc tuyển chọn quan lại đã dần dần đi vào quy củ,
có quy định rõ ràng. Vì vậy việc tìm hiểu hoạt động tuyển chọn võ quan thời
Lý - Trần mang ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc tìm hiểu hoạt động
tuyển chọn võ quan của các triều đại sau nói riêng và hoạt động tuyển chọn
quan lại trong lịch sử Việt Nam nói chung. Nhận thức được tầm quan trọng
của đội ngũ quan lại nên triều đại nào cũng quan tâm chú trọng tới vấn đề
này, trong đó vai trò của quan võ là quan trọng hơn cả. Trong lịch sử dân tộc
dưới hai triều đại này có rất nhiều cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm,
chính điều đó đã làm rõ thêm vai trò quan trọng của đội ngũ võ quan trong
giai đoạn này. Bởi giữ vai trò quan trọng như vậy cho nên trong lịch sử chưa
bao giờ thôi nhắc đến công lao thành tích của đội ngũ võ quan ở mỗi triều đại.
Việc tuyển dụng quan võ dưới thời Lý chưa được rõ ràng cũng như chưa có
quy định, quy chế cụ thể. Nhưng đến thời Trần việc tuyển chọn này có quy củ
rõ ràng hơn, cũng được các sử gia ghi chép lại nhiều hơn. Cụ thể đó là việc
thành lập Giảng Võ đường vào năm 1253 cho phép con em tôn thất quý tộc
vào học tại đây. Đồng thời đây cũng là nơi phát hiện, bồi dưỡng những tướng
3



lĩnh giỏi, văn võ toàn tài cũng như mưu cao trí lược. Thể hiện sự đặc biệt
quan tâm của triều đình đối với bộ phận quan võ.
Nghiên cứu tuyển chọn võ quan thời Lý - Trần là việc tập trung đi sâu,
làm rõ vấn đề tuyển dụng quan võ qua các hình thức đồng thời chứng minh
rằng triều đại sau phát triển, tổ chức thi cử chọn lựa tiến bộ hơn triều đại
trước. Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài “Hoạt động tuyển chọn
võ quan thời Lý - Trần (1009 - 1400)” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của
mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tuyển chọn võ quan ở mỗi triều đại là một trong những vấn đề khá
quan trọng được nhiều học giả quan tâm chú ý nghiên cứu tới. Cụ thể như:
Một là sách thông sử như: “Đại Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sĩ Liên
do Nxb Văn học (2009) ban hành, “Lịch triều hiến chương loại chí” - Phan
Huy Chú là cuốn chính sử cung cấp những sự kiện xác thực nhất về việc
tuyển chọn võ quan. Trong đó trình bày cụ thể lịch sử nước ta từ trước triều
đại nhà Lý cùng các triều đại sau đó.
Hai là sách chuyên khảo: “Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ
XIX” của Đào Duy Anh, tác phẩm do Nxb Khoa học xã hội xuất bản (2002).
Cuốn “Lịch sử văn hóa Việt Nam” của Huỳnh Công Bá - Nxb Thuận Hóa -
năm 2008. Và cuốn “Lịch Sử Việt Nam” tập I do tác giả Phan Huy Lê chủ
biên, Nxb Giáo dục ban hành. Đây là cuốn sử viết cụ thể và sâu sắc về hai
triều đại phong kiến Lý - Trần cũng như việc thi tuyển nhằm tuyển chọn quan
lại mà cụ thể trong đó là quan võ, đồng thời cuốn sách cũng chỉ rõ cách thức
tổ chức huấn luyện đào tạo võ quan dưới hai triều đại này.
Quan trọng hơn cả là những cuốn sách đi sâu vào tìm hiểu hoạt động
tuyển chọn võ quan trong thời kỳ này như cuốn “Lịch sử quân sự Việt Nam”
tập 3, 4 của Bộ quốc phòng và Viện lịch sử quân sự Việt Nam do Nxb Chính
4



trị quốc gia ban hành, Hà Nội năm 2003. Đây là cuốn sách viết rất chuyên sâu
về việc tuyển chọn cũng như đào luyện võ tướng dưới triều đại Lý - Trần.
Ngoài ra còn có cuốn “Những danh tướng chống giặc ngoại xâm thời Trần”
của tác giả Quốc Chấn và do Nxb Thanh Hóa năm 2006 ban hành. Cuốn sách
này đã trình bày một cách có hệ thống về công lao và vai trò của các vị võ
tướng dưới triều đại nhà Trần.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích của đề tài
Đề tài nhằm làm rõ việc tuyển chọn võ quan dưới hai triều đại phong
kiến Lý - Trần để nhìn thấy rõ được sự tiến bộ, phát triển của triều đại sau so
với triều đại trước. Đồng thời có thể rút ra được những nhận định, đánh giá về
vấn đề này.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích đã nêu, đề tài lần lượt giải quyết các
nhiệm vụ cơ bản sau:
- Tìm hiểu khái quát tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo
dục thời Lý - Trần.
- Tập trung nghiên cứu việc tuyển chọn võ quan dưới hai hai triều đại
này, đặc biệt là phương thức, cơ quan tuyển chọn và vai trò của võ quan trong
lịch sử nói chung và dưới triều đại Lý - Trần nói riêng.
- Đưa ra nhận xét, đánh giá về việc tuyển chọn võ quan của hai triều
đại, bước đầu đưa ra những so sánh sự tiến bộ của triều đại sau so với triều
đại trước.
3.3. Phạm vi
- Về mặt nội dung: Tập trung nghiên cứu việc tuyển dụng quan võ dưới
hai triều đại phong kiến Lý - Trần và tác dụng của công tác tuyển chọn này
đối với triều đại phong kiến.
5



- Về mặt thời gian: Từ khi nhà Lý được thành lập cho đến hết triều đại
nhà Trần (1009 - 1400).
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Để hoàn thành khóa luận chủ yếu dựa vào nguồn tư liệu sau:
Các cuốn sách thông sử về lịch sử dân tộc và sách chuyên khảo thời Lý
- Trần.
Các cuốn sách chính chuyên sâu về vấn đề tuyển chọn quan lại mà chủ
yếu là võ quan.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau:
Phương pháp lịch sử: Đó là đi sâu vào tìm hiểu hoạt động tuyển chọn
quan lại nói chung và hoạt động tuyển chọn võ quan nói riêng, nhất là dưới
thời Lý - Trần.
Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đi sâu tìm hiểu hoạt động tuyển chọn
võ quan thời Lý - Trần, từ đó có sự so sánh và đối chiếu với các triều đại
trước và sau đó.
Phương pháp lý thuyết: Đi sâu nghiên cứu hoạt động tuyển chọn quan
võ thời Lý - Trần thông qua các cuốn sách chuyên sâu, chuyên khảo.
5. Đóng góp của khóa luận
Đề tài có thể làm nguồn tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên quan
tâm đến lịch sử Việt nam nói chung và việc tuyển chọn võ quan dưới thời Lý -
Trần nói riêng.
Đề tài cũng có giá trị thực tiễn trong việc rút ra những bài học nhất định
về nghệ thuật tuyển dụng quân sự, võ thuật để áp dụng vào công tác đào tạo
cũng như huấn luyện binh sĩ hiện nay.

6



6. Bố cục
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục thì
khóa luận được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Hoạt động tuyển chọn võ quan trước thời Lý - Trần.
Chương 2: Hoạt động tuyển chọn võ quan thời Lý - Trần (1009 - 1400).
Chương 3: Đặc điểm và vai trò của hoạt động tuyển chọn võ quan thời
Lý - Trần.












7


Chƣơng 1
HOẠT ĐỘNG TUYỂN CHỌN VÕ QUAN TRƢỚC
THỜI LÝ - TRẦN

1.1. HOẠT ĐỘNG TUYỂN CHỌN VÕ QUAN TRƢỚC THỜI LÝ -
TRẦN

Ngay từ sớm võ nghệ đã giữ một vị trí hết sức quan trọng trong cuộc
sống con người, bởi nó là hoạt động để phòng thân cũng như để bênh vực
người hèn yếu, gặp nạn. Vì vậy võ nghệ đã nhận được sự quan tâm của tất cả
mọi người, cụ thể ngay cả trong những hình tượng nhân dân ta dựng lên cũng
phải là người văn võ song toàn. Đây là bức hình lý tưởng nhân dân ta vẽ ra để
ca ngợi người anh hùng nào đó có công được tôn thờ biết ơn. Do đó ngay từ
nhỏ họ đã cho con em mình đi theo học võ, bởi cái lợi của người học võ
không ai có thể phủ nhận được. Với quan niệm tích cực như vậy nên trong
lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã xuất hiện rất nhiều nhân tài võ
thuật kiệt xuất đưa đất nước đi lên thoát khỏi khó khăn nạn ngoại xâm mất
nước, mang lại cuộc sống yên bình ổn định cho nhân dân.
Để lựa chọn ra những người tài năng, đức độ thực sự đó thì trong lịch
sử đã có nhiều cách lựa chọn, nhưng nhìn chung là thông qua phép thi sẽ có
được một kết quả tốt nhất mà lại công bình với tất cả mọi người. Tuy nhiên
không phải ngay từ đầu đã có điều này mà nó phải trải qua một quá trình lâu
dài đi lên không ngừng hoàn thiện của lịch sử dân tộc, cụ thể là phải tới thời
Lý - Trần mới bắt đầu manh nha hình thành con đường thi tuyển lựa chọn ra
quan võ để bổ sung vào đội ngũ võ quan đất nước. Dù đến lúc này mới có
phép thi tuyển chọn nhưng không có nghĩa những triều đại trước đó bộ máy
nhà nước thiếu vắng bộ phận quan trọng này. Họ vẫn được vua quan triều
đình trọng dụng thông qua những con đường khác nhau. Vì những con đường
8


này không có quy định, quy chế cụ thể rõ ràng nên nó không được xem là
hoạt động thi có tổ chức. Dù như vậy nhưng những cống hiến đóng góp của
họ luôn được lịch sử ghi nhận, người đời nhớ đến. Hoạt động tuyển chọn võ
quan trước thời Lý - Trần cụ thể như sau:
Thời kỳ nhà nước Văn Lang - Âu Lạc
Khi nhà nước chưa ra đời thì dường như không có một nguồn sử liệu

chữ viết nào có thể ghi chép lại lịch sử của dân tộc ta lúc bấy giờ mà chủ yếu
là thông qua sử liệu dân gian truyền miệng để hiểu thêm về lịch sử. Chỉ biết
rằng dân tộc ta sinh ra từ một bọc trăm trứng sau đó trăm trứng nở thành trăm
con và 50 con lên rừng còn 50 con xuống biển. Dân tộc ta là một dân tộc có
nguồn gốc con lạc cháu hồng. Vì vậy mà từ khi sinh ra tổ tiên ta đã có người
ở trên rừng, kẻ ở dưới biển là vì thế. Cùng với áp lực sự nguy hiểm của cuộc
sống tự nhiên, hoang dã và chiến đấu để chống lại thú dữ mà ngay từ đầu tổ
tiên ta đã mang trong mình bản năng chiến đấu bảo vệ sự sinh tồn. Từ sớm
dân tộc ta đã là những con người gan dạ nhất biết sử dụng mưu mẹo cũng như
tận dụng tài năng võ nghệ của mình để giết thú vật bảo vệ tính mạng của con
người. Có thể thấy võ nghệ là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của
người dân cũng như sự xuất hiện rất sớm của nó. Đồng thời thấy được sự đam
mê võ nghệ của nhân dân ta cũng như lợi ích giúp đời của người học võ.
Khi nhà nước ra đời, đó là nhà nước Văn Lang - quốc gia đầu tiên của
người Việt đã đánh dấu bước phát triển lớn trong lịch sử loài người. Nó đặt
nền móng cho sự hình thành của dân tộc với một nền văn hóa riêng - cội
nguồn sức mạnh tinh thần của nhân dân Việt để có thể vượt qua được những
thử thách hết sức ngặt ngèo, nguy hiểm. Khi bộ máy nhà nước thô sơ đầu tiên
dựng lên còn rất đơn giản với ba cấp rõ ràng là Hùng Vương đứng đầu đồng
thời cũng là người chỉ huy quân sự tối cao của đất nước, giúp việc cho vua là
các Lạc hầu, Lạc tướng với thể chế cha truyền con nối, dưới là các bộ đứng
9


đầu là kẻ, chiềng, chạ. Nhìn vào bộ máy hành chính đất nước lúc bấy giờ cho
thấy vai trò vô cùng quan trọng của các vua Hùng với vai trò là những thủ
lĩnh quân sự. Và giúp việc cho những chỉ huy quân sự này trong đánh giặc
chiến đấu là các Lạc tướng, họ là những người tài giỏi mưu lược cũng như
thành thạo võ nghệ. Sau khi Thục phán An Dương Vương thay thế vua Hùng
đã phải đối phó với âm mưu xâm lược của nhà Tần ở Trung Quốc, trước điều

đó với tài năng quân sự của người thủ lĩnh cùng với nhân dân đã đánh bại
được kẻ thù. Nước Âu Lạc vì thế thoát khỏi âm mưu nhòm ngó xâm lược của
nhà Tần. Việc thủ lĩnh quân sự đồng thời là người đứng đầu đất nước đã phần
nào xác lập vị trí vai trò của người học võ trong xã hội lúc bấy giờ rất được
quan tâm coi trọng.
Thời kỳ Bắc thuộc
Thời Bắc thuộc kéo dài hơn một nghìn năm trải qua các triều đại Triệu,
Hán (Tây Hán và Đông Hán), Ngô, Ngụy, Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường đã
kế tiếp nhau xâm chiếm và đô hộ nước ta, chúng biến Âu Lạc thành quận
huyện để tiến hành đồng hóa dân tộc cũng như bóc lột tàn bạo và triệt để nhân
dân ta. Dưới ách cai trị đó nhân dân ta vô cùng khổ cực vừa bị áp bức vừa bị
bóc lột. Với tinh thần yêu nước yêu dân tộc sâu sắc không cam chịu kiếp nô lệ
cho nước ngoài, nhân dân đã không ngừng vùng dậy đấu tranh vũ trang để
giành lại độc lập tự chủ. Nhân dân ta đã xác định rằng để giành được chính
quyền độc lập tự chủ cho đất nước không chỉ dùng lời mà phải cả hành động.
Lịch sử dân tộc là minh chứng hào hùng cho tinh thần chiến đấu ấy của nhân
dân ta trong suốt thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc, đó là các cuộc khởi nghĩa của
Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Phùng Hải
Sự kiện đầu tiên là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào những năm 40.
Hai Bà là con của một Lạc tướng huyện Mê Linh, ngay từ nhỏ đã yêu thích võ
nghệ cũng như có ý thức và tự chủ rất cao theo tinh thần con nhà võ. Do
10


không khuất phục trước ách cai trị thâm độc, tàn bạo của nhà Đông Hán cùng
với một nỗi hận không bao giờ xóa được là chồng bà bị tên Thái thú Tô Định
giết nên Hai Bà đã dựng cờ khởi nghĩa. Dù là người đàn bà chân yếu tay mềm
nhưng khi đã hô một tiếng thì được đông đảo nhân dân hưởng ứng ủng hộ đi
theo, trong đó có rất nhiều phụ nữ tham gia vào cuộc khởi nghĩa và trở thành
những tướng soái của Hai Bà như nữ tướng Lê Chân, Vũ Thục Nương, Thiều

Hoa, Diệu Tiên, Man Thiện, Đào Kỳ Nhờ vậy lực lượng nghĩa quân lớn
mạnh nhanh chóng, cả nước đứng lên đi theo Hai Bà khởi nghĩa đã làm cho
Tô Định khiếp sợ phải bỏ chạy về nước. Cuộc khởi nghĩa toàn thắng, chính
quyền đô hộ bị lật đổ, nền độc lập tự chủ của dân tộc được khôi phục sau hơn
150 năm bị nô lệ. Sau khi cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi, được sự ủng hộ và
suy tôn của các Lạc tướng, tầng lớp quý tộc và nhân dân cả nước thì Hai Bà
Trưng đã xưng vương (Trưng nữ Vương). Hai Bà cũng bắt tay ngay vào xây
dựng chính quyền tự chủ, lấy Mê Linh làm kinh đô và phong tướng cho
những người có công trong sự nghiệp giành lại độc lập. Việc ban phong cụ
thể rõ ràng nhưng dưới thời Hai Bà Trưng thì việc tuyển chọn cũng như đào
tạo quan võ dường như chưa có cụ thể, vẫn chủ yếu là được truyền lại, dạy lại,
phong tướng trong chiến đấu. Họ là những nữ tướng tự nguyện tham gia cầm
quân quét sạch quân thù vì vậy họ xứng đáng được xem là những nữ tướng
của dân tộc ta, đồng thời cũng là những bạc hùng tài có trí hơn người trong nữ
giới. Trong hoàn cảnh lúc bấy giờ không có biện pháp cũng như phương thức
tuyển chọn cụ thể nhưng khi đất nước cần thì những con người hiền lành bình
dị ấy lại vùng nên thành một làn sóng mạnh mẽ nhấn chìm tất cả kẻ thù xâm
lược. Dù không cùng nơi ăn chỗ ở nhưng với lòng căm thù giặc, ý chí kiên
cường bất khuất họ kéo nhau đến đầu quân cho Hai Bà Trưng để cùng nhau
đóng góp sức lực của mình để giúp Hai Bà đền nợ nước trả thù nhà. Điểm
11


chung lôi kéo gắn bó họ lại với nhau chính là tinh thần yêu nước, yêu dân tộc
rất lớn.
Khởi nghĩa Bà Triệu (năm 248) tức Triệu Thị Trinh, đây cũng là một
người phụ nữ tài giỏi, gan dạ. Với chí khí hơn người cùng lòng căm thù giặc
sâu sắc thì Bà cùng anh là Triệu Quốc Đạt vào rừng tập luyện quân sĩ để
chuẩn bị khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa đã thu hút đông đảo nhân dân tham gia
đi theo ủng hộ nhưng do thế yếu nên cuộc khởi nghĩa của Bà chưa đi tới thắng

lợi. Dù vậy nhưng tinh thần chiến đấu cũng như chí khí hơn người của Bà
luôn được đề cao, coi trọng. Bà và Hai Bà Trưng là những hình ảnh tiêu biểu
nhất cho người phụ nữ Việt Nam trong những ngày đầu dân tộc ta bị chèn ép,
áp bức mặc dù là phận nữ nhi chân yếu tay mềm chỉ biết việc nhà nhưng
không vì vậy mà họ chịu khuất phục trước cường bạo, tàn ác. Các Bà xứng
đáng là những nữ tướng của dân tộc Việt Nam, đứng ngang bằng trong hàng
ngũ các anh hùng vĩ đại của dân tộc.
Khởi nghĩa Lý Bí và sự ra đời nhà nước Vạn Xuân. Mặc dù những cuộc
khởi nghĩa của nhân dân ta nổ ra liên tục và gặp không ít thất bại nhưng nó
chưa bao giờ ngừng, nhân dân ta chưa bao giờ thôi đầu hàng chấp nhận kiếp
sống, thân phận nô lệ. Lý Bí xuất thân từ một hào trưởng địa phương có võ
công cao cường. Với lòng oán hận chính quyền đô hộ cũng như căm ghét chế
độ sĩ tộc nhà Lương nên đã bí mật chiêu tập nhân dân, luyện tập quân sĩ chờ
ngày khởi nghĩa. Với sự giúp đỡ và ủng hộ của các tướng giỏi như Triệu Túc,
Phạm Tu, Triệu Quang Phục cũng như toàn thể nhân dân mà cuộc khởi nghĩa
diễn ra trong vòng ba tháng đã giành thắng lợi. Sau khi thắng lợi Lí Bí tự
xưng hoàng đế xây dựng chính quyền tự chủ với bộ máy nhà nước gồm nhiều
chức như Triệu Túc được phong làm Thái phó, Tinh Thiều làm tướng văn còn
Phạm Tu thì làm tướng võ. Từ đầu hai bên văn và võ đã được đặt ngang nhau,
còn việc lựa chọn người làm tướng võ là dựa vào người có nhiều công lao
12


đóng góp trong chiến đấu vì thời kỳ này vẫn chưa đặt ra phép thi để lựa chọn
tướng võ. Điểm chung của những thủ lĩnh trên đây đều là những người học võ
và biết võ.
Tới thời kỳ tự chủ họ Khúc đã đặt nền móng cho nhân dân ta bảo vệ
quyền tự chủ của dân tộc mình. Trong cuộc kháng chiến đó dưới sự lãnh đạo
của Dương Đình Nghệ thì Ngô Quyền, một gia nô của Dương Đình Nghệ đã
được cử làm gia tướng chỉ huy đạo quân chủ lực. Sau này được Dương Đình

Nghệ tin tưởng gả con gái cho. Như vậy trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách
thì ngay cả một gia nô biết võ cũng được cử làm gia tướng cầm quân đánh
giặc. Chính vì vậy mà cuộc kháng chiến của nhân dân ta dưới sự chỉ huy của
Dương Đình Nghệ đã đánh bại mưu đồ xâm chiếm nước ta của nhà Hán. Nền
độc lập tự chủ của dân tộc cũng như những thành tựu đạt được trong những
năm dưới thời họ Khúc được bảo vệ và giữ vững. Do vậy thấy được võ nghệ
quan trọng biết nhường nào nhất là trong lúc nguy nan như thế này. Không
lâu sau Dương Đình Nghệ bị một nha tướng của mình là Kiều Công Tiễn giết
để giành lấy chính quyền. Nhận được tin dữ này thì Ngô Quyền đã cùng nhiều
tướng lĩnh giỏi khác tiến ra Giao Châu trừng trị, do quá khiếp sợ trước khí thế
chiến đấu của nhân dân cũng như tướng lĩnh nên Kiều Công Tiễn đã vội vàng
sang cầu cứu vua Nam Hán. Chớp thời cơ thuận lợi đó mà vua Nam Hán đã
sai con trai mình cầm quân kéo sang xâm lược nước ta. Sau khi Ngô Quyền
giết Kiều Công Tiễn đã chuẩn bị đối phó với kẻ thù, ông huy động một lực
lượng lớn nhiều vị tướng giỏi như Đỗ Cảnh Thạc, Dương Tam Kha, Ngô
Xương Ngập cùng nhiều nữ tướng khác bàn mưu đánh giặc. Có thể khẳng
định rằng Ngô Quyền là một võ tướng giỏi, xuất sắc có mưu chí hơn người
khi bố trí trận địa đóng cọc làm nên thắng lợi vang dội chính là chiến thắng
Bạch Đằng.
13


Thắng lợi đó đã đánh bại ý chí xâm lược của kẻ thù, chấm dứt vĩnh
viễn nền đô hộ hơn 1000 năm phong kiến phương Bắc mở ra thời kỳ độc lập
tự chủ lâu dài. Như vậy trong suốt một nghìn năm Bắc thuộc nhân dân ta chưa
bao giờ cam chịu làm thân phận nô lệ ngược lại luôn vùng lên giành chính
quyền mỗi khi có cơ hội. Chúng ta có thể thấy được một điều rằng dù trong
thời cổ hay thời Bắc thuộc thì tinh thần thượng võ của nhân dân ta vẫn luôn
được nêu cao, là một phần quan trọng không thể thiếu trong quá trình đấu
tranh giành lại độc lập tự chủ. Cụ thể bằng việc không chỉ nam giới học võ,

biết võ mà ngay cả những người phụ nữ chỉ lo việc nhà cũng biết đến. Và
những người cầm đầu luôn là những người am hiểu, giỏi giang võ nghệ nên
mới có thể làm nên những thắng lợi vang dội non sông như vậy.
Thời kỳ phong kiến tự chủ
Không chỉ ở những thời kỳ trên mà ngay cả khi đất nước đã giành được
quyền độc lập tự chủ của một quốc gia dân tộc thì võ học được quan tâm chú
trọng ngày càng nhiều hơn. Nhận thức được tầm quan trọng trong việc giành
và giữ nền độc lập tự chủ của dân tộc thì tất cả các triều đại phong kiến Việt
Nam ngay từ khi mới thành lập đã ra sức nâng cao sức mạnh của mình bằng
việc nâng cao sức mạnh của quan và quân. Để làm được điều này thì việc
quan tâm, chú trọng tuyển chọn cũng như đào tạo quan lại hết sức được quan
tâm. Dù chưa có quy định quy chế cụ thể cho việc tuyển chọn quan võ trong
thời kỳ này nhưng không vì vậy mà nước ta thiếu đi một bộ phận quan lại
quan trọng này. Những quy định, quy cách tổ chức lựa chọn thông qua phép
thi cũng ngày được hoàn thiện cùng với sự tiến bộ đi lên của mỗi triều đại
trong lịch sử phong kiến Việt Nam.
Sau khi đánh bại kẻ thù Ngô Quyền kéo đại quân trở về Cổ Loa. Ông
quyết định đóng quân ở Cổ Loa để tỏ ý tiếp tục sự nghiệp dựng nước và giữ
nước đời Hùng Vương - An Dương Vương, đồng thời cũng để khẳng định
14


quyết tâm giữ vững nền độc lập dân tộc vừa giành lại được sau hơn 10 thế kỷ
đấu tranh chống Bắc thuộc. Ngô Quyền còn quyết định bỏ chức Tiết độ sứ
của phong kiến phương Bắc và tự mình xưng vương cũng như đặt ra các chức
quan văn võ, quy định lễ nghi trong triều đình và màu sắc đồ mặc của quan lại
các cấp. Điều này cho thấy Ngô Quyền đã kiên quyết cắt đứt mọi quan hệ lệ
thuộc đối với nước ngoài, xây dựng một vương quốc độc lập. Đây là một
bước tiến dài rất căn bản của lịch sử Việt Nam. Mặc dù tổ chức chính quyền
nhà nước lúc bấy giờ còn đơn giản, sơ sài nhưng nó thể hiện được đây là

chính quyền của một quốc gia độc lập, tự chủ, đúng như nhận xét của của nhà
sử học Ngô Sĩ Liên ở thế kỷ XV: “Tiền Ngô Vương nổi lên không chỉ có công
chiến thắng mà thôi, việc đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục, có
thể thấy được quy mô của bậc đế vương” [10, 120]. Ngay từ thời Ngô triều
đình đã chia thành hai bên là quan văn và quan võ, tuy nhiên việc lựa chọn
tuyển dụng cũng như đào tạo đội ngũ võ quan thời kỳ này cũng chưa được ghi
chép cụ thể. Chủ yếu vẫn là bổ nhiệm những người có công cầm quân đánh
giặc làm quan võ, đó là những võ tướng chỉ huy cầm quân đánh giặc trên
chiến trường.
Thời kỳ nhà Đinh - Tiền Lê, sau khi Ngô Quyền mất đất nước rơi vào
tình trạng loạn lạc. Điều này đã gây nên sự hỗn loạn trong nhân dân, trong khi
đó năm 960 nhà Tống được thành lập đã tiến hành mở rộng lành thổ xuống
phía Nam để xâm lược nước ta. Làm cho đất nước ta trở nên nguy kịch đã đưa
tới yêu cầu cần phải chấm dứt tình trạng hỗn loạn để tiến tới thống nhất đất
nước. Đinh Bộ Lĩnh là con trai của Đinh Trứ, mê học võ và tuổi nhỏ rất có chí
lớn nên đã đứng lên dẹp loạn 12 sứ quân. Sau khi đất nước thống nhất và trở
lại yên bình thì Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua lập ra nhà Đinh nhưng không lâu
sau khi chưa có gì đổi mới thì ông và con trai ông đã bị một viên quan hầu Đỗ
Thích giết hại để cướp ngôi. Trước tình hình khó khăn ngặt ngèo đó, vua mới
15


lên ngôi còn nhỏ tuổi mà nhà Tống đang lăm le chớp lấy cơ hội đương lúc
nước ta khó khăn kéo quân sang xâm lược. Trước tình hình nguy hiểm cấp
bách đó Thái hậu họ Dương đã cử Lê Hoàn lên làm tổng chỉ huy quân đội và
khoác áo long bào mời ông lên làm vua. Như vậy nhà Đinh chưa có những
thay đổi gì mới thì được thay thế bởi nhà Tiền Lê do vận nước lâm nguy đang
tới gần.
Năm 980 nhà Lê thành lập (sau gọi là Tiền Lê), Lê Hoàn giữ nguyên tổ
chức bộ máy nhà nước thời Đinh với kinh đô Hoa Lư. Tổ chức triều đình

trung ương do vua đứng đầu, nắm giữ mọi quyền hành về dân sự cũng như
quân sự. Dưới vua là hai ban văn võ. Văn ban có các chức Bộ thượng thư
đứng đầu Lục bộ, rồi đến các chức Tả Hữu Tham tri, Gián nghị, Điện học sĩ,
Hàn lâm học sĩ… Võ ban có các chức như Đô thống, Nguyên súy, Tổng quản,
Khu mật sứ, Thượng tướng, Đại tướng, Đô tướng, Tướng quân, Chỉ huy sứ…
trong đó cao nhất là Định quốc công Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền về
sau thì Lê Hoàn đặt thêm chức thái sư, đại tổng quản, thái úy, đô hộ phủ sĩ xư,
tả và hữu điện tiền chỉ huy sứ… Đặc biệt ở thời Đinh - Tiền Lê còn có một bộ
phận tăng quan làm nhiệm vụ cố vấn cho nhà vua. Thời Tiền Lê nhằm bảo vệ
quyền lực dòng họ, nhà vua đã cử các hoàng tử đến trông coi các châu về tất
cả các mặt. Trong triều đình trừ các nhà sư, còn lại các quan trong ngoài triều
đình hầu hết là các võ tướng. Hệ thống võ quan này nắm giữ những vị trí quan
trọng chủ chốt trong triều đình. Chính sự đông đảo của tầng lớp võ quan này
nên dưới nhà Tiền Lê, quân và nhân ta đã đánh bại được cuộc kháng chiến
chống quân xâm lược Tống năm 981 giữ vững nền độc lập tự chủ của dân tộc.
Bên cạnh việc xây dựng đội ngũ võ quan đông đảo thì nhà Đinh - Tiền
Lê còn chú trọng xây dựng quân đội. Ở ngoài kinh thành có một đạo cấm
quân gồm 3000 người. Đạo quân này chủ yếu làm nhiệm vụ bảo vệ hoàng
thành và các vua quan, còn có đạo quân Tứ sương làm nhiệm vụ canh giữ gác
16


cổng thành. Trong buổi đầu xây dựng, thống nhất đất nước sau nhiều năm rối
loạn và một nhà nước quân chủ tập quyền mới thành lập thì nhà Tiền Lê đã kế
thừa những gì đã có của nhà Đinh. Xây dựng được một đội ngũ quan lại chủ
yếu là các võ tướng dù chưa đầy đủ nhưng đã phần nào phản ánh tầm quan
trọng của bộ phận quan võ.
Việc tuyển chọn quan lại đương thời vẫn chưa có chế độ cụ thể, buổi
bấy giờ những người nắm quyền trong triều đình chủ yếu là những võ tướng
đã từng tham gia cuộc đánh dẹp các sứ quân hoặc là các hoàng tử. Về sau một

số văn thần cũng đã được cất nhắc lên giữ các vị trí thân cận với vua và dần
thay thế các vị sư giỏi. Nhà nước cũng bước đầu phong cấp “hộ nông dân”
cho các tướng làm bổng lộc suốt đời. Với việc nắm giữ những vị trí quan
trọng trong triều đã chứng tỏ quan võ rất được coi trọng.
Nhìn chung nhà nước Đinh - Tiền Lê tuy đã tiến một bước quan trọng
trên con đường khẳng định nền độc lập dân tộc, nhưng vẫn còn rất đơn giản,
thể hiện sự quá độ sang một thời kì phát triển ổn định theo hướng phong kiến
hóa ngày càng vững chắc và mang đậm ý thức dân tộc.
Như vậy có thể thấy được rằng hoạt động tuyển chọn võ quan trước
thời Lý - Trần có ý nghĩa vô cùng to lớn, nó đã đáp ứng được yêu cầu to lớn
của lịch sử dân tộc đó là đánh bại giặc ngoại xâm xâm lược phương Bắc cũng
như bảo vệ được vững chắc nền độc lập tự chủ dân tộc. Công lao to lớn đó
thuộc về vai trò của võ quan tướng lĩnh mỗi triều đại, trong bất kỳ hoàn cảnh,
giai đoạn nào khi đất nước cần thì đều có người tài giỏi đứng ra gánh vác
trách nhiệm của dân tộc. Lịch sử dân tộc từ xưa tới nay đã minh chứng rất rõ
cho điều đó, ông vua nào lúc đầu cũng là những tướng võ giỏi như Ngô
Quyền, Đinh Bộ Linh hay sau này là Lê Hoàn. Thường ngày họ chỉ là những
võ quan bình thường nhưng khi dân tộc cần thì họ đã gánh vác trách nhiệm
của người làm chủ đất nước để giải cứu dân tộc thoát hỏi lầm than, nền độc
17


lập tự chủ được bảo vệ. Chính những công lao to lớn này mà việc đề cao coi
trọng vai trò của tầng lớp võ quan tướng lĩnh cao cấp không có gì khó hiểu cả.
Nhận thức được tầm quan trọng của bộ phận quan võ nên thời kỳ nào bộ phận
võ quan cũng được quan tâm đào tạo, huấn luyện… mặc dù trong thời kỳ
trước nhà Lý - Trần hoạt động tuyển chọn quan võ chưa có quy định quy chế
rõ ràng nhưng ta không thể phủ định được vai trò của bộ phận quan trọng này.
Có thể dễ dàng lý giải được điều này là bởi nước ta sau một nghìn năm Bắc
thuộc mới có thể giành được quyền độc lập tự chủ xây dựng một quốc gia độc

lập thống nhất nên tất cả mới chỉ là nền móng nên còn sơ khai chưa thể kiện
toàn cụ thể rõ ràng như các triều đại về sau. Mà chỉ có thể khẳng định rằng
càng các triều đại về sau thì càng đầy đủ cụ thể chặt chẽ hơn về mọi mặt.
1.2. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG TUYỂN CHỌN VÕ QUAN TRƢỚC
THỜI LÝ - TRẦN
Dân tộc ta sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh thường xuyên bị đe
dọa bởi thiên tai và địch họa, bởi vậy sẽ không thể tồn tại và phát triển được
nếu không có tinh thần yêu nước và khí phách anh hùng của toàn thể nhân
dân nhất là những quan võ tài giỏi. Trên nền tảng vật chất và tinh thần ấy
trong lịch sử dân tộc thường xuyên xuất hiện nhiều tài năng lỗi lạc đem thêm
niềm tin và sức mạnh cho nhân dân và cùng nhân dân vượt qua mọi khó khăn
và thử thách như Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn…
Họ chính là hiền tài của đất nước, nguyên khí của quốc gia thể hiện tinh thần
thượng võ, yêu võ trong họ. Khi quốc gia thành lập nhà nước ra đời các ông
vua đã bắt tay ngay vào xây dựng bộ máy nhà nước. Trong quá trình xây
dựng đó cần phải tiến hành tuyển chọn, đào tạo bỏ sung quan lại vào bộ máy
nhà nước. Quan võ chính là sức mạnh nền tảng của mỗi quốc gia, đất nước.
Họ trực tiếp nắm giữ trọng trách vai trò cao cả mà dân tộc giao phó đó chính
là bảo vệ đất nước, giữ gìn an ninh - quốc phòng. Quốc gia dân tộc có ổn định
18


để phát triển vững mạnh là nhờ công lao to lớn của đội ngũ quan võ cũng như
quan quân. Vì vậy dù ở triều đại nào thì đội ngũ võ quan cũng luôn được ra
sức tuyển chọn, huấn luyện và triều đại sau phát triển tổ chức quy củ hơn triều
đại trước. Do đó chất lượng võ quan được đào tạo càng về sau càng tài giỏi
thao lược hơn và đồng nghĩa với điều đó là càng ngày càng trưởng thành có
thể đánh bại được nhiều kẻ thù nguy hiểm hơn.
Đặc điểm thứ nhất là hoạt động tuyển chọn võ quan trước thời Lý -
Trần mang tính tự phát.

Đặc điểm này có thể khẳng định được ngay từ những triều đại đầu tiên,
bộ phận võ tướng rất được coi trọng, đề cao cụ thể đó là thông qua cuốn Đại
cương lịch sử Việt Nam của Trương Hữu Quýnh… đã viết: “Việc tuyển chọn
quan lại đương thời chưa có chế độ cụ thể. Những người nắm quyền chủ yếu
là võ tướng đã từng tham gia cuộc đánh dẹp các sứ quân hoặc là các hoàng
tử. Về sau một số văn thần cũng được cất lên giữ các vị trí thân cận với vua,
thay dần các vị sư giỏi. Nhà nước cũng bước đầu phong cấp “ hộ nông dân”
cho các tướng làm bổng lộc suốt đời” [4, 111]. Có thể thấy vai trò của võ
quan đặc biệt quan trọng, quan trọng hơn rất nhiều so với văn quan. Không
chỉ vậy họ còn được nhà nước trọng dụng đối xử hết sức ưu đãi khi được ban
cấp hộ nông dân để làm bổng lộc suốt cuộc đời. Vì những lẽ đó mà những võ
tướng binh lính giỏi càng ra sức cố gắng chiến đấu cống hiến cho hết sức
mình cho đất nước dân tộc nhằm bảo vệ, giữ gìn vững chắc nền độc lập tự
chủ. Để đi tới đặc điểm tuyển chọn một cách tự phát, tự giác không theo quy
định quy chế cụ thể nào là do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Khi nhà nước
chưa thực sự kiện toàn trọn vẹn thì tất cả những hoạt động ban đầu còn sơ
khai mới mẻ. Đồng thời khi bộ máy nhà nước, bộ mặt của quốc gia còn quá
đơn giản thì lịch sử cũng chưa cho phép đi tới những tiến bộ mang tính vượt
19


bậc đó là thông qua phép thi cử để lựa chọn ra người hiền tài cho đất nước
cũng như tuyển chọn quan võ cho triều đình.
Ngoài ra còn thông qua hoàn cảnh thực tế, để phân phong các chức
tướng, chẳng hạn như trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng thì hầu như không có
một tiêu chí nào để phong tướng. Đặc biệt hơn lại là tướng nữ (bởi thường chỉ
có tướng nam) nhưng dựa vào hoàn cảnh cụ thể lúc bấy giờ khi có rất nhiều
người phụ nữ tài giỏi đến đầu quân cho Hai Bà để cùng giúp sức giết giặc Tô
Định thì Hai Bà đã phong tướng cho rất nhiều người phụ nữ và giao cho họ
cầm quân chiến đấu. Thông qua thực tiễn chiến đấu lập công để phong tướng

thì đã mang tính khách quan hơn rất nhiều. Ngô Quyền là gia thần nhà họ
Khúc nhưng võ công giỏi nên trong cuộc khởi nghĩa của mình, Khúc Thừa Dụ
đã tin tưởng cử Ngô Quyền làm gia tướng nắm giữ cũng như chỉ huy đạo
quân chủ lực đánh giặc. Ngoài ra còn rất nhiều ví dụ trong lịch sử dân tộc có
thể minh chứng cho điều đó.
Như vậy có thể thấy đặc điểm của hoạt động tuyển chọn võ quan trước
thời Lý - Trần là tự phát, tự nhiên dường như chưa có quy định quy chế cụ thể
nào cả. Do đó chất lượng của đội ngũ võ quan đó không được cao như những
triều đại về sau. Mặc dù không được cao nhưng chúng ta cũng không thể phủ
nhận được vai trò của họ, dù không được đào tạo bài bản cũng như chọn lựa
cẩn thận kỹ lưỡng nhưng bộ phận quan võ vẫn làm tốt nhiệm vụ của mình đó
chính là bảo vệ vua quan, bảo vệ đất nước. Cũng như góp phần làm vẻ vang
lịch sử dân tộc ta khi đánh bại hầu hết các cuộc hành quân xâm lược từ
phương Bắc tràn xuống với âm mưu bành trướng mở rộng lãnh thổ như nhà
Nam Hán, nhà Tống… ở Trung Quốc. Với vai trò quan trọng đó đã làm cho
nhân dân ta có thể thoát khỏi thân phận bị áp bức, đô hộ.

20


Đặc điểm thứ hai là có sự bắt chước, làm theo mô hình mẫu Trung
Quốc.
Cụ thể đã có một vài sách cổ viết rằng dưới triều đại nhà Ngô, Ngô
Quyền châm trước theo chế độ của các triều đại phong kiến Trung Quốc mà
định quan chế triều nghi và phục sắc cho các quan văn võ. Tuy nhiên theo
tình hình nghiên cứu sử học hiện tại, chúng ta chưa biết rõ được nội dung của
các chế độ do nhà Ngô sáng lập là thế nào. Dù vậy thì ta cũng biết được rằng
các tướng sĩ có công trong cuộc chiến thắng thì được phong tước và cấp thái
ấp ví như Phạm Lệnh công được phong ở miền Nam Sách (Hải Dương). Bấy
giờ hào trưởng ở các địa phương cũng như tù trưởng ở miền thượng du hầu

hết quy phục chịu mệnh lệnh của Ngô Quyền. Ngay từ buổi đầu gây dựng
giang sơn thì những ông vua nước ta cũng đã thực hiện chính sách phong thưởng
cho những người có công để cổ vũ khích lệ tinh thần chiến đấu của họ.
Ở nước ta từ thời Đinh đã bắt đầu định chế giai phẩm quan văn, quan
võ cũng như đặt chức tướng quân. Trong đó Phạm Phòng Át có một giai đoạn
được cử làm Thân vệ tướng quân, hay Lê Hoàn ngoài chức Thập đạo tướng
quân thì còn kiêm giữ chức Điện tiền chỉ huy sứ dưới triều vua Đinh. Ngoài ra
còn có một đội ngũ đông đảo võ quan, tướng lĩnh tham gia vào cơ cấu chỉ huy
quân thập đạo. Mỗi tướng được chỉ huy một đạo quân riêng đóng quân ở các
đạo. Khi Lê Hoàn lên ngôi vua cũng đã cho kiểm duyệt quân ngũ. Triều đình
Tiền Lê được chia làm hai ban văn và võ. Trong ban võ có Phạm Cự Lạng giữ
chức Thái Úy, Tử Mục thì làm tướng quản tri quân dân sự, lĩnh tước hầu.
Năm 1006 Khai Minh Vương Lê Long Đĩnh lên ngôi đã cho sửa đổi quan chế
về văn võ nhất thiết theo mô hình nhà Tống. Bấy giờ Lý Công Uẩn được giữ
chức tứ sương quân phó chỉ huy sứ sau được thăng lên Tả thân vệ Điện tiền
chỉ huy sứ quản lý cấm quân. Như vậy bên cạnh việc phân phong danh tướng
một cách tự phát thì các triều đại phong kiến đầu tiên của Việt Nam cũng đã

×