BẢO HỘ TRI THỨC TRUYỀN THỐNG
1.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRI THỨC TRUYỀN THỐNG:
1.1 Lịch sử ra đời và khái niệm tri thức truyền thống:
Tri thức truyền thống là yếu tố đã có từ lâu đời, được xem là một yếu tố giúp phân
biệt các cộng đồng dân cư với nhau. Đối với vài cộng đồng, tri thức truyền thống còn tiếp
nhận các yếu tố cá nhân và yếu tố tâm linh, đồng thời phản ánh lợi ích của cả cộng đồng.
Nhiều cộng đồng dựa vào vốn tri thức truyền thống này để tồn tại và phát triển.
Khái niệm tri thức truyền thống có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tùy
thuộc vào từng cộng đồng khác nhau.
1
Mặc dù đã được nghiên cứu từ lâu, nhưng cho tới nay khái niệm về tri thức truyền
thống vẫn chưa được thống nhất. Nói cách khác, tri thức truyền thống được định nghĩa
theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào các lĩnh vực chuyên môn và theo các mục đích sử
dụng thuật ngữ khác nhau. Khái niệm tri thức truyền thống đã được Tổ chức Sở hữu trí tuệ
(SHTT) Liên hợp quốc (WIPO) nghiên cứu từ năm 1978, mặc dù ban đầu chỉ giới hạn ở
một loại tri thức truyền thống là "các hình thức thể hiện văn hóa dân gian" (Expressions of
Folklore), nhằm đưa ra thuật ngữ đầy đủ và chính xác về đối tượng này. Vào năm 1982,
"các quy định mẫu dành cho luật quốc gia về bảo hộ các hình thức thể hiện văn hóa dân
gian chống lại việc khai thác trái phép và những hành vi xâm phạm khác" đã được WIPO
phối hợp với Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) soạn
thảo và công bố, trong đó có định nghĩa về "các hình thức thể hiện văn hóa dân gian". Đến
nay thuật ngữ "tri thức truyền thống" không chỉ giới hạn ở "các hình thức thể hiện văn hóa
dân gian" mà còn bao gồm các đối tượng khác như tri thức bản địa, kiến thức cổ truyền,
kinh nghiệm dân gian... Để thống nhất về cách dùng thuật ngữ, trong Báo cáo về các cuộc
khảo sát về SHTT và tri thức truyền thống (1998-1999), dưới góc độ SHTT, WIPO đã định
nghĩa "tri thức truyền thống" là các sản phẩm văn học, nghệ thuật hoặc khoa học dựa trên
truyền thống; sự biểu diễn; các sáng chế; các phát minh khoa học; các kiểu dáng; các nhãn
hiệu, tên và biểu tượng; các thông tin bí mật; và tất cả các sáng kiến hoặc sản phẩm sáng
tạo khác là thành quả của hoạt động trí tuệ dựa trên truyền thống trong các lĩnh vực công
1
/>1
nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghệ thuật. Cụm từ "dựa trên truyền thống" được hiểu là
các hệ thống tri thức, các sản phẩm sáng tạo, sáng kiến và các hình thức thể hiện văn hóa
được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thường thuộc về hoặc gắn liền với một
nhóm người cụ thể hoặc vùng lãnh thổ cụ thể nơi nhóm người đó sinh sống, được phát
triển thường xuyên để thích nghi với môi trường biến đổi. Theo khái niệm này, thuật ngữ
"các hình thức thể hiện văn hóa dân gian" được hiểu là những sản phẩm chứa yếu tố đặc
trưng của di sản nghệ thuật truyền thống của cộng đồng. Các hình thức thể hiện văn hóa
dân gian này có thể dưới dạng ngôn ngữ (truyện, thơ, câu đố dân gian...); âm nhạc (các bài
hát dân gian, âm nhạc truyền thống...); động tác (múa dân gian, động tác thực hiện nghi
lễ...) hoặc các dạng thể hiện hữu hình khác (các tác phẩm hội họa, điêu khắc, nghệ thuật
tạo hình, sản phẩm thủ công mỹ nghệ...) và các tài sản văn hóa vật thể khác. Ngoài khái
niệm về tri thức truyền thống của WIPO, một số nước cũng có các quy định riêng về thuật
ngữ tri thức truyền thống. Một cách khái quát có thể hiểu: tri thức truyền thống là hệ
thống tri thức mà người dân ở một cộng đồng tích lũy và phát triển dựa trên kinh nghiệm,
đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn và thường xuyên thay đổi để thích nghi với các môi
trường văn hóa, xã hội.
1.2 Nhận dạng tri thức truyền thống
Tri thức truyền thống, nguồn gen và văn hóa dân gian là tài sản văn hóa – kinh tế của
người dân bản địa, địa phương nói riêng và của một quốc gia nói chung. Ba thành tố này
thường bện chặt vào nhau trong đời sống hàng ngày ở các cộng đồng. Ví dụ, một bài thuốc
chữa trị vết thương truyền thống có thể liên quan đến một cây thuốc được sử dụng theo
một công thức lưu truyền qua nhiều thế hệ và dần dần trở thành một phần của nghi lễ văn
hóa. Vậy ta cần tìm hiểu như thế nào là tri thức truyền thống, văn hóa dân gian và nguồn
gen. Việc nhận dạng và phân biệt ba thành tố này là yếu tố quan trọng trong việc hướng
đến và tiếp cận các cách thức bảo hộ đối với tri thức truyền thống.
1.2.1 Văn hóa dân gian (Folklore):
Văn hóa dân gian là một bộ phận không thể tách rời của nên văn hóa và là bản sắc đặc
trưng của cộng đồng bản địa, là biểu hiện của những kỹ năng và tri thức tuyệt vời của
2
người dân bản địa, không những thế nó còn có giá trị lưu truyền và thể hiền lòng tín
ngưỡng của họ.
Văn hóa dân gian bao gồm như:
• Ngôn ngữ (như truyện dân gian);
• Nghệ thuật, biểu tượng, dấu hiệu đặc trưng của dân tộc.
• Âm nhạc (như các bài hát dân gian, âm nhạc truyền thống, kịch hoặc tuồng);
• Hoặc các dạng hữu hình khác (như các tác phẩm hội hoạ, điêu khắc, nghệ thuật tạo
hình, sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đồ mây, may vá, vải vóc, thảm, trang phục, dụng
cụ âm nhạc và các loại hình kiến trúc khác),
• Và các tài sản văn hóa vật thể khác.
1.2.2 Nguồn gen (Genetic resources):
“Các nguồn gien” được định nghĩa trong điều 2 của Công ước Đa dạng sinh học là “phần
tử gien mang lại giá trị thực tế hoặc tiềm năng”. Phần tử gien được coi là bất kỳ loại vật
chất nào của cây trồng, động vật, vi khuẩn hoặc từ bất kỳ loại vật thể nào chứa đựng chức
năng di truyền.
Theo Luật Đa dạng sinh học ban hành năm 2008 của Chính phủ Việt Nam định nghĩa rằng:
Nguồn gen là vật liệu di truyền có giá trị thực tế hay tiềm năng. Và tri thức truyền thống
nguồn gen là kiến thức, các sáng kiến và thói quen của cộng đồng địa phương và bản địa
kiên quan tới việc sử dụng, sỡ hữu, giá trị và chế biến bất kỳ nguồn gen và tài nguyên sinh
học hay bất kỳ bộ phận nào của chúng.
1.2.3 Tri thức truyền thống( Traditional Knowledge):
Theo định nghĩa của WIPO: “Tri thức truyền thống” được hiểu là các hệ thống tri thức, sản
phẩm sáng tạo, sáng kiến và được thể hiện dưới hình thức văn hóa dân gian được lưu
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thường thuộc về hoặc gắn liền với một nhóm người
cụ thể hoặc một vùng lãnh thổ cụ thể nơi nhóm người đó sinh sống.
Tri thức truyền thống thể hiển rất đa dạng như lương thực và thực phẩm, bài thuốc dân
gian, bảo tồn đa dạng sinh học & môi trường sống, các phương thức giao lưu thương mại
và phát triển kinh tế.
Trong đó, các bài thuốc y học cổ truyền dân tộc là những “nguồn tri thức cổ truyền” đã
chứng tỏ công hiệu cao trong trị bệnh cứu người nhiều thế kỷ qua.
3
Đặt vấn đề:
Vấn đề đặt ra đó là làm sao để bảo tồn, bảo vệ và chia sẻ nguồn lợi khi khai thác thương
mại đối với tri thức truyền thống, văn hóa dân gian và nguồn gen nói chung và tri thức
truyền thống nói riêng. Vấn đề này dần trở thành một tâm điểm chú ý của các diễn đàn
quốc tế.
2. NHỮNG CÁCH THỨC BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CHO NHỮNG
NGƯỜI NẮM GIỮ TRI THỨC TRUYỀN THỐNG Ở MỘT SỐ NƠI TRÊN THẾ
GIỚI:
Mỗi một đất nước khác nhau, dân tộc khác nhau đều có một cách tiếp cận riêng và
cách thức bảo hộ riêng về tri thức truyền thống. Điều này có thể được lý giải ở 2 vấn đề cơ
bản: điều kiện tự nhiên, xã hội sẽ quyết định đối tượng tri thức truyền thống được hướng
đến bảo hộ và mức độ tri thức truyền thống bị xâm hại dẫn đến gây bất lợi cho những
người nắm giữ sẽ quyết định sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật quốc gia sở tại. Việc tìm
hiểu các cách thức, thực tế bảo hộ tri thức truyền thống thông qua các trường hợp cụ thể đã
phát sinh trên thực tế trở nên cần thiết trong việc học hỏi cũng như rút ra những bài học
hướng đến việc bảo hộ tri thức truyền thống tại các dân tộc, cộng đồng bản địa tại các quốc
gia còn nghèo và trên đà phát triển
2.1 Thông qua bằng sáng chế.
Bằng sáng chế mang đến quyền độc quyền việc sử dụng, sản xuất và bán một sáng chế
hoặc một đổi mới trong một khoảng thời gian cụ thể (thường là 20 năm). Quyền độc quyền
là quyền được kiểm soát người khác sử dụng, phát triển và hưởng những lợi ích kinh tế từ
sáng chế. Trong phần này, tâm điểm chủ yếu sẽ xoay quanh công cụ bảo hộ chủ yếu và hữu
hiệu trong việc bảo vệ tri thức truyền thống đó là bằng sáng chế.
Có một vài khía cạnh tiêu cực tiềm tàng ở luật quy định về bằng sáng chế. Trước tiên,
việc xin cấp một bằng sáng chế yêu cầu phải công bố thông tin đầy đủ về sáng chế. Ngay
sau khi bằng sáng chế được cấp, bằng sáng chế phải được ứng dụng trong cộng đồng. Ví
dụ tại Hoa Kỳ, một bằng độc quyền phải được công bố trong vòng 18 tháng, sau khi được
phê duyệt. Thứ hai, các sáng chế phải có tính mới so với những giải pháp kỹ thuật tiêu
4
chuẩn. Người nộp đơn xin cấp bằng sáng chế phải chứng minh rằng sáng chế của họ không
phải là một phần của các sáng chế hiện đã được sử dụng hay được công nhận bởi bất cứ
pháp luật của quốc gia nào… Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia, sáng chế dựa trên tri thức
truyền thống được bảo hộ. Đó là những sáng chế dựa trên một phần tri thức đã được sử
dụng trước trên thực tế. Thứ ba, điều quan trọng cần lưu ý là quá trình xin cấp một bằng
sáng chế có thể hao tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc. Chẳng hạn như để có được một
bằng sáng chế ở Hoa Kỳ, chi phí trung bình ước tính khoảng 5.000 USD - 10.000 USD
hoặc cao hơn. Ngoài ra, một khi bằng sáng chế được cấp, sẽ là trách nhiệm đối với người
nắm giữ bằng sáng chế trong việc chống lại hành vi vi phạm bằng sáng chế từ những người
khác.
Sau đây là một vài ví dụ về việc cấp bằng sáng chế bảo hộ tri thức truyền thống ở Mỹ.
Ví dụ 1:
Bài học từ Maca ở Mỹ.
Đáp ứng những yêu cầu về tính mới của một bằng sáng chế có thể không khó khăn như
mọi người vẫn nghĩ. Trường hợp duy nhất mà việc xin cấp bằng sáng chế có thể bị từ chối
xét theo tiêu chí tính mới là liệu một người nào đó đã ghi nhận kiến thức này trước đây hay
chưa - ngay cả khi nó đã tồn tại trong nhiều thế kỷ.
Ví dụ, mặc dù thực tế rằng Maca (Lepidium meyenii – tên một loại cây được chứng minh
là có giá trị dinh dưỡng cao, làm tăng hiệu suất sinh sản và tình dục) đã được sử dụng bởi
tộc người Inca cho mục đích sinh sản nhiều thế kỷ trước khi nó được mang đi xin cấp bằng
sáng chế ở Mỹ, người giám định bằng sáng chế vẫn xác định trường hợp trên là có tính
mới và được bảo hộ theo phương thức bảo hộ không tự động.
Giả sử rằng không hề tồn tại một tài liệu nào ghi nhận việc sử dụng Maca của người
Inca. Khi đó, bằng sáng chế trên vẫn có thể được cấp bất chấp thực tế rằng tri thức đó đã
được biết đến từ hàng trăm năm trước. Điều này có nghĩa rằng nếu các kiến thức truyền
5
thống không còn tồn tại trong cộng đồng và không được ghi nhận dưới bất cứ một văn bản
nào thì người ta có thể ứng dụng nó như một bằng sáng chế dù nó là một tri thức đã được
sử dụng trước. Yếu tố quan trọng để bác bỏ tính mới là sự tồn tại của các văn bản ghi nhận
về tri thức. Nếu không có văn bản nào, tri thức đó có thể được xem là có tính mới tại Mỹ.
Giả sử rằng tài liệu ghi nhận về tri thức là có tồn tại, có trường hợp nào vẫn được cấp
bằng sáng chế và tại sao? Đơn xin cấp bằng sáng chế phải thỏa mãn một cách đầy đủ định
nghĩa của tính mới. Ở trường hợp này, việc sử dụng Maca một cách độc lập để tăng cường
khả năng sinh sản là không đủ cho các tiêu chí đặt ra trong định nghĩa tính mới. Người xin
cấp bằng sáng chế phải chứng minh được sự kết hợp giữa Maca và một thứ khác, trong
bằng sáng chế trên là nhung hưu, để được cấp bằng sáng chế. Nhung hươu cũng được biết
đến là một loại yếu tố có ích trong việc tăng cường khả năng sinh sản, nhưng không hề
được sử dụng trước như một sự kết hợp giữa Maca và nhung hưu như trên.
Bài học rút ra từ ví dụ trên là gì?
Môt khi tri thức đã được bộc lộ một cách công khai, nó sẽ không được công nhận như
một sáng chế, trừ phi có một sự kết hợp mới. Bằng cách kết hợp những tri thức đã biết theo
cách độc đáo, riêng biệt, tri thức đó có thể đáp ứng được những tiêu chuẩn về tính mới cho
một bằng sáng chế. Nếu tri thức còn chưa được bộc lộ, mới hoàn toàn, thì ghi nhớ rằng
một bằng sáng chế bảo hộ cho sự kết hợp sẽ không bao gồm việc bảo hô các yếu tố cấu
thành. Do đó, việc sử dụng một thành phần sẽ không bị coi là vi phạm sáng chế.
Từ trường hợp trên, ta có thể rút ra được những nét chung nhất về cách thức bảo hộ tri
thức truyền thống trong luật Sở hữu trí tuệ của Hoa kỳ. Theo đó, một tri thức truyền thống,
muốn được bảo hộ tại Hoa kỳ, phải chứng minh rằng chưa hề có một tài liệu nào ghi nhận
về tri thức đó trước đó. Nghĩa là nếu một tri thức đã được cộng đồng sử dụng một cách
rộng rãi nhưng họ chưa lưu giữ, ghi nhận tri thức đó trong bất cứ một dạng tài liệu nào
nhất định thì người khác vẫn có thể xin cấp bằng sáng chế về tri thức của cộng đồng đó
được. Trong trường hợp tri thức đã được cộng đồng ghi nhận, người xin cấp bằng sáng chế
phải chứng minh tính mới trong sử dụng tri thức truyền thống, có thể là một sự kết hợp
mới… để được cấp bằng.
2.2 Giống cây trồng.
6
Ví dụ sau đây cũng là một minh chứng cho cách thức bảo hộ tri thức truyền thống của
Hoa kỳ: một tri thức được bảo hộ khi chưa có một tài liệu nào ghi nhận rằng tri thức đã tồn
tại trước đó.
Năm 1984, Loren Miller, người sáng lập công ty International Plant Medicine, nộp đơn
đăng ký bảo hộ "giống mới và khác biệt ...của loài cây caapi banisteriopsis”. Ông phát
hiện ra giống cây này khi nó được trồng trong vườn của một người dân ở rừng Amazon,
được gọi là "Da Vine”.
Theo các ứng dụng của mình, Miller dự định phát triển "các giá trị chữa và điều trị
bệnh ung thư và tâm thần".
Bằng sáng chế này được phê duyệt sau đó vào năm 1986.
Trong lịch sử và truyền thống của các dân tộc ở lưu vực Amazon, Banisteriopsis caapi
giữ một vai trò quan trọng về mặt tôn giáo và y học. Trong nhiều thế kỷ, vỏ của loại cây
này được người dân sử dụng để làm thành nước ayahuasca phục vụ trong những nghi lễ
thiêng liêng truyền thống và chữa bệnh. Theo Quechua, một ngôn ngữ bản địa của Mỹ
Latin, ayahuasca có nghĩa là "cây của tâm hồn”.
Cây này không phải là phát minh theo đúng nghĩa của từ đó, mà thực ra là một sự "phát
hiện". Do không có một tài liệu trước đây về loại cây này, cây này đã đáp ứng các tiêu
chuẩn về tính mới và được cấp bằng sáng chế tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, thực tế là loại cây
này đã được sử dụng trước. Điều đó đã dẫn đến rất nhiều tranh cãi, có cả yêu cầu kiểm tra
lại bằng sáng chế này của cộng đồng địa phương Amazon, nhưng cuối cùng thì bằng sáng
chế không bị bác bỏ, và tiếp tục cho đến khi hết hạn vào ngày 17 tháng sáu năm 2003.
Cũng từ ví dụ trên mà chúng ta rút ra một cách thức bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với
tri thức truyền thống cho các cộng đồng dân tộc. Nếu cộng đồng có một giống cây trồng
nào đó chưa hề được cấp xác nhận theo tiêu chuẩn sở hữu trí tuệ phương tây, mà họ tin
rằng các giống cây này có thể được chứng minh là có tính mới theo những tiêu chuẩn nhất
định thì bằng sáng chế về bảo hộ giống cây trồng là một cách khả thi cho việc bảo hộ sở
hữu trí tuệ.
Ví dụ thứ ba:
7