Tải bản đầy đủ (.docx) (29 trang)

LỊCH SỬ ĐÔ THỊ CỔ ĐẠI ĐẾN ẤN ĐỘ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.74 MB, 29 trang )

BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA ĐÔ THỊ
Loài người xuất hiện trên trái đất từ khoảng hơn 3 triệu năm trước đây. Trong quá trình
tiến hóa, lao động đã từng bước cải tiến, hoàn thiện con người và tổ chức xã hội. Từ
chỗ phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, người tiền sử dần dần đã biết tận dụng và khai
thác những yếu tố thuận lợi của thiên nhiên để tạo cho mình chỗ cư trú cố định, chống
lại những bất lợi của thiên nhiên, tạo tiền đề phát triển các hình thức định cư lâu dài ở
giai đoạn sau.
Quần cư cố định xuất hiện từ thời kì đồ đá cách đây 4 vạn năm, khi con người
chuyển sang hình thức tổ chức xã hội kiểu xã hội thị tộc (tổ chức cơ sở của xã hội
nguyên thủy gồm nhiều gia đình lớn có cùng 1 nguồn gốc và kinh tế chung) Trong đó,
nông nghiệp và chăn nuôi là hoạt động sản xuất chính của con người ~> nhu cầu định
cư.
Làng tiền sử xuất hiện: tập hợp những ngôi nhà ở đơn sơ làm bằng vật liệu sẵn có
(thảo mộc) gần nguồn nước, có hàng rào bảo vệ, xung quanh là khu vực canh tác. Ngôi
nhà có không gian chức năng chính là bếp và nơi ở của nữ giới, bên cạnh là nơi ở của
nam giới, nơi làm kho thực phẩm, chứa công cụ sản xuất. Ngoài ra còn có khu vực dàh
cho gia súc.Nhà được đặt độc lập hoặc xếp liền dãy dọc theo các lối đi hướng về
khoảng đất rộng trung tâm có ngôi nhà của tộc trưởng. ~> có ý thức xây dựng và
thiết kế.
Khi sản xuất thủ công và trao đổi buôn bán phát triển tách khỏi và chi phối hoạt
động sản xuất nông nghiệp thì đô thị hình thành. Kết quả nghiên cứu cho thấy hình
thức tổ chức quần cư dưới dạng đô thị đầu tiên của loài người hình thành khoảng 9000
năm trước CN. Sự dư thừa sản phẩm nảy sinh tư tưởng chiếm hữu và tập trung quyền
lực đã đưa đến việc hình thành giai cấp ~> mô hình đô thị - hình thức tổ chức quần cư
mới – để tổ chức lại trật tự xã hội – xã hội chiếm hữu nô lệ ~> nhà nước ra đời. Một số
điểm dân cư khi chưa có đô thị: Kax-ten-lat-xô và Bix-cu-pin-xki. Những thành phố
này gánh vác hai chức năng chính: buôn bán trao đổi sản phẩm và là thành lũy để chủ
nô lệ củng cố địa vị của mình.
Đô thị ban đầu chịu ảnh hưởng tực tiếp của vùng nông nghiệp bao quanh, sau phát
triển chi phối, thống trị các vùng nông thôn và trở thành trung tâm chính của vùng và
của quốc gia. Đô thị chính là động lực phát triển của xã hội và là nơi diễn ra quá trình


tiến hóa của văn minh nhân loại.
Quá trình hình thành và phát triển chế độ chiếm hữu nô lệ trên thê giới diễn ra tùy
theo điều kiện cụ thể của từng khu vực, sớm nhất là khoảng 3500 trước CN ở khu vực
Bắc Phi với Ai Cập cổ đại, sau đó là khu vực Lưỡng Hà (Mesopotamie), Tây Á, Châu Á,
Châu Mĩ, và kết thúc ở La Mã (Rome) cổ đại vào thế kỉ V.
Hầu hết các quốc gia cổ đại đều hình thành và phát triển tại những vùng đồng bằng lưu
vực các con sông lớn, nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp,
ngư nghiệp, chăn nuôi, thủ công nghiệp và thương nghiệp.
Lưu vực sông Nile ở Đông Bắc Châu Phi với nền văn minh Ai cập
Vùng Tây Á, giữa hai con sông lớn là Tiger và Eufrates là nền văn minh cổ đại
Babylon, Assyrie
Ở lưu vực sông Hằng (Gange) và sông Ấn (Indus), có nền văn minh Nam Á cổ đại
với Ấn độ là đại diện
Ở lưu vực sông Hoàng Hà, Dương Tử (trường giang) ở Đông Á là nơi xuất hiện của
nền văn minh Trung Quốc cổ đại.
Đặc điểm chung, các cấu trúc chức năng và không gian đô thị ở hầu hết các khu vực và
quốc gia cổ đại trên thế giới tương đối thống nhất.
Cấu trúc đô thị phản ánh rõ nét sự phân chia giai cấp trong xã hội thông qua việc phân
khu chức năng và sự khác biệt về hình thái kiến trúc từng khu vực chức năng tương
ứng.
Một bên là khu vực dành cho tầng lớp chủ nô, một bên là khu vực của người nô lệ. Sự
khác biệt duy nhất của các đô thị thông qua sự ảnh hưởng của tôn giáo trong quá trình
thiết kế và sử dụng đô thị. Sự khác biệt khác thể hiện ở ngôn ngữ biểu hiện kiến trúc và
vật liệu xây dựng khác nhau ở mỗi vùng miền.
AI CẬP
Những thành phố cổ đại Ai cập ra đời sớm, vào khoảng 3000 năm TCN.
Vương quốc Ai Cập cổ đại hình thành vào thiên niên kỉ thứ III TCN ở tam giác châu thổ
sông Nil vùng Đông Bắc Châu Phi, giữa hai biển Địa Trung Hải và Hồng Hải, là đầu mối
giao thông quan trọng giữa 3 châu lục Á, Âu, Phi, giữa hai rặng núi và sa mạc Lybia. Có
khí hậu nóng khô, ít mưa, nắng chan hòa.

Ai Cập chia ra làm 3 đoạn lịch sử. Mỗi giai đoạn có đặc điểm đô thị khác nhau.
Thời kì Cổ vương quốc (3500 – 2000 TCN)
Địa điểm phát triển chính là khu tam giác châu thổ phía Bắc, với thủ đô là Memphis
được xây dựng khoảng 3500 năm TCN ở vị trí giáp ranh giữa vùng Thượng và Hạ Ai
Cập.
Thời kì cổ vương quốc thường được gọi là “thời đại của Kim Tự Tháp” vì số lượng
rất lớn Kim Tự Tháp được xây dựng vào thời gian này. Ở vùng hạ lưu sông Nil, nhiều
đô thị dạng đồn trại quân sự được hình thành. Kiến trúc đô thị của thời kì này có quy
mô hoành tráng, chủ yếu là các công trình lăng mộ - kim tự tháp và các đền thờ thần.
Thời kì Trung vương quốc (2000 – 1590 TCN)
Lãnh thổ mở rộng xuống phía Nam, hoạt động xây dựng chủ yếu tập trung xung quanh
thủ đô Thebes. Thương mại và các nghề thủ công phát triển mạnh đã góp phần thúc
đẩy sự phát triển mạnh mẽ của các đô thị, đặc biệt là hệ thống các đô thị - đồn trú học
theo biên giới phía Nam của Ai Cập. Nhiều thành phố được xây dựng theo thiết kế như
Tesba, Cumes và Semm, điển hình là thành phố Kahun được xây dựng vào thế kỉ XIX
TCN.
Thành phố Kahun có dạng hình chữ nhật, tường gạch xây bao quanh, cạnh dài hướng
theo đường đi của mặt trời. Trong thành chia ra làm hai phần, một ở phía Tây dành cho
nô lệ có kích thước 260x105m, gồm 250 nếp nhà nhỏ xây bằng đất nện. Nhà nô lệ xây
giống nhau, hình thức thô sơ, cho thấy họ sống chẳng khác gì nô lệ trong trại tập trung.
Khu phía Đông lớn hơn chia làm hai phần Nam và Bắc. Phần Bắc (diện tích bằng khu
nô lệ) dành cho quý tộc, gồm khoảng 10-11 ngôi nhà có sân trong lớn. Kiểu nhà lớn
nhất có khoảng 70 phòng lớn nhỏ. Có nhà 2 tầng, cầu thang lên tầng mái. Vật liệu xây
dựng tường là đá liên kết bằng vữa. Mặt bằng thường hình vuông, đối xứng, có trục
nên ảnh hưởng chung đến mặt bằng thành phố, hình thành bố cục chung vuông vắn.
Phía Tây khu Bắc này là Hoàng cung. Phần phía Nam là khu vực dân trung lưu, tách
rời với khu quý tộc bởi 1 con đường chạy dọc từ Đông sang Tây. Nhà ở Kahun có hình
thức phù hợp với điều kiện nhiệt đới, dùng mái bằng để sinh hoạt chung và ngủ, dùng
sân trong làm nghề thủ công, phòng mát mẻ do tổ chức thông gió với hình thức kiến
trúc gắn với mái gọi là mun-gat.

Thời kì Tân vương quốc (1590 – 332 TCN):
Thành phố Thebes tiếp tục được chọn làm thủ đô của Ai Cập. Ngoài các kim tự tháp,
Pharaon Ahmosin còn cho xây dựng nhiều tổng thể kiến trúc các đền thờ quy mô lớn.
Phía đối diện khu vực dân cư – tả ngạn sông Nil là khu vực lăng mộ - ở đây được xây
dựng dựa vào các núi đá tự nhiên.
Tôn giáo của Ai Cập cổ đại có ví trí quan trọng trong đời sống xã hôi, trong đó quan
trọng nhất là hệ thần Mặt Trời và thần Mùa màng nông nghiệp. Thần Mùa màng nông
nghiệp là hiện thân của dòng sông Nile. Đặc biệt là người Ai Cập cổ đại tin vào cuộc
sống vĩnh hằng sau cái chết (từ đó hình thành tục ướp xác – thể xác con người được
giữ nguyên vẹn sau khi chết chính là để cho linh hồn vĩnh cữu có chỗ trở về trú ngụ).
Từ quan niệm có thế giới vĩnh hằng của linh hồn sau khi chết, có thế giới thiêng liêng
của thần linh và có thế giới tạm thời của người sống, cấu trúc đô thị Ai Cập cổ đại
bao gồm ba thành phần riêng biệt, có hình thức kiến trúc, ngôn ngữ bố cục không
gian quy hoạch hoàn toàn khác nhau. Đó là khu cư trú (khu vực dành cho người
sống), khu lăng mộ (khu vực dành cho người chết) và khu đền thờ (khu vực dành cho
các thần linh).
Giữa các khu vực không có liên hệ trực tiếp, chúng thường ở vị trí cách xa nhau, nhất
là giữa khu của người sống và các khu dành cho người chết và thần linh. Kết quả là
mỗi khu như một “thành phố” riêng biệt, khép kín nằm trong một thành phố chung.
Trong ba khu vực, khu lăng mộ và khu đền thờ được người Ai Cập đặc biệt chú trọng.
Nó là thành phần chính, có quy mô rất lớn tương phản với khu cư trú, chế ngự toàn
cảnh không gian đô thị và làm nên đặc trưng hình thái không gian đô thị Ai Cập cổ đại.
- Các công trình lăng mộ (thành phố cho người chết):
• Kim tự tháp cùng với tượng nhân sư, cột tháp đều có quy mô lớn, được tổ chức
thành một quần thể theo nguyên tắc bố cục đối xứng nghiêm ngặt để tránh thành
khu vực tín ngưỡng thiêng liêng và đặc trưng nhất của người Ai Cập cổ đại.
• Vì mục đích hướng tới sự vĩnh hằng mà người Ai Cập cổ sử dụng phổ biến một loại
vật liệu bền vững là đá với kích thước lớn để xây dựng các công trình có quy mô
khổng lồ như kim tự tháp, thượng nhân sư và cột tháp
• Tính hoành tráng của công trình nằm ngoài nhận thức của thông thường của con

người về tỷ lệ không gian.
• Có sự phân cấp trong xây dựng, chia rõ đối tượng chủ yếu và thứ yếu.
- Khu vực đền thờ thần cổ đại:
• Quần thể các đền thờ được bao bọc bởi tường thành kiên cố, có cổng chính mở về
hướng sông Nil tạo thành một quần thể độc lập khép kín trong thành phố. Bên
trong tường thành còn có nhiều công trình phụ trợ khác phục vụ mọi nhu cầu tồn tại
của khu đền thờ. Đó là kho chứa, xưởng thủ công, nhà ở của giới tăng lữ và nhà ở
của một bộ phận nông nô.
• Đền thờ chính là công trình trọng tâm của tổng thể có quy mô kiến trúc lớn nhất,
chế ngự tổng thể không gian. Nguyên tắc đối xứng dựa trên một trục chính được
áp dụng trong bố cục tổng thể. Trên trục chính, từ cổng thành vào là các lớp không
gian sân kế tiếp các công trình và cuối cùng là ngôi đền thờ chính kết thúc trục
không gian tổng thể.
• Đền thờ thường có một cái cửa lớn, đường bệ và phù hợp với tính chất của các
nghi lễ tôn giáo. Phần quan trọng thứ hai của đền là khu vực nội bộ của đại điện.
Đây là nơi vua tiếp nhận sự sùng bái. Đôi khi, đền còn được bao quanh bởi bức
tường thành, ở đây có trổ một cửa gọi là tiền tháp môn (propylon), sau đó là một
con đường lát đá, rộng 34 m, dài khoảng 140 m, hai bên đặt những con Sphinx,
tiếp đến là các tháp bia, tượng vua và tháp môn. Các tượng nhân sư, tượng thần
và cột tháp có quy mô lớn đặt dọc trục có tác dụng định hướng không gian đối với
các tín đồ và nhấn mạnh ý nghĩa linh thiêng của đền thờ, nhất là của đền thờ chính.
- Khu vực cư trú của dân đô thị:
• Khu cư trú của dân cư – số đông nô lệ: Nhà ở ba gian, vật liệu xây dựng là lau sậy
và đất sét, mái bằng; quy mô các công trình nhỏ, kiến trúc đơn giản và cách bố cục
tự do với mật độ xây dựng cao.
• Khu cư trú của tầng lớp thống trị: công trình có quy mô lớn, có bố cục chặt chẽ.
- Quan lại: tường gạch cao, mở ba cửa quay ra phố.
- Lâu đài, dinh thự của Pharaon: vật liệu dùng cột gỗ, tường gạch, dầm gỗ,
mái bằng và trong nhà có trang trí tranh tường. Các cung điện của nhà vua
có quy mô lớn, nhấn mạnh trục dọc, bên trong các phòng có nhiều cột, ngoài

trục dọc còn có thể có trục phụ. Gỗ làm cung điện, Ai Cập không có mà
được vận chuyển từ Syrie tới.
Thành phố Memphis
Memphis là thủ đô đầu tiên của Hạ Ai Cập, và thủ đô của Ai Cập từ khi thành lập cho
đến khoảng năm 2200 trước Công nguyên. Thành sơ khai có hình chữ nhật, trong quá
trình phát triển, nhiều trung tâm trong thành phố lần lượt được xây dựng trên chiều dài
5km. Trung tâm là nơi tập trung những cung điện, dinh thự của Pharaoh, nơi làm việc
của chính quyền, nơi ở của các quý tộc, chủ nô, ngoài ra còn có những khu vực đền
thờ các thần. Cách biệt với trung tâm thàh phố là khu lăng mộ của các triều đại
Pharaoh kế tiếp. Thành phố này rộng và được xây dựng kiểu dàn trải. Bao gồm nhà
một tầng mái bằng, nhà giàu thì có tháp không cao để ban đêm tránh muỗi.
Thành phố Thebes
Hình thành quần thể kiến trúc trong khu vực thành phố và lân cận như bao thành phố
khác, bao gồm cung điện, nhà dân, đên đài, lăng tẩm nằm trong một khu vực để dễ cai
trị và quản lý, tổ chức xây dựng….
Có ba loại nhà chính sau :
- Nhà ở ba gian, vật liệu xây dựng là lau sậy và đất sét, mái bằng.
- Nhà cho quan lại, tường gạch cao, mở ba cửa quay ra phố.
- Loại lâu đài, dinh thự có ao cá, vườn cây phía trước, vật liệu dùng cột gỗ, tường gạch,
dầm gỗ, mái bằng và trong nhà có trang trí tranh tường.
- Các cung điện của nhà vua có quy mô lớn, nhấn mạnh trục dọc, bên trong các phòng
có nhiều cột, ngoài trục dọc còn có thể có trục phụ. Gỗ làm cung điện, Ai Cập không có
mà được vận chuyển từ Syrie tới.
Khu Al Karnak, tên một làng ở Thượng Ai Cập, được dùng để gọi phần phía bắc của
các tàn tích còn lại của Thèbes cổ, ở hữu hạn sông Nil.
Khu Louxor tên một thị trấn ở Thượng Ai Cập, nằm ở hữu ngạn sông Nil, nơi có các di
tích ở phần phía Nam của thành Thèbes cổ. Đền ở Louxor thờ thánh Amon.
Khu Medinet Habou, di tích khảo cổ học Ai Cập là phần phía Nam của miền Tây thành
Thèbes cổ. Kiến trúc chủ yếu là ngôi đền Pamsès III (1198 - 1166 Tr.C.N).
Thung lũng Đế Vương là khu di tích khảo cổ Ai Cập ở Tây Bắc thành cổ Thebes, sau

các ngọn đồi Deirel Bahari; mộ chôn các Pharaon thuộc các triều đại XVIII, XIX và XX
(1530 - 1085 Tr.C.N).
ĐÔ THỊ CỔ ĐẠI Ở KHU VỰC TÂY Á
Điều kiện tự nhiên, khí hậu thuận lợi đối với việc phát triển nông nghiệp và chăn nuôi.
Lại có vị trí địa lý giao lưu thuận lợi với bên ngoài để phát triển thủ công và thương
nghiệp ~> vừa thúc đẩy phát triển nền văn minh ở khu vực thông qua vai trò quan
trọng của các đô thị, nhưng cũng là nguyên nhân gây nên các cuộc xung đột, chiến
tranh giành lãnh thổ ~> vùng Tây Á là nơi diễn biến lịch sử phức tạp và khó thống nhất
về lãnh thổ.
Đặc điểm chính của văn minh Tây Á:
- Sản xuất thủ công nghiệp và thương mại trên cơ sở nông nghiệp và giao lưu
xuất hiện sớm ở các thành phố ~> thành phố trở thành quốc gia thành bang
độc lập - vai trò trung tâm kinh tế chính trị của quốc gia
- Phát triển kinh tế ~> phân hóa xã hội. Gồm: chủ nô, tăng lữ, cư dân tự do,
và nô lệ. Đông nhất là cư dân tự do
- Có nhiều thành tựu khoa học kĩ thuật
- Tôn giáo giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh (Đa thần giáo ~> đơn
thần ~> do thái) Công trình tôn giáo là một thành phần của tổng thể, giữ vai
trò là công trình chính tạo ra trung tâm đô thị và chiếm ưu thế về không gian.
- Chính trị chuyên chế ~> kết hợp vương quyền và thần quyền ~> sức
mạnh tập trung quyền lực của chính quyền quân chủ chuyên chế
Nền văn minh đầu tiên là của người Sumer. Thành phố đầu tiên do vua Sargon
Agade xây dựng vào khoảng năm 2500 TCN. Thành bang Agade thống nhất được
Lưỡng Hà và tồn tại khoảng 100 năm. Sau đó, quyền thống trị Lưỡng Hà rơi vào tay
các nhà nước thành bang Ur, Akkad của người Semites (2270 – 2254 TCN), Babylone
của người Amorite (1792- 1750 TCN), Assour dưới triều đại các quốc vương Adsyrie
(XVI- 605 TCN) và cuối cùng thuộc về Ba Tư.
Cấu trúc đô thị được tổ chức hoàn toàn khác với cấu trúc làng nông nghiệp. Không
còn được tổ chức như là một thành phần thiên nhiên thu nhỏ, đô thị là một môi trường
nhân tạo được thiết kế hoàn toàn khép kín, tương phản với không gian thiên nhiên,

ngoài ra họ còn tổ chức hệ thống kênh thủy lợi và chia thửa với việc chuyên canh các
loại cây trồng khác nhau.
Sử dụng vật liệu đất nung. Mặt bằng có dạng hình vuông, chữ nhật, tròn hoặc bầu dục.
Bên ngoài có hào nước bảo vệ. Bên trong phân khu chức năng rõ rệt: khu cư trú của
tầng lớp chủ nô, khu cư dân tự do và nô lệ, khu trung tâm công cộng. Công trình kiến
trúc chính không phải là đền thờ thần, mà là công trình, trụ sợ làm việc, cung điện
vua chúa và dinh thự tầng lớp quan lại quý tộc. Các công trình này tổ chức thành một
tổng thể, nằm trong đô thị, gần với khu dân cư, tạo thành trung tâm sinh hoạt chính của
đô thị.
Phong cách kiến trúc các tháp –đền thờ Zigurat – có mặt bằng hình vuông hoặc chữ
nhật – phát triển thu hẹp theo chiều cao dạng các bậc thang giật cấp.
Nhà ở của cư dân tự do dạng chung cư ít tầng, vừa ở vừa làm việc buôn bán. Do
khí hậu nóng khô nên không mở cửa sổ, phòng bố trí xung quanh sân trong. ~> khu ở
mật độ cao và cấu trúc hình thái tự do.
Ur: thành phố cảng lớn, trung tâm chính trị và kinh tế quan trọng (2200-2000 TCN).
Trong thành, hệ thống cung điện và dinh thự xây chung quanh tháp chuông cao 27m.
Khu ở được xây dựng ở bên ngoài thành hạt nhân. Nhà 2 tầng được xây kế tiếp nhau
với mật độ cao. Đường có hình thức tự do, có hệ thống thoát nước hoàn chỉnh.

Assur: thủ đô nhà nước Assyrie – phát triển XIV-XII TCN. Xây bên cạnh sông Tigris,
mặt bằng gần vuông, gần 300ha. Tường thành cao 18m gồm 2 vòng chính. Chiều cao
các công trình kiến trúc chính là 40-60m. Cung điện có tường cao và hệ thống sân
vườn bên trong. Sân trong là không gian đệm, liên kết không gian kiến trúc bên trong.
Cách sắp đặt trong thành phố cho thấy dụng ý phòng vệ và an toàn, phòng ngự của giai
cấp thống tri: các kiến trúc chính đặt vào vị trí hiểm yếu, đường vào thành phố dích dắt
lên dốc. Cung điện nhà vua đặt ở phía tây bắc, một phần lan ra thành ngoài và có lối
thoát thuận tiện, vừa để phòng ngự kẻ địch, vừa để canh chừng nhân dân bên trong.
Babylon: thủ đô vương triều Hammurabi (2000 TCN) thành hạt nhân có mặt bằng hình
chữ nhật theo hướng Đông Tây có 2 vòng tường thành. Có sông Eufrates chảy ngang
~> chia thành phố là 2 phần không bằng nhau. Vòng ngoài diện tích gấp 2 lần vòng

trong. Trung tâm thành hạt nhân lại có vòng thành bảo vệ dành riêng cho vua quý tộc
và tăng lữ. Sử dụng ngôn ngữ kỉ hà. Mặt bằng các công trình thường có hình vuông
hoặc chữ nhật. Đường phố hình ô cờ, chiều rộng đường từ 4-7.5m
Kiến trúc nhà ở quý tộc phỏng theo kiến trúc đền đài và cung điện với quy mô nhỏ.
Trong thành hạt nhân, trung tâm là khu vực tập trung các cung điện cho Vua và tăng
lữ , có đền thờ chính để thờ thần Mardouk. Bên cạnh là tháp Babel.
HY LẠP
Hy Lạp có khí hậu ôn đới và bán nhiệt đới Địa Trung Hải, ấm áp dễ chịu nên con
người gắn bó với thiên nhiên , ưa sinh hoạt công cộng ngoài trời như thờ cúng,
hội họp, diễn thuyết, diễn kịch, thi đấu thể thao nên các thể loại kiến trúc nhà hát ngoài
trời, sân vận động…rất phát triển.
Thời kì Tiền Hy Lạp với nền văn minh (đảo Crete - Mycenae) từ năm 2000 - 1600
TCN. Chịu ảnh hưởng của nền văn minh Lưỡng Hà
Knossos là thủ đô của Crete. Nằm trên đảo nên không có tường thành bảo vệ. Thành
được bao quanh bởi Sân lớn trung tâm, khu vực họp mặt công cộng. Một sân nhỏ khác
ở phía Tây đóng vai trò hành chính và tưởng niệm cho khu vực.
Phía Tây xây dựng khu vực dành cho hoạt động hành chính và tôn giáo, bao gồm đền
Tripartite, the Sacted Repositories và Pillar Crypts. Khu vực quan trọng nhất ở phía
Nam là South Propylon, the Corridor of the Procession and cổng Phía Nam. Phía Đông
là nơi tập trung dân cư
Tiryns là những tàn tích áp đặt của hai thành phố lớn nhất của nền văn minh Mycenae.
Tiryns có tường thành khổng lồ bao quanh với chiều dày từ 7m đến 8m. Ở phía trên đồi
được xây dựng cung điện của nhà vua, một tòa nhà hình tròn có đường kính 28 m.
Sau 1400 trước Công nguyên, khi đế chế của Mycenae đạt đến đỉnh điểm, các khu vực
tăng cường của Tiryns đã tăng gấp đôi, toàn bộ ngọn đồi được củng cố bằng các bức
tường khổng lồ, với đường hầm dưới đất và hành lang, và trong khu vực đó được xây
dựng và củng cố cuối cùng là cung điện Mycenaean( khoảng 1200 TCN ). . Những
bức tường dày khoảng 8-10 m và chiều cao 10 m, cao nhất hiện tại lên đến 7,50 m. Lối
vào thành có một cái cổng lớn ở phía đông của bức tường, có một con đường đi phức
tạp từ đồng bằng.

Có ba cấp độ thành bao quanh: tối đa (24-26 m chiều cao) ở phía nam, nơi đứng
Cung điện Hoàng gia, bổ sung trong một bức tường riêng biệt; mức trung bình ( 24 m
chiều cao), phục vụ như là sân của hoàng gia, trong đó xây dựng các phòng của các
lãnh chúa khác; và mức độ thấp hơn (16 m chiều cao) ở phía bắc, nơi các vệ sĩ đóng
quân và dân số nông thôn của khu vực xung quanh Tiryns trong trường hợp có cuộc
xâm lược.
Tyrins qua các thời kỳ
Hy lạp cổ đại được chia làm 4 thời kì:
Thời kì Thái cổ ( thời kì Homer), thời kì này rất dài, khoảng chừng mấy ngàn
năm TCN cho đến thế kỉ thứ VIII TCN.
Thời kì Thượng cổ (khoảng thế kỉ thứ VIII đến thế kỉ VI TCN).
Thời kì Cổ điển (khoảng thế kỉ thứ V đến thế kỉ thứ IV TCN).
Thời kì Hellenistic (thế kỉ III đến thế kỉ II TCN).
Xuất phát từ 2 nguyên tắc cơ bản: tôn trọng địa hình, cảnh quan tự nhiên và phù
hợp với yêu cầu sử dụng của con người.
Do yêu cầu quân sự, vị trí được chọn xây dựng đô thị Hi Lạp thường ở không quá xa
biển, xung quanh có núi đồi bao bọc. Mỗi đô thị Hi Lạp đều có ít nhất 1 cảng biển vì sự
phát triển các đô thị Hi Lạp dựa trên giao thương đường biển với thế giới bên ngoài là
chủ yếu. Cảng biển đặt trong vòng thành bảo vệ đô thị.
Người Hi Lạp thường chọn các sườn đồi dốc về hướng Đông để lấy ánh sáng mặt trời
và gió mát, đồng thời tránh ẩm thấp và gió xấu từ hướng Tây và Bắc.
Bố cục mặt bằng quy hoạch đô thị Hi Lạp cổ đại có 2 dạng phổ biến:
Dạng đô thị phát triển theo nguyên tắc bố cục tự do:
• Đây là dạng đô thị phổ biến và đặc trưng của Hi Lạp cổ đại.
• Xuất hiện sớm, vào giai đoạn đầu của văn minh Hi Lạp cổ đại và phát triển mạnh
đến khoảng thế kỉ V TCN vào thời Hi Lạp cổ điển.
• Các đường phố, quảng trường công cộng cùng với các công trình kiến trúc được
hình thành trong sự kết hợp với địa hình, cảnh quan tự nhiên, do đó các đô thị
loại này có hình thái không gian rất đa dạng. Dạng đô thị phát triển theo nguyên
tắc bố cục hình học đều đặn.

Dạng đô thị phát triển theo nguyên tắc bố cục hình học đều đặn:
• Hippodammus là người đã đề ra những nguyên tắc về khoa học và nghệ thuật
xây dựng đô thị tiên tiến so với đương thời. Ông chủ trương “một mặt bằng đô
thị phải được suy nghĩ như một bản thiết kế dành cho nhân dân”, “chức năng sử
dụng của nhà và không gian công cộng cần được chú ý trong khi quy hoạch
đường phố”. Ông đã sáng tạo ra hệ thống đường phố kiểu ô vuông bàn cờ
vào thế kỉ V TCN. Gọi là hệ thống quy hoạch kiểu " Gridion
• Quy hoạch này trở thành phổ biến và được áp dụng chủ yếu trong việc thiết kế
và xây dựng các đô thị mới của Hi Lạp cổ đại
CHÚ Ý: Tóm tắt nguyên lý thiết kế đô thị của Hippodammus như sau:
• Quy mô dân số: không vượt quá 10000 người. Là số lượng cần và đủ để tổ
chức cuộc sống cộng đồng đô thị hợp lí
• Thành phần dân cư đô thị: đô thi được chia làm 3 khu vực chức năng: tôn
giáo tín ngưỡng, khu sinh hoạt cộng đồng, và khu vực cư trú.
• Hình thái không gian đô thị: các đường phố giao nhau thẳng góc, tạo thành
mạng đường dạng ô cờ, trong đó phân thành các đường phố chính và các
đường phố phụ. Đường chính rộng 5-10m và là phát triển theo chiều dìa mặt
bằng đô thị. Khoảng cách 2 đường chính dao động 50-300m. Số lượng đường
chính không nhiều. Đường phụ thì nhiều, cắt ngang phố chính. Khoảng cách
giữa hai đường phố phụ là 30-35m. Mỗi đường rộng 3-5m.
Người Hi Lạp đã kết hợp hài hòa giữa kiến trúc đô thị với địa hình cảnh quan tự
nhiên. Chính sự khác nhau của địa hình tự nhiên và sự can thiệp có ý thức bằng các
công trình kiến trúc, nghệ thuật vào môi trường cảnh quan thông qua việc sử dụng kết
hợp 2 ngôn ngữ bố cục: quy tắc và bất quy tắc đã tạo nên những giá trị đặc trưng của
hình thái không gian đô thị Hi Lạp.
THÀNH PHỐ MILET ( thế kỷ thứ V TCN):
- Đô thị được áp dụng các nguyên tắc thiết kế đô thị của Hypodamos.
- Về dân cư, đô thị có 3 thành phần chủ yếu là thợ thủ công, nhà nông và binh lính.
- Đường phố kiểu ô vuông ( hệ thống Gridion)
- Mặt bằng chia làm 3 khu, mỗi khu tạo bởi ô phố bàn cờ. Hai agora Bắc và Nam, sát

biển là hai công trình nhà hát ngoài trời và sân vận động 1.400 chỗ.
ATHENS:
Đô thị Athens, do địa hình phức tạp , có quy hoạch mạng lưới đường tự do.
Acropole ở Athens:
Nó gồm cổng vào Propylae, đền
Parthenon (447-438 TCN), đền
Erehtheion (420-407 TCN), khu vực
đền thờ Nike và tượng nữ thần
Athena, nhà hòa nhạc Odeion, kịch
trường Epidaures. Trên Acropole có 3
đền thờ, đều dành để thờ thần
Athena, nữ thần bảo vệ thành phố.
Tường thành xen kẽ vách đá tự nhiên
bao bọc những đền thờ lớn nhỏ rải
rác tới tận đỉnh đồi tạo nên ấn tượng
khi nhìn từ xa, tổng thể Acropole như mọc lên từ địa hình tự nhiên. Trái lại, bên
trong tổng thể Acropole, hệ thống không gian tự do lại tạo các góc nhìn phối cảnh với
hình ảnh kiến trúc đô thị luôn thay đổi bất ngờ, độc đáo và không lặp lại.
Agora của Athens:
Cách Acropole chếch về hướng
tây bắc khoảng 400m.
Là không gian hạt nhân liên kết
các hoạt động công cộng như
hội họp chính trị, xã hội, văn
hóa, giải trí, thương mại và dịch
vụ. Bao gồm: sảnh hội họp,
sảnh Hội đồng, nhà Hội đồng,
đền thờ Ares, nhà hòa nhạc
Odeion.
Có hình dáng hình học, mặt

bằng tự do không theo quy tắc,
bao quanh bởi các thức cột.
Không gian Agora được cắt bởi
một đại lộ Panathenaic kết nối
với cổng Dypilon của Acropole.
1. Nhà ở:
Do địa hình hạn chế, các nhà ở
được xây dựng một cách tự
phát, theo từng hướng tùy theo
nghề thủ công, các nhà hai tầng
chen chúc nhau bên những con
đường hẹp.
Mặt bằng thường theo kiểu các phòng quây quần mở vào một sân nhỏ, các phòng còn
lại ở phía Đông và phía Tây
Mặt bằng nhà ở Hy Lạp
2. N
g h

thuật quy hoạch không gian
Quy hoạch không gian thành phố theo kiểu tự
do nhưng có sự hài hòa với đặc điểm địa hình,
cảnh quan tự nhiên.
Tổng thể của Acropole và Agora được thiết kế
bằng thủ pháp quy hoạch không đối xứng, khai thác hiệu quả tầm nhìn (Đền Parthenon
trong Acropole có thể được nhìn thấy từ khắp nơi trong thành phố). Trái lại bản thân
công trình kiến trúc được tổ hợp đối xứng
Quần thể kiến trúc Acropole Athens khi thiết kế đã đươc tính tới một lưu tuyến của dòng
người lễ hội sao cho hợp lý đối với việc thụ cảm các hình thức kiến trúc cao nhất.
PRIENE:
Priene không giữ vai trò chính trị

quan trọng do kích thước của nó,
thành phố được cho là chỉ có 4-5
nghìn dân cư
từng sinh
sống.
Toàn bộ thành
phố được khai
quật có 6 con
đường lớn
chạy theo
hướng đông-
tây và 15 con
đường nhỏ
chạy theo
hướng bắc-nam, toàn bộ có 60 ô
phố, mỗi ô kích thước 7,2m x
35,4m.
Thành phố được bố trí thành bốn
quận, đầu tiên là quận hành chính, bao gồm các Bouleterion và Prytaneion, quận văn
hóa có chứa Nhà hát, quận thương mại - nơi đặt Agora; và cuối cùng quận tôn giáo có
điện thờ.
LA MÃ
Gồm 3 thời kì
- Thời kì Vương chính (753 – 509 TCN)
- Thời kì Cộng hòa (50 – 27 TCN)
- Thời kì Đế quốc (27 TCN – 476)
Quan niệm xã hội là sống cộng đồng và sinh hoạt tập thể đã phát triển từ văn minh Hy
lạp, nay được La mã tiếp thu và phát triển
Thành phố Priene cổ đại
Quan niệm giới cầm quyền. La mã quan niệm tôn vinh thần chiến tranh trong thời kì Đế

quốc ~> phát triển gắn liền với công cuộc mở mang bờ cõi. Vì vậy, họ cần không gian
sinh hoạt công cộng nghiêng về hành chính quân sự.
Tại sao La Mã lại cho xây dựng các forum (các forum về sau – trừ forum
Romanum )?
Chức năng là nơi sinh hoạt chính trị hành chính quân sự của thành phố. Những nhà
cầm quyền của thể chế chính trị La Mã họ xây dựng forum để tôn vinh, ghi nhận các
chiến tích công lao của các nhân vật lãnh đạo (các vị vua) trong quá trình họ trị vì. Ở
forum có các tấm bia tạc trên khải hoàn môn, ghi lại chiến tích, đồng thời lấy một sự
kiện về chiến công đặc biệt của vì vua trị vì và tạc lại trên một nhóm tượng đặt trong
forum. Forum chính có nguồn gốc xuất phát từ Agora của Hy Lạp.
AGORA: là quảng trường công cộng, nơi tập trung các công trình công cộng của đô thị
Hy Lạp.
• Thời gian đầu (thời Crete – Mycène), Agora là quảng trường mang tính chất họp
chợ, trao đổi buôn bán kết hợp thêm chức năng sinh hoạt văn hóa.
• Thời cổ điển cho đến lúc thiết lập chế độ xã hội dân chủ chủ nô, các chức năng
hành chính, chính trị và tôn giáo được đưa vào Agora
Ban đầu, Agora bố cục tự do. Từ thể kỉ thứ V TCN, nguyên tắc đối xứng là quan niệm
thiết kế của Hippodammus được áp dụng cho các quảng trường công cộng. => địa
hình bằng phẳng và mặt bằng có dạng hình vuông hoặc hình chữ nhật.
 Yếu tố cảnh quan từ giai đoạn này ít được lưu ý, vẻ đẹp chủ yếu là kết quả từ
những can thiệp nhân tạo mang lại.
Khởi sự từ Rome, thể chế chính trị đã chi phối trực tiếp đến nguyên tắc tổ chức không
gian của đô thị, khu trung tâm với những forum và các công trình công cộng, xung
quanh là nơi hoạt động chính của thành phố. Vị trí thích hợp xây dựng đô thị là trên
đỉnh đồi, núi hoặc trên khu đất cao hơn xung quanh. Mặt bằng tổ chức dựa trên hai trục
chính giao nhau vuông góc tại khu vực trung tâm và nối thẳng tới 4 cổng thành. Trục
Bắc Nam tên Decumanus, Trục Đông tây gọi là Cardo. Trung tâm đô thị ở vị trí giao
nhau giữa hai trục đường chính gồm có quảng trường (forum) và các công trình công
cộng. khu vực còn lại dành cho xây dựng nhà ở.
Có nhiều đô thị xây dựng theo kiểu quân sự. Mô hình của các đô thị này rải đều trên

khắp vùng thuộc địa của La mã với một mặt bằng tổ chức nghiêm ngặt, hình vuông chia
lưới caro. Do vấn đề chiến tranh và bảo vệ các căn cứ, nên vị trí chọn lựa đô thị là
trung tâm của những vùng kinh tế và là giao lộ của đường bộ và đường thủy chủ yếu.
Chính vì vậy, những độ thị La Mã khi xưa nay trở thành những trung tâm lớn của Châu
Âu. Các thành phố có tiếp vị ngữ là –burg chính là các thành phố quân sự của La Mã.
TRUNG QUỐC
Chế độ nô lệ tại Trung Hoa kéo dài 16 thế kỉ (kết thúc vào thế kỷ V TCN)
Thành Trịnh Châu (đời nhà Thương) vào thế kỉ XVII TCN đã tìm thấy dấu vết tường
thành bằng đất, dấu vết phương thủ công nghiệp
Thành Chu Vương (đời nhà Chu) vào thế kỉ XII TCN, bố cục thành tương đối lý tưởng:
cung thất đặt ở trung tâm, mỗi cạnh vuông của tường thành có 3 cửa, chia ra làm thành
và quách.
Di chỉ Cam Tuyền, thành Lạc Ba (thời Xuân Thu) vào 730-475 TCN. Thành Lạc Ba có
hình dạng gần như vuông.
Chế độ phong kiến Trung Quốc được xác lập vào thời Chiến Quốc - Tân Hán (nửa đầu
thế kỉ V TCN đến giữa thế kỉ XIX). Lịch sử xây dựng đô thị phong kiến Trung Hoa
được chia làm 4 thời kì tương ứng với các thời kì lịch sử :
+ Giai đoạn 1: (475 TCN-221 SCN) được đánh dấu bằng sự xuất hiện của đô thị Nhạn
Hạ ( Hà Bắc) và Trường An (Tây Bắc Tây An ngày nay).
Tần Thủy Hoàng (259-210 TCN) thống nhất Trung Hoa năm 246 TCN đến 221 TCN vào
thời Chiến quốc, lập kinh đô tại Hàm Dương.
Thành Trường An là kinh đô nhà Tây Hán, có dạng gần như hình thang, một mặt
thành có 3 cổng, mỗi cổng có 3 lỗ cửa. Khu vực hoàng cung và lâu đài quý tộc ở giữa
chiếm 1/3 diện tích đô thành. Thành được chia làm 160 phường (lý). Nhà ở trong thành
quay mặt vào hướng nam và lợp ngói đỏ.
+ Giai đoạn 2: (221 – 907) là giai đoạn kiến trúc cổ thịnh hành và ổn định. Gồm các
triều đại: Tam Quốc, Lưỡng Tấn, Nam Bắc Triều và Tùy Đường.
Đời Tùy (590-617) và Đường (618-907) là lúc văn hóa khoa học nghệ thuật của Trung
Quốc phát triển mạnh. Đô thị tiêu biểu là Trường An (Tây An) và Lạc Dương (Đông Đô
Tùy Đường).

Thành phố Trường An lúc này có hình dạng hình học nghiêm ngặt, có phân khu công
năng rõ rệt, có đường sá rộng rãi, các phường có hình chữ nhật hoàn toàn, có chợ tập
trung chỉ ở 2 địa điểm quy định. Thành Trường An được xây dựng ở phía Đông Nam
của thành Trường An thời Hán. Thành có 3 mặt giáp với sông nước nên thuận lợi di
chuyển. Lý do dời thành:
- Thành cũ chật hẹp, không có đất mở rộng
- Nguồn nước không dùng được
- Phân chia chức năng thành phố không rõ ràng
Phân khu đô thị Trường An:
- Chính giữa cực bắc là cung thành, có kiến trúc Thái cực Cung làm công trình
chủ chốt
- Phía nam cung thành là hoàng thành ~> khu vực làm việc của triều chính
- Hai bên hoàng thành là Đông thị và Tây thị ~> mỗi chợ có diện tích 10 vạn met
vuông
- Phường xóm xây dựng theo kiểu bàn cờ với 108 phường (14 tuyến đường đông
tây kết hợp 11 tuyến đường Bắc nam)
-
Thành Lạc Dương : các phường phố có dạng hình vuông thay vì hình chữ nhật như ở
Trường An. Phân khu như sau:
- Tây bắc là cung thành
- Bên ngoài là hoàng thành bố trí cung điện cho quan lại
- Thành phố có 103 phường, sông Lạc Thủy cắt ngang. Mỗi phường có kích
thước 210x210met, nhỏ hơn ở Trường An ~> số nhà hướng ra đường nhiều hơn
+
Giai đoạn 3: (970-1368) gồm thời kì Ngũ Đại, nhà Tống, Liêu, Kim, Nguyên
Có 4 đô thị lớn là: Kha Lương (Bắc Tống), Lâm An (Nam Tống), Bình Giang (Nam
Tống) và Đại Đô (Nguyên)
+ Giai đoạn 4: (1368-1849) là giai đoạn của nhà Minh và nhà Thanh. Thành phố quan
trọng cần chú ý là Bắc Kinh.
Bắc Kinh từ cổ xưa đã là một tụ điểm quan trọng của những tuyến đường giao thông

thủy bộ (nhà Liêu) đã đặt nền móng cho thành phố vào những năm 936-1153. Tại đây
diễn ra các hoạt động xây dựng Trung đô nhà Kim vào những năm 1153-1215. Bắc
Kinh đại diện cho một phong cách quy hoạch đối xứng, nghiêm chỉnh. Mặt bằng có hình
một tấm bia lớn có bệ bên dưới. Cung thành (Tử cấm thành) và Hoàng thành là hạt
nhân của bố cục Bắc Kinh. Nó chạy xuyên trục chính Bắc-Nam của thành phố dài 8km.
Toàn thành có 9 cổng
Nghệ thuật quy hoạch của Bắc Kinh:
- Đột xuất trọng điểm
- Nhấn mạnh các yếu tố chủ yếu, tổ chức đường sá nghiêm chỉnh, hình khối kiến
trúc đồ sộ
- Quy mô cấp thoát nước lớn
Toàn thành có 9 cổng, và 3 lớp vòng thành (tam trùng thành quách). Tổng cộn 800 cung
và 8886 phòng. Tử Cấm Thành có điểm mới so với các thành trước :
- Có hình chữ nhật trong khi các kinh thành trước đó thiết kế theo nguyên tắc “tiền
triều hậu thị”, có hình vuông
- Có 3 lớp vòng thành trong khi các kinh thành Trung Quốc từ thời Ân Thương đến
Kim Lăng đều được xây bọc quanh 1 hoặc 2 vòng thành.
Tử Cấm Thành: xây dựng 1407-1420 có kích thước 960x760m. Bên ngoài có tường
thành và hào nước, bên trong có nhiều công trình lần lượt mở ra các không gian rất
phong phú.

×