A. LỜI MỞ ĐẦU
Nuôi con nuôi – một hiện tượng xã hội, một chế định pháp lý đã xuất
hiện từ lâu trong lịch sử pháp luật Việt Nam. Cuộc sống ngày càng phát
triển, một khi nhu cầu về vật chất đã được đáp ứng, người ta càng mong
muốn vun đắp cho cuộc sống tinh thần của mình. Đối với những gia đình
hiếm muộn, hay vì lý do nào khác, họ có nhu cầu nuôi con nuôi. Vấn đề nuôi
con nuôi ngày càng phức tạp, khi mà không chỉ giới hạn việc nhận con nuôi
giữa những người Việt Nam với nhau, mà người nước ngoài cũng muốn
nhận con nuôi người Việt Nam. Trước đây, việc nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài được Luật hôn nhân và gia đình 2000, Nghị định 68/2002/NĐ-
CP, Nghị định 69/2002/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch, các
điều ước quốc tế về con nuôi có yếu tố nước ngoài điều chỉnh. Mới đây nhất,
Quốc hội đã ban hành Luật nuôi con nuôi năm 2010, luật này sẽ có hiệu lực
từ ngày 01/01/2011.
Vậy quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện của người nước ngoài
được nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi như thế nào. Đó chính là vấn đề
mà bài nghiên cứu này em đề cập đến.
1
B. NỘI DUNG
I. Khái quát vấn đề điều kiện nuôi con nuôi
1.1. Khái niệm, mục đích của việc nuôi con nuôi
Mục đích của việc nuôi con nuôi được quy định tại Điều 67 Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000 : Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và
con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo
đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm
sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội.
Tại luật Hôn nhân và gia đình năm 2010, về cơ bản mục đích này
được quy định tại Điều 2 không có nhiều khác biệt nhưng đầy đủ hơn : Việc
nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi
ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình.
Như vậy việc nuôi con nuôi phải xuất phát từ lợi ích của người con
nuôi, đồng thời cũng đảm bảo quyền lợi của người nuôi.
1.2. Điều kiện để việc nhận nuôi con nuôi hợp pháp
1.2.1. Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi
Đối với người nhận nuôi con nuôi, các điều kiện mà họ cần đáp ứng
theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 được quy định tại Điều 69 bao
gồm :
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
- Hơn con nuôi từ hai mươi tuổi trở lên;
- Có tư cách đạo đức tốt;
- Có điều kiện thực tế bảo đảm việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục con nuôi;
2
- Không phải là người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với
con chưa thành niên hoặc bị kết án mà chưa được xoá án tích về một trong
các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người
khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người
có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành
niên phạm pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; các tội xâm phạm
tình dục đối với trẻ em; có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những việc trái
pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Trong trường hợp, vợ chồng cùng nhận nuôi con nuôi thì vợ chồng đều
phải có đủ các điều kiện trên.
1.2.2. Điều kiện đối với người được nhận làm nuôi con nuôi
* Theo luật Hôn nhân và gia đinh 2010 : Để có thể được nhận làm con nuôi,
theo quy định tại Điều 68 luật Hôn nhân và gia đình 2000, người đó phải đáp
ứng các điều kiện sau :
- Người được nhận làm con nuôi phải là người từ mười lăm tuổi trở
xuống.
Người trên mười lăm tuổi có thể được nhận làm con nuôi nếu là
thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con
nuôi của người già yếu cô đơn.
- Một người chỉ có thể làm con nuôi của một người hoặc của cả hai
người là vợ chồng.
* Tuy nhiên, trong luật nuôi con nuôi 2010 mới được ban hành, những điều
kiện này có sự thay đổi như sau :
- Trẻ em dưới 16 tuổi
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường
hợp sau đây:
3
• Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi
• Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.
- Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của
cả hai người là vợ chồng.
- Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi,
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi.
1.2.3. Điều kiện về ý chí của chủ thể quan hệ nhận nuôi con nuôi
Về điều kiện này, luật Hôn nhân và gia đình 2000 đã có quy định tại
Điều 71 như sau :
- Việc nhận người chưa thành niên, người đã thành niên mất năng lực
hành vi dân sự làm con nuôi phải được sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ
đẻ của người đó; nếu cha mẹ đẻ đã chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc
không xác định được cha, mẹ thì phải được sự đồng ý bằng văn bản của
người giám hộ.
- Việc nhận trẻ em từ đủ chín tuổi trở lên làm con nuôi phải được sự
đồng ý của trẻ em đó.
1.2.4. Về hình thức
Điều 72 Luật hôn nhân và gia đình 2000 có quy định : Việc nhận nuôi
con nuôi phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký và ghi vào Sổ
hộ tịch. Thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi, giao nhận con nuôi được thực
hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
Trong đó : Về thủ tục đăng ký và trình tự đăng ký việc nhận nuôi con
nuôi được quy định tại Điều 26,27 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP của Chính
phủ.
4
1.3. Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Nuôi con nuôi có yêu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công
dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài thường trú tại
Việt Nam với nhau hoặc giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ pháp
lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài hoặc tài
sản liên quan đến quạn hệ đó tại nước ngoài.
Việt Nam ngày càng có nhiều hợp tác với nước ngoài, vấn đề nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài cũng không ngoại lệ. Để quy định về vấn đề này,
chúng ta phải tìm hiểu những quy định tại Luật hôn nhân và gia đình 2000,
Nghị định 68/2002/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài,
các Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi mà Việt Nam đã ký kết. Ngoài ra
còn có các Nghị định và thông tư khác, mới đây nhất là Luật nuôi con nuôi
2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011.
II. Quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện của người nước ngoài
được nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.
Tại Điều 105 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam có quy định về
điều kiện đối với người nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi là : Người nước
ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi phải tuân theo quy định của
Luật này và quy định trong pháp luật của nước mà người đó là công dân về
điều kiện nhận nuôi con nuôi.
Còn điều kiện để người nước ngoài được nhận trẻ em Việt Nam làm
con nuôi được đề cập đến tại Điều 37 Nghị định 68/2002/NĐ-CP Quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn
nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và đã trong Luật nuôi con nuôi năm
2010 mới được ban hành cũng có quy định tại Điều 29. Cụ thể là : Người
5
nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi phải có đủ điều kiện để
nuôi con nuôi theo quy định tại Điều 69 của Luật Hôn nhân và gia đình của
Việt Nam và pháp luật của nước nơi người đó thường trú. (trích khoản 1
Điều37 Nghị định 68/2002/NĐ-CP ).
Theo em thì quy định sau hợp lý hơn, vì khi nhận con nuôi, đứa con
nuôi đó sẽ sinh sống tại nơi mà người nhận con nuôi thường trú, nên để bảo
vệ tốt nhất cho quyền lợi của đứa trẻ ta nên áp dụng pháp luật của nơi người
nhận con nuôi thường trú.
Do đó, em phân chia thành 2 trường hợp sau :
2.1. Điều kiện đối với người nước ngoài thường trú tại Việt Nam nhận trẻ
em Việt Nam làm con nuôi.
Theo quy định trên, thì người nước ngoài thường trú tại Việt Nam sẽ
phải có những điều kiện quy định tại Điều 69 của Luật Hôn nhân và gia đình
của Việt Nam (bắt đầu từ ngày 01/01/2011 sẽ trực tiếp áp dụng quy định tại
Điều 14 Luật nuôi con nuôi 2010) và pháp luật của nước nơi người đó
thường trú chính là Việt Nam. Vì vậy, những điều kiện để người nước ngoài
thường trú tại Việt Nam nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi là :
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ : những người thành niên (trừ
trường hợp quy định tại Điều 22 và Điều 23 của Bộ luật dân sự năm 2005)
đều là những người có năng lực trách nhiệm dân sự đầy đủ.
Quy định như thế này có ý nghĩa đảm bảo cho người nhận nuôi con
nuôi có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ khi nhận nuôi con nuôi, và là
người đại diện cho con nuôi của mình chưa thành niên trước pháp luật.
- Hơn con nuôi từ hai mươi tuổi trở lên
Quy định này nhằm đảm bảo cho quan hệ gia đình hợp lý :
+ Khoảng cách tuổi đó để phân biệt rõ ràng bố mẹ và con cái.
6