Thị trường chứng khoán.
Câu 1: Thị trường chứng khoán là gì? So sánh sự giống và khác nhau cơ bản giữa
thị trường chứng khoán sơ cấp và thị trường chứng khoán thứ cấp?
* Thị trường chứng khoán là:
TTCK là 1 bộ phận quan trọng của thị trường vốn hoạt động của nó nhằm huy
động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài
trợ dài hạn cho các doanh nghiệp các tổ chức kinh tế và nhà nước để phát triển sản
xuất tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư.
TTCK là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán. Việc
mua bán này trực tiếp được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được
chứng khoán lần đầu từ những người phát hành và sau đó ở thị trường thứ cấp khi có
sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp. Vì vậy,
TTCK là nơi các chứng khoán được phát hành trao đổi.
TTCK là một bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chế chuyển vốn
trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành.
* So sánh thị trường chứng khoán sơ cấp và thị trường chứng khoán thứ cấp là:
+ Giống nhau:
Đều là bộ phận của thị trường chứng khoán.
Cùng sử dụng các công cụ là các loại chứng khoán.
Cùng có đối tượng mua bán, đều là quyền sở hữu các nguồn tài chính.
Thông qua cuộc phát hành mua bán chứng khoán, cả 2 thị trường có vai trò cung
cấp vốn dài hạn cho nền kinh tế. Đều là cung cấp vốn từ nơi tạm thừa đến nơi tạm
thiếu. Được đặc trưng bởi hình thức trực tiếp.
+ Khác nhau:
So sánh Thị trường chứng khoán sơ cấp Thị trường chứng khoán thứ
cấp
Khái niệm Là thị trường mua bán các chứng
khoán lần đầu được phát hành, các
chứng khoán được phát hành lần
đầu tiên được bán cho các nhà đầu
tư để thu hút vốn đầu tư cho doanh
nghiệp cổ phần.
Là thị trường lưu thông, nơi
diễn ra các hoạt động mua đi
bán lại các chứng khoán được
phát hành ở thị trường chứng
khoán sơ cấp.
Quan hệ Là quan hệ giữa chủ thể cần nguồn
tài chính với chủ thể cung ứng
nguồn tài chính, tức là quan hệ
giữa người phát hành và nhà đầu
tư.
Là quan hệ người đầu tư –
người đầu tư.
1
Chức năng
người môi
giới
Làm bảo lãnh Làm môi giới
Cơ chế
hoạt động
Theo cơ chế phát hành: trực tiếp,
ủy thác, đấu giá thực hiện qua các
hợp đồng.
Theo cơ chế ghép lệnh: đấu
giá là chủ yếu thông qua lệnh
mua và bán chứng khoán.
Giá cả Là lợi tức chứng khoán Là thị giá chứng khoán
Chức năng Dẫn vốn vào nền kinh tế làm tăng
vốn đầu tư.
Lưu thông chứng khoán
nhưng không làm tăng vốn
đầu tư vào nền kinh tế.
Mức độ Diễn ra không thường xuyên Diễn ra thường xuyên, liên
tục.
Tính luân
chuyển
Ít linh hoạt Linh hoạt do tính thanh khoản
cao của chứng khoán.
Thu nhập
của người
đầu tư
Lợi tức chứng khoán mà người
phát hành trả cho người đầu tư.
Chênh lệch thị giá chứng
khoán.
Tính đầu
cơ
Thấp Cao
2
Câu 2: Chứng khoán là gì? So sánh sự giống và khác nhau cơ bản giữa cổ phiếu
và trái phiếu? Giữa phân tích cổ phiếu và phân tích trái phiếu thì việc phân tích chứng
khoán nào gặp khó khăn hơn?
*Chứng khoán là:
Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở
hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện
bằng hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử. Chứng khoán bao gồm
các loại: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, chứng khoán phái sinh. Thực chất
chứng khoán là một loại hàng hóa đặc biệt.
* So sánh sự giống và khác nhau của cổ phiếu và trái phiếu:
+ Định nghĩa:
- Cổ phiếu: Là chứng cứ pháp lý xác định việc đầu tư vốn vào công ty cổ phần và
khẳng định các quyền và lợi ích hợp pháp của người nắm giữ cổ phiếu là người chủ
sở hữu 1 phần vốn của công ty cổ phần.
Nguời nắm giữ cổ phiếu trở thành cổ đông và đồng thời là chủ sở hữu của công
ty phát hành.
- Trái phiếu: Theo Luật chứng khoán của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam số 70/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 thì “ Trái phiếu là loại
chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với 1 phần vốn
nợ của tổ chức phát hành”.
* Giống nhau :
- Là hình thức chuyển nhượng cầm cố, thế chấp, thừa kế
- Đều được hưởng chênh lệch giá.
- Đều được nhận lãi ( cổ phiếu được gọi là cổ tức )
- Đều là phương tiên thu hút vốn của nhà phát hành
- Là phương tiện kinh doanh của các nhà đầu tư
* Khác nhau:
+ Cổ phiếu ( stock)
- Là chứng chỉ góp vốn, người sở hữu trở thành cổ đông
- Cổ tức không cố định ( có 2 loại cổ tức là: cổ tức xác định %và cổ tức không
xác định %, cổ tức chỉ được trả khi công ty có lãi, và cổ tức thường là rất ít)
- Không có tính thời hạn, gắn liền với sự tồn tại của công ty
- Có tính rủi ro cao hơn trái phiếu
- Cổ đông có quyên tham gia vào hoạt động của công ty
- Người sở hữu cổ phiếu không được rút vốn trực tiếp
- Không có tính chuyển đổi thành trái phiếu
- Do công ty cổ phần phát hành
- Khi công ty phá sản cổ phiếu cũng được dùng để thanh toán các nghĩa vụ tài
chính nhưng, sau khi đã thanh toán hết cho người sở hữu trái phiếu.
- Cổ phiếu có tính tư bản giả. Cổ phiếu không có tính hoàn trả trực tiếp.
3
+ Trái phiếu ( bond)
- Là chứng chỉ ghi nhận nợ, người sở hữu trái phiếu trở thành chủ nợ
- Trái phiếu có lãi suất ( nhận được lãi kể cả khi công ty làm ăn thua lỗ)
- Chủ nợ không có quyền biểu quyết, không có quyền than gia vào hoạt động của
công ty
- Có tính thời han nhất định
- Ít rủi ro hơn cổ phiếu, có tình ổn định về lợi nhuận
- Được thành lập bởi công ty TNHH, công ty cổ phần nhà nước
Khi công ty phá sản trái phiếu được ưu tiên thanh toán.
* Giữa phân tích cổ phiếu và phân tích trái phiếu thì việc phân tích chứng khoán
nào gặp khó khăn hơn:
Phân tích cổ phiếu sẽ khó khăn hơn vì cổ phiếu có tính rủi ro cao hơn.
Phần lợi tức nhận được từ trái phiếu là cố định, trái phiếu chỉ chịu rủi ro thanh
toán.
Cổ tức được nhận từ cổ phiếu thì không cố định, phụ thuộc vào tình hình hoạt
động của doanh nghiệp, nên ruit ro cao hơn.
4
Câu 3: Thị trường chứng khoán tập trung là gì? Nêu trình tự (các bước) kinh
doanh chứng khoán trên TTCK tập trung?
* Thị trường chứng khoán tập trung – Sở giao dịch:
Là thị trường ở đó việc giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện tại 1 địa
điểm tập trung gọi là sàn giao dịch.
* Các bước kinh doanh chứng khoán trên TTCK tập trung:
- Nhà đầu tư liên hệ với công ty chứng khoán thành viên của SGDCK để ký hợp
đồng giao dịch mở tài khoản giao dịch.
- Khách hàng đặt lệnh mua lệnh bán chứng khoán tớ công ty CK
- Công ty chứng khoán nhận lệnh kiểm tra và chuyển lệnh đến người đại diện của
công ty tại sở giao dịch
- Người đại diện đăng ký lệnh
- Tiến hành đấu giá
- Thông báo công khai giá khớp lệnh trên bảng điện tử và nhà môi giới thông báo
kết quả mua bán được về công ty chứng khoán
- Công ty CK chuyển kết quả giao dịch và thực hiện thanh toán tại trung tâm lưu
ký CK và thanh toán bù trừ.
5
Câu 4: Sở giao dịch chứng khoán là gì? Trình bày sự giống và khác nhau cơ bản
giữa thị trường chứng khoán tập trung và thị trường chứng khoán phi tập trung(OTC)?
* Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) là:
SGDCK là một pháp nhân được thành lập theo quy định của pháp luật thực hiện
việc tổ chức giao dịch chứng khoán cho các chứng khoán của tổ chức phát hành đủ
điều kiện niêm yết tại SGDCK.
* Điểm giống nhau của OTC và tập trung:
- Đều là các thị trg có tổ chức, chịu sự quản lý, giảm sát của NN
- Hoạt động của thị trg chịu sự chi phối của hệ thống Luật chứng khoán và các
văn bản pháp luật khác có liên quan.
* Điểm khác nhau:
+ Thị trường OTC:
- Địa điểm giao dịch phi tập trung
- Giao dịch qua mạng máy tính điện tử
- Thỏa thuận giá hoặc mua bán theo giá niêm yết
- Giao dịch chứng khoán loại 2(có tiêu chuẩn thấp hơn)
- Sử dụng các nhà tạo lập thị trường hoạt động theo pháp luật
- Được tổ chức quản lí chặt chẽ bởi các cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức tự
quản.
- Quản lí nhà nước đối với thị trường thông qua hệ thống các văn bản pháp luật
chuyên nghành và các văn bản pháp luật có liên quan
- Tổ chức tự quản là hiệp hội các nhà KDCK hoặc sở giao dịch.
- Cơ chế thanh toán đã dạng
* Thị trường chứng khoán tập trung:
- Địa điểm giao dịch tập trung
- Giao dịch qua mạng hoặc không qua mạng
- Giá cả được hình thành theo phương thức đấu giá tập trung hoặc khớp lệnh
- Giao dịch chứng khoán loại 1 có tiêu chuẩn cao hơn
- Không sử dụng các nhà tạo lập thị trường
- Được tổ chức quản lý chặt chẽ bởi các cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức tự
quản
- Quản lí nhà nước đối với thị trường thông qua hệ thống các văn bản pháp luật
chuyn nghành và các văn bản pháp luật có liên quan
- Tổ chức tự quản là sở giao dịch
- Một cơ chế thanh toán bù trừ đa phương.
6
Câu 5: Lệnh giao dịch là gì? Hãy nêu tên và trình bày nội dung cơ bản các loại
lệnh mà em biết? Hãy kể tên các loại lệnh phổ biến mà TTCK Việt Nam đang áp
dụng?
* Lệnh giao dịch là:
Lệnh giao dịch là một chỉ thị của khách hàng cho nhà môi giới để mua hoặc bán
chứng khoán theo yêu cầu mà khách hàng đặt ra.
* Tên và trình bày nội dung cơ bản các loại lệnh mà em biết:
+ Lệnh thị trường :là lệnh mua hoặc bán chứng khoán của khách hàng yêu cầu
thực hiện ngay tại mức giá tốt nhất hiện có trên thị trường khi lệnh được chuyển đến.
- Lệnh mua: mua chứng khoán tại mưc giá bán thấp nhất hiện có trên thị trường
- Lệnh bán bán chứng khoán tại mức giá mua cao nhất hiện có trên thị trường
Ưu điểm:làm tăng tính thanh khoản của thị trường giúp nhà đầu tư và công ty
chứng khoán sẽ tiết kiệm và thời gian chi phí.
Nhược điểm:có thể dẫn đến sự biến động giá bất thường ảnh hưởng đến sự ổn
định giá chứng khoán trên thị trường.mặt khác lệnh thị trường không đưa ra mức giá
nên nhà đầu tư có thể bị bất lợi do không thể khống chế được giá mua bán chứng
khoán cho mình.
+ Lệnh giới hạn (LO) (áp trong khớp lệnh định kỳ và liên tục): Là lệnh mua hoặc
lệnh bán chứng khoán tại một mức giá xác định hoặc tốt hơn mà người đặt lệnh chấp
nhận được. LGH thường không thể thực hiện ngay nên nhà đầu tư phải xác định thời
gian hiệu lực của lệnh. Hiệu lực của lệnh: kể từ khi lệnh được nhập vào hệ thống giao
dịch cho đến lúc kết thúc ngày giao dịch hoặc cho đến khi lệnh bị hủy bỏ .trong
khoảng thời gian này khách hàng có thể thay đổi mức giá giới hạn
Ưu: LGH giúp nhà đầu tư dự tính được mức lãi,lỗ khi giao dịch được thực hiện
Nhược: Nhà đầu tư có thể phải nhận rủi ro do mất cơ hội đầu tư, đặc biệt là khi
giá trị thị trường bỏ xa mức giá giới hạn.
Ưu: LGH giúp nhà đầu tư dự tính được mức lãi,lỗ khi giao dịch được thực hiện
Nhược: Nhà đầu tư có thể phải nhận rủi ro do mất cơ hội đầu tư, đặc biệt là khi
giá trị thị trường bỏ xa mức giá giới hạn
LGH có thể 0 thực hiện được vì 0 đáp ứng được các nguyên tắc ưu tiên trong
khớp lệnh
+ Lệnh dừng: Là loại lệnh đặc biệt để đảm bảo cho các nhà đầu tư có thể thu lợi
nhuận tại 1 mức độ nhất định và phòng chống rủi ro trong trường hợp giá CK chuyển
động theo chiều hướng ngược lại. Sau khi đặt lệnh nếu giá thị trường đạt tới hoặc vượt
qua mức giá dừng thì lệnh dừng sẽ thành lệnh thị trường.
Có 2 loại lệnh dừng: lệnh dừng để bán(luôn đặt giá thấp hơn giá trị hiện tại của 1
CK muốn bán) và lệnh dừng để mua (luôn đặt giá cao hơn giá trị hiện tại của CK cần
mua)
Ưu điểm: - Bảo vệ tiền lời của người kinh doanh trong 1 thương vụ đã thực hiện
- Bảo vệ tiền lời của người bán trong 1 thương vụ bán khống
7
- Phòng ngừa sự thua lỗ quá lớn trong trường hợp mua bán ngay hoặc bán trước
mua sau
Nhược điiẻm: Khi có 1 số lượng lớn các lệnh dừng được “châm ngòi” sự náo
loạn trong giao dịch sẽ xảy ra khi các lệnh dừng trở thành lệnh thị trường từ đó bóp
méo giá cả CK và mục đích của lệnh dừng là giới hạn thua lỗ,bảo vệ lợi nhuận 0 thực
hiện được.
+ Lệnh dừng giới hạn:Là loại lệnh sử dụng để nhằm khắc phục sự bất định về
mức giá thực hiện tiềm ẩn trong lệnh dừng.Người đầu tư phải chỉ rõ 2 mức giá: 1 mức
giá dừng và 1 mức giá giới hạn.
Ưu: khi giá thị trường đạt tới hoặc vượt qua mức giá dừng thì lệnh dừng sẽ trở
thành lệnh giới hạn thay vì thành lệnh thị trường
Nhược: 0 áp dụng được trên thị trường OTC vì 0 có sự cân bằng giữa giá của nhà
môi giới và người đặt tiền
+ Lệnh mở:là lệnh có hiệu lực vô hạn.nhà đầu tư có thể yêu cầu nhà môi giới mua
hoặc bán CK tại mức giá cá biệt và lệnh có giá trị thuờng xuyên cho đến khi bị hủy bỏ
+ Lệnh sửa đổi:Là lệnh do nhà đầu tư đưa vào hệ thống để sửa đổi 1 số nội dung
vào lệnh gốc đã đặt trước đó.lệnh này chỉ được chấp nhận khi lệnh gốc chưa được
thực hiện
+ Lệnh hủy bỏ :là lệnh do khách hàng đưa vào hệ thống để hủy bỏ lệnh gốc đã
đặt trước đo.lệnh này chỉ được chấp nhận khi lệnh gốc chưa được thực hiện.
+ Lệnh bán : là loại lệnh mà theo đó khách hàng yêu cầu nhà môi giới tiến hành
bán chứng khoán cho họ theo những điều kiện nhất định
+ Lệnh mua:là loại lệnh mà theo đó khách hàng yêu cầu nhà môi giới tiến hành
mua chứng khoán cho họ theo những điều kiện nhất định
+ Lệnh ATO:là lệnh mua hoặc bán chứng khoán tại mức giá khớp lệnh xác định
giá mở cửa.lệnh ATO không ghi mức giá cụ thể và được ưu tiên trước lệnh giới hạn
trong khi khớp lệnh.lệnh được nhập vào hệ thống giao dịch trong thời gian khớp lệnh
định kỳ để xác định giá mở cửa và sẽ tự động bị hủy sau thời điểm xác định giá mở
cửa nếu lệnh không được thực hiện hoặc không được thực hiện hết.
+ Lệnh ATC :là lệnh mau hoặc bán chứng khoán tại mức giá đóng cửa.lệnh
không ghi mức giá cụ thể và được ưu tiên thực hiện trước lệnh giới hạn trong khi so
khớp lệnh.lệnh ATC được nhập vào hệ thống giao dịch trong thời gian khớp lệnh định
kỳ để xác định giá đóng cửa và sẽ tự động hủy bỏ sau thời điểm xác định giá đóng cửa
nếu lệnh không được thực hiện hoặc không được thực hiện hết.
* Tên các loại lệnh phổ biến mà TTCK Việt Nam đang áp dụng: lệnh thị trường,
lệnh giới hạn, lệnh ATO, lệnh ATC, lệnh hủy.
8
Câu 6: Bảo lãnh phát hành chứng khoán là gì? Kể tên và trình bày các hình thức
bảo lãnh phát hành mà em biết?
* Bảo lãnh phát hành chứng khoán là:
Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với
tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua
một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại, hoặc mua số
chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành, hoặc hỗ trợ tổ
chức phát hành trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng.
* Tên và trình bày các hình thức bảo lãnh phát hành:
- Bảo lãnh với cam kết chắc chắn: là phương thức bảo lãnh mà theo đó, tổ chức
bảo lãnh cam kết sẽ mua toàn bộ chứng khoán phát hành, cho dù có phân phối hết hay
không.
- Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: là phương thức bảo lãnh mà theo đó, tổ chức
bảo lãnh thoả thuận làm đại lý cho tổ chức phát hành. Tổ chức bảo lãnh phát hành
không cam kết bán toàn bộ số chứng khoán, mà cam kết sẽ cố gắng hết mức để bán
chứng khoán ra thị trường, nhưng phần không phân phối hết sẽ được trả lại cho tổ
chức phát hành.
- Bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không bán gì: là phương thức bảo
lãnh mà theo đó, tổ chức phát hành chỉ thị cho tổ chức bảo lãnh phát hành nếu không
bán hết số chứng khoán thì huỷ bỏ toàn bộ đợt phát hành.
- Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu - tối đa: là phương thức bảo lãnh trung gian
giữa phương thức bảo lãnh với cố gắng cao nhất và phương thức bảo lãnh bán tất cả
hoặc không bán gì. Theo phương thức này, tổ chức phát hành chỉ thị cho tổ chức bảo
lãnh phát hành phải bán tối thiểu một tỷ lệ nhất định chứng khoán phát hành. Nếu
lượng chứng khoán bán được đạt tỷ lệ thấp hơn tỷ lệ yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành
sẽ bị huỷ bỏ.
9
10
Câu 7: Chỉ số giá chứng khoán là gì? Hãy viết công thức tính chỉ số giá chứng
khoán mà em biết? Giải thích các đại lượng? Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện
nay đang sử dụng các chỉ số giá chứng khoán nào? Viết công thức tính và giải thích
các đại lượng?
* Chỉ số giá chứng khoán là:
Chỉ số chứng khoán (CSCK) là số bình quân giá của các loại chứng khoán (cổ
phiếu - CP) giao dịch trên thị trường tại một thời điểm. Các loại chứng khoán được
chọn để tính chỉ số, tùy thuộc mỗi loại chỉ số có cách lựa chọn khác nhau. Ví dụ tại
Mỹ có ba loại chỉ số: chỉ số Dow Jones là chỉ số bình quân của 65 loại CP tiêu biểu
(30 CP của ngành công nghiệp, 20 CP ngành vận tải và 15 CP ngành dịch vụ); chỉ số
S/P 500 là chỉ số giá bình quân của 500 CP tiêu biểu; chỉ số AMEX là chỉ số giá bình
quân của toàn bộ CP trên thị trường chứng khoán Mỹ. Hoặc chỉ số Hang seng của
Hồng Kông, chỉ số Nikkey của Nhật , tất cả đều là chỉ số giá bình quân của một loại
CP tiêu biểu.
* Công thức tính chỉ số giá chứng khoán mà em biết và giải thích các đại lượng:
P1i Q1i
VN.Index = x 100
P0i Q0i
P1i x Q1i:tổng giá trị thị trường tại thời điểm tính toán.
P0i x Q0i:tổng giá trị thị trường tại thời điểm gốc.
P1i là giá cả giao dịch thực tế của cổ phiếu công ty tại thời điểm tính toán i.
P0i là giá cả giao dịch thực tế của cổ phiếu công ty tại thời điểm gốc.
Q1i Q0i là số lượng cổ phần của công ty tại thời điểm tính toán và thời điểm gốc.
Tổng giá trị thị trường hiện tại ( GTn)
HNX- Index = x 100
Tổng giá trị thị trường gốc (GTo)
Pit : giá thị trường của cổ phiếu I vào thời điểm hiện tại
Qit : số lượng cổ phiếu niêm yết của cổ phiếu I vào thời điểm hiện tại
Pit : giá thị trường của cổ phiếu I vào ngày cơ sở (gốc)
i: 1, ,n
* Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay đang sử dụng các chỉ số giá chứng
khoán nào? Viết công thức tính và giải thích các đại lượng?
+ Phương pháp Paascher:
Đây là loại chỉ số giá cổ phiếu thông dụng nhất và nó là chỉ số giá bình quân gia
quyền giá trị với quyền số là số lượng chứng khoán niêm yết thời kỳ tính toán. Kết
quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số thời kỳ tính toán. Người ta sử dụng công
thức sau để tính:
Σ qt pt
Ip =
Σ qt po
11
Trong đó: Ip : Là chỉ số giá Passcher
pt : Là giá thời kỳ t ; po : Là giá thời kỳ gốc
qt : Là khối lượng (quyền số) thời điểm tính toán ( t )
hoặc cơ cấu của khối lượng thời điểm tính toán.
i: Là cổ phiếu i tham gia tính chỉ số giá; n: số lượng cổ phiếu đưa vào tính chỉ số
Chỉ số giá bình quân Passcher là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị lấy quyền
số là quyền số thời kỳ tính toán, vì vậy kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số
(cơ cấu chứng khoán niêm yết) thời tính toán.
+ Phương pháp Laspeyres:
Chỉ số giá bình quân Laspeyres là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị, lấy
quyền số là số cổ phiếu niêm yết thời kỳ gốc. Như vậy kết quả tính sẽ phụ thuộc vào
cơ cấu quyền số thời kỳ gốc:
Σ qo pt
I l =
Σ qo po
Trong đó: IL : Là chỉ số giá bình quân Laspeyres
pt: Là giá thời kỳ báo cáo
po : Là giá thời kỳ gốc
qo: Là khối lượng (quyền số) thời kỳ gốc hoặc cơ cấu của khối lượng c (số lượng
cổ phiếu niêm yết) thời kỳ gốc
i: Là cổ phiếu i tham gia tính chỉ số giá; n: số lượng cổ phiếu đưa vào tính chỉ số
+ Chỉ số giá bình quân Fisher:
I F = IP x IL
Trong đó:I F : Là chỉ số giá Fisher
IP: Là chỉ số giá Passcher ; I L: Là chỉ số giá bình quân Laspeyres
+ Phương pháp số bình quân giản đơn:
Σ Pt
I =
Σ Po
Trong đó: I: là chỉ số giá bình quân giản đơn;
Pt: là giá thời kỳ t của các chứng khoán tham gia tính toán.
Po: là giá thời kỳ gốc chọn trước.
+ Phương pháp số bình quân gia quyền:
Σ q Pt I: là chỉ số giá bình quân gia quyền;
I = Trong đó: Pt: là giá thời kỳ báo cao;
Σ q Po Po: là giá thời kỳ gốc;
q: là khối lượng (quyền số), có thể theo thời
kỳ gốc hoặc theo thời kỳ báo cáo, cũng có thể theo cơ cấu khối lượng.
12
Câu 8: Thị trường chứng khoán là gì? Thị trường chứng khoán có những chức
năng và vai trò gì? Chức năng nào là quan trọng nhất? Vì sao? Trình bày các điều kiện
hình thành và phát triển TTCK ở Việt Nam.
* Thị trường chứng khoán là:
TTCK là 1 bộ phận quan trọng của thị trường vốn hoạt động của nó nhằm huy
động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài
trợ dài hạn cho các doanh nghiệp các tổ chức kinh tế và nhà nước để phát triển sản
xuất tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư.
TTCK là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán.việc
mua bán này trưc tiếp được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được
chứng khoán lần đầu từ những người phát hành và sau đó ở thị trường thứ cấp khi có
sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp.vì vậy
TTCK là nơi các chứng khoán được phát hành trao đổi.
TTCK là một bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chế chuyển vốn
trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành.
* Chức năng của thị trường chứng khoán:
- Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế.
TTCK là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu về CK qua đó cho phép chuyển các khoản
tiết kiệm vào đầu tư , khi các nhà đầu tư mua CK do các công ty phát hành thì số tiền
tiết kiệm của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh, qua đó góp phần mở
rộng sx xã hội. Thông qua TTCK chính phủ nhà nước cũng huy động được các nguồn
vốn trung và dài hạn cho mục đích đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, các nhu cầu xã hội.
TTCK khơi thông dòng chảy trong nền kinh tế, chỉ khi phát hành CK vốn được huy
động đầu tư cho nền kinh tế.
- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng.
MT đầu tư đa dạng với các cơ hội đầu tư phong phú : có nhiều loại CK trên thị
trường với mức độ rủi ro khác nhau để các nhà đầu tư có thể lựa chọn cho phù hợp với
khả năng và sở thích của mình.
- Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán.
Nhờ có TTCK mà các nhà đầu tư có thể chuyển đổi được các CK của họ thành
tiền mặt or thành các CK khác khi họ muốn.
- Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp.
TCK là nơi dánh giá trị tài sản của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế 1 cách
tổng hợp và chính xác từ đó tạo MT cạnh tranh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
kích thích áp dụng công nghệ mới cải tiến.
- Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô.
Thông qua TTCK chính phủ có thể mua và bán trái phiếu nhằm tạo ra nguồn thu
bù đắp thâm hụt ngân sách và kiềm chế lạm phát ngoài ra chính phủ có thể sử dụng
một số chính sách biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư bảo đảm
cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế.
13
* Vai trò:
- Tạo vốn cho nền kinh tế quốc dân.
- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sử dụng vốn linh hoạt và có hiệu quả hơn.
- Thị trường chứng khoán là công cụ đánh giá doanh nghiệp, dự đoán tương lai.
* Chức năng quan trọng nhất là: Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán.
Vì đảm bảo cho TTCK hoạt động năng động và hiệu quả.
* Điều kiện hình thành và phát triển TTCK ở Việt Nam:
+ Điều kiện về sự phát triển của nền kinh tế.
Sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế vĩ mô có mối quan hệ mật thiết với
TTCK. Nền kinh tế vĩ mô phát triển thì TTCK mới mang lại thu nhập cao cho các nhà
đầu tư. Khi nền kinh tế vĩ mô có biểu hiện sa sút, nhà đầu tư từ chối tham gia TTCK,
họ không tin tưởng vào khả năng thanh toán và sinh lời, TTCK không thể hoạt động
có hiệu quả.
+ Điều kiện về hàng hóa chứng khoán.
Hàng hóa là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên tính sôi động của thị trường.
TTCK không ngừng phát triển và hoàn thiện tạo ra cho thị trường 1 lượng chứng
khoán đa dạng, phong phú,….
+ Điều kiện về pháp lý.
Các quy chế về quản lý nhà nước đối với quá trình vận hành thị trường.
Các quy chế quản lý đối với các chủ thể tham gia thị trường, chủ thể quản lý, chủ
thể phát hành, nhà đầu tư,…
+ Điều kiện về nhân lực.
Con người là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của thị trường. TTCK
không ngừng phát triển và hoàn thiện phải có đội ngũ chuyên gia chứng khoán giỏi về
chuyên môn nghiệp vụ, có kinh ngiệm,…
TTCK phát triển cần có sự tham gia đôgn đảo của các nhà đầu tư, hệ thống các tổ
chức kinh doanh chứng khoán và các tổ chức phụ trợ hoạt động có hiệu quả và không
ngừng nâng cao năng lực đầu tư, kinh doanh cho các chủ thể này.
+ Điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật.
Để phục vụ giao dịch chứng khoán cần có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật:
Hệ thống giao dịch: Chuyển lệnh, khớp lệnh, hệ thống yết giá,
Hệ thống công bố thông tin
Hệ thống lưu ký, thanh toán,…
14
Câu 9: Niêm yết chứng khoán là gì? Trình bày những điểm lợi và bất lợi của
doanh nghiệp khi được niêm yết chứng khoán tại sở giao dịch?
* Niêm yết chứng khoán là:
Là thủ tục cho phép 1 chứng khoán nhất định được phép 1 chứng khoán nhất định
được phép giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán. Đây là quá trình SGDCK chấp
thuận cho công ty phát hành có chứng khoán được phép niêm yết và giao dịch trên
SGDCK nếu công ty đó đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về định lượng cũng như định
tính mà SGDCK đề ra.
Niêm yết chứng khoán thường bao hàm việc yết tên tổ chức phát hành và giá
chứng khoán. Hoạt động niêm yết đòi hỏi phải đảm bảo sự tin cậy đối với thị trường
cho các nhà đầu tư. Cụ thể, các công ty xin niêm yết phải có đáp ứng được các điều
kiện để niêm yết. Điều kiện này được quy định cụ thể trong quy chế về niêm yết
chứng khoán do SGDCK ban hành. Thông thường, có hai quy định chính về niêm yết
là yêu cầu về công bố thông tin của công ty và tính khả mại của các chứng khoán.
* Những điểm lợi và bất lợi của doanh nghiệp khi được niêm yết chứng khoán tại
sở giao dịch:
+ Những điểm lợi:
- Làm tăng uy tín của doanh nghiệp tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp
trong kinh doanh.
DN phải đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu và tiêu chuẩn do SGDCK đề ra thì
mới được niêm yết chứng khoán. DN có khả năng kinh doanh và tình hình tài chính
vững mạnh. Từ đó làm tăng sự tin tưởng của nhà đầu tư vào DN.
- Làm tăng tính thanh khoản đối với chứng khoán doanh nghiệp.
Chứng khoán của DN được niêm yết sẽ dễ dàng giao dịch mua bán, người mua
dễ dàng chuyển chứng khoán thành tiền.
- Tạo điều kiện cho doanh nghiệp huy động vốn với chi phí thấp.
DN tạo được gia tăng được sự tin tưởng của người đầu tư, dễ dàng phát hành
chứng khoán để huy động vốn.
DN có thể giả bớt các chi phí phát hành như chi phí quảng cáo, hoa hồng cho
người bảo lãnh,…
- Thúc đẩy việc tổ chức quản lý có hiêu quả hơn.
Ban lãnh đạo và quản lý công ty chịu sự giám sát chặt chẽ hơn của cổ đông, của
người đầu tư,… Chính điều này, buộc Ban lãnh đạo và quản lý công ty phải thực hiện
tổ chức quản lý công ty tốt hơn.
- Giá trị của công ty được đánh giá và được bộc lộ rõ hơn.
Cố phiếu của công ty niêm yết được mua bán công khai ở SGDCK, giá cả cổ
phiếu được hình thành trên cơ sở cung cầu, thể hiện rõ hơn sự đánh giá của người đầu
tư đối với công ty.
- Có thể được hưởng những khoản ưu đãi nhất định.
15
SGDCK khuyến khích các DN, Chính phủ dành ưu đãi nhất định cho các DN
như: Giảm thuế thu nhập DN, được miễn phí niêm yết lần đầu,…
+ Những bất lợi:
- Lộ thông tin.
DN phải công khai thông tin theo yêu cầu của pháp luật và SGDCK, thông tin
công bố có thể bị các đồi thủ cạn tranh khai thác, dẫn tới không có lợi cho DN.
- Có thể đối mặt nhiều hơn với rủi ro từ những hành vi phi pháp.
Một DN có chứng khoán niêm yết dễ trở thành đối tượng tấn công của các hành
vi trái pháp luật trên thị trường như: tung tin đồn sai sự thật, các hoạt động đầu cơ phi
pháp lũng đoạn thị trường,…
- Việc kiểm soát doanh nghệp sẽ phức tạp hơn.
DN sẽ được mua, bán rộng rãi chứng khoán trong công chúng. Đối với công ty
Cổ phần, điều đó dễ dẫn đến tình trạng xáo động thành phần cổ đông, làm cho ciệc
quản lý và kiểm soát gặp khó khăn, phức tạp hơn.
- Phải tăng thêm chi phí.
DN phải nộp các khoản chi phí nhất định cho SGDCK như: phí niêm yết lần đầu
tiên hay niêm yết tại chứng khoán, phí niêm yết hàng năm,…
16
Câu 10: Cổ phiếu là gì? Khi đầu tư vào cổ phiếu nhà đầu tư kỳ vọng vào những
khoản thu nhập nào? Để đánh giá hiệu quả đầu tư vào cổ phiếu người ta thường sử
dụng các chỉ tiêu nào?
* Cổ phiếu là:
Là chứng cứ pháp lý xác định việc đầu tư vốn vào công ty cổ phần và khẳng định
các quyền và lợi ích hợp pháp của người nắm giữ cổ phiếu là người chủ sở hữu 1
phần vốn của công ty cổ phần.
Nguời nắm giữ cổ phiếu trở thành cổ đông và đồng thời là chủ sở hữu của công
ty phát hành.
* Khi đầu tư vào cổ phiếu nhà đầu tư kỳ vọng vào những khoản thu nhập nào:
Thực tế, tổng sinh lợi của việc nắm giữ một cổ phiếu bao gồm hai phần: cổ tức và
phần thặng dư vốn tức chênh lệch giữa giá bán và giá mua.
Từ đây sinh ra hai khái niệm: cổ phần thu nhập và cổ phần tăng trưởng. Với cổ
phần thu nhập thì nhà đầu tư chủ yếu kỳ vọng vào dòng cổ tức sẽ nhận được, nghĩa là
phần lớn thu nhập là thu nhập do cổ tức mang lại. Ngược lại với cổ phần tăng trưởng,
nhà đầu tư nắm giữ cổ phần tăng trưởng chủ yếu kỳ vọng vào phần chênh lệch giá
mua bán. Xét về mức độ rủi ro, thì cổ phần tăng trưởng có phần rủi ro hơn và do đó
nhà đầu tư đầu tư vào cổ phần tăng trưởng cũng sẽ thường đòi hỏi một tỷ suất sinh lợi
cao hơn.
* Để đánh giá hiệu quả đầu tư vào cổ phiếu người ta thường sử dụng các chỉ tiêu:
- Vốn điều lệ: là số vốn do tất cả các cổ đông đóng góp và được ghi vào điều lệ
của công ty.
- Cổ phiếu đang lưu hành: là số lượng cổ phiếu của công ty hiện đang lưu hành
trên thị trường.
- Cổ phiếu quỹ: là cổ phiếu đã phát hành và được mua, bán lại trên thị trường
bởi chính tổ chức phát hành.
17
18