Trần Tế Xương
Tác phẩm
Khoa Thi
Nhà nước ba năm mở một khoa,
Trường Nam thi lẫn với trường Hà.
Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,
Ậm oẹ quan trường miệng thét loa.
[2]
Lọng cắm rợp trời, quan Sứ đến,
Váy lê quét đất, mụ đầm ra.
Nhân tài đất Bắc nào ai đó?
Ngoảnh cổ mà trông lại nước nhà!
[3]
Tự cười mình
Ở phố Hàng Nâu
[4]
có phỗng sành
Mặt thời lơ láo, mắt thời xanh.
[5]
Vuốt râu nịnh vợ, con bu nó
Quắc mắt khinh đời, cái bộ anh.
Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ
Rượu chè trai gái đủ tam khoanh.
Thế mà vẫn nghĩ rằng ta giỏi
Cứ việc ăn chơi, chẳng học hành.
Lúc túng toan lên bán cả trời
Trời cười: thằng bé nó hay chơi
Cho hay công nợ là như thế
Mà vẫn phong lưu suốt cả đời.
Tiền bạc phó cho con mụ
[6]
kiếm
Ngựa xe chẳng thấy lúc nào ngơi.
Còn dăm ba chữ nhồi trong ruột
Khéo khéo không mà nó cũng rơi.
[7]
Đi thi
Tập tễnh người đi tớ cũng đi,
Cũng lều cũng chõng cũng vào thi.
Tiễn chân, cô
[8]
mất hai đồng chẵn,
Sờ bụng: thầy không một chữ gì!
Lộc nước còn mong thêm giải ngạch
[9]
Phúc nhà nay được sạch trường qui.
Ba kì trọn vẹn thêm kì nữa,
Ú ớ u ơ ngọn bút chì.
[10][11]
Thói Ðời
Người bảo ông điên, ông chẳng điên
Ông thương, ông tiếc, hóa ông phiền.
Kẻ yêu người ghét, hay gì chữ
[12]
Ðứa trọng thằng khinh, chỉ vị tiền.
Ở bể ngậm ngùi cơn tới lạch
[13]
Ðược voi tấp tểnh lại đòi tiên.
Khi cười khi khóc khi than thở
Muốn bỏ văn chương học võ biền.
[14]
Chúc Tết
Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau:
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu
Phen này ông quyết đi buôn cối
Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu
Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu:
Trăm, nghìn, vạn mớ để vào đâu?
Phen này, ắt hẳn gà ăn bạc
Đồng rụng, đồng rơi, lọ phải cầu.
Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
Đứa thì mua tước; đứa mua quan.
Phen này ông quyết đi buôn lọng,
Vừa bán vừa la cũng đắt hàng.
Lẳng lặng mà nghe nó chúc con:
Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn.
Phố phường chật hẹp, người đông đúc
Bồng bế nhau lên nó ở non.
Bắt chước ai ta chúc mấy lời
Chúc cho khắp hết ở trong đời
Vua, quan, sĩ, thứ, người muôn nước
Sao được cho ra cái giống người.
[15]
Thương vợ
Quanh năm buôn bán ở mom sông
[16]
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo xèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên hai nợ, âu đành phận
Năm nắng mười mưa, dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc!
[17]
Có chồng hờ hững cũng như không!
[18]
Ông Cò
Hà Nam danh giá nhất ông Cò,
Trông thấy ai ai chẳng dám ho.
Hai mái trống Tung, đành chịu dột;
Tám giờ chuông đánh, phải nằm co.
Người quên mất thẻ, âu trời cãi;
Chó chạy ra đường, chủ phải lo.
Ngơ ngẩn đi xia, may vớ được,
Chuyến này ắt hẳn kiếm ăn to!
[19]
Ghi chú
1. ▲ Trần Duy Uyên thi hương bị hỏng nhiều lần nên đổi
thành Trần Tế Xương, rồi Trần Cao Xương, rồi lại Trần Tế
Xương. Nhưng sau 8 kỳ thi ông chỉ đậu tú tài nên mọi người
gọi là Tú Xương (Theo Họ và tên người Việt Nam- PGS.TS
Lê Trung Hoa- NXB Khoa học xã hội-2005).
2. ▲ Toàn quyền Paul Doumer vừa ở Pháp sang nhậm chức,
lần đầu chứng kiến cảnh thi của Việt Nam (và cũng là lần
đầu trường Nam có một "quan Tây to" đến dự lễ xướng
danh và phát quà thưởng (1 đồng hồ vàng hay bạc v.v ).
Sau này trong hồi ký L'Indo-Chine française (Souvenirs)
Doumer dành mấy tờ nhắc lại quang cảnh trường thi, nhưng
vì không hiểu rõ nên viết nhiều điều sai lầm, chẳng hạn: sĩ
tử vào trường được mang theo người hầu, trong khi thầy
ngồi làm văn thì tớ nằm khểnh một góc đợi giờ sửa soạn
cơm nước v.v. có lẽ Doumer đã lầm quan trường với thí
sinh? Doumer còn ở lại đến 1901 mới về nước, và được
chứng kiến thêm khoa 1900 nữa ở Nam Định.
3. ▲ Trích ở trang Khoa cử: Ai là chủ khảo trường Hà Nam
khoa Đinh Dậu (1897)?
4. ▲ Phố Hàng Nâu (Nam Định), nơi Tú Xương ở.
5. ▲ Có bản chép: "mắt thời nhanh"
6. ▲ Chỉ vợ tác giả (nói bỡn)
7. ▲ Trích ở trang Chủ đề: Thơ Tú Xương
8. ▲ Tức vợ của tác giả
9. ▲ Mong lấy thêm người đỗ
10. ▲ Từ 1897, kỳ thứ tư phải thi quốc ngữ viết các chữ
như a, ă, â, v.v. nhà nho dùng bút chì vẽ các chữ này, vừa
tức cười, vừa tủi nhục
11. ▲ Trích ở trang Chủ đề: Thơ Tú Xương
12. ▲ Biết gì chuyện chữ nghĩa
13. ▲ Tục ngữ: ở bể vào ngòi
14. ▲ Trích ở trang Trần Tế Xương
15. ▲ Trích từ trang Trần Tế Xương
16. ▲ Tức sông Vị (Nam Định)
17. ▲ Tác giả tự trách mình một cách chua chát, đồng thời
cũng chửi vào mặt đời bạc bẽo
18. ▲ Trích ở trang Chủ đề: Thơ Tú Xương
19. ▲ Trích từ trang Trần Tế Xương