Tải bản đầy đủ (.doc) (60 trang)

Những giảI pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh NH công thương Hoàng Mai

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (297.92 KB, 60 trang )

1
MỤC LỤC

-
2
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế đang diễn ra tại nhiều quốc
gia trên thế giới. Không nằm ngoài quy luật đó Việt Nam đã gia nhập Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO). Cùng với việc chúng ta ra nhập WTO sẽ là cơ
hội và thách thức đối với nền kinh tế nói chung và ngành Ngân hàng nói
riêng.
Các Ngân hàng thương mại Việt Nam (NHTM) trong những năm gần đây
đã có những bước phát triển mạnh, gây dựng được uy tín và tạo niềm tin đối
với công chúng. Tuy nhiên kể từ ngày 1/4/2010 trở đi khi mà các Ngân hàng
quốc tế được thành lập Ngân hàng con với 100% vốn nước ngoài thì các
NHTM Việt Nam thực sự phải bước vào cuộc đua tranh khốc liệt nhất bởi vì
với kinh nghiệm hàng trăm năm cùng với sức mạnh tài chính và công nghệ
thông tin, các Ngân hàng nước ngoài sẽ gây nhiều khó khăn đối với hoạt động
của các Ngân hàng trong nước. Vì vậy để có thể cạnh tranh với các Ngân
hàng quốc tế thì ngay từ lúc này các NHTM Việt Nam phải nâng cao năng lực
quản trị hoạt động Ngân hàng và đặc biệt là năng lực quản trị rủi ro tín dụng.
Hoạt động cấp tín dụng là hoạt động quan trọng nhất đối với các Ngân hàng
Thương mại, tín dụng thường chiếm khoảng 70% danh mục tài sản của các
Ngân hàng, vì vậy khi mà rủi ro tín dụng xảy ra nó sẽ làm giảm thu nhập của
Ngân hàng, tạo điều kiện để kích hoạt các rủi ro khác như rủi ro thanh khoản,
rủi ro hoạt động…và cao nhất là sự phá sản của Ngân hàng. Không những
vậy, rủi ro tín dụng còn ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế, ảnh
hưởng đến lòng tin của người dân đối với các NHTM Việt Nam.
Ngân hàng Công thương Hoàng Mai là một chi nhánh của Ngân hàng Công
thương Việt Nam, là đơn vị xuất sắc trong hoạt động kinh doanh đặc biệt là


-
3
trong quản trị rủi ro tín dụng. Ngân hàng đã không những áp dụng các quy tắc
quản trị rủi ro mà Ngân hàng công thương Việt Nam ban hành mà còn có
những biện pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu các
khoản rủi ro tín dụng ở mức độ thấp nhất. Tuy nhiên trong quá trình quản trị
rủi ro tín dụng của mình, Chi nhánh vẫn còn một số hạn chế ở những khâu
nhất định cần được xem xét và nhận định lại.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tôi đã lựa chọn đề tài
“Những giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Công
thương Hoàng Mai” cho chuyên đề tốt nghiệp của mình với mong muốn tìm
hiểu, học hỏi và đưa ra những kiến nghị nhằm góp phần nào đó trong công
cuộc đổi mới cả về nhận thức và phương pháp trong lĩnh vực quản trị rủi ro
tín dụng. Mặc dù đã nghiên cứu một cách nghiêm túc và khoa học nhưng do
những hạn chế về mặt thời gian và tài liệu về vấn đề rủi ro nên trong chuyên
đề, tác giả chỉ đưa ra những nhận xét trên cơ sở các số liệu thực của Chi
nhánh và rút ra những ý kiến, những kiến nghị với mong muốn hoàn thiện
hơn nữa các giải pháp quản trị rủi ro tín dụng của Chi nhánh Ngân hàng Công
thương Hoàng Mai. Tác giả rất mong muốn nhận được những lời góp ý và
sửa chữa để chuyên đề được hoàn thiện tốt nhất
Chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận bao gồm ba chương như sau:
Chương 1: Lý thuyết chung về rủi ro tín dụng trong Ngân hàng thương
mại
Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng tại Chi
nhánh Ngân hàng Công thương Hoàng Mai.
Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng
Công thương Hoàng Mai.

-
4

CHƯƠNG I. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ RỦI RO TÍN
DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ RỦI RO VÀ QUẢN LÝ RỦI
RO
1.1.1. Khái niệm về rủi ro trong ngân hàng thương mại
Theo nghĩa truyền thống thì rủi ro là những sự kiện sảy ra có thể tạo ra
những mất mát về tài sản hay làm phát sing một khoản nợ.
Rủi ro theo nghĩa hiện đại bao hàm rộng hơn không chỉ tính dến rủi ro tài
chính mà còn bao gồm cả những rủi ro liên quan đến những mục tiêu hoạt
động và những mục tiêu chiến lược. Rủi ro là khả năng mà những sự kiện
chưa chắc chắn trong tương lai sẽ làm cho chủ thể không đạt được những mục
tiêu hoạt động và những mục tiêu chiến lược cũng như chi phí cơ hội của việc
mất đi những cơ hội kinh doanh.
Chấp nhận rủi ro là tất yếu trong hoạt động của ngân hàng. Các ngân hàng
cần phải đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro - lợi ích
nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro
chấp nhận. Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh
chịu là hợp lý, kiểm soát được và nằm trong phạm vi khả năng các nguồn lực
tài chính và năng lực tín dụng của ngân hàng. Đối với NHTM, các tài sản chủ
yếu, như các khoản tiền gửi tại các ngân hàng nước ngoài và các khoản cho
vay khách hàng cần phải có mức độ thanh khoản cần thiết để đảm bảo thanh
toán cho các khoản tiền gửi của khách hàng, chi phí hoạt động, các khoản lỗ,

-
5
đồng thời vẫn tạo ra một khoản lợi nhuận đủ lớn để có được tỷ lệ lợi nhuận
trên vốn chủ sở hữu hợp lý.
1.1.2. Các loại rủi ro trong ngân hàng thương mại
Rủi ro rất đa dạng và có thể được phân tích theo nhiều khía cạnh khác nhau.
Trong phạm vi các hoạt động của NHTM, sáu loại rủi ro sau đây được coi là

những rủi ro cơ bản:
- Rủi ro tín dụng là rủi ro bị tổn thất tài sản khi bên đi vay (là những
khách hàng hay các ngân hàng) không có khả năng thanh toán khoản
vay theo các điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng.
- Rủi ro thanh khoản là rủi ro khi ngân hàng không thể có đủ tiền để đáp
ứng các khoản phải trả đến hạn thanh toán, do tài sản của ngân hàng
không có khả năng thanh khoản hay ngân hàng không thể huy động đủ
vốn.
- Rủi ro thị trường là loại rủi ro tổn thất tài sản xảy ra khi lãi suất, tỷ giá
hay giá cả thị trường biến động theo chiều hướng xấu ví dụ như tỷ giá
hối đoái, tỷ lệ lái suất, giá cổ phiếu. Rủi ro thị trường xảy ra khi có sự
thay đổi của những điều kiện thị trường hay những biến động của thị
trường.
- Rủi ro tỷ giá hối đoái là loại rủi ro tổn thất tài sản khi tỷ giá hối đoái
thay đổi theo chiều hướng bất lợi đối với ngân hàng.
- Rủi ro lãi suất là rủi ro thu nhập từ lãi giảm khi lãi suất biến động theo
chiều hướng bất lợi.
- Rủi ro hoạt động là loại rủi ro tổn thất tài sản xảy ra do hoạt động kém
hiệu quả ví dụ như hệ thống thông tin không đầy đủ, hoạt động có vấn

-
6
đề hoặc có những vi phạm trong hệ thống kiểm soát nội bộ, có sự gian
lận hay những thảm hoạ không lường trước được.
1.1.3. Quy trình quản lý rủi ro trong các ngân hàng thương mại
Quản lý rủi ro là một quá trình liên tục cần được thực hiện ở mọi cấp độ của
một tổ chức tài chính và là yêu cầu bắt buộc để các tổ chức tài chính có thể
đạt được các mục tiêu đề ra và duy trì khả năng tồn tại và sự minh bạch về tài
chính.
Hoạt động quản lý rủi ro nhằm mục đích xác định, đo lường và kiểm soát

rủi ro ở mức độ có thể chấp nhận được. Hoạt động quản lý rủi ro có hiệu quả
có thể cho phép ngân hàng đạt được tương quan hợp lý giữa rủi ro mà ngân
hàng có thể chấp nhận được (ở mức chi phí tương ứng) với rủi ro mà ngân
hàng muốn giảm thiểu. Khi rủi ro được kiểm soát hợp lý thì nhân hàng sẽ có
điều kiện tối đa hoá lợi ích thu được từ những rủi ro đó thông qua nhiều cách
như chấp nhận, giảm nhẹ, loại bỏ hay chuyển đổi rủi ro. Mục đích chính của
hoạt động quản lý rủi ro là nhằm bảo đảm các tài sản và công nợ của ngân
hàng, các hoạt động tín dụng và cung ứng dịch vụ của ngân hàng không chứa
đựng những rủi ro có thể làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và tồn tại
của ngân hàng. Quản lý rủi ro giúp đảm bảo mức độ rủi ro mà ngân hàng
gánh chịu không vượt quá khả năng về vốn và tài chính của ngân hàng.
Hoạt động quản lý rủi ro có thể được xem như một quy trình bao gồm 4 giai
đoạn sau:
a. Xác định hạn mức rủi ro:
Các bộ phận nghiệp vụ quản trị rủi ro phải xác định hạn mức rủi ro cho bộ
phận mình, là mức rủi ro nhất định mà NHTM có thể chấp nhận được trong
nỗ lực để có được lợi nhuận, trên cơ sở sự sẵn sàng chịu đựng rủi ro và sức

-
7
mạnh tài chính của NHTM. Hội đồng quản trị theo định kỳ có trách nhiệm
xem xét lại và thông qua các hạn mức đó. Các hạn mức này sau đó sẽ được
thông báo tới toàn bộ các nhân viên, các bộ phận nghiệp vụ và ban điều hành.
Ban điều hành chịu trách nhiệm đảm bảo các bộ phận nghiệp vụ tuân thủ các
hạn mức này.
b. Đánh giá rủi ro
- Nhận biết rủi ro: Bước đầu tiên để có được một chương trình quản trị
rủi ro hiệu quả là phải nhận biết và xác định được các loại rủi ro mà NHTM
có thể gặp phải thông qua việc phân tích đặc thù của các sản phẩm, dịch vụ và
quy trình hoạt động. Xác định các rủi ro mà NHTM có thể gặp phải và

nguyên nhân của các rủi ro phải được nhận biết và xác định rõ. Bên cạnh đó
khả năng chấp nhận rủi ro của các NHTM phải được xác định và mô tả dựa
trên các mục tiêu kinh doanh của NHTM.
- Định lượng rủi ro: Là việc đề ra và xem lại hạn mức rủi ro, giúp ban
điều hành xác định được rủi ro cần được ưu tiên theo dõi và kiểm soát. Quy
trình định lượng rủi ro phải được thiết kế chặt chẽ sao cho có thể bao hàm các
nguồn rủi ro trọng yếu. Quy trình định lượng rủi ro cũng cần phải đáp ứng
được nhu cầu của người sử dụng thông tin. Hiện nay trên thực tế có ba
phương pháp định lượng cơ bản như sau:
Thứ nhất, phương pháp thống kê: Bản chất của phương pháp này là dựa trên
việc tính toán xác suất xảy ra thiệt hại đối với nghiệp vụ được nghiên cứu.
Thứ hai, phương pháp kinh nghiệm: phương pháp này được tiến hành dựa
trên kinh nghiệm của các chuyên gia.
Thứ ba, phương pháp tính toán – phân tích: Phương pháp này dựa trên việc
xây dựng đường cong xác suất thiệt hại và đánh giá rủi ro NHTM dựa trên
động thái biến thiên của đồ thị toán ứng dụng bằng phương pháp ngoại suy.

-
8
- Theo dõi rủi ro: Là việc thực hiện đầy đủ các hệ thống, các thủ tục kiểm
soát, nhờ đó ban kiểm soát có thể theo dõi được mức rủi ro của từng lĩnh vực
kinh doanh.
- Kiểm soát rủi ro: Các báo cáo về rủi ro cần phải cung cấp những thông
tin thích hợp và chính xác, kịp thời về tình hình rủi ro cho Ban lãnh đạo ngân
hàng. Các cá nhân thực hiện việc kiểm soát rủi ro cần phải độc lập với những
người thực hiện việc chấp nhận rủi ro.
c. Theo dõi tổng thể và phân tích nguyên nhân của những rủi ro:
Công việc phân tích này giúp cho các NHTM nhận biết được rủi ro và đưa
các biện pháp phòng tránh rủi ro hiệu quả.
d. Quản lý rủi ro:

Các giới hạn về rủi ro phải phù hợp với chính sách của NHTM và các hạn
mức đã được phê duyệt. Quản lý rủi ro cũng cần bảo đảm hoạt động kinh
doanh của NHTM không chứa đựng những rủi ro làm ảnh hưởng nghiêm
trọng đến khả năng cạnh tranh của NHTM.
1.2. RỦI RO TÍN DỤNG (RRTD)
1.2.1. Khái niệm về rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là rủi ro về tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất
phát từ người đi vay không trả nợ đúng hạn theo cam kết hay mất khả năng
thanh toán. Điều này có nghĩa là các khoản thanh toán bao gồm cả phần gốc
cũng như phần lãi như cam kết sẽ có thể bị trì hoãn hoặc thậm chí là không
được hoàn trả và hậu quả là sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự luân chuyển
tiền tệ và sự bền vững của tính chất trung gian dễ bị tổn thất trong hoạt động
của NHTM.
. Từ khái niệm ta có thể phân tích rủi ro tín dụng thành các khoản sau:

-
9
- Rủi ro đọng vốn: Đó là rủi ro khi khách hàng sai hẹn trong nghĩa vụ trả
nợ theo hợp đồng bao gồm vốn và lãi vay. Sự sai hẹn này là do trễ hạn.
- Rủi ro mất vốn: Đó là rủi ro khi khách hàng sai hẹn trong nghĩa vụ trả
nợ theo hợp đồng bao gồm vốn và lãi vay. Sự sai hẹn này là do không
thanh toán.
1.2.2. Đặc điểm và phân loại rủi ro tín dụng
1.2.2.1. Đặc điểm của rủi ro tín dụng
Nghiên cứu những đặc điểm cơ bản của RRTD có ý nghĩa vô cùng quan
trọng đối với việc xác định, đo lường, quản lý và kiểm soát nó. Rủi ro tín
dụng có những đặc điểm sau: Rủi ro tín dụng có tính chất gián tiếp. Rủi ro tín
dụng có tính chất đa dạng và phức tạp. Rủi ro tín dụng có tính tất yếu tức là
nó luôn tồn tại và gắn với hoạt động tín dụng của NHTM. Nhiều quan điểm
nhất trí rằng RRTD là bạn đường trong kinh doanh, có thể phòng, hạn chế chứ

không thể loại bỏ. Do vậy rủi ro dự kiến luôn được xác định trước trong chiến
lược kinh doanh của NHTM.
1.2.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng
Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng bao gồm:
- Phân loại theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra
RRTD có rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan
- Phân loại theo cơ cấu các loại hình rủi ro: Theo cách phân loại này rủi
ro tín dụng được chia thành rủi ro theo khoản cho vay ngắn hạn, trung
hạn, dài hạn hay vay khoản tín dụng hợp vốn
- Phân loại theo nguồn gốc hình thành có:

-
10
Thứ nhất, rủi ro từ phía người cho vay gồm: Rủi ro ở khâu chính sách. Rủi
ro ở khâu nghiên cứu, theo dõi quản lý và xử lý rủi ro. Rủi ro ở khâu thông
tin. Rủi ro ở khâu cán bộ. Rủi ro ở công tác kiểm tra kiểm soát.
Thứ hai, rủi ro từ phía người vay vốn: Rủi ro về đạo đức (chủ quan). Rủi ro
do khả năng tài chính yếu kém của người vay (chủ quan). Rủi ro do biến động
kinh doanh của người vay (chủ quan). Rủi ro từ phía người điều hành doanh
nghiệp, ngành hoạt động, vị trí của doanh nghiệp, mối quan hệ của doanh
nghiệp với các doanh nghiệp khác.
- Phân loại khác: Rủi ro từ khâu quản lý, kiểm soát của NHNN, Rủi ro
phát sinh từ chế độ chính sách của nhà nước. Rủi ro quốc gia. Rủi ro
khác như do sự đánh giá không khách quan, chính xác của cơ quan
công chứng đối với tài sản thế chấp do việc cho vay được áp đặt từ cơ
quan có thẩm quyền cấp trên.
1.2.3. Nguyên nhân và hậu quả của rủi ro tín dụng
1.2.3.1. Nguyên nhân khách quan
Là các nguyên nhân do thiên tai, chiến tranh hoặc những thay đổi ở tầm vĩ
mô (thay đổi Chính phủ, chính sách kinh tế, hàng rào thuế quan ) vượt qua

tầm kiểm soát của người đi vay và người cho vay.
Những thay đổi này thường xuyên xảy ra, tác động liên tục đến người
vay,tạo thuận lợi hoặc khó khăn cho người vay. Nhiều người vay, với bản lĩnh
của mình có khả năng dự báo, thích ứng, hoặc khắc phục những khó khăn.
Trong những trường hợp khác, người vay có thể bị tổn thất song vẫn có khả
năng trả nợ cho ngân hàng đúng hạn, đủ gốc và lãi. Tuy nhiên, khi tác động
của những nguyên nhân bất khả kháng đối với người vay là nặng nề, khả năng
trả nợ của họ bị suy giảm.

-
11
1.2.3.2. Nguyên nhân thuộc chủ quan của người vay
Những nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ năng lực quản lý của khách
hàng, bao gồm :
- Khả năng quản lý trong lĩnh vực kinh doanh của khách hàng không tốt
dẫn đến những thua lỗ và không có khả năng trả nợ cho ngân hàng.
- Sự yếu kém trong việc tính toán những bất trắc có thể xảy ra trong
tương lai của khách hàng hoặc do họ quá mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi
nhuận cao
- Sự không minh bạch về tài chính của khách hàng gây khó khăn cho
ngân hàng trong việc đánh giá rủi ro
- Tính thanh khoản không cao trong các hoạt động của khách hàng khiến
cho nguồn vốn thu hồi chậm và không hiệu quả
Sự không tuân thủ các điều kiện trong hợp đồng tín dụng mà khách hàng đã
ký với ngân hàng, bao gồm :
- Sự cố ý của khách hàng trong việc gian lận nhằm lừa đảo ngân hàng
- Do khách hàng sử dụng khoản vay không đúng mục đích ban đầu khi
xin cấp tín dụng
- Sự cố ý không trả nợ cho ngân hàng đúng hạn của khách hàng nhằm sử
dụng vốn vay trong thời gian lâu hơn.

- Do những thay đổi bất ngờ trong tổ chức nội bộ của khách hàng mà
ngân hàng không thể kiểm soát được
Đối với từng khách hàng khác nhau, thuộc các ngành nghề khác nhau thì
mức độ rủi ro cũng khác nhau. Trong chiến lược kinh doanh của NHTM, việc
lựa chọn các khách hàng mục tiêu, các ngành nghề mục tiêu là một việc làm

-
12
thiết yếu. Sự tồn tại của ngân hàng gắn liền với sự tồn tại và phát triển của
khách hàng hay ngành nghề mà ngân hàng cấp tín dụng. Đối với những đối
tượng khách hàng mục tiêu ngân hàng cần có những nghiên cứu sâu rộng về
ngành hàng, tình hình thị trường cũng như khả năng phát triển của ngành
hàng trong tương lai.
1.2.3.3. Nguyên nhân về phía ngân hàng thương mại
- Chiến lược kinh doanh của NHTM : Tuỳ theo chiến lược kinh doanh cụ
thể của từng ngân hàng mà họ đưa ra những mức độ chấp nhận rủi ro khác
nhau, ví dụ một ngân hàng X có thể chấp nhận một mức độ rủi ro cao hơn
nhằm mong muốn một mức lợi nhuận kỳ vọng cao hơn hoặc một thị phần lớn
hơn, trong khi đó một ngân hàng Y chỉ chấp nhận một tỷ lệ rủi ro nhỏ mặc dù
các khoản lợi nhuận kỳ vọng chỉ ở mức trung bình song có độ an toàn cao
hơn ngân hàng X.
- Mức độ tập trung của danh mục tín dụng : Mức độ tập trung trong danh
mục tín dụng theo các đặc thù riêng trực tiếp ảnh hưởng đến rủi ro của danh
mục tín dụng. Một khoản vay mang một đặc điểm bất lợi nào đó sẽ có khả
năng gây ra thất thoát trầm trọng hơn nếu ngân hàng có mức độ tập trung cao
vào các khoản cho vay có cùng đặc điểm này.
- Các hệ thống đánh giá và quản lý RRTD chưa đạt yêu cầu về sự tổng
hợp, chặt chẽ, thống nhất và hợp lý.
- Do bản thân ngân hàng khi phát sinh các khoản nợ xấu, thường không
muốn phản ảnh vào tài khoản và chuyển thành nợ khó đòi vì sẽ ảnh hưởng

đến thành tích của ngân hàng khiến cho bảng cân đối ‘‘không đẹp’’. Điều này
dẫn đến việc ngân hàng tiếp tục gia hạn nợ cho khách hàng nhiều lần, cho
phép khách hàng đảo nợ và dẫn đến việc không thực hiện thu nợ đúng theo
hợp đồng tín dụng.

-
13
- Hệ thống thông tin chưa đầy đủ, cập nhật và chính xác khiến cho quá
trình đánh giá rủi ro gặp nhiều khó khăn
- Ngân hàng chưa có được các thông tin đầy đủ về toàn bộ thị trường của
khách hang.
- Xuất phát từ cán bộ tín dụng :
+ Cán bộ tín dụng chưa có nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của công
tác hạn chế RRTD
+ Cán bộ tín dụng chưa có những đánh giá chính xác về khách hàng và
khả năng trả nợ của họ (bao gồm ngành nghề kinh doanh, mùa vụ, tư cách
phẩm chất của khách hàng, chiến lược kinh doanh, thị phần của khách hàng
trong nước và quốc tế, uy tín của DN)
+ Cán bộ tín dụng chưa có những đánh giá chính xác về ngành hàng kinh
doanh, tiềm năng và vị trí của ngành hàng đó trong toàn bộ nền kinh tế, xu
hướng phát triển của ngành hàng đó hiện nay và trong tương lai trên thị
trường trong nước, khu vựa và quốc tế, các chủ trương của Nhà nước về
phát triển ngành hàng này trong tương lai, chứng minh bằng các con số cụ
thể và các văn bản pháp luật cụ thể.
+ Cán bộ tín dụng chưa có những đánh giá chính xác về những đối tác
tham gia bảo lãnh cho các khoản tín dụng
+ Đạo đức nghề nghiệp của cán bộ khiến cho việc xem xét các khoản cho
vay không được khách quan và đúng đắn, có thể gian lận hoặc cố tình làm
sai.
1.2.3.4. Hậu quả của rủi ro tín dụng


-
14
Rủi ro tín dụng xảy ra không những gây ra những tổn thất đối với các chủ
thể tham gia trực tiếp vào quan hệ tín dụng là NHTM và khách hàng mà còn
ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế- tài chính của đất nước.
Đối với NHTM, khi RRTD xảy ra, trước hết thu nhập của ngân hàng giảm
sút dẫn đến tỷ suất lợi tức và giá cổ phiếu của ngân hàng giảm xuống. Việc cổ
phiếu giảm giá nếu không được chấn chỉnh kịp thời sẽ có thể kéo theo việc
bán hàng loạt cổ phiếu trên thị trường, là điểm khởi đầu của quá trình mua lại,
sáp nhập hoặc thay thế ban quản lý ngân hàng. RRTD có thể dẫn đến rủi ro
thanh khoản với hành loạt người gửi tiền rút tiền ra khỏi ngân hàng buộc ngân
hàng phải đóng cửa và tuyên bố phá sản. Tổn thất tín dụng làm giảm quỹ dự
phòng, giảm vốn và quỹ của ngân hàng
Đối với khách hàng, với nhiều mục đích khác nhau, họ gửi tiền vào ngân
hàng. Bất cứ một sự chậm chễ nào trong hoạt động thanh toán của ngân hàng
cũng ảnh hưởng đến người gửi tiền. Sự chậm trễ đó cũng có thể làm cơ hội
kinh doanh biến mất, ảnh hưởng đến lợi nhuận của khách hàng.
1.2.4. Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng
- Chỉ tiêu 1 : Dư nợ tín dụng trên tổng tài sản
Nhằm mục đích tính toán hiệu quả tín dụng và quy mô hoạt động kinh doanh
của ngân hàng
- Chỉ tiêu 2 : Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ
Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã
quá hạn.
- Chỉ tiêu 3 : Tỷ lệ nợ quá hạn khó đòi trên tổng dư nợ
Các khoản nợ quá hạn khó đòi là các khoản nợ quá hạn đã quá một kỳ gia
hạn nợ, không có tài sản bảo đảm hoặc tài sản bảo đảm không bán được,

-

15
khách hàng thua lỗ triền miên, phá sản các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ
xử lý, các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo
thời hạn đã cơ cấu lại
Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ khả năng mất vốn của ngân hàng càng cao,
chất lượng tín dụng của ngân hàng thấp.
- Chỉ tiêu 4 : Mức sinh lời trên một đồng vốn tín dụng = lãi từ hoạt động
tín dụng chia cho tổng lãi của hoạt động kinh doanh.
Chỉ tiêu này thể hiện vai trò của tổ chức tín dụng. Chỉ tiêu này càng cao
chứng tỏ hoạt động tín dụng có vai trò lớn nhưng nếu tỷ lệ này cao quá sẽ gây
khó khăn cho ngân hàng trong việc tiến hành đa dạng hoá.
- Chỉ tiêu 5 : Điểm của khách hàng
Thông qua phân tích tình hình tài chính, năng lực sản xuất kinh doanh, hiệu
quả của dự án, mối quan hệ của khách hàng, tính sòng phẳng ngân hàng tiến
hành lập hồ sơ về khách hàng, xếp loại và cho điểm. Có rất nhiều mô hình
xếp hạng và cho điểm khách hàng. Khách hàng đạt loại A hoặc điểm cao,
RRTD thấp. Khách hàng đạt loại C, rủi ro cao, điểm thấp.
- Chỉ tiêu 6 : Các khoản cho vay có vấn đề
Mặc dù chưa đến hạn và chưa được coi là nợ quá hạn song trong quá trình
giám sát, cán bộ tín dụng nhận thấy nhiều khoản tín dụng có dấu hiệu kém
lành mạnh có nguy cơ trở thành nợ quá hạn cao.
- Chỉ tiêu 7 : Đa dạng hoá
Các nhà kinh tế cho rằng ‘‘ trứng không nên bỏ chung vào một rổ’’. Đa
dạng hoá là biện pháp để hạn chế rủi ro. Nếu ngân hàng tập trung vào một
nhóm khách hàng duy nhất hay tập trung vào một ngành nghề duy nhất thì rủi
ro sẽ cao hơn so với đa dạng hoá.

-
16
1.2.5. Các nguyên tắc quản lý rủi ro tín dụng trong ngân hàng

thương mại
Khung quản lý rủi ro tín dụng bao gồm 6 nguyên tắc cơ bản sau :
1.2.5.1. Trao đổi thông tin về chiến lược, phương hướng hoạt động, các
hướng dẫn và các phương pháp về tín dụng.
Nguyên tác này cần phải được tiến hành một cách liên tục và được thể hiện
qua nhiều hình thức bao gồm các chính sách bằng văn bản, các cẩm nang quy
trình, hành động của Ban lãnh đạo, trao đổi thông tin miệng và đào tạo tại
chỗ.
Một trong những công cụ để trao đổi thông tin về các vấn đề chiến lược và
phương hướng hoạt động là thông qua chiến lược tín dụng hay còn gọi là tầm
nhìn tín dụng. Chiến lược này được thể hiện như một tuyên ngôn về các mục
tiêu và xác định thái độ của Ban lãnh đạo Ngân hàng về RRTD và thái độ sẵn
sàng chấp nhận rủi ro đó.Do tình phi tập trung trong hoạt động của ngân hàng,
việc các giám đốc/trưởng phòng ban và cán bộ ở chi nhành và hội sở chính
biết được bản chất và mức độ RRTD mà ngân hàng sẵn sàng chấp nhận trong
chiến lược của mình là rất quan trọng,
1.2.5.2. Xây dựng và thực hiện các chính sách tín dụng đã được vạch rõ
Một điều tối quan trọng trong quản lý RRTD là việc thiết kế và thực hiện
các chính sách và quy trình bằng văn bản liên quan đến việc phát hiện, đánh
giá, giám sát và kiểm soát RRTD. Các chính sách tín dụng cần phải được lập
một cách rõ ràng, thống nhất với các thông lệ thận trọng trong kinh doanh
ngân hàng và với các quy định của Nhà nước, đồng thời phải phù hợp với bản
chất và mức độ phức tạp của các hoạt động của ngân hàng. Các chính sách và

-
17
quy trình được xây dựng và thực hiện hợp lý sẽ cho phép ngân hàng đạt được
những mục tiêu sau :
- Duy trì các chuẩn mực cấp tín dụng an toàn.
- Giám sát và kiểm soát RRTD

- Đánh giá đúng những cơ hội kinh doanh mới
- Phát hiện và quản lý những khoản tín dụng có vấn đề
1.2.5.3. Xây dựng kỹ thuật kiểm tra và giám sát tín dụng nhằm hỗ trợ cho việc
nhận biết rủi ro tín dụng
- Giám sát từng khoản cho vay một cách thường xuyên nhằm phát hiện
‘‘dấu hiệu cảnh báo sớm’’ để có hành động khắc phục kịp thời
Khi ngân hàng tiến hành cho vay, khoản cho vay cần phải được tiến hành
một cách chủ động để đảm bảo sẽ được hoàn trả. Theo dõi nợ là một trong
những trách nhiệm quan trọng nhất của cán bộ tín dụng. Các cán bộ tín dụng
theo dõi hoạt động của khách hàng vay chủ yếu nhằm đảm bảo rằng khách
hàng vay vẫn tiếp tục tuân thủ các điều khoản đề ra trong khế ước vay nợ và
nhằm tìm ra những cơ hội kinh doanh mới và mở rộng quan hệ kinh doanh.
Quá trình giám sát tín dụng nhằm mục đích :
Thứ nhất, đảm bảo cho ngân hàng hiểu rõ hiện trạng của khách hàng
Thứ hai, đảm bảo tất cả các khoản cho vay đều tuân thủ các hợp đồng tín
dụng
Thứ ba, giám sát việc sử dụng vốn vay của khách hàng
Thứ tư, đảm bảo rằng khách hàng trả nợ đúng hạn, và có biện pháp thích hợp
kịp thời trong trường hợp khách hàng không trả nợ đầy đủ và đúng hạn

-
18
Thứ năm, đảm bảo rằng lưu chuyển tiền tệ của khách hàng vay đáp ứng
những yêu cầu về trả nợ vay
Thứ sáu, đảm bảo rằng tài sản bảo đảm, nếu có, là đầy đủ với tình trạng tài
chính hiện tại của khách hàng vay.
Thứ bảy, kịp thời phân loại các khoản tín dụng có thể có vấn đề
- Giám sát tổng thể danh mục tín dụng – phân tích tổng thể danh mục tín
dụng nhằm phát hiện tập trung tín dụng
Bên cạnh việc giám sát riêng rẽ từng khách hàng vay, ngân hàng cũng cần

định kỳ giám sát tổng thể thành phần và chất lượng của danh mục tín dụng
những điểm sau cần đặc biệt chú ý :
Thứ nhất, cần so sánh thành phần của danh mục với mục tiêu cần đạt được
Thứ hai, xác định và tìm hiểu về các xu hướng trong phạm vi danh mục dựa
trên những biến động gần nhất về xếp hạng tín dụng của khách hàng, hiện
tượng gia tăng dự phòng nợ khó đòi hoặc xoá nợ
Thứ ba, tồn tại hiện tượng tập trung trong danh mục tín dụng
- Bộ phận xử lý nợ (BPXLN)
Điểm quan trọng trong xử lý nợ hoặc tịch thu TSĐB là việc phát hiện và
hành động kịp thời. Hành động kịp thời chỉ có thể được thực hiện nếu có
được sự cảnh báo đủ sớm về những khoản cho vay cần được giám sát cẩn
thận hơn. Cần có những tiêu chí rõ ràng để chuyển các khoản nằm trong
‘‘danh sách giám sát’’ của hệ thống cảnh báo sớm từ cán bộ tín dụng sang cho
BPXLN. Những tiêu chí đó bao bồm : Số tháng khoản nợ đó nằm trong
‘‘danh sách giám sát’’, những khoản cho vay giữ nguyên giá trị và quá hạn
hơn 90 ngày, những khoản cho vay trong các ngành kinh tế gặp khó khăn.

-
19
1.2.5.4. Cơ cấu tổ chức trong đó các chức năng liên quan đến tín dụng được
tiến hành
Xác định rõ vai trò và trách nhiệm của Ban lãnh đạo và nhân viên trong hoạt
động tín dụng và quản lý RRTD là rất cần thiết nhằm đảm bảo :
- Những quyết định quan trọng liên quan tới các chiến lược tín dụng, cho
điểm tín dụng và quản lý RRTD được đưa ra một cách thích hợp bởi
một tập thể các cá nhân với kinh nghiệm và kiến thức phù hợp
1.2.5.5. Trách nhiệm đối với chất lượng tín dụng. Cơ cấu thưởng phạt và
đánh giá phù hợp
Không một hệ thống quản lý hay kiểm tra nội bộ nào hoạt động có hiệu quả
nếu không được chú ý tới. Hệ thống ấy sẽ yếu đi nếu không có các hình thức

kỷ luật cho những vi phạm. Nhưng nhân tố chính khuyến khích nhân viên làm
việc tốt, chấp nhận trách nhiệm và hành động có trách nhiệm chính là cơ cấu
thù lao và hệ thống đánh giá nhân sự.
1.2.5.6. Hệ thống tính điểm RRTD phải được xây dựng
Một công cụ quan trọng trong quản lý chất lượng tín dụng đối với từng
khách hàng cũng như toàn bộ danh mục tín dụng là việc sử dụng hệ thống tính
điểm tín dụng. Dựa trên phương pháp đánh giá bằng thang điểm, hệ thống này
đánh giá rủi ro tiềm tàng trong từng khoản tín dụng. Hệ thống đánh giá bao
gồm phương pháp luận, các thủ tục quản lý và các hệ thống được sử dụng
trong quá trình cho điểm tín dụng.

-
20
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG VÀ
QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH
NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HOÀNG MAI.

2.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG
CÔNG THƯƠNG HOÀNG MAI
2.1.1. Chức năng, nhiệm vụ của Chi nhánh Ngân hàng công
thương Hoàng Mai
- Chi nhánh NHCT Hoàng Mai là một ngân hàng hoạt động trong lĩnh
vực tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng. Thông qua hoạt động này chi nhánh
tăng cường tích luỹ vốn để mở rộng đầu tư cùng với đơn vị kinh tế thuộc mọi
thành phẩn, tích luỹ sản xuất lưu thông hàng hoá, tạo công ăn việc làm góp
phần ổn định lưu thông tiền tệ và thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá.
- Đồng thời chi nhánh có nhiệm vụ làm tham mưu cho cấp uỷ và chính
quyền địa phương trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội,
mở rộng sản xuất nhiều ngành nghề phù hợp.

Về nhiệm vụ:
- Huy động vốn từ các thành phần kinh tế như: Tiền gửi tiết kiệm; Trái
phiếu với nhiều loại thời hạn: có kỳ hạn, không kỳ hạn.
- Đầu tư tín dụng với mọi thành phần kinh tế cho vay ngắn hạn, trung và
dài hạn, cho vay đồng tài trợ, cho vay xuất khẩu.

-
21
- Các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng trong nước và ngoài nước, chiết
khấu chứng từ xuất khẩu, dịch vụ khác.
- Dịch vụ ngân quỹ, mua bán ngoại tệ, chi trả kiều hối cất giữ vật quý, tài
sản giá trị cũng như dịch vụ liên quan đến dịch vụ ngân hàng.
Hiện nay NHCT Hoàng Mai có 165 cán bộ công nhân viên, trong đó:
- Đại học: 125 ngưoi
- Cao đẳng, trung cấp: 23 người
- Sơ cấp, chưa đào tạo: 17 người
2.1.2. Bộ máy tổ chức điều hành của Chi nhánh Ngân hàng công
thương Hoàng Mai
Theo quyết định số 066 ngày 30/03/2007 của Hội đồng quản trị Ngân hàng
Công thương Việt Nam, thực hiện dự án Hiện đại hoá ngân hàng, mô hình tổ
chức tại chi nhánh NHCT Hoàng Mai hiện nay như sau:

-
22




(Nguồn : Phòng tổ chức hành chính của NHCT Hoàng Mai)
Hiện nay, chi nhánh gồm có 9 điểm giao dịch và 2 quỹ tiết kiệm trực

thuộc, đang hoạt động kinh doanh có hiệu quả, năm vừa qua không có quỹ tiết
kiệm, điềm giao dịch nào có nguy cơ phải đóng cửa hoạt động.
2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Ngân
hàng công thương Hoàng Mai.
2.1.3.1. Công tác huy động vốn của Chi nhánh Ngân hàng công thương
Hoàng Mai.
Trong hoạt động kinh doanh của NHTM thì huy động vốn được xem là một
trong những khâu trọng yếu. Thấy rõ được điều đó, Ban lãnh đạo NHCT
Hoàng Mai đã chủ động, tích cực quan tâm đến phát triển nguồn vốn, mở

-
Ban Giám Đốc
Tổ
chức
hành
chính
KH

Nhân
KH
Số 1
KH
Số 2
Kế
Toán
Tài trợ
thương
mại
Tiền
tệ

kho
quỹ
Tổng
hợp
tiếp
thị
PGD

Th nhà
Quỹ
tiết
Kiệm
Điểm
giao
dịch
23
rộng mạng lưới khách hàng với 9 quỹ tiết kiệm. Nghiệp vụ huy động được
thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng như nhận tiền gửi tiết kiệm của cá
nhân, tổ chức với nhiều kỳ hạn như : 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng được trả lãi
trước hoặc sau. Ngoài ra còn phát hành kỳ phiếu bằng đồng nội tệ để tăng
thêm nguồn vốn bằng đồng nội tệ cho ngân hàng.
Do sử dụng nhiều biện pháp thích hợp, trong những năm qua ngân hàng đã
đạt được những kết quả sau :
Bảng 2.1. Tình hình huy động vốn của ngân hàng qua các năm
(đơn vị : tỷ đồng)
Năm
Chỉ tiêu
Năm
2007
Tỷ

trọng
(%)
Năm
2008
Tỷ
trọng
(%)
Năm
2009
Tỷ
trọng
(%)
Tổng nguồn 2838 100 3128 100 4318 100
Tiền gửi không kỳ hạn 833 29.33 922.8 29.5 1026 23.7
Tiền gửi có kỳ hạn 2008 70.67 2205.2 70.5 3292 76.3
Tiền gửi Doanh nghiệp 1889.7 66.67 2083 66.59 2500 57.8
Tiền gủi dân cư 944.7 33.33 590 18.86 1150 26.6
Tiền gửi các TCTD 0 0 455 14.55 668 15.6
(Nguồn : Báo cáo tổng hợp CH NHCT Hoàng Mai các năm 2007, 2008,
2009)
. Tại thời điểm 31/12/2009, nguồn vốn huy động của Chi nhánh đạt: 4.318 tỷ
đồng (trong đó: VND: 3.603 tỷ đồng; ngoại tệ quy VNĐ: 715 tỷ đồng) tăng
418 tỷ đồng so với kế hoạch giao (tăng tương ứng 10,7%). Trong tổng số

-
24
nguồn vốn tăng thêm, tăng trưởng huy động VCĐ là chủ yếu (tăng 303 tỷ
đồng, chiếm 72%).
Số dư huy động vốn cuối năm 2009 của chi nhánh cao là do một số khách
hàng là các Tổng công ty, tập đoàn lớn như: Tập đoàn điện lực Việt Nam,

trung tâm quản lý Bay Việt Nam có một nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi gửi chi
nhánh nên số dư kể trên chỉ mang tính thời điểm. Thực tế, số dư bình quân cả
năm nguồn vốn huy động của Chi nhánh chỉ là 3.292 tỷ đồng. Vào một số dịp
trong năm như: Tết nguyên đán, 2/9, 30/4 v.v nguồn vốn huy động của Chi
nhánh thường giảm mạnh do các doanh nghiệp rút tiền về (hiện nay nguồn
tiền gửi của các doanh nghiệp tại Chi nhánh là nguồn vốn chủ đạo chiếm 70%
tổng nguồn huy động nhưng nguồn này lại không ổn định, hay biến động)
Cùng với đó là một số nguyên nhân như đã nêu ở trên.
Trong năm 2010, theo định hướng kế hoạch của NHCT VN giao cho chi
nhánh NHCT Hoàng Mai, Chi nhánh đặt ra chỉ tiêu nguồn vốn huy động đến
31/12/2010 là: 4.500 tỷ đồng tăng 15,4% so với chỉ tiêu kế hoạch năm 2009,
trong đó:
+ VNĐ: 3.770 tỷ đồng
+ Ngoại tệ quy đổi VNĐ: 730 tỷ đồng.
2.1.3.2. Dư nợ cho vay nền kinh tế.
Bảng 2.2. Kết quả công tác cho vay vốn đầu tư trong 3 năm gần
đây.
(đơn vị : tỷ đồng)
Năm
Chỉ tiêu
Năm
2007
Tỷ
trọng
(%)
Năm
2008
Tỷ
trọng
(%)

Năm
2009
Tỷ
trọng
(%)

-
25
Dư nợ cho vay 1.579 100 1.668 100 1.765 100
Cho vay ngắn hạn 500 31,6 595 36 686 39
Cho vay trung và dài hạn 1.079 68.4 1.073 64 1079 61
( Nguồn: Báo cáo tổng hợp qua các năm - Phòng tổng hợp tiếp thị)
Theo chỉ tiêu kế hoạch năm 2009 do NHCT VN giao cho Chi nhánh thực
hiện tổng dư nợ cho vay nền kinh tế là 1.650 tỷ đồng ( trong đó, dư nợ cho
vay VNĐ: 1.300 tỷ đồng, cho vay ngoại tệ quy VNĐ là 350 tỷ đồng). Trong
quá trình thực hiện, Chi nhánh đã rà soát phân tích đánh giá khách hàng vay
vốn, đảm bảo kiểm soát dư nợ trong tầm kiểm soát, tăng trưởng bền vững.
Đến hết 31/12/2009, Chi nhánh đã cho vay tổng số 1.765 tỷ đồng (trong đó,
dư nợ cho vay VNĐ: 1.399 tỷ đồng, cho vay ngoại tệ quy đổi VNĐ là 264 tỷ
đồng) đạt 100,7% so với kế hoạch 2009.
Trong năm 2010, để thúc đẩy tăng trưởng dư nợ lành mạnh, giảm dư nợ xấu
và đảm bảo chất lượng tín dụng, Chi nhánh đặt ra chỉ tiêu Dư nợ cho vay nền
kinh tế đến 31/12/2010 là 1.896 tỷ đồng, tăng 15% so với kế hoạch giao năm
2009, trong đó:
+ VNĐ: 1.610 tỷ.
+ Ngoại tệ quy VNĐ: 286 tỷ.
2.1.3.3 Cơ cấu dư nợ.
- Trong năm 2009 Tỷ lệ cho vay không có bảo đảm bằng tài sản chiếm 69%
tổng dư nợ cho vay, cao hơn so với kế hoạch năm là 4%. Tỷ lệ dư nợ cho vay
Công ty Nhà nước trong tổng dư nợ là 62.6% tăng 12.6% so kế hoạch năm

2009.
Hai chỉ tiêu trên cao hơn so với kế hoạch năm 2009 do Chi nhánh vẫn đang
trong quá trình cho vay các dự án trung dài hạn lớn của các Tổng Công ty,

-

×