Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM VÀ
CÔNG TÁC CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHXH : Bảo hiểm xã hội
NSNN : Ngân sách nhà nước
TNLD&BNN : Tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp
NLD : Người lao động
BHXHVN : Bảo hiểm xã hội Việt Nam
KCB : Khám chữa bệnh
BHYT : Bảo hiểm y tế
CNTT : Công nghệ thông tin
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự ra đời và phát triển nền của kinh tế thị trường tại mỗi một quốc
gia, là hệ thống An sinh xã hội (ASXH) cũng đã ra đời và phát triển từ rất sớm,
nhằm đối phó với những rủi ro và những khó khăn trong cuộc sống. Với vai trò như
là “trụ cột” trong hệ thống ASXH, thì bảo hiểm xã hội (BHXH) luôn được coi là
một trong những chính sách cơ bản của mỗi quốc gia, thể hiện trình độ văn minh và
phát triển, khả năng tổ chức cũng như quản lý của quốc gia đó. Có thể nói: Không
có BHXH vũng chắc thì không có một hệ thống ASXH vững mạnh. Khi nhắc đến
BHXH thì mỗi người lao đông đều hiểu được tầm quan trọng của nó trong đời sống,
đó là quyền lợi của mỗi cá nhân trong xã hôi
Ở nước ta, chính sách bảo hiểm xã hội luôn được Đảng và Chính phủ quan
tâm và là một chính sách có tầm quan trọng đóng vai trò to lớn đối với cuộc sống
người lao động. Từ năm 1995 đến nay khi BHXH được tách riêng ra thành một cơ
quan riêng thì việc thực hiện chính sách BHXH đã có những bước chuyển biến mới.
Để thực hiện chính sách BHXH tốt và vững mạnh hơn nữa thì cần có một cơ chế
chi trả các chế độ BHXH hợp lí nhằm tạo niềm tin cho người lao động nó nắm vai
trò then chốt giúp cho BHXH phát triển.
Qua thời gian thực tập và nghiên cứu tại cơ quan BHXH huyện Đô Lương,
tỉnh Nghệ An, nhận thức được tầm quan trọng của công tác chi trả các chế độ
BHXH, em đã chọn đề tài: “Công tác chi trả BHXH ở huyện Đô Lương Nghệ An giai
đoạn 2008 – 2012.Thực trạng và giải pháp” để làm chuyên đề thực tập của mình.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là:
Tìm hiểu về thực trạng của công tác chi trả các chế độ BHXH tại BHXH
huyện từ đó phân tích các mặt đạt được và chưa đạt được. Qua đó tìm ra nguyên
nhân và đề ra các giải pháp phù hợp. với kết cấu của đề tài như sau
Chương I: Khái quát về BHXH và công tác chi trả các chế độ BHXH
Chương II: Thực trạng công tác chi trả các chế độ BHXH tại BHXH
huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
1
Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
Chương III: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác chi trả các chế độ
BHXH tại BHXH huyện Đô Lương Tỉnh Nghệ An
Trong quá trình thực hiện chuyên đề, dù đã có nhiều cố gắng nhưng do thời
gian và nhận thức còn hạn chế nên bài viết của em còn nhiều thiếu sót. Em rất mong
nhận được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến của các thầy cô cùng các để chuyên đề
thực tập được hoàn thiệt hơn.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo
PGS.TS Nguyễn Văn Định và sự giúp đỡ nhiệt tình của cô, các bác, các anh, các chị
trong cơ quan BHXH huyện Đô Lương đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành chuyên
đề thực tập này!
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Chí Dũng.
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
2
Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM VÀ
CÔNG TÁC CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1. Tổng quan về bảo hiểm xã hội Việt Nam
1.1.1. Sự ra đời và phát triển
BHXH được thực hiện ở Việt Nam từ năm 1945 và đã trải qua nhiều lần bổ
sung, sửa đổi đặc biệt trong các năm 1961, 1985 và 1995.
Năm 1961, một Nghị định của Chính phủ được ban hành để cung cấp các dịch
vụ phúc lợi xã hội cho tất cả các cán bộ, viên chức làm việc trong ngành nội chính,
giáo dục, y tế, các doanh nghiệp Nhà nước, nội vụ. Hệ thống này chỉ chịu trách
nhiệm bảo hiểm cho khoảng 600.000 - 700.000 người trên tổng số dân là 17 triệu
người của miền Bắc Việt Nam (theo số liệu năm 1962). Năm 1964 Nghị định 218
thực hiện BHXH cho quân nhân.
Từ năm 1975 thì chính sách BHXH được thực hiện thống nhất trong cả nước.
Chế độ BHXH bao gồm: trợ cấp hưu trí, mất sức lao động và tử tuất, cùng với các
chế độ ốm đau, thai sản và tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp do cơ quan, đơn vị
và doanh nghiệp đóng góp.
Trước năm 1995, BHXH do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách
nhiệm quản lý thực hiện về các chế độ trợ cấp dài hạn (hưu trí, tử tuất, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp đối với người nghỉ việc), Tổng Liên đoàn Lao động chịu
trách nhiệm quản lý thực hiện các khoản chi trả trợ cấp ngắn hạn (trợ cấp đau ốm,
thai sản và tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối với người đang làm việc).
Từ tháng 01/1995, Bộ Luật Lao động có hiệu lực, trong đó có chương XII về
BHXH. Để hướng dẫn thực hiện Bộ Luật Lao động, ngày 16/02/1995 Chính phủ
ban hành Nghị định số 19/CP của Chính phủ thành lập hệ thống BHXH Việt Nam
để giúp Thủ tướng Chính phủ tổ chức thực hiện các chính sách, chế độ về BHXH,
BHYT và quản lý quỹ BHXH. Ngày 30/01/1995 Chính phủ Việt Nam ban hành
Nghị định số 12/CP về điều lệ BHXH đối với dân sự với 5 chế độ BHXH: chế độ
trợ cấp ốm đau; trợ cấp thai sản; trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp; chế độ
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
3
Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
hưu trí và chế độ trợ cấp tử tuất. Và ngày 15/07/1995, Chính phủ ban hành Nghị
định số 45 quy định về BHXH đối với quân sự (quân đội, công an). Trong 2 nghị
định của Chính phủ có quy định về hình thành quỹ BHXH trên cơ sở thu BHXH
bao gồm người sử dụng lao động đóng 15% quỹ tiền lương và người lao động đóng
5% tiền lương hàng tháng. Quỹ này được sử dụng để chi cho 5 chế độ trên. Quỹ
BHXH được bảo tồn, tăng trưởng và được Nhà nước bảo hộ.
Ngày 24/01/2002, Chính phủ có Quyết định số 20/2002/QĐTTg chuyển hệ
thống BHYT trực thuộc Bộ Y tế sang BHXH Việt Nam và ngày 06/12, Chính phủ
ra Nghị định 100/NĐCP quyết định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ
máy của BHXH (bao gồm cả BHYT).
1.1.2. Tổ chức bộ máy quản lý.
Hệ thống tổ chức
Mô hình cơ cấu tổ chức BHXH việt nam.
(Nguồn )
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
4
Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
Bảo hiểm Xã hội Việt Nam được tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc, tập
trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, gồm có:
1. Ở Trung ương là Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
2. Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Bảo hiểm Xã hội tỉnh) trực thuộc Bảo
hiểm xã hội Việt Nam.
3. Ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là Bảo hiểm xã hội huyện, quận,
thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Bảo hiểm xã hội huyện) trực
thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh.
Cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam ở Trung ương
1. Ban Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội
2. Ban Thực hiện chính sách bảo hiểm y tế
3. Ban Thu
4. Ban Chi
5. Ban Cấp sổ, thẻ
6. Ban Tuyên truyền
7. Ban Hợp tác quốc tế
8. Ban Kiểm tra
9. Ban Thi đua - Khen thưởng.
10. Ban Kế hoạch - Tài chính.
11. Ban Tổ chức cán bộ.
12. Văn phòng
13. Viện Khoa học bảo hiểm xã hội
14. Trung tâm Thông tin
15. Trung tâm Lưu trữ
16. Trường Đào tạo nghiệp vụ bảo hiểm xã hội
17. Báo Bảo hiểm Xã hội
18. Tạp chí Bảo hiểm Xã hội
Các tổ chức quy định từ khoản 1 đến khoản 12 Điều này là các tổ chức giúp
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
5
Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
việc Tổng Giám đốc, các tổ chức quy định từ khoản 13 đến khoản 18 Điều này là
các đơn vị sự nghiệp trực thuộc.
Các tổ chức giúp việc Tổng Giám đốc (trừ Ban Hợp tác quốc tế, Ban Thi đua -
Khen thưởng) được thành lập phòng trực thuộc. Tổng Giám đốc quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, biên chế và bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách
chức cán bộ quản lý của các tổ chức giúp việc Tổng Giám đốc. Số lượng cấp phó
của người đứng đầu các tổ chức này không quá 03 người.
Tổng Giám đốc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức,
biên chế và bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức người đứng đầu, cấp phó của người
đứng đầu các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bảo hiểm Xã hội Việt Nam. Số lượng cấp
phó của người đứng đầu các đơn vị sự nghiệp này không quá 03 người.
Người đứng đầu các đơn vị sự nghiệp trực thuộc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách
chức Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng các phòng trực thuộc theo tiêu chuẩn chức
danh và quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ do Tổng Giám đốc Bảo hiểm Xã
hội Việt Nam ban hành.
Bảo hiểm Xã hội tỉnh
1. Bảo hiểm Xã hội tỉnh có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản và trụ sở
riêng; có các phòng chức năng trực thuộc;
2. Tổng Giám đốc quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, biên chế, bổ
nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc, Phó Giám đốc và quy định kinh phí hoạt
động của Bảo hiểm Xã hội tỉnh. Số lượng Phó Giám đốc Bảo hiểm Xã hội tỉnh
không quá 03 người.
3. Tổng Giám đốc quyết định thành lập, giải thể Bảo hiểm Xã hội tỉnh trong
trường hợp có quyết định sáp nhập, chia tách đơn vị hành chính cấp tỉnh của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền.
4. Giám đốc Bảo hiểm Xã hội tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Trưởng
phòng, Phó Trưởng phòng trực thuộc Bảo hiểm Xã hội tỉnh theo tiêu chuẩn chức
danh và quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ do Tổng Giám đốc Bảo hiểm Xã
hội Việt Nam ban hành.
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
6
Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
5. Giám đốc Bảo hiểm Xã hội tỉnh chịu trách nhiệm quản lý và sử dụng cán
bộ, công chức, viên chức, tài chính, tài sản thuộc phạm vi Bảo hiểm Xã hội tỉnh
quản lý theo phân cấp của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam.
Bảo hiểm Xã hội huyện
1. Bảo hiểm Xã hội huyện có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản và trụ
sở riêng.
2. Tổng Giám đốc quy định chức năng, nhiệm vụ, biên chế và quy định kinh
phí hoạt động của Bảo hiểm Xã hội huyện; quyết định thành lập, giải thể Bảo hiểm
Xã hội huyện trong trường hợp có quyết định sáp nhập, chia tách đơn vị hành chính
cấp huyện của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3. Giám đốc Bảo hiểm Xã hội tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám
đốc, Phó Giám đốc Bảo hiểm Xã hội huyện theo tiêu chuẩn chức danh và quy trình
bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ do Tổng Giám đốc Bảo hiểm Xã hội Việt Nam ban
hành. Số lượng Phó Giám đốc Bảo hiểm Xã hội huyện không quá 02 người
4. Giám đốc Bảo hiểm Xã hội huyện chịu trách nhiệm quản lý công chức, viên
chức, tài chính, tài sản thuộc phạm vi Bảo hiểm Xã hội huyện quản lý theo phân cấp
của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam và của Bảo hiểm Xã hội tỉnh.
1.1.3. Nội dung hoạt động của BHXH Việt Nam.
Bảo hiểm xã hội là một hệ thống đa dạng và phức tạp với những nội dung
hoạt động khác nhau. Tuy nhiên, có thể tập trung vào 4 nhóm nội dung cơ bản sau:
1.1.3.1 .Đối tượng Bảo hiểm xã hội
Có người cho rằng, đối tượng của BHXH là người lao động. Tuy nhiên, theo
bản chất vốn có, đối tượng của BHXH là thu nhập của người lao động chứ không
phải bản thân họ. BHXH được hình thành để góp phần cân bằng thu nhập cho người
lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động
hoặc khả năng lao động không được sử dụng.
Còn đối tượng đảm bảo của BHXH là người lao động và gia đình họ theo quy
định của pháp luật BHXH.
Đối tượng tham gia BHXH là người lao động, người sử dụng lao động và Nhà
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
7
Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
nước trong một số trường hợp.
1.1.3.2.Các chế độ Bảo hiểm xã hội
Các chế độ BHXH là hệ thống các quy định về mức hưởng của từng trường
hợp, điều kiện hưởng, mức hưởng và thời hạn hưởng cho người lao động khi họ gặp
phải những rủi ro thuộc từng phạm vi bảo hiểm. Tùy theo điều kiện, hệ thống
BHXH của mỗi nước có thể có các chế độ BHXH khác nhau trong số 9 chế độ mà
Tổ chức Lao động quốc tế quy định. Hiện nay pháp luật BHXH của Việt Nam quy
định có 5 chế độ: chế độ trợ cấp cho những trường hợp bị ốm đau (gọi tắt là chế độ
ốm đau); chế độ BHXH cho lao động nữ khi sinh con (gọi tắt là chế độ thai sản);
chế độ trợ cấp BHXH cho người lao động bị tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
(gọi tắt là chế độ TNLĐ & BNN); chế độ chôn cất và trợ cấp mất người nuôi dưỡng
(gọi tắt là chế độ tử tuất); chế độ bảo hiểm tuổi già (gọi tắt là chế độ hưu trí).
Có thể nói, các chế độ là nội dung cốt lõi nhất của hệ thống BHXH, nó thể hiện
được vai trò và phạm vi trách nhiệm của BHXH đối với người lao động khi họ tham
gia BHXH.
Trong các chế độ BHXH, quy định đối tượng được thụ hưởng, các điều kiện
hưởng BHXH, mức hưởng và thời hạn được hưởng trợ cấp BHXH (sẽ được đề cập
sâu hơn ở những phần sau – tác giả).
Trợ cấp BHXH là khoản tiền từ quỹ BHXH được bên BHXH (cơ quan
BHXH) chi trả cho mọi người được BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập bị
giảm, mất khả năng lao động hoặc mất việc làm và có đủ các điều kiện quy định.
1.1.3.3.Quỹ Bảo hiểm xã hội
Quỹ BHXH là một trong những nội dung quan trọng của hệ thống BHXH.
Trong những phần sau sẽ trình bầy chi tiết hơn vấn đề này, ở đây chỉ nêu khái quát.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quỹ BHXH. Có thể nêu một định nghĩa như
sau: Quỹ BHXH là tập hợp những đóng góp bằng tiền của các bên tham gia BHXH
và các nguồn thu hợp pháp khác, hình thành một quỹ tiền tệ tập trung, được sử dụng
để chi trả cho những người được BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu
nhập do bị giảm, mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm hoặc bị chết.
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
8
Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
Như vậy, quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng; nó vừa
mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật chất
quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển.
Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết những sự kiện,
những “rủi ro xã hội” của tất cả những người tham gia với tổng dự trữ ít nhất, giúp
cho việc dàn trải “rủi ro” được thực hiện theo cả hai chiều không gian và thời gian,
đồng thời giúp giảm tối thiểu thiệt hại kinh tế cho người sử dụng lao động, tiết kiệm
chi cho cả ngân sách Nhà nước và ngân sách gia đình.
Quỹ BHXH được hình thành bởi nhiều nguồn khác nhau. Trước hết, đó là
phần đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước. Đây là
nguồn chiếm tỷ trọng lớn nhất và cơ bản của quỹ. Thứ hai, là phần tăng thêm do bộ
phận nhàn rỗi tương đối của quỹ được tổ chức BHXH chuyên trách đưa vào hoạt
động sinh lợi. Thứ ba, là phần nộp phạt của những cá nhân và tổ chức kinh tế vi
phạm luật lệ về BHXH. Ngoài ra, quỹ còn có các nguồn thu hợp pháp khác được
pháp luật của mỗi nước quy định.
Theo mục đích của BHXH, quỹ BHXH phải đảm nhận chi những khoản chủ
yếu như: trả trợ cấp theo các chế độ BHXH (khoản chi này chiếm tỷ trọng lớn nhất);
chi phí cho bộ máy hoạt động BHXH chuyên nghiệp (tiền lương, đào tạo…) chi phí
bảo đảm các cơ sở vật chất cần thiết và chi phí quản lý khác.
1.1.3.4.Tổ chức quản lý Bảo hiểm xã hội
Quản lý BHXH chung nhất, được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý vào
đối tượng và khách thể quản lý trong các hoạt động của BHXH, nhằm đạt được mục
tiêu đề ra với những nguyên tắc và phương pháp quản lý phù hợp với hệ thống quản
lý chung của nền kinh tế.
Quản lý BHXH cho thấy phương thức quản lý BHXH và các cơ quan chức
năng có nhiệm vụ quản lý BHXH (bao gồm quản lý Nhà nước về BHXH và quản lý
hoạt động sự nghiệp BHXH).
Do điều kiện kinh tế – xã hội và chính trị của mỗi nước khác nhau nên hệ
thống BHXH của các nước được xây dựng khác nhau và vì vậy không có mô hình
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
9
Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
tổ chức BHXH chung cho tất cả các nước. Có một số nước giao cho một bộ nào đó
đảm nhận cả chức năng quản lý Nhà nước về BHXH và tổ chức thực hiện các
nghiệp vụ BHXH. Đa số các nước hoạt động sự nghiệp BHXH (quản lý quỹ, quản
lý đối tượng, thực hiện thu – chi BHXH) được giao cho cơ quan BHXH độc lập
đảm nhận dưới sự điều hành của Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng quản lý. Tuy
nhiên, dù có tổ chức thế nào thì vẫn có hai nội dung quan trọng, đó là quản lý Nhà
nước về BHXH và quản lý các hoạt động sự nghiệp BHXH.
Quản lý Nhà nước về BHXH
BHXH là một chính sách xã hội của mỗi nước vì vậy phải có sự quản lý các
hoạt động BHXH. Quản lý Nhà nước về BHXH là một trong các hoạt động quản lý
đó. Quản lý Nhà nước về BHXH xuất phát từ chức năng xã hội của Nhà nước. Quản
lý Nhà nước về BHXH được thể hiện thông qua một số nội dung cơ bản sau:
- Quản lý thống nhất các hoạt động BHXH trên phạm vi toàn quốc gia:
Dù hệ thống tổ chức và cách thức quản lý của các quốc gia có khác nhau, nhưng
việc các quốc gia đều có sự quản lý thống nhất các hoạt động BHXH. Việc quản lý
thống nhất thể hiện qua việc chỉ có Nhà nước mới ban hành chính sách vĩ mô định
hướng hoạt động của cả hệ thống BHXH. Nhà nước định ra các chế độ BHXH, các
nội dung cơ bản của BHXH; các chính sách BHXH đối với các nhóm đối tượng cụ
thể, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước trong từng gia đoạn phát
triển.
- Xây dựng pháp luật BHXH:
Một trong những chức năng cơ bản của quản lý Nhà nước về BHXH là công
tác xây dựng văn bản pháp luật BHXH. Nhà nước, thông qua các cơ quan chức
năng của mình (tùy theo mô hình quản lý Nhà nước của mỗi nước) xây dựng các
văn bản pháp luật về BHXH bao gồm các đạo luật, các luật, các văn bản pháp quy
(Nghi định, quyết định…) và các văn bản dưới luật để thực hiện pháp luật BHXH
thống nhất trong phạm vi quốc gia. Khác với bảo hiểm thương mại, Nhà nước chỉ
ban hành những điều, những nội dung cơ bản nhất còn các chính sách, chiến lược
cụ thể là do các công ty bảo hiểm thực hiện, đối với BHXH, Nhà nước quy định
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
10
Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
bằng văn bản pháp luật rất cụ thể và chặt chẽ các nội dung của chính sách BHXH,
các cơ quan BHXH không được tự ý đặt ra bất kỳ chế độ, bất kỳ quy định nào.
Vì vậy, xây dựng pháp luật BHXH có thể coi là chức năng quan trọng nhất của
quản lý Nhà nước về BHXH.
- Định hướng các hoạt động BHXH:
Với chức năng của mình, Nhà nước đề ra các chính sách BHXH nhằm định
hướng cho các hoạt động BHXH phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế- xã hội
của đất nước trong từng thời kỳ, bao gồm:
+ Thứ nhất, định hướng chính sách:
BHXH là một chính sách mở cả về nội dung và phương thức thực hiện. Không
phải ngay một lúc, một thời điểm nội dung các chế độ đã được xây dựng đầy đủ mà
tuỳ từng thời kỳ, các nội dung này được bổ sung dần dần. Tuy nhiên, bổ sung, sửa
đổi như thế nào phải cân nhắc đến tất cả các yếu tố kinh tế – xã hội và có thời kỳ cả
yếu tố chính trị nữa. ở một số nước ban đầu chỉ xây dựng một vài chế độ (chủ yếu là
hưu trí và ốm đau) sau đó mới mở rộng dần các chế độ BHXH khác. Việc mở rộng
đối tượng, mở rộng nội dung chế độ BHXH và cơ chế thực hiện BHXH là do Nhà
nước quy định. Ngoài ra, Nhà nước còn định hướng về mô hình tổ chức hệ thống
BHXH. Có những nước, ngoài hệ thống BHXH chính thống của Nhà nước còn có
hệ thống BHXH của tư nhân, hệ thống BHXH của một số ngành…
+ Thứ hai, định hướng tài chính BHXH:
Tài chính BHXH là một trong những hoạt động cơ bản của BHXH. Để hoạt
động này có hiệu quả, phục vụ cho các đối tượng thụ hưởng BHXH và góp phần
lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia, Nhà nước ra những quy định về mức đóng,
mức hưởng BHXH; quy định trách nhiệm của các bên khi tham gia BHXH; quy
định các chế độ và quản lý quỹ BHXH; quy định về kiểm tra, kiểm toán… Ngoài ra,
với vai trò là người quản lý xã hội, Nhà nước định hướng đầu tư để tăng trưởng quỹ
BHXH (đầu tư vào những lĩnh vực nào, đầu tư như thế nào…). Mặc dù ở nhiều
nước, hoạt động đầu tư quỹ BHXH do Hội đồng quản trị quyết định, nhưng Nhà
nước vẫn giữ vai trò định hướng để đảm bảo an toàn cho quỹ BHXH.
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
11
Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
- Thực hiện thanh tra, kiểm tra các hoạt động sự nghiệp BHXH:
Song song với việc hoạch định chính sách BHXH, Nhà nước tổ chức các hoạt động sự
nghiệp BHXH. Để các hoạt động này đúng định hướng, với chức năng của mình, Nhà
nước thực hiện việc thanh tra, kiểm tra các hoạt động sự nghiệp BHXH theo quy định
của pháp luật, xử lý các khiếu kiện, các tranh chấp về BHXH theo luật định.
Trong hoạt động BHXH có các bên liên quan như người lao động, người sử
dụng lao động với những lợi ích khác nhau và vì vậy thường có những sự lạm dụng,
lợi dụng pháp luật BHXH để trục lợi cho mình. Mặt khác, chính sách BHXH là
chính sách phát triển và phức tạp nên trong quá trình thực hiện cả người lao động,
người sử dụng lao động và cơ quan BHXH khó tránh khỏi những sai sót. Do đó,
thanh tra, kiểm tra các hoạt động BHXH là cần thiết nhằm đảm bảo cho các bên liên
quan thực hiện đúng nghĩa vụ và trách nhiệm của mình, đồng thời đảm bảo quyền
lợi hợp pháp của họ.
- Bảo hộ và bảo trợ cho các hoạt động BHXH:
Khác với các loại hình bảo hiểm khác, BHXH dù mô hình hoạt động khác
nhau nhưng đều nhằm đảm bảo an sinh xã hội. Vì vậy, Nhà nước luôn luôn bảo hộ
và bảo trợ cho các hoạt động BHXH, nhằm đảm bảo cho BHXH không bị ảnh
hưởng trước những biến động về kinh tế và xã hội, đặc biệt là những biến động về
tài chính. Sự bảo hộ và bảo trợ của Nhà nước đối với các hoạt động của BHXH thể
hiện ở một số điểm sau:
+ Bảo đảm giá trị của quỹ BHXH trong các tài khoản tại ngân hàng để đảm
bảo mức chi trả cho đối tượng hưởng BHXH.
+ Bảo đảm các trợ cấp BHXH cho các đối tượng thụ hưởng BHXH trước
những biến động kinh tế- xã hội và chính trị.
+ Bảo hộ cho quỹ BHXH trong các hoạt động đầu tư, sinh lời. Nhà nước ưu
tiên cho quỹ BHXH được đầu tư phần quỹ nhàn rỗi vào những lĩnh vực an toàn, rủi
ro thấp nhất và thuận lợi khi thu hồi vốn để kịp thời chi trả các khoản chi BHXH
khi có nhu cầu lớn.
+ Không đánh thuế hoặc đánh thuế thấp đối với các dự án đầu tư của quỹ
BHXH.
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
12
Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
+ Hỗ trợ về tài chính cho quỹ BHXH trong những trường hợp quỹ BHXH bị thâm
hụt vì những lý do bất khả kháng ….
Tổ chức hoạt động sự nghiệp BHXH.
Dù mô hình có thể được tổ chức khác nhau, nhưng hoạt động sự nghiệp
BHXH có những chức năng chủ yếu sau:
- Thực hiện thu- chi BHXH:
Thông quan bộ máy của mình và trên cơ sở pháp luật BHXH của mỗi nước,
các cơ quan BHXH tiến hành các nghiệp vụ thu tiền đóng BHXH của các doanh
nghiệp và người lao động (còn gọi là phí BHXH) và triển khai chi trả các trợ cấp
cho người thụ hưởng BHXH và các chi phí quản lý khác.
Thực hiện các nghiệp vụ kế toán – tài chính BHXH theo chính sách tài chính của
mỗi nước.
- Quản lý đối tượng:
Trong hoạt động BHXH có hai nhóm đối tượng đó là nhóm đối tượng tham
gia BHXH và nhóm đối tượng thụ hưởng BHXH. Nhóm đối tượng tham gia BHXH
bao gồm các doanh nghiệp và người lao động. Khi tham gia BHXH, doanh nghiệp
(người sử dụng lao động) và người lao động đều phải đóng phí BHXH. Vì vậy, để
đảm bảo nguồn thu cho quỹ BHXH, các cơ quan BHXH phải nắm chắc được số
lượng các đơn vị tham gia BHXH, những di biến động trên từng địa bàn và trong
toàn quốc. Đồng thời, cũng phải có được những thông tin đầy đủ về người lao động
để xác định được nguồn thu và dự báo được các khoản chi trong tương lai.
Nhóm đối tượng thụ hưởng Bảo hiểm xã hội bao gồm người lao động và gia đình
họ (theo quy định của từng nước). Cơ quan Bảo hiểm xã hội cũng phải có đầy đủ
các thông tin về người lao động khi thụ hưởng Bảo hiểm xã hội để chi đúng, chi đủ
cho đối tượng và hạn chế những sự lạm dụng Bảo hiểm xã hội.
Để quản lý tốt đối tượng các cơ quan Bảo hiểm xã hộicó các công cụ quản lý đó là
sổ/thẻ Bảo hiểm xã hội, trong đó có ghi chép (được mã hóa) các thông tin cần thiết
về đối tượng, đặc biệt là đối tượng thụ hưởng Bảo hiểm xã hội. Hiện nay, đa số các
nước đã ứng dụng công nghệ tin học hiện đại để quản lý đối tượng tham gia và thụ
hưởng BHXH.
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
13
Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
- Quản lý quỹ BHXH:
+ Quản lý quỹ BHXH bao gồm quản lý công tác thu BHXH và quản lý công
tác chi BHXH, nhằm đảm bảo cho quĩ được an toàn và đảm bảo thu đúng, thu đủ;
chi đúng, chi đủ cho đối tượng thụ hưởng BHXH; hạn chế tối đa sự thất thoát quỹ
BHXH.
+ Xây dựng chiến lược tăng trưởng quỹ BHXH thông qua các hoạt động đầu tư.
+ Tham gia vào thị trường tài chính của quốc gia. Đây là một trong những
chức năng quan trọng của cơ quan BHXH. Bởi lẽ các quá trình thu và chi BHXH
không diễn ra song trùng và thông thường sự tồn tích của quỹ BHXH rất lớn. Nếu
được Nhà nước điều tiết thông qua các chính sách và công cụ tài chính, quỹ BHXH
sẽ góp phần rất lớn vào việc ổn định nền tài chính quốc gia.
- Thực hiện thanh tra, kiểm tra:
Tuỳ theo mô hình của từng nước mà nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra về BHXH
có khác nhau. Với những nước trao quyền tự chủ cao cho Hội đồng quản trị BHXH
thì trong hệ thống sự nghiệp BHXH chức năng thanh tra, kiểm tra rất quan trọng.
Đối với những nước có quản lý Nhà nước về BHXH riêng thì chức năng thanh tra,
kiểm tra hoạt động BHXH của các cơ quan quản lý Nhà nước rất lớn. Tuy nhiên,
trong hệ thống BHXH vẫn có chức năng thanh tra kiểm tra của mình nhằm đảm bảo
các hoạt động BHXH đúng với các quy định của pháp luật.
1.2. Hoạt đông chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội.
1.2.1. Cơ sở và nguyên tắc chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội
Cơ sở của việc chi trả Bảo hiểm xã hội:
Chi BHXH là quá trình phân phối và sử dụng các nguồn tài chính đã được tập
chung vào quỹ BHXH nhằm mục đích chi trả cho các chế độ BHXH. Mà người lao
động tham gia BHXH được hưởng nhằm mục đích ổn định cuộc sống của họ và gia
đình họ khi họ gặp phải rủi ro hoặc sự kiện bảo hiểm…
Việc chi trả các chế độ BHXH được xây dựng riêng cho từng chế độ và mỗi
quốc gia có những cơ sở khác nhau nhưng cơ bản đều theo một khung nhất định.
Các hoạt động chi trả các chế độ BHXH họ đều dựa vào luật, các văn bản, các quy
định của nhà nước, các văn bản do cơ quan BHXH trung ương quy định và có
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
14
Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
hướng dẫn cụ thể. Đồng thời căn cứ vào đặc điểm kinh tế, nguồn chi và tiền lương
đóng BHXH, điều kiện làm việc, mức độ rủi ro… Để xây dựng một hệ thống pháp
luật phù hợp với từng quốc gia.
- Nguyên tắc chi trả Bảo hiểm xã hội
BHXH là trụ cột chính trong hệ thống ASXH của mỗi quốc gia, là chỗ dựa
cho người lao động lúc họ gặp khó khăn rủi ro trong cuộc sống. Vì vậy để thực hiện
chi BHXH một cách có hiệu quả cần đạt được mục tiêu chi đúng, chi đủ, chi an toàn
và chi kịp thời đến tận tay đối tượng hưởng. Cần có hoạt động quản lý chi một cách
có tổ chức theo đúng quy định của pháp luật.
+ Chi đúng là chi đúng đối tượng, đúng chế độ, đúng thời hạn … đảm bảo lợi
ích cho người lao động.
+ Chi đủ là: chi đủ khoản tiền trợ cấp mà đối tượng đáng được hưởng theo
quy định.
+ Chi an toàn là: đảm bảo khoản tiền từ cơ quan BHXH đến tay người lao
động không bị thất thoát.
+ Chi kịp thời: là chi đúng thời điểm người lao động cần sự trợ giúp của
BHXH. Nó giúp người lao động yên tâm hơn vào cơ quan BHXH nói riêng và pháp
luật của nhà nước nói chung.
1.2.2. Vai trò của công tác chi trả Bảo hiểm xã hội
- Công tác chi các chế độ BHXH là một trong những hoạt động chính của
BHXH- chiểm tỷ trọng lớn nhất (hơn 90%) trong tổng số chi của quỹ BHXH nhằm
trực tiếp thực hiện mục tiêu lớn nhất của hệ thống BHXH. Đảm bảo những nhu cầu
thiết yếu của người lao động và gia đình họ khi người lao động gặp phải rủi ro hoặc
sự kiện bảo hiểm,…. nói một cách khác chi BHXH nói chung và chi các chế độ
BHXH nói riêng là quá trình phân phối và sử dụng các nguồn tài chính đã được tập
trung vào quỹ BHXH nhằm mục đích chi trả cho các chế độ BHXH mà người lao
động tham gia BHXH được hưởng, giúp họ ổn định cuộc sống.
Để thực hiện chi BHXH, trong đó có chi các chế độ BHXH, một cách hiệu
quả, đạt được mục tiêu: chi đúng- đủ, đảm bảo đến tận tay đối tượng theo quy định
cần phải có hoạt động quản lí một cách có tổ chức và đúng quy định của Pháp luật.
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
15
Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
1.2.3. Quy trình chi trả
Quy trình chi trả là sự kế tiếp các khâu có liên quan đến công tác chi trả nhằm
theo dõi sự vận động của đồng tiền từ khi ra khỏi quỹ BHXH đến tay đối tưởng
hưởng BHXH. Đến khi thu hồi chứng từ về và bảo toàn chúng.
Xem xét dưới góc độ nghiệp vụ thì quy trình chi trả phụ thuộc chặt chẽ vào cơ
chế quản lý và phương thức vận hành từng loại chế độ BHXH. Quy trình chi trả
gồm có hai quy trình chi trả sau: Quy trình chi trả các đối tượng hưởng trợ cấp
BHXH hàng tháng và quy trình chi trả các đối tượng hưởng trợ cấp BHXH một lần.
-Quy trình chi trả các đối tượng hưởng trợ cấp BHXH hàng tháng.
Các chế độ áp dụng hình thức chi trả này là các chế độ: chế độ hưu trí, chế độ
tử tuất và chế độ TNLĐ-BNN (suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên) được
thức hiện theo quy trình sau:
Sơ đồ 1.3: Quy trình chi trả BHXH hàng tháng
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
Bộ tài chính -
NSNN
BHXH Việt Nam – Quỹ
BHXH
BHXH tỉnh
BHXH huyện
Đơn vị lao
động và
người lao
động
Đại lý chi trả các xã
Đối tượng hưởng
BHXH hàng tháng
(1)
(2)
(3)
(3)
(4)
(4)
(5)(4)
(5)
16
Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
Trong đó,
(1) : NSNN sẽ chuyển kinh phí chi các chế độ cho các đối tượng hưởng từ
NSNN theo Luật quy đinh như người có công với cách mạng, mẹ liệt sĩ… tới cơ
quan BHXH trung ương-quỹ BHXH
(2) : BHXH trung ương chuyển số kinh phí bao gồm cả nguồn từ NSNN và
nguồn Quỹ BHXH cho BHXH tỉnh
(3) : BHXH tỉnh 1 phần chi trả cho các đối tượng hưởng do BHXH tỉnh trực
tiếp quản lý và 1 phần còn lại chuyển khoản cho BHXH huyện chi trả cho các đối
tưởng hưởng trên địa bàn tỉnh
(4) : BHXH huyện 1 phần chi trả giúp BHXH tỉnh cho đối tượng hưởng mà
BHXH tỉnh uy quyền đồng thời thực hiện chi trả trực tiếp cho đối tượng hưởng mà
cơ quan trực tiếp quản lý hay thông qua các đại lý chi trả
(5) : Các đại lý chi trả thực hiện chi trả cho các đối tượng hưởng
-Quy trình chi trả một lần
Các chế độ áp dụng hình thức chi trả này là các chế độ: chế độ ốm đau. Chế độ
thai sản, chế độ TNLĐ-BNN và chế độ tử tuất và được thực hiện theo quy trình sau:
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
17
Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
Sơ đồ 1.4: Quy trình chi trả BHXH một lần
Trong đó,
(1) : BHXH Việt nam cấp kinh phí chi trả các chế đội thuộc diện chi trả 1 lần
thông qua hệ thống ngân hàng, kho bạc xuống BHXH tỉnh
(2) : Tại BHXH tỉnh chi trả cho các đối tượng thông qua chuyển khoản vào
NH và kho bạc huyện và cũng thực đồng thời chuyển khoản xuống BHXH huyện
(3) : BHXH huyện thực hiện chi trả cho các đối tượng bằng chuyển khoản
hoặc trực tiếp hoặc thông qua NSDLĐ
(4) : Hệ thống NH và kho bạc huyện chuyển tiền cho các đơn vih SDLĐ
(5) : Các đơn vị SDLĐ thực hiện chi chuyển tiền tới các đối tượng hưởng
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
BHXH tỉnh
Kho bạc NN hoặc
NHNN và PTNN
tỉnh
BHXH huyện
Đơn vị sử dụng LĐ
trên địa bàn quân,
huyện
Kho bạc hoặc NHNN và
PTNN huyện
Đối tượng
hưởng BHXH
(1)
(2)
(2)
(3)
(4)
(3)
(3)
(5)
BHXH
ViệtNam-
Quỹ BHXH
18
Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
1.2.4 Phương thức chi trả các chế độ Bảo hiểm xã hội
Tùy thuộc vào mô hình của hệ thống BHXH và cơ sở lập luận thể chế tài
chính của mỗi quốc gia mà người ta lựa chọn phương thức chi trả BHXH một cách
cụ thể khác nhau. Một số yếu tố thường được cơ quan BHXH xem xét để quyết định
phương pháp chi trả:
- Sự phát triển của cơ sở hạ tầng
- Chi phí dịch vụ
- Sự an toàn về tài chính
- Sự thuận tiện cho cơ quan BHXH và người hưởng trợ cấp
Tuy nhiên xét một cách tổng quát thì có hai phương thức chi trả: đó là phương
thức chi trả trực tiếp và phương thức chi trả gián tiếp; tùy thuộc vào từng địa bàn cụ
thể, tùy loại đối tượng hưởng mà cơ quan BHXH có thể lựa chọn phương thức chi
trả khác nhau.
- Phương thức chi trả trực tiếp:
Đây là phương thức chi trả trợ cấp BHXH trực tiếp cho đối tượng hưởng
BHXH không qua các đại lý trung gian, việc chi trả này là do cơ quan BHXH, cán
bộ của ngành trực tiếp thực hiện, chi trả đến tận tay đối tượng hưởng BHXH.
Khi thực hiện công tác chi trả đòi hỏi cán bộ làm công tác chi trả phải có trách
nhiệm chuẩn bị mọi công việc có liên quan đến việc chi trả từ khâu nhận danh sách
đối tượng hưởng, lên kế hoạch và thông báo thời gian chi trả cho từng địa bàn hoặc
đơn vị được phân công phụ trách. Đồng thời họ cũng phải chuẩn bị tiền để chi trả và
thanh toán sau khi chi trả.
Quy trình chi trả trực tiếp
Khi thực hiện phương thức chi trả trực tiếp thì có ưu điểm và nhược điểm như sau:
+ Ưu điểm:
Do cơ quan BHXH trực tiếp chi trả với từng đối tượng hưởng BHXH cho
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
19
Cán bộ chi trả Đối tượng hưởng
Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
nên đã xác lập được quan hệ giữa cơ quan BHXH với đối tượng hưởng. Do đó sẽ
nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng, hoàn cảnh của từng đối tượng. Đồng thời tuyên
truyền giải thích các chế độ chính sách cho các đối tượng. Phát hiện được những bất
hợp lý để tìm ra biện pháp và hướng giải quyết thỏa đáng.
Thực hiện chi trả trực tiếp còn giúp cho cơ quan BHXH kiểm tra và quản lý
chặt chẽ được đối tượng sẽ nắm bắt được tình hình tăng, giảm để từ đó kịp thời điều
chính hoặc phát hiện trường hợp hưởng không đúng hoặc hưởng trùng chế độ.
Do nắm bắt được đối tượng quản lý cho nên việc chi trả được thực hiện một
cách nhanh gọn, đầy đủ, chính xác, đảm bảo được quyền lợi của đối tượng hưởng,
tạo niềm tin và sự phần khởi cho người dân nói chung.
Phương thức chi trả trực tiếp tạo điều kiện thanh quyết toán của cơ quan
BHXH được kịp thời, khắc phục được hiện tượng dây dưa, tồn đọng của các đại lý
chi trả. Đặc biệt tránh được kẽ hở trong khâu thanh toán, quyết toán cũng như tiêu
cực khác trong khâu chi trả.
+ Nhược điểm:
Không thể tiến hành chi trả nhiều đơn vị, nhiều địa điểm trong cùng một thời
gian, thời gian chi trả bị kéo dài. Đòi hỏi lịch trình công tác của cán bộ phải khoa
học, chính sách đầy đủ. Đối với những khu vực vùng sâu, vùng xa, hải đảo thì việc
chi trả cũng gặp nhiều khó khăn về phương tiện đi lại cũng như là phương tiện vận
chuyển tiền, cũng như phương tiện đảm bảo an toàn cho tiền. Phương thức chi trả
được thực hiện đúng kỳ và đủ số thì nguồn kinh phí chi trả phải được đảm bảo đầy
đủ về số lượng và thời gian. Vấn đề này đòi hỏi cần phải có sự phối hợp chặt chẽ
giữa cơ quan BHXH với kho bạc và ngân hàng. Phương thức này làm tốn nhiều cán
bộ cho công tác chi trả nên chi phí quản lý tăng.
- Phương thức chi trả gián tiếp
Là phương thức chi trả thông qua các đại lý chi trả, thông qua Ngân hàng,
thông qua bưu điện hoặc các đại lý chi trả
Phương thức chi trả thông qua các đại lý chi trả: thì cơ quan BHXH phải ký
hợp đồng trách nhiệm với một số cá nhân làm đại diện chi trả, những cá nhân này
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
20
Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
thường là những người đang hưởng chế độ BHXH có trách nhiệm uy tín ở địa
phương và được cơ quan chính quyền địa phương giới thiệu. Hàng tháng, các đại lý
chi trả sẽ nhận danh sách đối tượng hưởng và tiền từ cơ quan BHXH cấp huyện,
hoặc có thể nhận tay ba qua kho bạc hoặc bưu điện. Sau mỗi kỳ chi trả sẽ có quyết
định thanh quyết toán đối với đại diện chi trả.
Quy trình chi trả thông qua các đại lý chi trả:
Phương thức chi trả thông qua ngân hàng hoặc bưu điện: tùy thuộc vào điều
kiện kinh tế, xã hội của từng nước, từng vùng và đặc điểm của từng chế độ, mà có
thể áp dụng phương pháp nào sao cho phù hợp. Cơ quan BHXH sẽ chuyển tiền và
danh sách đối tượng hưởng cho Ngân hàng hoặc bưu điện. Nếu chuyển vào Ngân
hàng thì cơ quan BHXH sẽ chuyển tiền vào Ngân hàng sau đó Ngân hàng sẽ chuyển
tiền vào các tài khoản cá nhân của họ. Nếu thông qua đường bưu điện thì nhân viên
bưu điện sẽ chuyển đến tận tay đối tượng hưởng thông qua đường bưu điện. Khi
thực hiện phương thức chi trả gián tiếp thì có ưu điểm và nhược điểm sau:
+ Ưu điểm:
Thực hiện phương thức này thì cơ quan BHXH sẽ chi trả được tất cả các địa
bàn, xã phường, thị trấn trong phạm vi tỉnh, thành phố trong cùng một thời điểm.
Cán bộ làm đại lý chi trả là những người của địa phương. Vì vậy mà thường
xuyên nắm bắt được tình hình của đối tượng hưởng do đại lý phụ trách, cho nên sẽ
kiểm soát và phản ánh được kịp thời cho cơ quan BHXH. Cắt giảm đối tượng bị
chết, điều chỉnh lại các đối tượng hưởng các chế độ mà không theo đúng quy định.
Các đại lý chi trả thường là do ủy ban nhân dân giới thiệu với cơ quan BHXH,
được sự giúp đỡ của chính quyền địa phương giúp cho công tác chi trả được thực
hiện một cách thuận lợi và hiệu quả nhất.
+ Nhược điểm:
Nếu chi trả gián tiếp thì cơ quan BHXH không nắm bắt được tâm tư, nguyện
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
21
BHXH
Đại lý chi trả Đối tượng hưởng
Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
vọng của đối tượng hưởng để giải quyết, giải đáp những thắc mắc cho họ.
Đại lý này ở địa phương giới thiệu, có nhiều người đại lý không có ý thức tốt
thực hiện các quy định của ngành về quản lý tài chính như số tiền lĩnh không đầy
đủ, danh sách chi trả và phiếu lĩnh tiền chưa có chữ ký của đối tượng hưởng. Một số
đại lý chi trả còn thu thêm tiền đối tượng.
Lệ phí chi trả cho các đại lý thường thấp, không khuyến khích được các đại lý
chi trả. Điều kiện đi lai khó khăn trong quá trình thực hiện chi trả.
Mặc dù, phương thức này có thể tiến hành đồng thời trên các địa bàn nhưng
việc chi trả cho đối tượng trong phạm vi một xã lại có thể kéo dài. Đặc biệt là trên
địa bàn có số đối tượng đông, vì vậy việc thanh quyết toán đối với cơ quan BHXH
sau mỗi thời kỳ chi trả thường chậm chễ so với quy định.
Quy trình chi trả thông qua Ngân hàng, Bưu điện:
1.2.5 Kết quả chi trả BHXH
Năm 2012, mặc dù tình hình kinh tế - xã hội của đất nước gặp nhiều khó khăn,
tăng trưởng kinh tế thấp, nhiều doanh nghiệp tiếp tục giải thể, ngừng hoạt động, ảnh
hưởng đến việc làm và thu nhập của người lao động; một số nội dung bất cập trong
thực hiện Luật bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) vẫn chưa được giải
quyết kịp thời; trang thiết bị công nghệ thông tin và các phần mềm quản lý nghiệp
vụ chậm được nâng cấp, triển khai đồng bộ gây khó khăn trong tổ chức thực hiện
nhiệm vụ, nhưng các đơn vị trong Ngành đã có nhiều nỗ lực, phấn đấu hoàn thành
nhiệm vụ được giao và đạt được một số kết quả nổi bật.
Công tác phối hợp với các bộ, ngành trong việc xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật và tổ chức thực hiện chính sách BHXH, BHYT tiếp tục đạt kết quả tốt,
trong đó nổi bật là việc phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng đánh giá, tổng
kết tình hình thực hiện Chỉ thị 15-CT/TW của Bộ Chính trị và trình Bộ Chính trị
ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
22
BHXH
Ngân hàng,
Bưu điện
Đối tượng hưởng
Chuyên đề thực tập Gv:
PGS.TS. Nguyễn Văn Định
công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 - 2020; phối hợp với Bộ Y tế xây dựng Đề
án “Thực hiện lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân giai đoạn 2012 - 2015 và 2020”, ;
phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng và ban hành chế độ kế toán của BHXH; tổ
chức ký kết quy chế phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Tổng cục
Cảnh sát phòng chống tội phạm và 11 bộ, ngành để triển khai thực hiện chính sách
BHXH, BHYT.
Công tác phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc chỉ đạo thực
hiện chính sách BHXH, BHYT nhất là những vấn đề quan trọng, nhạy cảm như: giá
dịch vụ y tế, cấp thẻ BHYT, giảm nợ đọng BHXH, BHYT, tiếp tục đạt kết quả tốt.
BHXH các tỉnh, thành phố tích cực tham mưu đề xuất cho cấp ủy, chính quyền
áp dụng nhiều giải pháp để phát triển đối tượng, tăng thu, giảm nợ đọng BHXH,
BHYT và thực hiện có hiệu quả các chế độ chính sách BHXH, BHYT tại địa
phương, trong đó đã tham mưu cho Tỉnh uỷ, UBND tỉnh ban hành 121 văn bản và
phối hợp với các sở, ngành ở địa phương ban hành 101 văn bản chỉ đạo, lãnh đạo, tổ
chức thực hiện chính sách BHXH, BHYT trên địa bàn. Do đó, đối tượng tham gia
BHXH, BHYT ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trước, năm 2012 số người
tham gia BHXH, BHYT 60.549.768 người, tăng 3.371.412 người (5,9%) so với
cùng kỳ năm 2011; Số thu là 137.454,5 tỷ đồng, đạt 114,1% so với kế hoạch Thủ
tướng Chính phủ giao (105,82% so với kế hoạch Ngành giao), tăng 38.829 tỷ đồng
(39,4%) so với năm 2011; Việc giải quyết chính sách có nhiều tiến bộ: Thủ tục hành
chính được rút gọn, các chế độ chính sách đối với người tham gia BHXH, BHYT
được thực hiện kịp thời, đúng quy định; lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng được
chi trả đảm bảo đầy đủ, an toàn đến người được hưởng; quyền lợi của người tham
gia BHYT cơ bản được đảm bảo. Năm 2012 toàn Ngành giải quyết cho 6.362.923
lượt người hưởng chế độ BHXH, tăng 588.247 lượt người (10,2%) so với năm
2011; 121.752.714 lượt người khám chữa bệnh BHYT, tăng 7.560.569 lượt người
(6,6%) so với năm 2011; thực hiện cấp sổ cho 9.995.846 người, đạt 95% số người
tham gia BHXH; phát hành 59.592.916 thẻ BHYT; toàn Ngành thực hiện chi
127.663,4 tỷ đồng, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm 2011. Công tác chi trả lương
Sv: Nguyễn Chí Dũng
Lớp: BHXH50
23