Tải bản đầy đủ (.pdf) (148 trang)

Qúa trình di dân và định cư ở Lâm Hà (tỉnh Lâm Đồng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.32 MB, 148 trang )

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN







HỒ THÀNH TÂM








QUÁ TRÌNH DI DÂN VÀ ĐỊNH CƯ Ở LÂM HÀ
(TỈNH LÂM ĐỒNG)






LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ









Hà Nội – 2012
2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN





HỒ THÀNH TÂM





QUÁ TRÌNH DI DÂN VÀ ĐỊNH CƯ Ở LÂM HÀ
(TỈNH LÂM ĐỒNG)





Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Mã số: 60 22 54


LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ



Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Đình Lê





Hà Nội 2012

3

MỤC LỤC
Trang
Mở đầu 1
Lý do chọn đề tài 1
Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
Phương pháp nghiên cứu 6
Bố cục luận văn 7
Chương 1: Sự thành lập huyện Lâm Hà 8
1.1 Một vài nét về tình hình kinh tế-xã hội nước ta trước năm 1975 8
1.1.1 Sự cần thiết phải tái phân bố lực lượng lao động trên hai miền Bắc-
Nam từ sau hòa bình lập lại (1954-1975) 8

1.1.2 Công cuộc tái phân bố dân cư tại hai miền Bắc-Nam 1960 – 1975 12
1.1.3 Nhu cầu di dân đến Tây Nguyên sau ngày đất nước thống nhất 23
1.2. Quá trình xây dựng Vùng kinh tế mới Hà Nội
tại Lâm Đồng (1976-1987) 26
1.2.1 Vài nét về tình hình kinh tế-xã hội Hà Nội sau năm 1975 26
1.2.2 Quá trình xây dựng vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng 28
1.3. Thành lập huyện Lâm Hà 48
1.3.1 Yêu cầu thay đổi cơ chế quản lý đối với vùng kinh tế mới 48
1.3.2 Sự thành lập huyện Lâm Hà (28-10-1987) 52
1.4. Huyện Lâm Hà – điều kiện tự nhiên, đặc điểm dân cư 56
Chương 2: Di dân và định cư Lâm Hà 1987-2010 65
2.1. Di dân đến Lâm Hà 1987-2010 65
2.1.1 Di dân đến Lâm Hà 1987-1999 65
2.1.2 Di dân đến Lâm Hà 2000-2010 75
4

2.2. Định cư ở Lâm Hà 1987-2010 83
2.2.1 Giai đoạn 1987-1999 83
2.2.2 Giai đoạn 2000-2010 89
Chương 3: Tác động của di dân đến kinh tế - xã hội
địa phương 1987-2010 96
3.1. Tác động tích cực 97
3.1.1 Lực lượng di dân góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển
kinh tế huyện Lâm Hà 97
3.1.2 Lực lượng di cư bổ sung nguồn lao động dồi dào cho Lâm Hà 104
3.1.3 Lực lượng di cư góp phần làm phong phú bức tranh
văn hóa tộc người tại Lâm Hà 105
3.1.4 Lực lượng di cư góp phần ổn định chính trị tại Lâm Hà 107
3.2. Tác động tiêu cực 109
3.2.1 Lực lượng di cư làm tăng nguy cơ suy giảm

các nguồn tài nguyên tại Lâm Hà 109
3.2.2 Lực lượng di cư làm tăng nguy cơ phát triển kinh tế không bền vững .115
3.2.3 Công tác triển khai đời sống sản xuất còn nhiều chỗ chưa hợp lý, làm
gia tăng tính phức tạp của tình hình an ninh trật tự huyện Lâm Hà. 116
Kết luận 119
Phụ lục 125
Tài liệu tham khảo 131

5

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Bảng 1.1 Tình hình dân số miền Bắc Việt Nam qua các năm 9
Bảng 1.2. Một số chỉ tiêu lương thực (thóc) miền Bắc 1955-1960 10
Bảng 1.3 Tình hình vận động người dân tham gia phát triển kinh tế
miền núi 1961 – 1962 16
Bảng 1.4. Tình hình giải quyết việc làm cho người lao động Hà Nội 1976-1980 27
Bảng 1.5. Lương thực bình quân (quy thóc) một số địa phương 28
Bảng 1.6. Tình hình vận động lực lượng thanh niên tiền trạm đi xây dựng vùng kinh tế mới
Hà Nội tại Lâm Đồng năm 1976 34
Bảng 1.7. Tình hình công tác của các Tổng đội thanh niên tiền trạm tại vùng kinh tế mới Hà
Nội 36
Bảng 1.8 Số lượng hộ đi xây dựng vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng 38
Bảng 1.9. Tình hình sản xuất tại vùng kinh tế mới Hà Nội 43
Bảng 1.10. Cơ cấu BCH Đảng bộ lâm thời huyện Lâm Hà (1987-1988) và nhiệm kỳ I (1988-
1991) 55
Biểu 1.1 Một số chỉ tiêu khí hậu tại trạm Liên Khương năm 2010 57
Bảng 1.11 Thống kê các loại đất huyện Lâm Hà 58
Bảng 2.1 Nơi sinh ra và nơi cư trú của người Việt Nam qua hai cuộc điều tra 1992-1993 và
1997-1998 66

Bảng 2.2 Dân số huyện Lâm Hà 1987-1991 68
Bảng 2.3 Phân bố dân cư huyện Lâm Hà theo đơn vị hành chính 1989 68
Biểu 2.1 Cơ cấu thành phần tộc người Lâm Hà 1988-1991 70
Bảng 2.4 Giá cà phê 1988-1991 71
Bảng 2.5 Dân số huyện Lâm Hà 1992-1999 72
Biểu 2.2 Diễn biến dân số huyện Lâm Hà 1988-1998 73
Biểu 2.3 Giá bán lẻ cà phê nhân trong nước 74
Biểu 2.4 Tương quan tăng trưởng dân số Lâm Hà và giá cà phê 1988-2000 75
Bảng 2.6 Diễn biến dân số huyện Lâm Hà 1999-2004 77
Bảng 2.7 Giá cà phê trong nước và thế giới 2000-2004 78
Biểu 2.5 Mối quan hệ giữa lượng nhập cư đến Lâm Hà
6

với giá cà phê 2000-2004 79
Biểu 2.6 Tương quan di cư tự do đến Lâm Hà và Lâm Đồng giai đoạn 1991-1999 và 2000-
2004 80
Bảng 2.8 Diễn biến dân số huyện Lâm Hà 2005-2010 81
Biểu 2.7 Tương quan di cư tự do đến Lâm Hà và Lâm Đồng giai đoạn 1991-1999 và 2000-
2008 81
Bảng 2.9 Di cư tự do đến Lâm Hà 2005-2008 82
Bảng 2.10 Diễn biến dân số các xã huyện Lâm Hà 1989-1999 83
Bảng 2.11 Số đơn vị xã, thôn huyện Lâm Hà 1995-1999 85
Bảng 2.12 Diễn biến số lượng thôn huyện Lâm Hà 1997-1999 85
Bảng 2.13 Tổng mức đầu tư xây dựng cơ bản huyện Lâm Hà 1988-1999 86
Bảng 2.14 Tình hình đầu tư xây dựng cơ bản Lâm Hà 1988-1999 87
Bảng 2.15 Một số kết quả dự án sắp xếp dân DCTD tại xã Tân Hà huyện Lâm Hà 1996-2000
88
Bảng 2.16 Diễn biến dân số các xã huyện Lâm Hà 2000-2010 89
Bảng 2.17 Số đơn vị xã, thôn huyện Lâm Hà 2000-2010 90
Bảng 2.18 Quy hoạch đất khu định cư dự án xã Tân Thanh 2008-2010 92

Bảng 2.19 Vốn đầu tư XDCB và năng lực mới tăng thuộc nguồn vốn đầu tư phát triển của
nhà nước do địa phương quản lý ở Lâm Hà 2000-2010 93
Bảng 2.20 Tỷ lệ hộ đói nghèo Lâm Hà 1998-2010 93
Bảng 3.1 Tỷ trọng (%) các loại cây CNLN trong cơ cấu cây CNLN huyện Lâm Hà 1990-
2010 98
Biểu 3.1 Diện tích (ha) các loại cây CNLN chính
của huyện Lâm Hà 1990-2010 99
Bảng 3.2 Tỷ trọng các ngành kinh tế trong cơ cấu ngành kinh tế huyện Lâm Hà 1988-2010
101
Bảng 3.3 Một số chỉ tiêu kinh tế huyện Lâm Hà 1990-2010 101
Bảng 3.4 Diễn biến lực lượng lao động Lâm Hà 1989-2010 104
Bảng 3.5 Cơ cấu thành phần tộc người huyện Lâm Hà 105
Bảng 3.6 Tình hình sử dụng các loại đất Lâm Hà 1990-2010 109
Biểu 3.2 Tình hình sử dụng các loại đất ở Lâm Hà 1990-2010 111
Bảng 3.7 Diễn biến tình hình chặt phá rừng trái phép
7

tại Lâm Đồng 2001-2010 112
Bảng 3.8 Thống kê chi tiết các vụ chặt phá rừng trái phép
tại Lâm Hà 2000-2010 114

8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

VNDCCH
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
VNCH
Việt Nam Cộng hòa
HĐND

Hội đồng nhân dân
UBHC
Ủy ban hành chính
UBND
Ủy ban nhân dân
BCH
Ban chấp hành
DCTD
Di cư tự do




9

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một trong những nước có quá trình hình thành và hoàn
thiện lãnh thổ lâu dài nhất trong lịch sử nhân loại. Khởi nguồn từ vùng trung du
và đồng bằng châu thổ sông Hồng, các dòng người Việt, được thúc đẩy bởi các
lý do khác nhau, đã dần tiến về phía Nam, khai phá và định cư trên các vùng đất
mới. Có thể nói rằng, quá trình hình thành lãnh thổ của nước ta gắn liền với sự
di chuyển của các luồng dân cư, chủ yếu theo hướng Bắc-Nam, để hình thành
nên những tụ điểm dân cư, đơn vị hành chính mới. Sự di chuyển cơ học này của
các luồng dân cư được gọi là hiện tượng di dân.
Di dân “là sự dịch chuyển từ khu vực này sang khu vực khác, thường là
qua một địa giới hành chính (hoặc sự di chuyển theo một khoảng cách xác định
nào đó) thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi
nơi cư trú.” (Liên hiệp quốc, 1958).
Có nhiều cách để phân loại hiện tượng di dân: như di dân trong nước –

di dân quốc tế; di dân theo hướng thành thị - thành thị, nông thôn - nông thôn, di
dân thành thị - nông thôn và ngược lại; di dân trở lại và di dân không trở lại; di
dân tự phát và di dân có tổ chức…
Tại những vùng cư trú mới, cộng đồng các nhóm di dân tại cùng một địa
vực thường sinh sống tập trung, qua thời gian, một vài làng xóm nhỏ dần phát
triển thành những đơn vị hành chính lớn hơn, dân cư trù mật hơn. Người dân
trong quá trình xây dựng cuộc sống tại vùng đất mới cũng đồng thời mang theo
những đặc trưng văn hóa – xã hội của nơi xuất cư và thực hành chúng tại quê
hương thứ hai. Quá trình định cư được xem xét đến ở đây là quá trình ổn định
đời sống của các bộ phận người Việt thuộc các thành phần tộc người khác nhau,
10

đến từ các vùng miền khác nhau trong cả nước, tập trung sinh tụ, lao động sản
xuất tại một địa bàn nhất định.
Và quá trình này vẫn còn đang tiếp diễn.
Trong lòng xã hội hiện đại, kể từ sau năm 1975, Việt Nam bắt đầu công
cuộc xây dựng đất nước trong bối cảnh hòa bình, thống nhất. Công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa vốn được đề ra từ trong chiến tranh, đến lúc này mới
thực sự được chú trọng và đầu tư toàn diện. Kể từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI,
Việt Nam bắt đầu xác định đúng hướng đi và dần đạt được những thành tựu
vượt bậc trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng
đồng thời đặt ra những thách thức to lớn đối với định hướng phát triển bền vững
của Việt Nam:quá trình đô thị hóa nhanh chóng đã đẩy một lượng lớn lao động
nông nghiệp vào tình trạng mất đất, mất việc làm; cơ cấu dân số trẻ, tỷ lệ trong
độ tuổi kết hôn cao; sự khan hiếm, cạn kiệt của các nguồn tài nguyên, đặc biệt là
đất đai… Điều đó đã tạo ra những áp lực mạnh mẽ buộc người dân phải ra đi
tìm nơi sống mới thuận lợi hơn. Do vậy, một khi nói di dân là hệ quả tất yếu
khách quan của bất cứ quốc gia nào trên con đường phát triển thì cũng cần đặt
công cuộc định cư ở vị trí tương xứng.
Người Việt (Kinh) có mặt tại Tây Nguyên vào khoảng cuối thế kỷ XVII

– đầu thế kỷ XVIII và từ đó trở đi, các dòng di dân người Việt (Kinh) đến khu
vực này ngày một đông hơn. Sau khi đất nước hòa bình thống nhất, Nhà nước
Việt Nam đã có nhiều chính sách điều chỉnh tình trạng phân bố dân cư trên cả
nước, theo hướng dãn bớt dân số miền Bắc đưa vào Tây Nguyên và Nam bộ để
khai thác các vùng đất mới và thành lập các đơn vị hành chính. Từ năm 1976
đến 2002, khoảng 16.000 hộ 80.000 khẩu đã được triển khai lên Tây Nguyên.
Số lượng dân di cư tự phát đến đây tính đến năm 2000 vào khoảng 98.687 hộ
459.106 khẩu. Nếu so với dân số bình quân Tây Nguyên những năm 2000-2002
11

là 4,32 triệu người, rõ ràng tỉ lệ ngườinhập cư là rất lớn. Công tác di dân và định
cư ở Tây Nguyên do vậy đặt ra nhiều vấn đề cần phải được xem xét giải quyết.
Vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng (1976-1987) cũng nằm trong
chủ trương tái phân bố lực lượng lao động trên phạm vi cả nước. Từ sau khi hòa
bình thống nhất đất nước, Hà Nội tiếp tục phải đối mặt với tình trạng dân số
tăng nhanh vượt quá khả năng của các nguồn tài nguyên của Thủ đô, đặc biệt là
đất đai. Cùng với các địa phương khác ở miền Bắc lúc đó, Hà Nội cũng có nhu
cầu điều phối một bộ phận lực lượng lao động dư dôi của mình đến nơi khác
xây dựng vùng kinh tế mới. Lâm Đồng là tỉnh đã phối hợp cùng Hà Nội giải
quyết khó khăn trên của Thủ đô, đồng thời nhằm tạo điều kiện để Lâm Đồng
khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên của mình. Vùng kinh tế mới Hà Nội tại
Lâm Đồng đã ra đời trong bối cảnh đó.
Vùng đã phát triển mạnh mẽ mặc dù phải trải qua rất nhiều khó khăn để
trở thành hạt nhân cho sự thành lập huyện Lâm Hà vào năm 1987. Đây là một
điển hình của quá trình định cư các cộng đồng người Việt trên cao nguyên dẫn
đến sự hình thành một đơn vị hành chính lớn cấp huyện.Sau khi ra đời, Lâm Hà
tiếp tục là địa bàn thu hút mạnh mẽ dân di cư tự phát từ các nơi đến tỉnh Lâm
Đồng, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế xã hội của Lâm Hà, cả theo
hướng tích cực lẫn tiêu cực.
Với mong muốn tìm hiểu nguyên nhân ra đời, quá trình xây dựng, phát

triển của vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng, từ đó đưa ra cái nhìn bao quát
về thắng lợi có một không hai này của Thủ đô Hà Nội trong sự nghiệp xây dựng
và phát triển các vùng kinh tế mới cuối thập niên 1970 – cuối thập niên 1980;
đồng thời phân tích, đánh giá tình trạng và ảnh hưởng của hiện tượng di dân và
định cư đến sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế của huyện Lâm Hà tỉnh
Lâm Đồng, tôi chọn Quá trình di dân và định cư ở Lâm Hà (tỉnh Lâm Đồng)
làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp của mình.
12

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đối với một hiện tượng nổi bật như hiện tượng di dân đến Tây Nguyên
từ sau 1975, nhiều học giả đã tập trung nghiên cứu, với nhiều công trình khoa
học có chất lượng.
Về mặt tổng thể, Ủy ban KHXH Việt Nam nổi lên là trung tâm hàng đầu
nghiên cứu các khía cạnh kinh tế, xã hội, nhân học vùng Tây Nguyên với
Chương trình 48C, được tập hợp trong hai tác phẩm UB KHXH Việt Nam
(1986), Một số vấn đề kinh tế - xã hội Tây Nguyên, nxb KHXH, Hà Nội và UB
KHXH Việt Nam (1989), Tây Nguyên trên đường phát triển, nxb KHXH, Hà
Nội. Đây là hai công trình khoa học nghiên cứu khá công phu, toàn diện về hầu
hết các mặt kinh tế-xã hội Tây Nguyên, tập trung một số kinh nghiệm của
những cán bộ đang công tác tại các địa phương về kinh nghiệm quản lý kinh tế,
phát triển văn hóa… của ba tỉnh Tây Nguyên lúc đó. Một số tác giả như Lê
Mạnh Khoa, Nguyễn Đức Hùng, Đỗ Tiến Dũng, Chu Văn Vũ, Đỗ Thanh
Hồng… đã có những bài viết quan trọng về tình hình di dân và phân bố nguồn
lao động tại Tây Nguyên. Một số tác giả đã đề xuất phương hướng sử dụng,
phân bố hợp lý nguồn lao động tại khu vực này đến năm 2000.
Tác giả Đặng Nguyên Anh trong công trình của mình: Đặng Nguyên
Anh (2006), Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội ở các
tỉnh miền núi, nxb Thế giới, Hà Nội, đã triển khai những nhận xét của mình về
các chính sách và hiệu quả thực thi của chúng đối với việc điều tiết các dòng di

dân đến Tây Nguyên qua trường hợp 3 tỉnh mẫu là Đắk Lắc, Gia Lai, Kon Tum.
Đây thực sự là một công trình chi tiết và bổ ích đối với vấn đề này.
Nghiên cứu cụ thể từng trường hợp, thì số lượng công trình có phần
khiêm tốn hơn và thường tập trung vào tỉnh Đăk Lăk, là địa bàn thu hút dân di
cư tự phát mạnh nhất Tây Nguyên. Đối với tỉnh Lâm Đồng nói chung và huyện
Lâm Hà, vẫn chưa có một công trình nào đề cập xứng tầm với địa bàn thu hút
13

dân di cư mạnh thứ hai ở Tây Nguyên này. Một số công trình tập trung phân
tích các đặc điểm của dân cư tỉnh Lâm Đồng (Bùi Trung Hưng (2002), Dân cư
trong sự tồn tại xã hội ở tỉnh Lâm Đồng và sự vận động của nó hiện nay, Luận
án Tiến sĩ Triết học) hoặc sự chuyển đổi cơ cấu các loại cây công nghiệp tỉnh
(Mai Hà Phương (2009), Nghiên cứu sự biến động và chuyển đổi diện tích các
cây công nghiệp lâu năm chủ yếu ở tỉnh Lâm Đồng, Luận án Tiến sĩ Địa lý).
Các công trình trên tuy có giá trị tham khảo về mặt phát triển kinh tế của Lâm
Đồng nhưng không đề cập nhiều đến vấn đề di dân và định cư tại đây.
Riêng về quá trình ra đời, phát triển của vùng kinh tế mới Hà Nội tại
Lâm Đồng, sự thành lập huyện Lâm Hà và thực trạng di dân tự phát đến huyện
này cũng như công tác định cư những người di dân, đến nay vẫn chưa có một
công trình khoa học nào đề cập đến. Đây là khoảng trống cần được làm sáng tỏ
không chỉ bởi nó là một mảnh ghép trong bức tranh lớn là hiện tượng di dân đến
Tây Nguyên từ sau năm 1975 mà còn là một sự kiện quan trọng trong công tác
nghiên cứu lịch sử của hai địa phương liên quan, Hà Nội và Lâm Đồng. Tôi hy
vọng đề tài của mình sẽ góp phần làm rõ những vấn đề trên.
3. Mục đíchnghiên cứu và nhiệm vụ
Mục đích của đề tàiQuá trình di dân và định cư ở Lâm Hà (tỉnh Lâm
Đồng) nhằm tìm hiểu những bối cảnh lịch sử đã thúc đẩy Hà Nội và Lâm Đồng
đi đến quyết định hợp tác cùng nhau xây dựng vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm
Đồng. Quá trình xây dựng và phát triển của vùng cũng là đối tượng mà mục tiêu
của đề tài hướng tới để nêu lên những cột mốc nổi bật trong quãng thời gian tồn

tại hơn 10 năm của vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng (1976-1987), để từ
đó làm rõ những thành tựu quan trọng mà huyện Lâm Hà sau khi ra đời đã được
thừa kế từ vùng kinh tế mới này. Nghiên cứu còn nhằm phân tích thực trạng di
dân đến huyện Lâm Hà giai đoạn 1987-2010 để làm rõ những tác động tích cực
cũng như tiêu cực của nó đến tình hình kinh tế - xã hội của huyện này.
14

Là một huyện kinh tế mới, cho đến nay Lâm Hà vẫn đang là một trong
những điểm thu hút nhập cư mạnh của tỉnh Lâm Đồng. Do vậy, nhiệm vụ của
đề tài nhằm cung cấp những luận cứ khoa học về thực trạng di dân và định cư ở
huyện Lâm Hà làm cơ sở cho các chính sách, giải pháp của công tác này tại đây
trong tương lai. Đề tài còn hướng đến nhận thức thực trạng phát triển ngành
trồng cà phê, là ngành kinh tế chủ chốt của huyện Lâm Hà và khuyến cáo một
số biện pháp nhằm thúc đẩy ngành cà phê địa phương phát triển theo hướng bền
vững.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là quá trình di dân và định cư tại
huyện Lâm Hà tỉnh Lâm Đồng trong khung thời gian từ 1987-2010. Mặc dù
khung thời gian được chọn là từ cuối những năm 1980 trở đi, nhưng luận văn
cũng sẽ dành một phần quan trọng (chương 1) để tìm hiểu bối cảnh và sự thành
lập vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng (1976-1987) với những căn nguyên
của nó còn sớm hơn nữa, vào thập niên 1960.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng xuyên suốt trong luận văn này là
phương pháp lịch sử, kết hợp thống kê, so sánh, giải quyết các vấn đề trong mối
quan hệ biện chứng, tương tác lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng nhằm tìm ra
những đặc điểm riêng của vấn đề trong bối cảnh chung toàn khu vực.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp điều tra điền dã, phỏng
vấn, so sánh, đối chiếu lẫn nhau giữa các nguồn tài liệu… nhằm đưa ra những
đánh giá trung thực, khách quan.

6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm 3 chương như sau:
15

Chương 1: Sự thành lập huyện Lâm Hà
1.1. Một vài nét về tình hình kinh tế-xã hội nước ta trước năm 1975
1.2. Quá trình xây dựng Vùng kinh tế mới Hà Nộitại Lâm Đồng (1976-
1987)
1.3. Thành lập huyện Lâm Hà
1.4. Huyện Lâm Hà – điều kiện tự nhiên, đặc điểm dân cư
Chương 2: Di dân và định cư ở Lâm Hà 1987-2010
2.1. Di dân đến Lâm Hà giai đoạn 1987 – 2010
2.2. Định cư ở Lâm Hà giai đoạn 1987-2010
Chương 3: Tác động của di dân đến kinh tế - xã hội địa phương
1987-2010
3.1. Tác động tích cực
3.2. Tác động tiêu cực








16

Chương 1
SỰ THÀNH LẬP HUYỆN LÂM HÀ


Chủ trương tái phân bố lực lượng lao động trên phạm vi cả nước từ sau
năm 1975 là một chủ trương rất lớn của Đảng và Nhà nước ta, hướng thực hiện
chủ yếu là đưa một bộ phận lực lượng lao động các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung
bộ vào tham gia xây dựng kinh tế tại các tỉnh miền Nam và Tây Nguyên lúc đó.
Đây là cuộc vận động đầu tiên được thực hiện trong hoàn cảnh hòa bình, thống
nhất hai miền Nam-Bắc, tuy nhiên, những căn nguyên của nó đã xuất hiện sớm
hơn, bắt nguồn trong quá trình vận động, phát triển của xã hội miền Bắc nước ta
ở các giai đoạn trước. Thập niên 1960 miền Bắc đã phát động chương trình tái
phân bố lực lượng lao động trên phạm vi toàn miền nhằm giải quyết những khó
khăn do tình trạng nhân mãn gây ra.
1.1. Một vài nét về tình hình kinh tế-xã hội nước ta trước năm 1975
1.1.1 Sự cần thiết phải tái phân bố lực lượng lao động trên hai miền
Bắc-Nam từ sau hòa bình lập lại (1954-1975)
Kết thúc 9 năm kháng chiến, hòa bình trở lại trên miền Bắc Việt Nam.
Những xáo trộn do cuộc chiến tranh gây ra giờ đây đã lùi bước, người dân quay
về với nếp sinh hoạt bình thường của mình. Miền Bắc lại tiếp tục vận động
trong sự tác động của những quy luật kinh tế - xã hội bình thường mà trong thời
gian dài đã bị gián đoạn bởi sự ác liệt của cuộc chiến.Được sống trong hòa bình,
không phải lo sợ những hiểm họa của chiến tranh có thể ập xuống bất cứ lúc
nào, người dân yên tâm đi lại, làm việc, sinh hoạt… Khi cuộc sống được đảm
bảo, dân số miền Bắc bắt đầu có khuynh hướng tăng nhanh trở lại. Cuối thập kỷ
1950, Việt Nam bước vào thời kỳ bùng nổ dân số lần thứ nhất và kéo dài trong
gần nửa thế kỷ sau đó.
17

Bảng 1.1.Tình hình dân số miền Bắc Việt Nam qua các năm 1954-1960
Đơn vị: nghìn người
1954
1955

1956
1957
1958
1959
1960
13.000
13.574
14.042
14.526
15.028
15.546
16.114

4,4%
3,45%
3,4%
3,45%
3,44%
3,65%

Nguồn: [54, 34]
Một đặc điểm có thể nhận thấy qua tình hình tăng trưởng dân số ở miền
Bắc Việt Nam những năm đầu sau hòa bình lập lại đó là tốc độ tăng dân số quá
cao và liên tục, trung bình trên 3%/năm. Với tốc độ này, bình quân mỗi năm
miền Bắc đón nhận thêm một lượng dân số mới khoảng 50 vạn người,tương
đương dân số tỉnh Phú Thọvào năm 1960 [54, 28]. Sở dĩ như vậy là vì miền Bắc
có cơ cấu dân số trẻ, số lượng người trong độ tuổi có khả năng sinh đẻ luôn
chiếm tỷlệ cao (47,5% năm 1960) trong khi nhà nước vẫn chưa có một chiến
lược dân số phù hợp.
Sự tăng trưởng dân số nóng như vậy đã gây thêm nhiều sức ép lên các

nguồn tài nguyên, mà một trong những tài nguyên chịu áp lực lớn nhất là đất
đai. Năm 1960 miền Bắc có gần 6,4 triệu người hoạt động nông nghiệp. Với
diện tích đất nông nghiệp toàn miền khi đó gần 2,1 triệu ha, bình quân mỗi lao
động sở hữu khoảng 0,13ha
1
. Tuy nhiên, trong điều kiện kỹ thuật canh tác lạc
hậu, năng suất lao động thấp, tỷ lệ sử dụng ruộng đất không cao
2
, tất cả mọi chi
phí sinh hoạt của người nông dân (chiếm hơn 90% dân số lúc đó) đều trông chờ
vào ba sào ruộng thì tỏ ra không đáp ứng được (cho nên còn gọi là cái xiềng ba
sào).


1
Nếu so với hiện nay thì đây vẫn là một con số tương đối cao. Lấy năm 2006 làm ví dụ. Năm 2006 dân số Việt
Nam là 84,11 triệu người, tổng diện tích đất nông nghiệp là 9 triệu ha, tính ra bình quân mỗi lao động chỉ sở hữu
0,107ha, tức khoảng 80% so với năm 1960.
2
Do sự tàn phá của chiến tranh và sự phá hoại của các lực lượng Pháp, năm 1955 tình hình cơ sở vật chất phục
vụ sản xuất kinh tế hầu như không đáng kể. Năm 1955 toàn ngành nông nghiệp không có một máy kéo nào phục
vụ. Năm 1960, tỷ lệ cơ giới hóa khâu làm đất chỉ mới đạt 0,15% [56, 4]. Một mô tả tổng quát hơn có thể xem
đánh giá tình hình kinh tế - xã hội miền Bắc 5 năm sau khi hòa bình lập lại của Đảng. [23, 832-833]
18

Bảng 1.2.Một số chỉ tiêu lương thực (thóc) miền Bắc 1955-1960

Đơn vị
1955
1956

1957
1958
1959
1960
Diện tích
1.000 ha
2.224
2.280
2.191
2.235
2.274
2.284
Sản lượng
1.000 tấn
3.604
4.132
3.947
4.577
5.193
4.212
Năng suất
tạ/ha
16,2
18,12
18,02
20,47
22,83
18,44
Lương thực bình quân
kg/tháng

22
24,5
22,6
25,4
27,8
21,8

Nguồn:[12], [54]
Cho nên, có một thực tế ở miền Bắc lúc bấy giờ, mặc dù người nông dân
được hưởng lợi to lớn từ chương trình Cải cách ruộng đất (1953 – 1957) nhưng
đại bộ phận vẫn còn chưa thoát khỏi ngưỡng đói nghèo. Có ruộng trong tay mà
vẫn thiếu ăn, thậm chí có hộ phải bán ruộng. Điều này lại xảy ra đặc biệt gay gắt
tại các tỉnh đồng bằng dân cư đông đúc [42, 53-54]. Trong khi đó, hàng năm đất
nước vẫn cần một lượng lương thực ngày càng lớn để đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng của xã hội và chi viện cho sự nghiệp cách mạng miền Nam. Bài toán đặt ra
đòi hỏi chính phủ VNDCCH phải giải quyết vấn đề lương thực ngày càng trở
nên cấp thiết hơn lúc nào hết.
Một vấn đề khác cũng được đặt ra do lịch sử khai phá và phát triển vùng
châu thổ sông Hồng, đó là tình trạng dân cư phân bố rất không đồng đều giữa
các vùng trên miền Bắc. Đồng bằng châu thổ sông Hồng vốn là vùng đất sinh tụ
lâu đời của cư dân Việt, tập trung nơi đây một lượng dân số lớn (65% dân số
toàn miền Bắc). Có thể nói, đóng góp chủ yếu vào tỷ lệ gia tăng dân số quá
nóng của đất nước chính là xuất phát từ khu vực này. Mật độ dân số nơi đây
luôn cao hơn nhiều lần so với mật độ bình quân cả nước: Hà Nội 4.022
người/km
2
, Thái Bình 846 người/km
2
, Hưng Yên 738 người/km
2

, Nam Định
808 người/km
2
… Trong một bức tranh tương phản, khu vực miền núi phía Bắc
tuy rộng lớn nhưng lại rất thưa thớt dân cư trú như Bắc Cạn 16 người/km
2
, Lào
Cai, Hà Giang 24 người/km
2
… Đây là địa bàn cư trú chủ yếu của các tộc người
thiểu số như Tày, Thái, Nùng, Sán Dìu… Phân bố dân số không đồng đều gây
19

ra tình trạng thừa và thiếu lao động cục bộ giữa các vùng [51, 5].Trong khi đó,
khu vực miền núi phía Bắc nếu được khai hoang phục vụ sản xuất có thể tạo ra
một lượng lương thực lớn góp phần giải quyết bài toán lương thực đang đặt ra
và đồng thời thu hút nhân lực, giảm bớt áp lực dân số đang ở mức quá cao ở các
tỉnh đồng bằng. Theo một tính toán, nếu nâng mật độ dân số bình quân của miền
núi phía Bắc lên ngang bằng với mức bình quân chung của cả nước (100
người/km
2
), thì khu vực này có thể tiếp nhận nhiều triệu lao động lênsinh sống
và làm việc [2, 4-5]. Khu vực miền núi cũng có thể được hưởng lợi to lớn bởi
đất đai sẽ không bị bỏ hoang lãng phí và có thể tiếp thu những yếu tố tích cực
của văn hóa miền xuôi để cùng phát triển.
Như vậy, bước vào thập kỷ 1960 với kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, miền
Bắc Việt Nam cũng bước vào một cuộc vận động to lớn nhằm giải quyết những
vấn đề đặt ra sau đây:
- Giải quyết bài toán lương thực đang đặt ra ngày một gay gắt;
- Tiến hành tái phân bố lao động trên phạm vi toàn miền, theo hướng

giảm sức ép dân số tại các tỉnh đồng bằng, đưa người đi khai hoang những vùng
đất giàu tiềm năng nhưng thiếu lao động;
- Phát triển kinh tế - xã hội miền núi, đảm bảo an ninh quốc phòng.
Những vấn đề đó của miền Bắc được nghiên cứu, giải quyết qua chương
trình nhân dân khai hoang bắt đầu từ đầu những năm 1960.
Tại miền Nam Việt Nam lúc này, chính quyền Sài Gòn cũng đứng trước
nhu cầu cần phải tái phân bối lại một bộ phận dân cư, đặc biệt là lực lượng gần
một triệu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam và tiến hành những chương trình
quan trọng nhằm điều chỉnh lại hiện trạng dân cư trong miền, phục vụ các mục
đích quân sự, kinh tế của chính quyền.
Sau khi thành lập, VNCH có diện tích 170.850km
2
, dân số 12.261.000
người (1957), mật độ trung bình 72 người/km
2
. Có thể thấy, mật độ dân số trên
20

của miền Nam là thấp so với miền Bắc (72/100). Tuy nhiên, nhằm cách ly người
dân khỏi ảnh hưởng của cách mạng, chính quyền Sài Gòn quyết định thực hiện
chính sách sắp xếp lại dân cư trên phạm vi toàn miền, theo hướng dồn dân vào
các khu dinh điền, ấp chiến lược. Chính sách này đã gây nên những cuộc
chuyển cưcủa một bộ phận lớn đồng bào Nam bộ. Mặc khác, việc đón nhận gần
một triệu người miền Bắc di cư vào cũng đặt ra bài toán cho chính quyền Sài
Gòn phải sắp xếp nơi ở cho lực lượng này. Chính vì vậy, mặc dù mật độ dân số
thấp nhưng miền Nam vẫn chủ trương sắp xếp lại dân cư.
Như vậy, ngay từ giữa thập niên 1950, cả hai miền Nam-Bắc đều có nhu
cầu thực hiện tái phân bố lực lượng dân cư trên phạm vi toàn miền. Đây là một
chủ trương lớn của chính quyền mỗi bên, được thực hiện trong suốt hai thập
niên tiếp sau đó.

1.1.2 Công cuộc tái phân bố dân cư tại hai miền Bắc-Nam 1960 – 1975
Chủ trương khai thác các tiềm năng kinh tế của miền núi phía Bắc nhằm
phục vụ nhu cầu của đất nước vốn đã được đề cập và thực hiện sớm hơn, từ cuối
những năm 1950 trong chương trình sử dụng một bộ phận lực lượng quân đội
tham gia xây dựng hậu phương [22, 187-257]
1
Tuy nhiên đây chỉ là chương
trình của Bộ Quốc phòng nhằm phục vụ nhu cầu của quân đội chứ không mang
tính chất đại chúng.
Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam (tháng 9-
1960) có thể xem là Đại hội mở đầu cho phong trào nhân dân khai hoang, lần
đầu tiên dưới chế độ mới, được sự động viên, tổ chức và đầu tư to lớn của nhà
nước dành cho công tác tái bố trí nhân lực trên phạm vi toàn miền và khai
hoang. Với những chủ trương mà Đảng đã vạch ra trong kỳ Đại hội này, chương
trình nhân dân khai hoang thực sự trở thành một cuộc vận động rộng lớn, rầm rộ


1
Năm 1957, Bộ Quốc phòng đã cử 31.000 sĩ quan, hạ sĩ quan đi xây dựng nông trường quốc doanh ở vùng cao.
Một số tập đoàn sản xuất cũng đã được thành lập quy tụ những cán bộ từ miền Nam ra tập kết tham gia xây
dựng kinh tế. Đến cuối năm 1964 đã có hơn 73.000 cán bộ công nhân viên sản xuất trong các nông trường quốc
doanh khai hoang ở trung du và miền núi [19, 19-20]
21

trong toàn Đảng, toàn dân
1
, có sức thu hút mạnh mẽ lòng hăng say phục vụ cách
mạng của người công dân xã hội chủ nghĩa.
Báo cáo chính trị tại Đại hội III nêu rõ Đảng và Chính phủ đặc biệt quan
tâm đến việc phát triển kinh tế miền núi: “Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa

xã hội ở miền Bắc, sự nghiệp xây dựng kinh tế miền núi có một tầm quan trọng
rất lớn… Vấn đề xây dựng kinh tế miền núi là một bộ phận khăng khít của
chính sách dân tộc của Đảng ta trong giai đoạn mới của cách mạng” [23, 584-
585].
Vấn đề cốt yếu nhất để phát triển kinh tế miền núi đó là phải khắc phục
cho bằng được tình trạng thiếu hụt lao động trầm trọng tại đây. Trong bối cảnh
các tỉnh đồng bằng đang trở nên chật vật với lượng dân số ngày một tăng, thiếu
đất, thiếu việc làm thì Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định thực hiện
cuộc vận động to lớn nhằm điều chuyển một lượng lớn dân cư từ các tỉnh đồng
bằng lên khai hoang miền núi [23, 587]. Chương trình này được đề cập cụ thể
hơn trong nội dung của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965) mà theo đó
“Cần chuyển một bộ phận lực lượng của Nhà nước và của nhân dân ở miền xuôi
lên một số vùng miền núi, xây dựng một số nông trường và lâm trường, một số
công trình thủy lợi, một số xí nghiệp công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ, mở
một số trường chuyên nghiệp cần cho việc đào tạo cán bộ, phát triển và củng cố
các trục giao thông chính vềđường sắt, đường bộ và đường thủy nối thông giữa
các vùng, xây dựng các khu vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng
một số thành thị ở miền núi” [23, 848].
Chương trình nhân dân khai hoang thời kỳ 1960 – 1975 có thể được chia
làm hai giai đoạn 1960 – 1964 và 1965 – 1975 với mốc chuyển giai đoạn được


1
Tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa II (tháng 4-1963), Quốc hội đã thông qua ba cuộc vận động lớn trên toàn miền
Bắc là: 1. “Cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật, nhằm phát triển nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và
vững chắc”; 2. “Nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống
tham ô, lãng phí, quan liêu” và 3. “Vận động đồng bào miền xuôi tham gia phát triển kinh tế miền núi”. [46,
1066-1071].
22


đánh dấu bởi cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân lần thứ nhất (1964 -
1968) của quân đội viễn chinh Mỹ đối với nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa.
1.1.2.1 Từ 1960 đến 1964
Đây là giai đoạn đầu tiên thực hiện cuộc vận động nhân dân khai hoang,
là giai đoạn đặt nền tảng cho những chính sách, cách thức tiến hành chương
trình này và có thể xem là khuôn mẫu cho công tác di dân khai hoang làm kinh
tế mới do Nhà nước tổ chức kéo dài mãi đến đầu thập niên 1990.
Tháng 7-1961, Hội nghị TƯ lần thứ 5 Đảng Lao động Việt Nam ra nghị
quyết số 26-NQ/TW về vấn đề phát triển nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần
thứ nhất, trong đó hướng dẫn công tác khai hoang: “Về khai hoang của nhân
dân, phải tận dụng những đất còn bỏ hoang, bỏ hoá, những đất bồi ở ven sông,
ven biển, kết hợp việc tổ chức khai hoang gần và nhỏ với việc tổ chức người ở
đồng bằng lên khai hoang ở miền núi; dựa vào lực lượng hợp tác xã là chính,
đồng thời có sự giúp đỡ tích cực của Nhà nước” [24, 425]. Ngày 20-2-1963,
Chính phủ ra quyết định số 16-CP tách Cục Khai hoang nhân dân ra khỏi Bộ
Nông trường và đặt thành cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ [93]. Tiếp đó,
ngày 21-2-1963, Chính phủ ra nghị định 17-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn
và tổ chức bộ máy của Tổng cục Khai hoang. Nghị định nêu rõ: “Tổng cục Khai
hoang là cơ quan thuộc Hội đồng chính phủ có trách nhiệm quản lý công tác
nhân dân khai hoang theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, bảo
đảm góp phần quan trọng vào việc hoàn thành tốt nhiệm vụ mở rộng diện tích
sản xuất nông nghiệp đièu chỉnh nhân lực giữa vùng đất hẹp người đông và
vùng đất rộng người thưa, nhằm phát triển kinh tế quốc dân, cải thiện đời sống
của nhân dân, đoàn kết các dân tộc, củng cố hậu phương” [53, 5-8].
Tại các địa phương đều thành lập một ty khai hoang/phòng khai hoang
trực thuộc ủy ban hành chính tỉnh nhằm “tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác
nhân dân khai hoang ở địa phương theo đường lối, chủ trương, kế hoạch của
23

Đảng và Nhà nước, đồng thời chịu sự chỉ đạo của Tổng cục khai hoang về

chuyên môn” [53, 9-12]. Như vậy, với những quy định trên, một hệ thống ngành
dọc đã được tổ chức từ trung ương đến các tỉnh để đảm bảo công tác khai hoang
được triển khai đồng bộ
1
.
Khởi đầu cho công cuộc nhân dân miền xuôi tham gia phát triển kinh tế
miền núi là tỉnh Kiến An. Đầu năm 1961, tỉnh Kiến An cử một đoàn cán bộ lên
Lào Cai khảo sát thực địa chuẩn bị cho việc đưa dân lên tham gia khai hoang
phát triển sản xuất. Sau một thời gian chuẩn bị, đến tháng 8 cùng năm, đợt di
dân đầu tiên từ Kiến An (các huyện An Lão, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo) gồm 204
người lên Lào Cai và được bố trí ở xen ghép tại các huyện Bảo Thắng, Mường
Khương, Bát Xát. Trên vùng đất mới, người dân Kiến An đã tiến hành lao động
sản xuất, lập nên một số hợp tác xã mà tên gọi của chúng biểu hiện cho sự đoàn
kết của nhân dân hai miền như An Trà (Kiến An + Bản Trà), An Quang (Kiến
An + Quang Kim), Bản Lợi (Thành Lợi + Vụ Bản, Nam Định), Đồng Thái (Kim
Thái + Vụ Bản, Nam Định)… Đây cũng là cơ sở để hai tỉnh Kiến An, Lào Cai
kết nghĩa vào tháng 11-1961 [6, 280-282].
Sau Kiến An, các tỉnh đồng bằng khác cũng lần lượt lên kế hoạch vận
động và tiến hành đưa người dân đi tham gia khai hoang miền núi như Thái
Bình, Nam Định, Hải Dương… Chính sách này có tác dụng như một chiếc van
xả bớt áp lực dân số đang tăng quá cao tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng, cho
nên các tỉnh đều rất chủ động và hăng hái thực hiện. Qua thống kê tình hình di
dân khai hoang trong hai năm đầu tiên 1961 – 1962, chúng ta thấy đưa dân đi
nhiều nhất đều là những tỉnh có mật độ dân số cao:



1
Có hai hình thức khai hoang là khai hoang gần (trong phạm vi hợp tác xã) và khai hoang xa (từ huyện này sang
huyện khác hoặc giữa các tỉnh). Hình thức khai hoang xa lại gồm hai hình thức nhỏ hơn là khai hoang xen kẽ

(gồm 5-7 hộ và sáp nhập với hợp tác xã tại nơi đến) và khai hoang tập thể (30-50 hộ, thành lập nên hợp tác xã
mới tại địa phương nơi đến). [18, 29-30]
24

Bảng 1.3Tình hình vận động người dân tham gia phát triển kinh tế miền núi
1961 – 1962
Tỉnh
Số dân đưa đi
(người)
Mật độ dân số
(người/km
2
)
Thái Bình
27.000
864
Hưng Yên
16.738
738
Nam Định
6.330
808
Hải Dương
4.251
434
Hà Đông
3.464
668
Ninh Bình
2.209

383

Nguồn: [18, 6]
Hà Nội cũng là một trong những địa phương hưởng ứng cuộc vận động
người dân tham gia phát triển kinh tế - văn hóa miền núi này. Ngày 21-6-1963,
200 thanh niên đầu tiên của Thủ đô đã lên đường đi xây dựng kinh tế ở Bắc Cạn
và Lai Châu [86, 22-06-1963]. Hai năm sau, ngày 19-5-1965, 1.000 đoàn viên
thanh niên tiếp tục được động viên đi các tỉnh Bắc Thái, Hoàng Liên Sơn [86,
20-05-1965]. Lực lượng thanh niên Thủ đô đã tham gia xây dựng nên các hợp
tác xã, nông trường tại vùng đất mới như nông trường Sơn Hà (tỉnh Hoàng Liên
Sơn), khu kinh tế mới Lục Ngạn (tỉnh Hà Bắc), Phú Bình (tỉnh Bắc Thái)…
Trong những năm đầu, hình thức khai hoang chủ yếu là khai hoang tại
chỗ và xen ghép với các hợp tác xã sẵn có tại nơi đến, khai hoang tập thể chỉ
chiếm khoảng 10% tổng diện tích khai hoang [18, 6]. Phần lớn những người đi
khai hoang xen ghép đều đưa gia đình theo, trong khi đó tại các cơ sở khai
hoang tập thể, lực lượng đi tiên phong là lao động chính trong các gia đình.
Những năm còn lại của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất tập trung chủ yếu
vào ba mặt: mở rộng diện tích, điều chỉnh nhân lực và khai thác tài nguyên [18,
25

23]. Cách thức thực hiện vẫn chủ yếu gồm hai hình thức di dân kể trên, dựa vào
hợp tác xã là chính với sự trợ giúp một phần của Nhà nước. Kết quả trong 4
năm đầu thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Nhà nước đã vận động được
khoảng 50 vạn nông dân từ các tỉnh đồng bằng di cư lên miền núi xây dựng và
phát triển kinh tế, nếu tính cả số người đi làm ở các công nông trường, xí nghiệp
vùng cao thì con số này lên đến 60 vạn, tương đương với dân số ba tỉnh Lào
Cai, Yên Bái và Bắc Kạn lúc đó. Lực lượng di dân đã lập nên 1.250 hợp tác xã
nông nghiệp độc lập ở vùng núi, một bộ phận khác được định cư xen kẽ vào
trong 1.732 hợp tác xã tại địa phương nơi đến [43, 70].
Trong khi cuộc vận động đang thu hút được sự hưởng ứng của đông đảo

người dân thì năm 1964, đế quốc Mỹdựng lên sự kiện Vịnh Bắc bộ, leo thang
chiến tranh ném bom miền Bắc. Kể từ cuối năm 1964, miền Bắc đã không còn ở
trong trạng thái hòa bình nữa, mọi mặt hoạt động đều được điều chỉnh nhằm đối
phó với cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ. Chương trình
nhân dân tham gia phát triển kinh tế miền núi, do vậy mà bị đình lại suốt một
thời gian dài do Đảng và Chính phủ cần tập trung chỉ đạo đất nước trong thời
chiến và nhu cầu tăng cường lực lượng cho quân đội trong giai đoạn ác liệt nhất
của cuộc chiến tranh (1965 – 1968) [25, 102-118].
1.1.2.2. Từ 1965 đến 1975
Những nỗ lực to lớn của quân và dân hai miền Nam Bắc trong suốt bốn
năm 1964-1968 đã từng bước đánh bại âm mưu leo thang của đế quốc Mỹ nhằm
mở rộng chiến tranh ra cả nước, buộc Mỹ phải xuống thang và tuyên bố chấm
dứt ném bom miền Bắc vào tháng 3-1968, đánh dấu sự thất bại của cuộc chiến
tranh phá hoại lần thứ nhất. Miền Bắc lúc này lại chuyển sang thời bình nhưng
vẫn luôn đề phòng những diễn biến phức tạp của cuộc chiến tranh. Hai năm đầu
thập kỷ 1970 là khoảng thời gian hòa bình ngắn ngủi để miền Bắc khắc phục

×