ĐA
̣
I HO
̣
C QUÔ
́
C GIA HA
̀
NÔ
̣
I
TRƯƠ
̀
NG ĐA
̣
I HO
̣
C KHOA HO
̣
C XA
̃
HÔ
̣
I VA
̀
NHÂN VĂN
LÊ THA
̀
NH CÔNG
HOT ĐNG XC TIN CU
̉
A DU LI
̣
CH HA
̉
I PHO
̀
NG
NHĂ
̀
M THU HU
́
T KHA
́
CH DU LI
̣
CH TRUNG QUÔ
́
C
THƯ
̣
C TRA
̣
NG VA
̀
GIA
̉
I PHA
́
P
Chuyên nga
̀
nh: Du li
̣
ch
(
)
LUÂ
̣
N VĂN THA
̣
C SI
̃
DU LI
̣
CH
NGƯƠ
̀
I HƯƠ
́
NG DÂ
̃
N KHOA HO
̣
C: TS. V MNH H
H Ni, 2010.
106
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 3
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 4
5. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến tên đề tài 4
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
7. Bố cục của luận văn 6
Chƣơng 1. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN
ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH 7
1.1. Tổng quan về điểm đến 7
1.1.1. Khái niệm 7
1.1.2. Phân loại điểm đến du lịch 8
1.1.3. Hệ thống điểm đến du lịch 10
1.2. Khái niệm, vai trò và lợi ích của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch 11
1.2.1. Khái niệm 11
1.2.2. Vai trò của xúc tiến điểm đến du lịch 13
1.2.3. Lợi ích của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch 14
1.3. Nội dung của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch 15
1.3.1. Xác định mục tiêu xúc tiến điểm đến 16
1.3.2. Xác định người nhận tin mục tiêu 18
1.3.3. Thiết kế thông điệp 19
1.3.4. Lựa chọn hệ thống các công cụ xúc tiến điểm đến 22
1.3.5. Xây dựng ngân sách xúc tiến điểm đến 24
107
1.3.6. Đánh giá kết quả xúc tiến điểm đến 26
1.4. Kinh nghiệm xúc tiến, quảng bá du lịch của một số nƣớc trên thế giới
và rút ra bài học kinh nghiệm đối với du lịch Hải Phòng. 26
1.4.1. Kinh nghiệm xúc tiến, quảng bá du lịch của Malaysia 26
1.4.2. Kinh nghiệm xúc tiến, quảng bá du lịch của Thái Lan 28
1.4.3. Các bài học kinh nghiệm đối với du lịch Hải Phòng 30
Tiểu kết chƣơng 1 32
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN CỦA DU LỊCH
HẢI PHÒNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH TRUNG QUỐC 33
2.1. Khái quát chung về du lịch Hải Phòng 33
2.1.1. Vị trí địa lý 33
2.1.2. Tài nguyên du lịch 33
2.1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội tác động đến phát triển du lịch 35
2.1.4. Cơ sở hạ tầng ảnh hưởng đến phát triển du lịch Hải Phòng 36
2.1.5. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch 37
2.1.6. Những kết quả đạt được 38
2.2. Hoạt động xúc tiến du lịch của Hải Phòng 40
2.2.1. Bộ máy xúc tiến du lịch của Hải Phòng 40
2.2.2. Hoạt động xúc tiến, quáng bá du lịch của Hải Phòng tại một số nước
trong thời gian qua 42
2.3. Đất nƣớc Trung Quốc và đặc điểm của khách du lịch Trung Quốc đến
Hải Phòng 45
2.3.1. Khái quát chung về đất nước Trung Quốc 45
2.3.2. Đặc điểm của khách du lịch Trung Quốc đến Hải Phòng 49
2.4. Phân tích thực trạng hoạt động xúc tiến của du lịch Hải Phòng nhằm thu
hút khách du lịch Trung Quốc 56
2.4.1. Xác định mục tiêu xúc tiến điểm đến 56
2.4.2. Xác định người nhận tin mục tiêu 57
108
2.4.3. Thiết kế thông điệp 60
2.4.4. Lựa chọn hệ thống các công cụ xúc tiến điểm đến 61
2.4.5. Xây dựng ngân sách xúc tiến điểm đến 66
2.4.6. Đánh giá nhận xét về hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch của Hải
Phòng nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc 68
2.4.6.1. Những thuận lợi, thành công 68
2.4.6.2. Những khó khăn, hạn chế 70
Tiểu kết chƣơng 2 73
Chƣơng 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN
HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN CỦA DU LỊCH HẢI PHÒNG ĐỐI VỚI
THỊ TRƢỜNG KHÁCH TRUNG QUỐC 74
3.1. Quan điểm, mục tiêu, định hƣớng phát triển của du lịch Hải Phòng đến
năm 2020 74
3.1.1. Quan điểm phát triển của du lịch Hải Phòng đến năm 2020 74
3.1.2. Mục tiêu phát triển của du lịch Hải Phòng đến năm 2020 74
3.1.3. Định hướng phát triển của du lịch Hải Phòng đến năm 2020 76
3.2. Đề xuất giải pháp phát triển hoạt động xúc tiến của du lịch Hải Phòng đối
với thị trƣờng khách Trung Quốc 80
3.2.1. Giải pháp chung 80
3.2.2. Một số giải pháp cụ thể 84
3.2.2.1. Xác định cụ thể mục tiêu xúc tiến điểm đến du lịch của Hải Phòng84
3.2.2.2. Xác định cụ thể người nhận tin mục tiêu 85
3.2.2.3. Thiết kế thông điệp xúc tiến điểm đến du lịch của Hải Phòng cho thị
trường Trung Quốc 87
3.2.2.4. Lựa chọn hệ thống các công cụ xúc tiến điểm đến du lịch phù hợp 89
3.2.2.5. Xây dựng ngân sách cho hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch của
Hải Phòng 93
3.3. Một số kiến nghị 95
109
3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ 95
3.3.2. Kiến nghị với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 95
3.3.3. Kiến nghị với Tổng cục Du lịch 96
3.3.4. Kiến nghị với Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng 96
Tiểu kết chƣơng 3 98
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC iii
i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
UN.WTO
United Nations World Tourism Organization
Tổ chức Du lịch Thế giới.
PATA
Pacific Area Travel Association
Hiệp hội Lữ hành khu vực Thái Bình Dương.
ETC
European Travel Commission
Ủy ban Lữ hành Châu Âu.
ASEAN
Association of Southeast Asia Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á.
TPO
Tourism promotion Organization for Asia – Pacific Cities
Tổ chức xúc tiến du lịch các thành phố khu vực Châu Á –
Thái Bình Dương.
FDI
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài.
WTO
World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới.
CNBS
China National Bureau of Statistics
Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc.
RMB
Ren min bi
Đồng Nhân dân tệ (đơn vị tiền tệ của Trung Quốc)
Famtrip
Familiar trip
Chuyến đi dành cho các hãng lữ hành.
Presstrip
Presstrip
Chuyến đi dành cho các phóng viên, báo chí, truyền hình.
Roadshow
Roadshow
Chương trình giới thiệu điểm đến.
ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1
Cơ sở lưu trú du lịch của Hải Phòng, giai đoạn 2005 - 2009
37
Bảng 2.2
Lượng khách du lịch đến Hải Phòng, giai đoạn 2005 - 2009
39
Bảng 2.3
Doanh thu du lịch của Hải Phòng, giai đoạn 2005 - 2009
39
Bảng 2.4
Nguồn lao động du lịch của Hải Phòng, giai đoạn 2005 -
2009
40
Biểu đồ 2.1
Nguồn khách tại Trung Quốc đến Hải Phòng
50
Biểu đồ 2.2
Khách du lịch Trung Quốc đến Hải Phòng theo giới tính,
độ tuổi
51
Biểu đồ 2.3
Khách du lịch Trung Quốc đến Hải Phòng theo nghề
nghiệp
51
Biểu đồ 2.4
Hình thức đi du lịch của khách Trung Quốc đến Hải Phòng
52
Biểu đồ 2.5
Sở thích ăn uống tại Hải Phòng của khách du lịch Trung
Quốc
52
Biểu đồ 2.6
Sở thích du lịch của khách Trung Quốc tại Hải Phòng
53
Biểu đồ 2.7
Sở thích điểm du lịch của khách Trung Quốc tại Hải Phòng
53
Biểu đồ 2.8
Khách du lịch Trung Quốc biết Hải Phòng qua các kênh và
phương tiện truyền thông
54
Biểu đồ 2.9
Mục đích chuyến đi của khách du lịch Trung Quốc tới Hải
Phòng
55
Biểu đồ 2.10
Số lần khách du lịch Trung Quốc đến Hải Phòng
55
Bảng 2.5
Khách du lịch Trung Quốc và khách du lịch quốc tế đến
Hải Phòng, giai đoạn (2005 – 2009)
59
Bảng 3.1
Tổng hợp các chỉ tiêu phát triển du lịch chủ yếu của Hải
Phòng, giai đoạn 2010 – 2020
75
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển nhanh chóng về kinh tế, đời sống của người dân
Trung Quốc được cải thiện đáng kể, thu nhập bình quân đầu người tăng, thời
gian rảnh tăng, dẫn đến nhu cầu đi du lịch nước ngoài của người dân Trung Quốc
gia tăng mạnh.
Công dân Trung Quốc đã bỏ ra hơn 15 tỉ USD đi du lịch nước ngoài trong
năm 2002 và 19 tỉ USD năm 2004. Năm 2008, số lượng khách du lịch Trung
Quốc đi du lịch nước ngoài đã lên tới 45,8 triệu người.
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UN.WTO) năm 2020 Trung Quốc sẽ trở
thành quốc gia du lịch lớn nhất và lớn thứ tư đối với du lịch ra nước ngoài. Xét
về tổng chi tiêu đối với du lịch ra nước ngoài, Trung Quốc hiện đang xếp thứ
năm và dự kiến sẽ được phát triển nhanh nhất thế giới 2006 – 2015 [21,tr.25].
Từ lâu với du lịch Hải Phòng, Trung Quốc luôn được đánh giá là thị
trường truyền thống và quan trọng, chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu khách du lịch
quốc tế đến Hải Phòng. Con người và du lịch Hải Phòng ngày càng hấp dẫn du
khách Trung Quốc đến tham quan, nghỉ dưỡng. Năm 2001 Hải Phòng đón được
137. 921 lượt khách Trung Quốc, năm 2002 là 215. 406 lượt khách. Tuy nhiên
sau một thời gian dài tăng trưởng mạnh về lượng khách, từ năm 2005 đến nay
tập khách này có xu hướng giảm, năm 2005 Hải Phòng đón được 88. 088 lượt
khách Trung Quốc, năm 2008 là 16. 386 lượt khách. Sở dĩ có tình trạng này là do
nhiều nguyên nhân như: Chính sách của Chính phủ Trung Quốc trong việc hạn
chế khách du lịch Trung Quốc dùng sổ thông hành đi du lịch Việt Nam nói
chung và Hải Phòng nói riêng, tuyến bay Hải Phòng – Ma Cau ngừng hoạt động
năm 2007, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008…Nhưng đáng kể nhất là
các nhà quản lý du lịch của Hải Phòng thời gian qua chưa chú trọng đúng mức
tới việc nghiên cứu và triển khai các hoạt động xúc tiến một cách toàn diện và
hiệu quả, các hoạt động xúc tiến của du lịch Hải Phòng vẫn còn nhiều bất cập đối
2
với thị trường khách du lịch Trung Quốc. Sự bất cập này thể hiện ở chỗ: Từ
trước cho đến nay, công tác nghiên cứu thị trường khách du lịch Trung Quốc để
phân tích rõ đặc điểm tâm lý, mức chi tiêu và sở thích thói quen tiêu dùng chưa
được các nhà quản lý du lịch Hải Phòng quan tâm một cách đúng mức; Việc
phân bổ ngân sách cho các công cụ xúc tiến du lịch của Hải Phòng cũng chưa
được tính toán và phân bổ hợp lý, dẫn đến hoạt động xúc tiến du lịch của Hải
Phòng tại thị trường khách du lịch Trung Quốc liên tục bị ngắt quãng, thiếu
chuyên nghiệp; Việc sử dụng các công cụ cho hoạt động xúc tiến, các phương
tiện truyền thông nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc, ngành du lịch Hải
Phòng chưa biết khai thác và sử dụng các phương tiện của quảng cáo trên các
báo, tạp chí, một số kênh truyền hình ở một số địa phương của Trung Quốc mà
Hải Phòng đã có quan hệ hợp tác; Việc đăng ký tham gia thuê một số gian hàng
tại một số hội chợ du lịch của Trung Quốc (hội chợ Nam Ninh, Bắc Hải, Hàng
Châu…) nhằm quảng bá về con người, du lịch Hải Phòng đối với thị trường
Trung Quốc, ngành du lịch Hải Phòng cũng chỉ tham gia ở mức hạn chế quy mô
nhỏ và không thường xuyên. Bên cạnh đó, việc xây dựng hình ảnh biểu tượng
(logo) và lựa chọn khẩu hiệu (slogan) cho du lịch Hải Phòng trong các chiến
dịch xúc tiến, sẽ xác định được mục tiêu cụ thể cũng như giúp gây được sự chú ý
cho người tiếp nhận vẫn chưa được các nhà quản lý du lịch Hải Phòng nghiên
cứu và xây dựng.
Chính vì những lý do trên, việc nghiên cứu thực trạng hoạt động xúc tiến
của du lịch Hải Phòng làm cơ sở đề xuất giải pháp phát triển, thu hút khách du
lịch Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược đối với ngành du lịch Hải Phòng cũng
như các doanh nghiệp kinh doanh du lịch. Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài
“Hoạt động xúc tiến của du lịch Hải Phòng nhằm thu hút khách du lịch
Trung Quốc – Thực trạng và giải pháp” làm đề tài luận văn cao học của mình,
hy vọng sẽ góp một phần nhỏ bé vào việc phát triển hoạt động xúc tiến, quảng bá
du lịch của Hải Phòng tại thị trường Trung Quốc.
3
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đưa ra những giải pháp đẩy mạnh hoạt
động xúc tiến của ngành du lịch Hải Phòng nhằm thu hút khách du lịch Trung
Quốc hiện tại và những năm tiếp theo.
Căn cứ vào mục tiêu đặt ra, luận văn tiến hành giải quyết những nhiệm vụ
nghiên cứu sau:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận mới về điểm đến du lịch, nội dung
hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch và những đặc thù của du lịch Hải Phòng, đặc
điểm của khách du lịch Trung Quốc đến Hải Phòng.
- Phân tích, khảo sát thực trạng triển khai và đánh giá hoạt động xúc tiến
điểm đến du lịch của Hải Phòng nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc trong
thời gian qua, chủ yếu từ năm 2005 đến 2009 trong so sánh với khung lý luận.
- Đề xuất hoàn thiện giải pháp cải thiện các nội dung và quá trình hoạt
động xúc tiến điểm đến du lịch, các điều kiện đảm bảo thành công của hoạt động
xúc tiến điểm đến du lịch nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc tại Hải Phòng.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động xúc tiến điểm đến của
ngành du lịch Hải Phòng đối với nguồn khách du lịch Trung Quốc.
- Phạm vi nghiên cứu: Về mặt không gian: Luận văn giới hạn nghiên cứu
hoạt động xúc tiến của du lịch Hải Phòng nhằm thu hút khách du lịch Trung
Quốc (tại tỉnh Quảng Tây, Vân Nam và đặc khu hành chính Ma Cao).
Về mặt thời gian: Luận văn tập trung phân tích đánh giá hoạt động xúc
tiến của du lịch Hải Phòng nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc trong thời
gian 5 năm từ năm 2005 – 2009; đề xuất giải pháp đấy mạnh hoạt động xúc tiến
của du lịch Hải Phòng nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc.
4
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Từ sách, báo, tạp chí, báo cáo
của Tổng cục Du lịch, báo cáo của Tổng cục Thống Kê, báo cáo của Trung tâm
Thông tin Xúc tiến Du lịch Hải Phòng…
- Phương pháp điều tra xã hội học: Bảng hỏi được thiết kế dành cho đối
tượng điều tra là khách du lịch Trung Quốc đến Hải Phòng tại các điểm du lịch
như Cát Bà, Đồ Sơn, nội thành Hải Phòng nhằm tạo cơ sở tham khảo và phân
tích nhu cầu sản phẩm, dịch vụ du lịch của khách du lịch Trung Quốc.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sử dụng các phương pháp phân tích
thống kê, phương pháp quy nạp để từ đó tổng hợp thành những vấn đề cốt lõi,
chung nhất. Rút ra bài học kinh nghiệm về hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch
của Hải Phòng.
5. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến tên đề tài
Ở nước ngoài đã có một số chuyên khảo về điểm đến du lịch và marketing
điểm đến du lịch như:
Stephen Page, (1995), Uban Tourism
ERic Law, (1995), Tourist destination management
Ở trong nước, cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về thị
trường khách du lịch Trung Quốc, trước tác giả nghiên cứu đã có một số công
trình công bố như:
Đề tài khoa học cấp ngành: “Nghiên cứu đánh giá một số đặc điểm của
thị trường khách Nhật Bản và Trung Quốc nhằm phát triển nguồn khách của du
lịch Việt Nam” do bà Nguyễn Quỳnh Nga và nhóm nghiên cứu thực hiện, 2001
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân khoa học du lịch, “Nghiên cứu tâm lý và
ứng dụng xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù cho khách Trung Quốc trên thị
trường du lịch Quảng Ninh”, Vũ Khắc Điệp, 2003
5
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân khoa học du lịch, “Việc xây dựng định
hướng thu hút khách du lịch Trung Quốc vào Lạng Sơn”, Hồ Minh Châu, 2006
Báo cáo: “Phát triển Trung Quốc tình hình và triển vọng”, Viện khoa học
xã hội Việt Nam, Viện nghiên cứu Trung Quốc, PGS. TS. Đỗ Tiến Sâm thực
hiện 2006.
Luận án tiến sĩ kinh tế, “Hoàn thiện hoạch định chiến lược xúc tiến điểm
đến của ngành Du lịch Việt Nam”, Nguyễn Văn Đảng, 2007.
Và một số công trình nghiên cứu về thị trường khách du lịch Trung Quốc,
hoạt động xúc tiến của du lịch Việt Nam tại thị trường khách du lịch Trung Quốc
…
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về thực trạng
và giải pháp của hoạt động xúc tiến du lịch Hải Phòng nhằm thu hút khách du
lịch Trung Quốc. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp đấy
mạnh hoạt động xúc tiến của du lịch Hải Phòng nhằm thu hút khách du lịch
Trung Quốc trong thời gian tới có ý nghĩa rất thiết thực cho ngành du lịch Hải
Phòng.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở học hỏi và kế thừa những hướng nghiên cứu và lý luận đi
trước, luận văn đã tổng hợp và hệ thống lại cơ sở lý luận về điểm đến, điểm đến
du lịch, nội dung hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch.
Về ý nghĩa thực tiễn, việc nghiên cứu hoạt động xúc tiến của du lịch Hải
Phòng nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc, là cơ sở cho các nhà quản lý du
lịch của Hải Phòng trong việc hoạch định chiến lược xúc tiến, quảng bá du lịch
Hải Phòng đối với nguồn khách Trung Quốc. Từ đó góp phần vào sự phát triển
du lịch của Hải Phòng, đưa Hải Phòng trở thành một trong những điểm đến du
lịch hấp dẫn khách du lịch nói chung và khách du lịch Trung Quốc nói riêng.
6
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch
Chương 2: Thực trạng hoạt động xúc tiến của du lịch Hải Phòng nhằm
thu hút khách du lịch Trung Quốc.
Chương 3: Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm phát triển hoạt động
xúc tiến của du lịch Hải Phòng đối với thị trường khách Trung Quốc.
7
Chƣơng 1
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH
1.1. Tổng quan về điểm đến
1.1.1. Khái niệm
* Điểm đến
Theo cách hiểu trực giác điểm đến có nghĩa là một điểm địa lý, được sử
dụng như một mốc đánh dấu đích đến cuối cùng trong một chuyến hành trình.
Nó có thể là một thực thể riêng biệt, đơn lẻ như một địa danh, nơi chốn. Ví dụ,
thủ đô Hà Nội, Cairo của Ai Cập, Berlin của Đức.
Ngày nay, trong cách dùng theo nghĩa hẹp: Điểm đến có thể là một tập
hợp, bất cứ gì dễ nhận ra như công trình xây dựng, đài tưởng niệm, công trình
kiến trúc, ví dụ như Chùa Thầy ở Hà Nội, tượng mẹ Suốt ở Quảng Bình, địa đạo
Vịnh Mốc ở Quảng Trị…Theo nghĩa rộng: Điểm đến có thể là một thực thể văn
hóa xã hội, nó có thể là văn hóa, lịch sử. Điểm đến có thể bao gồm nhiều điểm
đến nhỏ hơn và có mối liên hệ với nhau về mặt nào đó. Ví dụ, quốc lộ 5 Hải
Phòng - Hà Nội chạy qua một số tỉnh thành phố như Hải Duơng, Hưng Yên vẫn
được coi là một điểm đến.
* Điểm đến du lịch
Có nhiều quan điểm khác nhau về điểm đến du lịch, Eric Laws đã hệ
thống hóa những quan niệm về điểm đến du lịch như: [30, pg.25].
Theo quan niệm truyền thống “Điểm đến du lịch là nơi mà con người thực
hiện những kỳ nghỉ của họ”. Với quan niệm này, vị trí điểm đến có cấu trúc và
sự thay đổi theo các vùng du lịch khác nhau.
Theo quan điểm gần đây, điểm đến còn xem xét tới sự tác động đến kinh
tế, xã hội và môi trường: “Điểm đến là vùng mà con người lựa chọn để sử dụng
kỳ nghỉ và có tác động do hoạt động của họ”. Các vùng điểm đến phong phú đa
dạng: Bãi biển, thành phố, phong cảnh đẹp…, sự lựa chọn điểm đến phụ thuộc
8
động cơ và sở thích cá nhân, hoạt động marketing có thể làm thay đổi sự lựa
chọn. Sự tác động của hoạt động du lịch ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội, môi
trường và sinh thái của điểm đến.
Hay dưới góc độ quản lý “Điểm đến du lịch là nới diễn ra quản trị cầu
đối với du lịch và quản trị sự tác động của nó tới điểm đến”. Việc quản trị cầu
đảm bảo cho sự dễ dàng tiếp cận tới điểm đến, kiểm soát được chất lượng, gia
tăng các lợi ích, hình ảnh. Việc quản trị hiệu quả hoạt động du lịch là thiết lập
mục tiêu hợp lý, phân tích các tác động và khả năng tiếp nhận của điểm đến, tiến
hành hoạch định điểm đến phù hợp.
Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh và PGS. TS. Nguyễn Đình Hòa: “Điểm
đến du lịch là một địa điểm mà chúng ta có thể cảm nhận được bằng đường biên
giới về địa lý, đường biên giới về chính trị, hay đường biên giới về kinh tế, có tài
nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút và đáp ứng được nhu cầu của
khách du lịch” [18, tr.342].
Theo TS. Nguyễn Văn Đảng: “Điểm đến du lịch là nơi có các yếu tố hấp
dẫn, các yếu tố bổ sung và các sản phẩm kết hợp những yếu tố này để đáp ứng
các nhu cầu và mong muốn của du khách” [10, tr.6].
Quan điểm này, được sử dụng như một trong các cơ sở cho hoạch định
chiến lược xúc tiến điểm đến. Điểm đến du lịch là yếu tố đặc trưng của sản phẩm
du lịch. Các điểm đến sẽ cạnh tranh, hay hợp tác với nhau để thu hút khách du
lịch ở thị trường du lịch trong nước hay thị trường du lịch quốc tế.
1.1.2. Phân loại điểm đến du lịch
Điểm đến có thể là một quốc gia, một lục địa hay là toàn bộ các quốc gia,
toàn bộ các lục địa , ở khía cạnh hẹp hơn có thể là một làng nghề, khách sạn,
câu lạc bộ được xem xét và chào bán như một điểm đến như: Hiệp hội Lữ hành
khu vực Thái Bình Dương (PATA), Ủy ban Lữ hành Châu Âu (ETC), có trách
nhiệm tìm hiểu thị trường cho khu vực Thái Bình Dương và Châu Âu như một
điểm đến du lịch. Giữa các quan niệm điểm đến du lịch về sự đa dạng rất hẹp và
9
rất rộng khác nhau đã nêu ở trên, sẽ có những quan niệm điểm đến du lịch khác
nhau nằm ở trung gian, có thể xác định theo cơ quan quản lý, cách nhìn của
khách du lịch, mục đích sử dụng hay của vị trí. Việc phân loại điểm đến du lịch
có thể sử dụng một số tiêu thức khác nhau để tiến hành phân loại điểm đến du
lịch:
Theo các mức độ hay qui mô cơ bản: Có thể phân loại điểm đến du lịch là
các điểm đến có qui mô lớn, là điểm đến của một vùng, lãnh thổ hay ở cấp độ
châu lục như khu vực Châu Á, Châu Âu, Nam Mỹ
- Điểm đến vĩ mô cấp độ của một quốc gia như Trung Quốc, Lào, Việt
Nam
- Điểm đến vĩ mô bao gồm các tỉnh, thành phố, quận, huyện trong lãnh
thổ một quốc gia.
Theo hình thức sở hữu: Có thể phân loại đó là điểm đến thuộc sở hữu tư
nhân hay nhà nước như Làng chiến tranh ở Quảng Bình thuộc sở hữu tư nhân,
điểm đến di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha Kẻ Bàng của Việt Nam thuộc sở
hữu nhà nước.
Theo tiêu thức vị trí địa lý: Có thể phân loại điểm đến là ở vùng núi hay
vùng biển như Sapa hay Vũng Tàu, là thành thị hay nông thôn như thành phố
Hải Phòng hay điểm đến làng nghề Bát Tràng Hà Nội.
Theo giá trị tài nguyên du lịch: Có thể phân loại đó là điểm đến có giá trị
tài nguyên nhân văn hay tài nguyên tự nhiên như phố cổ Hội An là di sản văn
hóa thế giới, còn Vịnh Hạ Long là di sản thiên nhiên thế giới.
Theo địa chính trị (quốc gia): Có thể phân loại điểm đến là điểm đến du
lịch là một đất nước (Lào, Mỹ), hay một nhóm đất nước (Lào, Việt Nam,
Campuchia - hành trình di sản Đông Dương), hay điểm đến là một khu vực
(Châu Á).
10
Theo mục đích: Có thể phân loại điểm đến sử dụng với mục đích khác
nhau, tạo ra các khu nghỉ (Resort) như khu nghỉ cao cấp Tan Đa Resort, Son Tra
Resort, khu du lịch sinh thái Thác Đa
Theo vị trí qui hoạch: Đó là những điểm đến phụ cận hay điểm đến thuộc
trung tâm du lịch của vùng, như Hưng Yên, Thái Nguyên, Hà Nam là các vùng
phụ cận còn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là các trung tâm du lịch của
vùng.
1.1.3. Hệ thống điểm đến du lịch
Căn cứ vào tiêu thức phân loại và theo những quan niệm điểm đến du lịch
ở trên, khi tiến hành nghiên cứu quản trị hay các hoạt động phát triển các điểm
đến du lịch sẽ trở nên khó khăn và phức tạp, do tính chất nhiều ngành, nhiều
vùng tham gia vào việc tạo ra các sản phẩm du lịch. Để có sự tiếp cận mang tính
toàn diện, tổng thể và thực tiễn, giúp cho việc nghiên cứu đánh giá chính xác và
thuận lợi.
Việc sử dụng lý thuyết hệ thống sẽ giúp nắm được các quá trình phức tạp
về vận hành, quản lý cũng như sự phát triển điểm đến du lịch. Hệ thống du lịch
là hệ thống mở, mang tính thứ bậc, đó là hệ thống linh hoạt và tự do. Một hệ
thống được tạo thành bởi các hệ thống, các phân hệ và nằm trong siêu hệ thống
(hệ thống lớn hơn).
Khi tiến hành nghiên cứu khảo sát điểm đến du lịch cần xác định các phân
hệ của một hệ thống điểm đến du lịch cụ thể. Hệ thống du lịch là cấp độ chung,
còn hệ thống điểm đến du lịch lại trở thành một tiểu hệ thống trong hệ thống du
lịch. Và có thể coi điểm đến du lịch chính là một phân hệ trong hệ thống điểm
đến du lịch.
Đã có nhiều tác giả đưa ra sơ đồ hệ thống điểm đến du lịch khác nhau.
Như giáo sư Trevor Sofield lại đưa ra hệ thống du lịch bao gồm tám nhóm yếu
tố: Cộng đồng dân cư, điểm đến, vùng di chuyển, vùng tạo cầu du lịch, các dịch
11
vụ hỗ trợ, chính phủ, môi trường sinh thái. Giáo sư Trevor Sofield không đề cập
đến yếu tố khách du lịch và tổ chức xúc tiến trong hệ thống du lịch.
Eric Laws đưa ra mô hình hệ thống điểm đến du lịch tổng quát, mô hình
này chủ yếu nhấn mạnh vào các yếu tố điểm đến bao gồm hai nhóm yếu tố:
Nhóm cơ bản / sơ cấp liên quan đến các yếu tố tạo ra sự hấp dẫn và nhóm bổ
sung / thứ cấp liên quan đến lưu trú, cơ sở hạ tầng Các yếu tố đầu vào của hệ
thống điểm đến là nguồn lực nhà đầu tư, kỹ năng quản lý và kỹ thuật, mong đợi
du khách. Các yếu tố đầu ra của hệ thống điểm đến là lợi nhuận của những người
hưởng lợi và tác động đến môi trường. Ông không đề cập tới yếu tố du khách và
yếu tố chính phủ [10, tr.9].
1.2. Khái niệm, vai trò và lợi ích của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch
1.2.1. Khái niệm
Có nhiều quan niệm về xúc tiến như “Xúc tiến nhằm tạo ra sự chú ý, sự
tuyên truyền, hay thông tin”. Quan niệm khác: “Xúc tiến nhằm tăng thêm vị thế
cho danh tiếng, nâng cao giá trị, hay thiết lập mục tiêu nào đó” [10, tr.17].
Ngày nay, khái niệm xúc tiến du lịch được hiểu theo hai cách khác nhau.
Hiểu theo nghĩa hẹp (xúc tiến du lịch là hoạt động xúc tiến của một doanh
nghiệp hay tổ chức du lịch) và hiểu theo nghĩa rộng (xúc tiến du lịch với tư cách
là một ngành kinh tế)
Theo nghĩa hẹp: “Theo quan điểm của marketing thì bản chất của hoạt
động xúc tiến chính là quá trình truyền tin để cung cấp thông tin về một sản
phẩm và về doanh nghiệp với khách hàng để thuyết phục họ mua sản phẩm của
doanh nghiệp mình.”. Vì vậy, trong nhiều ấn phẩm về marketing gọi đây là các
hoạt động truyền thông marketing, nghĩa là truyền tải thông tin hay truyền tin
marketing.
Theo nghĩa rộng: “Xúc tiến du lịch là hoạt động tuyên truyền, quảng bá,
vận động nhằm tìm kiếm thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch.” (Theo khoản 17
điều 4 của Luật du lịch Việt Nam)
12
Theo Luật du lịch Việt Nam, thì thuật ngữ xúc tiến du lịch có nội hàm rất
rộng ở tầm vĩ mô, bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
- Thứ nhất, tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu rộng rãi cho các tầng lớp
nhân dân trong cả nước và bạn bè quốc tế hiểu biết về du lịch Việt Nam.
- Thứ hai, giáo dục để nâng cao nhận thức xã hội về du lịch, tạo môi
trường du lịch văn minh, lành mạnh, an toàn để đầu tư và phát triển du lịch.
- Thứ ba, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch.
- Thứ tư, phát triển các tuyến du lịch, điểm du lịch, khu du lịch, xây dựng
các sản phẩm du lịch đa dạng độc đáo, có chất lượng cao mang đậm bản sắc văn
hóa dân tộc, của từng vùng địa phương có sức mạnh với các sản phẩm du lịch
của các nước trong khu vực và trên thị trường du lịch quốc tế.
Xúc tiến điểm đến du lịch thuộc marketing điểm đến du lịch do tổ chức du
lịch quốc gia chủ trì thực hiện và có sự phối hợp tham gia của các tổ chức liên
quan, được quan niệm như sau: “Xúc tiến điểm đến du lịch được xác định là sự
kết hợp chủ động các nỗ lực của tổ chức du lịch và tổ chức liên quan, nhằm tạo
dụng hình ảnh điểm đến du lịch, thiết lập mối quan hệ thuận lợi giữa điểm đến
và các doanh nghiệp du lịch với thị trường, đảm bảo thành công việc triển khai
các chương trình marketing hỗn hợp đã lựa chọn” [10, tr.17].
Như vậy, xúc tiến du lịch hay xúc tiến điểm đến du lịch không phải là một
hoạt động mang tính nội bộ riêng lẻ, mà là sự kết hợp và tác động lẫn nhau giữa
các bộ phận cấu thành nên sản phẩm điểm đến du lịch vì mục tiêu chung đã đặt
ra. Do vậy: “Chiến lược xúc tiến điểm đến du lịch chính là một hệ thống các
quyết định liên quan đến mục tiêu, người nhận tin, ngân sách xúc tiến nhằm phát
triển và duy trì hiệu quả một hỗn hợp công cụ truyền thông trên cơ sở nguồn lực
của các tổ chức, để thu hút một cách cạnh tranh các khách hàng hiện tại và tiềm
năng tới điểm đến, đạt được các mục tiêu xúc tiến và các mục tiêu chung của tổ
chức” [8, tr.14].
13
Chiến lược xúc tiến điểm đến du lịch cần được hoạch định theo một quy
trình xác định, không thể tùy tiện. Tùy từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể các
chiến lược xúc tiến điểm đến du lịch sẽ được lựa chọn khác nhau nhằm đạt được
các mục tiêu xúc tiến của tổ chức.
1.2.2. Vai trò của xúc tiến điểm đến du lịch
Trong hoạt động du lịch, xúc tiến tiến điểm đến du lịch đóng vai trò quan
trọng và không thể thiếu. Một điểm đến du lịch muốn phát triển bền vững và
thành công, đều phải tiến hành hoạt động xúc tiến quảng bá điểm đến du lịch đó.
Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch được tiến hành thực hiện bởi các tổ chức du
lịch quốc gia, các địa phương và các doanh nghiệp du lịch. Hoạt động xúc tiến
du lịch nói chung và hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch nói riêng thu hút nhiều
nguồn lực của điểm đến.
Một số vai trò của xúc tiến điểm đến du lịch nhƣ sau:
Thứ nhất, hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch nhằm tuyên truyền, quảng
bá giới thiệu cung cấp thông tin về du lịch của điểm đến tại các thị trường đặc
biệt là thị trường tiềm năng, qua đó thu hút khách du lịch.
Thứ hai, nâng cao nhận thức của người dân về vai trò phát triển du lịch,
đem lại nhiều lợi ích cho xã hội, như tạo môi trường du lịch thuận lợi, tăng thu
nhập xã hội, tạo việc làm, giữ gìn và khai thác hợp lý tài nguyên du lịch, tăng
tổng cầu du lịch.
Thứ ba, xây dựng hình ảnh tích cực về điểm đến du lịch trong tâm trí
khách du lịch, tác động đến sự lựa chọn điểm đến du lịch của họ.
Thứ tư, hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch được xác định như một sắp
xếp toàn bộ các nỗ lực chủ động sáng tạo của điểm đến, thiết lập các kênh thông
tin, thuyết phục, chào bán các hàng hóa và dịch vụ hay xúc tiến hình ảnh, ý
tưởng của điểm đến du lịch.
14
Thứ năm, hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch cung cấp các thông tin thị
trường, là cầu nối giúp các tổ chức, doanh nghiệp du lịch nghiên cứu thị trường
và tìm kiếm người tiêu dùng (khách du lịch) phù hợp.
1.2.3. Lợi ích của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch
- Đối với chính điểm đến du lịch và các nhà cung ứng sản phẩm du lịch
Hoạt động xúc tiến có thể quảng bá được hình ảnh của một điểm đến du
lịch tới nhiều người để họ biết về điểm đến du lịch, biết về những sản phẩm cốt
lõi, sản phẩm kết hợp, những đặc trưng của điểm đến du lịch từ đó giúp cho
điểm đến du lịch có thể xây dựng được thương hiệu. Hoạt động xúc tiến điểm
đến du lịch có thể thu hút được các dự án đầu tư khai thác, phát triển tiềm năng
của chính điểm đến du lịch.
Các tổ chức, doanh nghiệp du lịch và đại lý cung ứng sản phẩm du lịch,
xúc tiến điểm đến du lịch sẽ là công cụ hiệu quả trong việc giữ vững nhu cầu cũ
và tạo thêm nhu cầu mới, kích thích tiêu thụ, tăng uy tín, vị trí kinh doanh, tăng
lợi nhuận, hỗ trợ trong việc giới thiệu sản phẩm dịch vụ du lịch mới vào thị
trường. Xúc tiến điểm đến cũng là cách thức để tạo lập mối quan hệ gắn bó giữa
tổ chức, doanh nghiệp, các trung gian phân phối, đại lý và du khách. Bên cạnh
đó, các nhà cung ứng sản phẩm du lịch cũng sẽ tiếp nhận những phản ứng đáp lại
của người tiêu dùng, góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch
vụ điểm đến du lịch.
- Đối với cộng đồng dân cư địa phương
Xúc tiến điểm đến du lịch hiệu quả có thể thu hút được một số lượng lớn
khách du lịch, đồng thời tạo ra được nhiều việc làm và tăng thu nhập cho cộng
đồng dân cư địa phương tại điểm đến du lịch. Hoạt động xúc tiến điểm đến du
lịch góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư địa phương, nâng cao
hiểu biết của họ về thị trường, về sản phẩm du lịch, dịch vụ, điểm đến du lịch,
giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên du lịch điểm đến, thái độ
phục vụ, ý thức nâng cao chất lượng dịch vụ. Thông qua khách du lịch, người
15
dân địa phương có thể tiếp xúc và giao lưu văn hóa với nhiều quốc gia khác
nhau. Bên cạnh đó, sự tiếp thu có chọn lọc góp phần làm phong phú đa dạng
thêm cho nền văn hóa của cộng đồng dân cư địa phương.
- Đối với khách du lịch
Ngày nay, hoạt động xúc tiến du lịch đã trở nên phổ biến và có sức thuyết
phục lớn đối với khách du lịch. Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch có tác dụng
định hướng sở thích và hình thành thị hiếu và hành vi tiêu dùng của du khách.
Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch góp phần nâng cao giá trị sử dụng
sản phẩm du lịch. Bởi vì thông qua cạnh tranh, các doanh nghiệp du lịch phấn
đấu đưa ra thị trường những sản phẩm hàng hóa và dịch vụ có chất lượng tốt
hơn.
Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch kích thích lòng mong muốn có mức
sống cao hơn đã làm nảy sinh nhu cầu mới và từ đó làm tăng tổng cầu.
Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch còn có tác dụng hướng dẫn du khách,
cung cấp một cách có hệ thống kiến thức về một loại sản phẩm, dịch vụ, kiến
thức về điểm đến. Do đó, khách du lịch được nâng cao trình độ và tự tin lựa chọn
sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ hiệu quả hơn.
Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của
du khách. Vì vậy, đòi hỏi hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch phải có đạo đức,
trách nhiệm và có sự ràng buộc về mặt pháp lý không được lừa dối du khách
như: Đưa các thông tin sai sự thật, cường điệu khoác lác, trái thuần phong, mỹ
tục, truyền thống văn hóa của dân tộc…
1.3. Nội dung của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch
Nội dung cụ thể của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch phụ thuộc vào
mục tiêu và nội dung của các quyết định, các chiến lược và sách lược mà tổ chức
phải thực hiện, không quá tập trung vào việc giải quyết những vấn đề thứ yếu
không có ý nghĩa quyết định với tổ chức. Nội dung của hoạt động xúc tiến điểm
đến du lịch tuy khó có thể đạt được mức độ chính xác tuyệt đối, nhưng điều quan
16
trọng nhất là nó phải mang tính khoa học cao, tính logic. Một số nội dung cơ bản
của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch như sau:
1.3.1. Xác định mục tiêu xúc tiến điểm đến
Để thực hiện mục tiêu xúc tiến điểm đến du lịch cần xác định rõ ràng mục
tiêu xúc tiến cần đạt được. Mục tiêu này là kết quả mà những nhà quản trị muốn
đạt được trong tương lai cho tổ chức du lịch. Các nhà quản trị du lịch thông
thường không chỉ hướng tới một mục tiêu, mà thường là một hệ thống các mục
tiêu phụ thuộc lẫn nhau. Mục tiêu xúc tiến đã được xác định là nền tảng nhằm
xây dựng hệ thống quản trị. Mặt khác, khi hướng tới mục tiêu xúc tiến điểm đến
dài hạn có tính chiến lược, mục tiêu quản trị không phải là những điểm mốc cố
định mà là linh hoạt phát triển với những kết quả mong đợi ngày càng cao hơn
trên cơ sở xem xét các nguồn lực hiện có hoặc sẽ có của tổ chức du lịch. Như
vậy, mục tiêu giữ vai trò rất quan trọng đối với tiến trình quản trị và quyết định
toàn bộ diễn tiến của quá trình này.
Mục tiêu xúc tiến điểm đến du lịch phải dựa trên cơ sở thông qua phân
tích tình huống, để xác định các giải pháp cho toàn bộ hoạt động điểm đến hay
thương hiệu điểm đến du lịch. Mục tiêu xúc tiến điểm đến được xây dựng trên cơ
sở kế hoạch marketing của điểm đến du lịch và không tách rời với các mục tiêu
marketing, như khi phân tích tình huống sẽ biết được thông tin quan trọng về:
- Người nhận tin mục tiêu, thị trường mục tiêu (tâm lý và động cơ mua,
nhân khẩu học)
- Sản phẩm du lịch và các lợi thế, lợi ích, các nét đặc trưng của nó…
- Các thương hiệu điểm đến du lịch cạnh tranh
- Các ý tưởng cho thương hiệu điểm đến du lịch phải được xây dựng hình
ảnh trong tâm trí khách du lịch (định vị) như thế nào và các đáp ứng hành vi cụ
thể được tìm kiếm.
Mục tiêu xúc tiến điểm đến du lịch, chỉ dẫn xem điều gì mà điểm đến du
lịch sẽ mong muốn từ đó thực hiện với chiến lược xúc tiến điểm đến. Các mục
17
tiêu truyền thông (truyền tin) có thể bao gồm: “Tạo ra sự biết đến hay hiểu biết
về điểm đến và các sản phẩm của điểm đến hay các lợi ích nhận được; tạo dựng
hình ảnh; hay phát triển thái độ, sự ưa chuộng thuận lợi hay dự định mua” [10,
tr.26]. Vì vậy, các mục tiêu truyền thông cần phải có sức mạnh định hướng cho
sự triển khai toàn bộ chiến lược marketing truyền thông và các mục tiêu riêng
cho mỗi một công cụ xúc tiến tại các thị trường tiềm năng khác nhau.
Tùy theo những điều kiện cụ thể của từng điểm đến du lịch, mà mỗi điểm
đến du lịch sẽ đưa ra một mục tiêu xúc tiến điểm đến khác nhau. Xác định mục
tiêu xúc tiến điểm đến du lịch là điều rất quan trọng, mục tiêu xúc tiến điểm đến
du lịch có thể phân thành ba nhóm cụ thể như sau:
- Nhóm mục tiêu thông báo có thể bao gồm: Thông báo cho thị trường du
lịch biết về một sản phẩm mới và công dụng mới của sản phẩm, mô tả dịch vụ
hiện có, điều chỉnh lại những thông tin sai lệch, giảm bớt sự lo sợ của du khách
(người tiêu dùng), tạo dựng hình ảnh cho điểm đến du lịch. Mục tiêu này được
sử dụng nhiều khi bắt đầu giới thiệu sản phẩm du lịch mới, nhằm xây dựng nhu
cầu ban đầu của khách du lịch, kích thích tiêu thụ sản phẩm của điểm đến du
lịch.
- Nhóm mục tiêu thuyết phục bao gồm: Hình thành sự ưa thích sản phẩm
du lịch của điểm đến, khuyến khích khách du lịch tới tham quan điểm đến, thay
đổi nhận thức của khách du lịch về tính chất của sản phẩm du lịch, thuyết phục
họ mua ngay sản phẩm điểm đến du lịch.
- Nhóm mục tiêu nhắc nhở bao gồm: Hoạt động nhắc nhở khách du lịch
(người tiêu dùng) họ sắp cần sản phẩm dịch vụ du lịch, nhắc nhở nơi khách du
lịch có thể mua sản phẩm, sử dụng dịch vụ, lưu giữ trong tâm trí khách du lịch
hình ảnh sản phẩm du lịch với những ưu đãi khi trái vụ. Duy trì mức độ biết đến
sản phẩm du lịch ở mức cao.
18
1.3.2. Xác định người nhận tin mục tiêu
Khi xúc tiến điểm đến du lịch trên thị trường du lịch, cần phải xác định
người nhận tin mục tiêu. Thực chất là phát hiện công chúng mục tiêu, đối tượng
nhận tin. Họ có thể là nhóm nhóm trung gian, người tiêu dùng, nhóm công
chúng. Người nhận tin mục tiêu có thể là các nhóm, các cá nhân, đoạn thị trường
ngách, các phân đoạn thị trường, người nhận tin đại chúng hay công chúng. Các
câu hỏi được các nhà xúc tiến truyền thông đặt ra là: Đối tượng nhận tin là ai?
thông tin những cái gì? thông tin như thế nào? thông tin khi nào và thông tin ở
đâu?
- Đối với người nhận tin là nhóm, người làm marketing thường phải
truyền thông với một nhóm người, gây ảnh hưởng tới quyết định mua. Chẳng
hạn, các điểm đến marketing sản phẩm và dịch vụ du lịch với các tổ chức kinh
doanh khác nhau, phải hiểu ai trong bộ phận được ủy thác mua, khía cạnh nào
của quyết định mà mỗi một người gây ảnh hưởng và tiêu chuẩn mỗi thành viên
sử dụng để đánh giá sản phẩm.
- Đối với người nhận tin là cá nhân, có nhu cầu thông tin riêng và thông
điệp cần phải được thay đổi cho phù hợp. Sử dụng phương tiện truyền thông
thường đòi hỏi trực tiếp (người - người) và thực hiện qua bán hàng. Một dạng
truyền thông khác như quảng cáo, được sử dụng để thu hút sự chú ý của người
nhận tin tới điểm đến du lịch thì thông điệp phải chi tiết cụ thể hơn nhờ người
bán.
- Người làm marketing thường tìm kiếm người tiêu dùng du lịch có nhu
cầu và ước muốn giống nhau: Du lịch tôn giáo, du lịch sinh thái, du lịch thể
thao…Nhóm người tiêu dùng này thường rất nhỏ và có thể coi đó là thị trường
ngách. Có thể sử dụng phương tiện truyền thông có tính mục tiêu cao như gửi
thư trực tiếp hay sử dụng nỗ lực bán hàng cá nhân.