TIÓU LUËN KINH TÕ CHÝNH TRÞ
TIÓU LUËN KINH TÕ CHÝNH TRÞ
NHãM 1 – LíP ANH 1 – C§ 3
NHãM 1 – LíP ANH 1 – C§ 3
Giíi thiÖu
•
Từ thập niên 60 của thế kỷ XX, Đảng CSVN đã đề ra
đường lối CNH và coi CNH là nhiêm vụ trung tâm xuyên
suốt thời kỳ quá độ lên CNXH.Thực tiễn đã chứng minh
quá trình CNH, HDH sẽ có những tác dụng to lớn về
nhiều mặt trong sự phát triển KTXH của đất nước.
•
Mười lăm năm xây dựng CNXH ở miền Bắc (1960-1975)
là một khoảng thời gian không dài so với lịch sử đấu tranh
cách mạng của toàn Đảng và toàn dân ta. Nó cũng không
dài so với lịch sử lãnh đạo sự nghiệp giáo dục, đào tạo đội
ngũ cán bộ cách mạng của Đảng, song đây là khoảng thời
gian diễn ra những biến cố lịch sử đầy cam go, thử
thách.Từ năm 1965-1975 là giai đoạn cả nước có chiến
tranh, miền Bắc vừa phải thực hiện nhiệm vụ xây dựng
CNXH và đấu tranh chống lại các cuộc chiến tranh phá
hoại của đế quốc Mỹ, vừa làm nhiệm vụ của hậu phương
lớn đối với chiến trường miền Nam và thực hiện nghĩa vụ
quốc tế đối với cách mạng Lào
Môc tiªu
•
Xây dưng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nên kinh tế quôc
dân.Bước đầu chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu
sang nền kinh tế công nghiệp.Mỗi bước tiến của quá trình
CNH, HĐH là một bước tăng cường cơ sở vật chất- kỹ
thuật cho CNXH, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất
và góp phần hoàn thiện quan hệ xã hội chủ nghĩa.( có bổ
sung).
•
Sau năm 1960, miền Bắc thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ
sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH; tiến hành công nghiệp
hoá XHCN và thực hiện đồng thời cách mạng về quan hệ
sản xuất, cách mạng tư tưởng văn hoá và cách mạng kỹ
thuật. Đây là nhiệm vụ đặt ra đối với tất cả các ngành, các
lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân.
chÝnh s¸ch nhµ n&íc
•
Từ năm 1960-1964 là giai đoạn miền Bắc tập trung mọi
nguồn lực nhằm thực hiện nhiệm vụ cách mạng do Đại hội
lần thứ III của Đảng đề ra, đặc biệt là thực hiện những
nhiệm vụ cụ thể của Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-
1965), trong đó trọng tâm là tiến hành công nghiệp hoá
XHCN xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho
CNXH.Trong bối cảnh đó, Đảng và Chính phủ đã có
nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn, kịp thời lãnh đạo
công tác đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật ở miền
Bắc đáp ứng nhu cầu của từng giai đoạn lịch sử đặt ra và
đạt được nhiều thành tựu quan trọng.
V¨n ho¸ - gi¸o dôc
•
-Thứ nhất, nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò
của đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật trong sự
nghiệp xây dựng CNXH và đấu tranh thống
nhất nước nhà.
•
-Thứ hai, công tác đào tạo cán bộ khoa học, kỹ
thuật phải gắn với quá trình thực hiện nhiệm vụ
chính trị, với phong trào cách mạng của quần
chúng và đáp ứng những yêu cầu đặt ra của
từng giai đoạn lịch sử.
•
-Thứ ba, gắn giáo dục chuyên môn với giáo dục
về chính trị, tư tưởng và đạo đức, thực hiện
phương châm gắn lý luận với thực tiễn sản xuất
và chiến đấu
•
-Thứ tư, chú trọng xây dựng, đào tạo một đội
ngũ cán bộ giảng dạy vững mạnh.
•
-Thứ năm, xây dựng chiến lược đào tạo cán bộ
khoa học, kỹ thuật đồng bộ và toàn diện.
Kinh tÕ
•
-Thứ ba, gắn giáo dục chuyên môn với giáo dục
về chính trị, tư tưởng và đạo đức, thực hiện
phương châm gắn lý luận với thực tiễn sản xuất
và chiến đấu
•
-Thứ tư, chú trọng xây dựng, đào tạo một đội
ngũ cán bộ giảng dạy vững mạnh.
•
-Thứ năm, xây dựng chiến lược đào tạo cán bộ
khoa học, kỹ thuật đồng bộ và toàn diện.
KÕt qu¶
•
Giáo dục:
•
Từ thực tiễn của công cuộc kháng chiến, kiến
quốc (1945-1954), Đảng và Nhà nước đã tích luỹ
được một số kinh nghiệm về đào tạo, sử dụng đội
ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật cho sự nghiệp cách
mạng. Bước vào thời kỳ cải tạo XHCN và xây
dựng CNXH ở miền Bắc, nhận thức được tầm
quan trọng của vấn đề cán bộ, Đảng ta đã từng
bước xây dựng đường lối giáo dục, đào tạo cán bộ
đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.
•
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cơ sở đào tạo cán
bộ khoa học đã trở thành một công cụ quan trọng
của hệ thống chính trị trong cách mạng XHCN.
Vai trò lãnh đạo của Đảng có ý nghĩa rất to lớn
đối với sự phát triển của nhà trường và đối với
công tác đào tạo cán bộ trên tất cả các mặt. Tổ
chức Đảng tham gia công tác nhà trường ở các
cấp, bảo đảm việc thực hiện đường lối của Đảng
và Nhà nước, thực hiện những nhiệm vụ của tổ
chức Đảng cấp trên đặt ra cho lĩnh vực giáo dục
đại học, tiến hành giáo dục chính trị, tư tưởng đối
với các thành viên của nhà trường, đoàn kết và
giáo dục họ trong lao động vì lợi ích của đất
nước.
•
Bước sang năm 1965,
•
Miền Bắc vừa tiến hành xây dựng CNXH, vừa
phải đảm nhiệm vai trò hậu phương lớn đối với
tiền tuyến miền Nam. Trước yêu cầu, nhiệm vụ
mới, công tác đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật
đã kịp thời chuyển hướng cho phù hợp với tình
hình, vừa nhằm đáp ứng những nhu cầu bức thiết
trước mắt, vừa đảm bảo nhu cầu cán bộ cho công
cuộc xây dựng đất nước sau này.
•
Kinh tế:
•
Những năm 1960-1975, sau thời kỳ khôi phục
kinh tế, người CSVN chủ trương triệt để cải tạo
xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp ở Miền Bắc
Việt Nam bằng hình thức hợp tác xã. Xác lập chế
độ sở hữu tập thể về ruộng đất canh tác gắn liền
với tổ chức lao động tập thể trong các hợp tác xã
nông nghiệp. Kể từ đây, ruộng đất canh tác của
nông hộ Người Cày Có Ruộng đã trở thành ruộng
đất canh tác của Hợp Tác Xã, của Tập Đoàn Sản
Xuất Nông Nghiệp, và kinh tế hộ nông dân bị coi
là kinh tế phụ.
•
Thương mại:
•
Thương mại miền Bắc thực hiện kế hoạch 5 năm
lần thứ nhất(1961-1965).Sau giai đoạn cải tạo và
phát triển kinh tế, miền Bắc bắt tay vào xây dựng
cơ sở vật chất, kỹ thuật bằng kế hoạch 5 năm lần
thứ nhất.Nhiệm vụ chính của thương mại là thu
nắm nguồn hàng lương thực và các mặt hàng
nông sản khác. Ngày 18/10/1961, chính phủ ban
hành nghị định 65-CP thành lập Tổng cục vật tư
trực thuộc hội đồng Chính phủ có trách nhiệm
thống nhất cung ứng vật tư, điều hoà, phân phối
và dự trữ vật tư, kỹ thuật cho nền kinh tế quốc
dân.Những công ty vật tư trực thuộc bộ Thương
Mại nay chuyển sang tổng cục vật tư.
Tæng kÕt
•
Giai đoạn 1960 – 1975 là giai đoạn đất nước đang
phải chịu chiến tranh, miền Bắc phải thực hiện
nhiệm vụ xây dựng CNXH, đồng thời cũng phải
là hậu phương vững chắc chi viện cho miền Nam.
Nhà nước đã đưa ra những chính sách cụ thể,
đúng đắn trong thời kỳ này, đào tạo đội ngũ cán
bộ khoa học kỹ thuật để đáp ứng kịp thời cho
nhiệm vụ thực hiện công nghiệp hoá thời kỳ này.