Tải bản đầy đủ (.doc) (24 trang)

Hỏi đáp ôn tập pháp luật đại cương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (153.68 KB, 24 trang )


HỎI ĐÁP
PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
- 1 -

Câu 1- Phẩm chất và những đặc điểm chung của nhà nước.
TRả lời: Nhà nước là một tổ chức đặc điểm của quyền lực chính trị có bộ máy
chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý đặc biệt nhằm
thực hiện các lợi ích và bảo vệ ợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai
cấp nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại trong xã hội giai cấp.
Bản chất chung của nhà nước.
Nhà nước là một bộ máy trấn áp của giai cấp này đối với giai cấp khác.
Trong xã hội XHCN luôn bảo vệ lợi ích cho giai cấp công nhân và nhân dân lao
động .
Nhà nước có 5 điều nhận biết như sau:
Nhà nước thiết lập một quyền công nông đặc biệt.
Nhà nước phân chia dân cư theo đơn vị hành chính lãnh thổ
Nhà nước ban hành pháp luật và thực thi pháp luật
Nhà nước có quy định và thu các loại thuế.

Câu 2- Các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam . Vị trí thẩm quyền của các cơ quan trong bộ máy nhà nước? Phân
loại các cơ quan nhà nước.
Trả lời: Bộ máy nhà nước ta được tổ chức hoạt động trên cơ sở các nguyên tắc
cơ bản sau.:
Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam đối với nhà
nước.
Đảm bảo sự lãnh đạo của đảng là nguyên tắc trong tổ chức hoạt động của bbộ
máy nhà nước. Sự lãnh đạo của Đảng đảm bảo cho nhà nước đi theo đúng
đường lối chính trị đúng đắn, thể hiện bản chất cách mạng khoa học của chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng HCM, giữ vững bản chất tốt đẹp của nhà nước,


của nhân dân, do dân vì dân.
Đảng định ra đường lối chính sách chủ trương cụ thể quan trọng có quan hệ
nhiều mặt, có ảnh hưởng chính trỉộng lớn của tổ chức bộ máy nhà nước đảng
lãnh đạo nhà nước thông qua các tổ chức của nhà nước nhưng đảng và mọi
đảng viên phải hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật nhà nước.
Nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp
chặt chẽ giưa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyến lực.
Một đặc điểm cơ bản của nhà nước là tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân; nhân dân là chủ thể và là cội nguồn của nhà nước, trao quyền lực nhà nước
cho quốc hội (cơ quan do dân trực tiếp bầu ra), là cơ quan đại biểu cao nhất của
nhân dân và là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Nhân dân trao quyền cao
nhất, thống nhất vào quốc hội đồng thời có sự phân cong và phối hợp chặt chẽ
giữa các cơ quan Nhà nước vì không một cơn quan Nhà nước nào có thể thực
thi cả ba nhiệm vụ đó.
Nguyên tắc đảm bảo sự tham gia của nhân dân vào sự quản lý Nhà nước.
- 2 -

Thu hút đông đảo nhân dân tham gia công việc quản lý Nhà nước là một
nguyên tắc quan trọng trong tổ chưcs và hoạt động của bộ máy Nhà nước,
nguyên tắc này không những tạo khả năng phát huy sức lực trí tuệ của nhân dân
vào công việc của Nhà nước mà còn là phương pháp có hiệu quả đề ngăn chặn
về quan liêu, cửa quyền của bộ máy Nhà nước. Hình thức tham gia của nhân
dân vào Nhà nước rất phong phú và các cơ quan Nhà nước bầu những người đại
diện của mình vào CQNH thảo luận, góp ý.
Nguyên tắc tập trung dân chủ.
Kết hợp sự chỉ đạo, điều hành tập trung thống nhất của Trung ương hoạt động
tự chủ, năng động sáng tạo của địa phương và cơ quan Nhà nước cấp dưới.
Nguyên tắc này còn và cơ chế hoạt động của mỗi cấp trong bộ máy Nhà nước
cũng như trong việc kết hợp hoạt động quyết định của tập thể với trách nhiệm
của cá nhân, cần phải khắc phục những biểu hiện lệch lạc của hai phương

hướng. Tập trung quan liêu và phân tán, cục bộ.
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nguyên tắc này đòi hỏi việc tổ chức và
hoạt động của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước phỉa tiến hành theo đungs
quy định của pháp luật. Khi thi hành quyện hạn và nhiệm vụ của mình, nguyên
tắc này đòi hỏi phải tăng cường kiểm tra giám sát xử lý nghiêm minh những
hành vi vi phạm pháp luật.
Các cơ quan Nhà nước của nước ta
Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, quốc hội thống nhất tập
trung các quyền lực Nhà nước lập pháp, hành pháp, tư pháp, đồng thời có sự
phân công phù hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện
các quyền đó.
Nhiệm vụ và quyền hạn của quốc hội có thể chia thành ba nhóm: quyền lập hiến
và lập pháp, quyền quyết định việc quan trọng nhất của đất nước quyền giám
sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Nhiệm kỳ của quốc hội là 5
năm. Điều 101, hiến pháp 1992 quy định: chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà
nước thay mặt nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối
ngoại. Chủ tịch nước do quốc hội bầu ra.
Chính phủ là cơ quan chấp hành của quốc hội, là cơ quan hành chính cao nhất
của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (điều 109 hiến pháp 1992)
Chính phủ là trước hết là cơ quan chấp hành của quốc hội, do quốc hội thành
lập, có nhiệm vụ tổ chức thực hiện hiến pháp, pháp lệnh, nghị quyết của quốc
hội. Là cơ quan đứng đầu hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước. Chính
phủ có nhiệm vụ quản lý điều hành toàn bộ mọi mặt đời ssống của đất nước,
nhiệm vụ quyền hạn của Chính phủ được quy định trong hiến pháp 1992 (điều
112)
*Hội đồng nhân dân và UBND
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương đại diện cho ý
chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân do nhân dân địa phương bầu
- 3 -


ra. Chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan cấp trên (điều 119,
Hiến pháp 1992)
Nhiệm vụ, quyền hạn của hội đồng nhân dân bao gồm ba nội dung chính chủ
yếu, quyết định của chủ trương biện pháp quản lý.
Câu 3: Khái niệm, đặc điểm chung của pháp luật.
Khái niệm: pháp luật là hệ thống các quy phạm do Nhà nước đặt ra và bảo đảm
thi hành bằng các tổ chức, biện pháp mang tính chất Nhà nước, pháp luật của
mỗi xã hội và là yếu tố điều chỉnh mang tính chất bắt buộc chung đối với các
quan hệ xã hội.
Đặc điểm chung của pháp luật
Pháp luật là sự thể hiện ý chí của giai cấp thống trị đặcđiểm này chính là bản
chất chung của pháp luật ra đời từ nhu cầu bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị,
thể hiện ý trí của giai cấp đó. pháp luật là hệ thống các quy tắc xử mang tính
chất bắt buộc chung. Nghĩa là thông qua Nhà nước các ý chí của giai cấp thống
trị được thể chế hoá, trong quan hệ xã hội có rất nhiều lĩnh vực do đó các quy
tắc xử của pháp luật còn có tính bắt buộc chung đoói với mọi người đân.
Pháp luật do Nhà nước đặt ra và bảo vệ chie có Nhà nước mới có quyền đặt ra
pháp luật . Những biện pháp bảo đảm luật theo chế độ trách nhiệm pháp lý,
chừng phạt những kẻ không làm theo pháp luật.
Câu 4: Bản chất- Chức năng đặc điểm của Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
Cũng như mọi Nhà nước khác bản chất đặc điểm pháp luật của Nhà nước Việt
Nam phù hợp với bản chất, đặc điẻm của Nhà nước .
Điều 2: Hiến pháp năm 1992 xác định: Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là Nhà nước nhân đan, do dân vì dân tất cả quyền lực Nhà nước thuộc
về nhân dân và nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và
tầng lớp trí thức.
Pháp luật của Nhà nước ta về bản chất là pháp luật xã hội chủ nghĩa , nó thể
hiện ý trí của giai cấp công nhân đồng thời phải thể hiện ý trí, lợi ích đó đứng
trên quan điểm, lập trường của đảng. Sự kết hợp phải chắt chẽ giữa tính giai cấp

sâu sắc tính nhân dân rộng rãi là đặc điểm quan trọng của pháp luật nước ta
hiện nay.
Pháp luật là công cụ thực hiện đường lối chính sách của đảng, pháp luật là sự
biểu hiện dưới hình thức Nhà nước . các chính sách của đảng là công cụ chủ
yếu để tổ chức, thực hiện đường lối, chính sách của đảng thường hiện thực sinh
động trong cuộc sống, đồng thời bằng việc thể chế hoá pháp luật đường lối chủ
trương, chính sách của đảng biến thành những quyết định quản lý mang tính
quyền lực Nhà nước, trở thành các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các cá
nhân, tổ chức thực hiện một cách chính xác thống nhất trong cả nước, trong
từng lĩnh vực. Pháp luật là công cụ thực hiện quyền làm chủ cua nhân dân lao
- 4 -

động pháp luật phải quyết định cụ thể bảo đảm đủ trong thực tế nguyên tắc, mọi
quyền lực trong nước đều thuộc về nhân dân,nhân dân phải là người thực sự
Xây dựng nền tảng Nhà nước của mình tham gia vào công việc Nhà nước kiểm
tra sự hoạt độngc ác chính quyền Nhà nước. Kiểm tra vào sự hoạt động của các
chính quyền Nhà nước,pháp luật cũng phỉa quyết định có nghĩa vụ trung thành
và phục vụ nhân dân mọi cách tận tuỵ của chính quyền Nhà nước giúp Nhà
nước trong việc thực hành công cụ. Chống thái độ vô trách nhiệm bài trừ nạn
quan liêu.
Mặt khác các công nhân khi thực hiện quyền làm chủ, thực hiện quyền tự do
đân chủ,thực hiện quyền tự do dân chủ của mình không được làm tổn hại đến
lợi ích chung của xã hội, làm ảnh hưởng đến các quyền tự do dân chủ của công
dân khác.
Pháp luật là công cụ là quản lý của Nhà nước.
Pháp luật là do Nhà nước đặt ra và bảo vệ Nhà nước quản lý xã hội cần sử dụng
công cụ, biện pháp khác nhau. Nhà nước sử dụng pháp luật không chỉ nhầm
chừng trị, chấn áp, cưỡng chế giữ cho giai cấp thống trị mà còn tạo ra quan hệ
xã hội.Ngày nay pháp luật còn là công cụ hướng dẫn, khuyến khích, thúc đẩy
điều chỉnh phát triển của xã hội, đặc biệt trong sự phát triển của nền kinh tế.

Vai trò quan trọng khác của pháp luật trong Nhà nước là nó xác lập củng cố và
hoàn thiện những cơ sở phapá lý Nhà nước về kinh tế nhằm phát huy cao nhất
hiệu lực tất cả các cơ quan bộ máy Nhà nước.Nhà nước quản lý xã hội bằng
pháp luật thông qua một cơ chế nhất định được gọi là cơ chế điều chỉnh các
quan hệ xã hội băng pháp luật.
Câu 5: Quy phạm pháp luật – Khái niệm đặc điểm và các bộ phận cấu thành?
Trả lời:
Khái niệm : quy phạm pháp luật là những quy tắc sử sự tính chất bắt buộc
chung do Nhà nước dẫn ra và bảo vệ, thể hiện ý trí của giai cấp thống trị.
Có 4 đặc điểm:
+ Thể hiện ý chí của Nhà nước
+ Mang tính bắt buộc chung.
+ Được Nhà nước ban hành và thừa nhận
+ Được Nhà nước bảo đảm thực hiện là một quy phạm xã hội. Quy phạm pháp
luật có tất cả những đặc điểm chung của quy phạm xã hội nói chung mỗi quy
pham pháp luật dẫn ra nhằm tác động, điều chình một loại quan hệ xã hội nhất
định nó không quy định trước những người cụ thể áp dụng trong hạn chế số lần
áp dụng mà hoạt động thường xuyên, liên tục. Lập đi lập lại vào bất cứ lúc nào
trong thực tế xuất hiện những sự kiện những điều mà nó dự định.
Các bộ phận cấu thành.
Nhìn chung các bộ phận cấu thành quy phạm pháp luật bao gồm: giả định, quy
định, chế thị.
- 5 -

Giải thích: là bộ phận trung tâm của quy phạm pháp luật quy địnhvề đặc điểm
thời gian cụ thể, các hoàn cảnh ảnh hưởng có thể xảy ra tổng thực tế mà nếu tồn
tại thì chúng phải hành động theo quy tắc mà quy phạm đã đặt ra giả định vì
vậy xác định môi trường tác dụng của quy phạm pháp luật.
Quy định: Là bộ phận trung tâm của quy phạm pháp luật vì chính đây là quy tắc
sự thể hiện ý trí nhà nước mà người dân phải thi hành khi xuất hiện những điều

kiện mà phòng giả định đã ra.Trong hoàn cảnh đó điều kiện đó, lệnh quy định
suy nghĩ, quy định giao quyền thực hiện không đúng mệnh lệnh của Nhà nước
đã nêu trong quy định của pháp luật có 4 loại chế tài:
+ Chế tài hình sự
+ Chế tài hành chính
+ Chế tài kỹ thuật
+ Chế tài dân sự
Câu6: Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của quan hệ pháp luật.
Trả lời: Khái niệm của quan hệ pháp luật : quan hệ pháp luật là quan hệ giữa
người với người quan hệ xã hội do một quy phạm pháp luật điều chỉnh, biểu
hiện thành quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các bên, được đảm bảo bằng
cường chế Nhà nước.
ĐặC ĐIểM: quan hệ pháp luật là một đảng của quan hệ xã hội, nó xuất hiện trên
quy phạm pháp luật.
Các bên tham gia quan hệ pháp luật mang những quyền và nghĩa vụ pháp luật
được quy phạm pháp luật dự kiến trước.
Được đảm bảo thực hiện bằng Nhà nước
Mang tính xác định cụ thể
Điều đó có nghĩa nó được xuất hiện không những trường hợp xác định giữa
hững cụ thể, chủ thể nhất định khi có ba điều sau:
+ Xuất hiện những sự kiện cụ thể, đã được dự kiến trước trong phòng giả định
của quy phạm pháp luật nêu trên.
ý nghĩa: quan hệ pháp luật là những quan hệ xã hội thuộc kiến trúc tượng
tầng.đươc Xây dựng trên một cơ sở kinh tế quyết định nhưng nó cũng có tác
động trở lại mạnh mẽ đế cơ sở kinh tế.
Câu 7: Phân biệt TH cá nhân là chủ thể trực tiếp trong quan hệ?
Trả lời: Chủ thể của quan hệ pháp luật là những cá nhân hay tổ chức dựa trên cơ
sở của các quy phạm pháp luật mà tham gia vào các quan hệ pháp luật , trở
thành những người mang các quỷền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể nhất định.
Cá nhân khi là chủ thể trực tiếp hoặc chủ thể không trực tiếp.

Chủ thể trực tiếp trong mỗi quan hệ pháp luật là một chủ thể luôn có đủ cả năng
lực pháp luật và năng lực hành vi.
- 6 -

Năng lực pháp luật là khả năng của một người chủ thể được hưởng quyền và
làm nghĩa vụ trỏng một quan hệ pháp luật nhất định.
Năng lực hành vi là khả năng của người chủ thể có thể bằng hành vi của mình
mà tham gia vào quan hệ pháp luật để hưởng quyền và làm nghĩa vụ (tức là
tham gia vàcác quan hệ pháp luật ) người có năng lực hành vi là người hiểu ý
nghĩa và kết quả hành vi mà mình thực hiện khi một người có năng lực pháp
luật nhưng không có khả năng lúc hành vi thì ho tham gia vào quan hệ pháp luật
thông qua hành vi của một người khác. Đây là chủ thể không trực tiếp.
Câu *8: Khái niệm.ý nghĩa và những điều kiện để tổ chức có tư cách pháp
nhân? phân biệt pháp nhân với thể nhân?
Trả lời: Một tổ chức khi tham gia vào quan hệ pháp luật có thể được thừa nhận
là một pháp nhân. Nếu như một cá nhân tham gia vào quan hệ pháp luật với tư
cách là thể nhân khi pháp luật là một tổ chức năng lực hành vi để thám gia vào
các quan hệ pháp luật khác.
Pháp nhân là một thể định rất quan trọng đối với nghành luật đặc biệt là trong
luật dân sự và các nghành luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Một tổ chức có tư cách pháp nhân cần có những đặc điểm sau:
+ Pháp nhân phải có tài sản riêng
+ Pháp nhân phải chịu trách nhiệm độc lập bằng tài sàn riêng của mình.
+Pháp nhân có quyền hành động với danh nghĩa riêng của mình thôngqua
những đại diện hợp pháp của pháp nhân thông thường một pháp nhân được
thành lập bao giờ cũng thông qua một quy cách và tư cách pháp nhân của nó,
cũng như phạm vi năng lực của nó được Xây dựng ngay trong văn bản đó.
Câu 9: Bản chất dấu hiệu và phân loại vi phạm pháp luật?
Trả lời: Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật , tóm lại các quan hệ xã hội
được pháp luật bảo vệ do các chủ thể có năng lực hành vi thực hiện một cách cố

ý và vô ý gây hậu quả cho xã hội.
Vi phạm pháp luật là những sự kiện pháp lý và là cơ sở để truy cứu trách nhiệm
pháp lý. Dờu hiệu cơ bản của vi phạm pháp luật.
Vi phạm pháp luật luôn là một hành vi ( hành động và không hành động)
Vi phạm pháp luật không những là hành vi xác định con người mà hành vi đó
phải trái với quy định của luật, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo
vệ.hành vi trái phép đó phải là chứa đựng nỗi của củ thể của hành vi đó. Có lỗi (
cố ý và vô ý)lỗi chính là dấu hiệu thể hiện qun hệ thái độ tâm lý tư tưởng của
chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình đói với hậu quả của hành vi đó.
+ Năng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể hành vi trái pháp luật .Vi phạm
pháp luật có nhiều loại cấu thành
-Vi phạm hình sự ( chia thành)
-Hành chính
- 7 -

-Vi phạm dân cư
-Vi phạm kỷ luật.
Câu 10-Khái niện và ý nghĩa và các yếu ttó cấu thành trách nhiệm pháp lý chủ
yếu.
Trả lời:
+ Khái niệm. Trách nhiệm pháp lý được hiểu là những hiệu quả pháp lý bất lợi
Nhà nước bảo vệ các chủ thể phải gành chịu khi các chủ thể nay có thể hành vi
VPPL.
ý nghĩa : Việc áp dụng trách nhiệm pháp lý chính là nhữn biện pháp bảo đảm
trong thực tế tính cưỡng chế của pháp luật.
Các yếu tốcấu thành trách nhiệm pháp lý.
Để truy cướp trách nhiệm pháp lý trước hết là xác định cấu thành VPPL một
hành vi gọi là vi phạm pháp luật .
+ Mặt khách quan của VPPL bao giờ cũng gồm những dấu hiệu tinh khiết thể
hiện bên ngoài của VPPL nó bao gồm:

+ Dấu hiệu trái pháp luật (hành vi quan trọng nhất).
Công cụ, phương tiện VPPL, những thiệt hại về vật chất và tinh thần mà xã hội
phải gánh chịu.
-Mối quan hệ nhân qua giữa hành vi trái pháp luật và thệt hai
-Mặt chủ quan của hành vi VPPL là mặt thể hiện trong giới nội tâm của các chủ
thể VPPL. Thể hiện trong tư tưởng nhận thức của chủ thể có dấu hiệu quan
trọng nhất là lỗi. Lỗi thái độ, tâm lý chủ quan của chủ thể VPPL thể hiện ở sự
nhận thức của hộ đối với hành vi trái pháp luật do họ thể hiện và đối với hậu
quả tác hại do hành vi đó gây ra.
Lỗi gồm có: Cố ý, vô ý,
Lỗi cố ý: Là hành vi VPPL nhận thức được và có thể nhận thức được hành vi
của họ là trái pháp luật nhưng họ vẫn cốtính thực hiện hành vi trái pháp luật đó.
Ví dụ: trộm cướp tài sản của công dân.
Lỗi cố ý chia làm hai loại:
Cố ý trực tiếp là hành vi vi phạm pháp luật mà họ nhận thức được và họ biết
được hậu quả sẽ sảy ra.
Cố ý gián tiếp: Là hành vi vi phạm pháp luật mà họ nhận thức được nhưng họ
không mong muốn thiệt hại sảy ra, hậu quả nằm ngoài ý muốn.
Lỗi vô ý: là chủ thể vi phạm pháp luật không nhận thức được không thể nhận
thức được một hành vi của họ là trái pháp luật, họ vô ý thực hiện hành vi trái
pháp luật đó.
Ví dụ: Người thợ đang mải mê việc ở trên cao, chăng may anh ta làm rơi viên
gạch xuống đất gây tổn thương cho người đi đưòng.
Vô ý chia thành hai loại:
-Vô ý do quả tự tin chủ vi phạm pháp luật tin vào kết quả của mình tin hậu quả
sẽ không sảy ra nhưng họ không lường trước được.
- 8 -

-Vô ý cẩu thả: Xuất phát từ bản chất cấu thành của mỗi người, ngoài ra mặt chủ
quan của vi phạm pháp luật còn có động cơ, thực hiện vi phạm pháp luật .

+ Chu thể vi pham pháp luật : là những cá nhân hay tổ chức phải có năng lực
pháp lý, năng lực pháp lý là hành vi trong quan hệ pháp luật .
+Cách thể hiện của vi phạm pháp lý là những quan hệ xã hội đang được bảo vệ
nhưng lại bi hành vi vi phạm pháp luật hai tới. Do của khách quản phải có mức
độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật.
Sự khác nhau giữa các loại.TNPL:
Trách nhiệm pháp lý hình sự(theo quy định của ngành luật hình sự) được áp
dụng đối với những ngươì có hành vi phạm tội được thể hiện rõ nhất. Tập trung
nhất trong các loại chế tạo hình sự.
+ Trách nhiệm pháp lý hành vi: là loại trách nhiệm mà Nhà nước đặt ra để trừng
phạt hành vi và nó được thực hiện trong chế tại hành chính.
+ Trách nhiệm kỷ luật áp dụng với những người có hàh vi vi phạm kỷ luật.
+ Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm pháp lý của ngành dân sự biện pháp tác
động đến tài sản bù đắp thiệt hại vật chất và tinh thần cho các cá nhân tổ chức
bị thiệt hại.
+ Hình sự thể hiện chung nhất, dõ nhất của trách nhiệm pháp lý là chế tài.
Câu 11 Khái niệm, ý nghĩa và phân loại sự kiện pháp lý.
Trả lời:
Sự kiện pháp lý là những sự kiện lịch sứ sảy ra trong đời sống, phù hợp với
những điều kiện, hoàn cảnh đã được dự kiến trong một quy phmạ pháp luật làm
phát sinh, thay đổi chấm dứt một quan hệ pháp luật.
Sự kiện pháp lý bao gồm:Sự biến và sự sử sự có ý chí.
Sự biến là sự kiện phát sinhkhông phụ thuộc vào ý muốn chủ quancủa con
người nhưng cũng làm phát sinh thay đổi, chấm dứt một quan hệ pháp luật
Xử lý có ý chí là những sự kiện sảy ra do có tính toán, có chủ ý của những
người cụ thể cả về mục đích đạt được phương pháp tiến hành và hành vi, vì vậy
còn gọi là hành vi.
*Sự kiện pháp lý: Là yếu tố khởi đầu của cơ chể thực hiện pháp luật và việc
xác lập thực hiện các quan hệ pháp luật thích ứng voứi sự kiện đó là biểu hiện
nội dung và kết quả việc thực hiện nội dung, kết quả của viiệc thực hiện pháp

luật .
Câu 12: Khái niêm, đặc điểm của ý thức pháp luật.
ý thức pháp luật là hình thái của ý thức xã hội là một trong những biểu hiện của
trình độ văn hoá - xã hội .
ý thức pháp luật là những tổng thể những học thuyết tư tưởng, tình cảm của con
nười thể hiện thái độ sự đánh giá về tính công băng hay không công bằng, đúng
đắn của pháp luật hiện hành pháp luật quả như vậy pháp luật cần phải có tính
- 9 -

hợp pháp trong cách cư sử của con người trong hoạt động của các cơ quan tổ
chức ý thức pháp luật bao gồm tư tưởn pháp luật, pháp lý luật.
Tư tưởng pháp luật là tổng thể những tư tưởng- quan điểm,, phạm trù khái niệm
học thuyếtvề lý luận tức là những vấn đề lý luận về pháp luật .
Tâm lý pháp luật được thể hiện qua thái độ tình cảm tâm trạng cảm xúc đối với
pháp luật và các hiện tượg pháp lý khác , là phản ảnh trực tiếp ở cấp độ dấu
phản ảnh một cách tự nhiên của con người đối với hiện tượng đó.
ý nghĩa đó là một yếu tố quyết địnhđến hiệu quả công việc quản lý xã hội bằng
pháp luật. Mỗi một kiểu pháp luật trong lịch sử có hệ thống ý thức pháp luật
củng cố tính độc lập tương đối của nó một kiểu Nhà nước và pháp luật đã bị thủ
tiêu, nhưng ý thức pháp luật tương ứng của nó vẫn có thể tòn tại trong xã hội
mới.
Câu 13: Bản chất, đặc điểm của paaps chế xã hội chủ nghĩa? Các biện pháp
tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
Trả lời:
Bản chất: Là pháp chế xã hội chủ nghĩa là phương thức quản lý của Nhà nước
đối với xã hội , biểu hiện thực hiện viêc nghiêm chỉnh và triết để trong hoạt
động của các cơ quan pháp luật Nhà nước , viên cức Nhà nước cao cấp của các
tổ chức xã hội , các tổ chức kinh tế trong sih hoạt của mỗi công dân đối với
pháp luật mà Nhà nước ban hành.
Điều 12: Hiến pháp năm 1992 khẳng định Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp

luật khng ngừng tăng cươòng pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Pháp chế bao gồm trong nó hai yêu cầu và có điều kiện.
Phải có cơ chế và biện pháp bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm
chỉnh và triệt để.
Nhà nước phải Xây dựng và ban hành một hệ thống pháp luật đầy đủ
Đặc điểm có tính thống nhất cao biểu hiện sự thống nhất chặt chẽ , sự phói hợp
nhịp nhàng giữa các quyphạm pháp luật giữa các văn bản p với nhau, cũng như
tính rhống nhất, đồng bộ của toàn bộ hệ thống pháp luật. Việc thực hiện thống
nhất với pháp luật đã ban hành trong phạm vi của cả nước.
*Các biện pháp tăng cường PHáP LUậT xã hội chủ nghĩa ử nước ta hiện nay.
Cùng với sự phát triển kinh tế ở nước ta hiện n ay hệ thống bộ máy Nhà nước
trình độ năng lực bộ máy Nhà nước và đi liền với nó là thực trạng của pháp lý
hiện nay đang không theo kịp với những thành tựu đổi mới kinh tế, từ đó trở
thành yếu tố làm kìm hãm sự phát triển tích cực của nền kinh tế.
Vì vậy tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa đang là một yếu tố cấp bách đổi
mới nước ta hiện nay. Những đòi hỏi cấp bách quan trọng.
Xây dựng một hệ thống pháp luật làm cơ sở cho việc tổ chức và hoạt động của
bộ máy Nhà nước có hiệu lục gọn nhẹ, đủ trình độ đáp ứng nhu cầu ngày càng
cao của công cuộc đổi mới.
- 10 -

Xây dựng và bổ xung pháp luật để công nhận thực hiện đầy đủ trong thực tế
quyền làm chủ của mình.
Xây dựng một hệ thống phát triển về kinh tế phù hợp với nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần theo cơ chế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ
nghĩa mà Đảng xác định.
Nâng cao trình độ ý thức pháp luật của công dân cũng như của mỗi viên chức
Nhà nước .
Pháp luật phải tạo ra cơ sở cho việc sử lý nghiêm minh đối với mọi hành vi vi
phạm pháp luật.

*Thiết lập nếu pháp chế xã hội chủ nghĩa là thiết lập một xã hội và pháp luật
mà bên chuẩn bị cao nhất của việc quản lý xã hội điều đó cũng có ý nghĩa là
Xây dựng một Nhà nước pháp quyền.
Câu 14-Khái niệm, đặc điểm và các loại hình pháp luật
-Hình thức pháp luật là cách thực hiện ý chí của giai cấp thống trị mà thông qua
đó ý chí trở thành luật pháp. Là khái niệm dùng để chỉ ranh giới tồn tại pháp
luật trong hệ thống các quy phạm. Là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của pháp
luật đồng thời cũng là phương thức đang tồn tại thực tế của pháp luật
Hình thức pháp luật chỉ có giá trị khi nó phản ánh được tính giai cấp, vai trò xã
hội của pháp luật. Tính quy phạm phổ biến được xác định chặt chẽ về mặt hình
thức và tính được bảo đảm bởi sự khỏi sự khống chế của Nhà nước.Trong lịch
sử xã hội loài người đã tòn tại ba hình thức pháp lkuật và tập quán pháp biến lệ
pháp và văn pháp quy phạm pháp luật.
Tập quán pháp là tập quán lưu truyền trong xã hội phù hợp với lợi ích cuả giai
cấp thống trị được nhà nước thừa nhận làm cho chúng trở thành những quy tắc
chung mang tính bắt buộc chung và được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm
điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng nhất định.
Câu 15: Nguyên tắc ban hành và văn bản quy phạm pháp luật.
Trả lời: Ban hành văn bản quy phạmpl là một hoạt động quan trọng của quản lý
Nhà nước, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước ta bao
gồm: Nguyên tắc tất cả các quyền lực thuộc về nhân dân, nguyên tắc tập trung
dân chủ, nguyên tắc pháp chế ch chủ nghĩa. Những vấn đề cơ bản quan trọng
nhất về quản lý Nhà nước trên pphạm vi cả nước đều do Quốc hội quy định
trong các văn bản pháp luật, việc ban hành VBQPPL phải đảm bảo tính hợp
hiến, hợp pháp và tính thống nhất.
Hiến pháp là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị quy phạm pháp luật.
VBQPPL do cơ quan Nhà nước cấp trên ban hành. VBQPPL trái với hiến pháp,
trái với cơ quan Nhà nước cấp trên sẽ bị huỷ bỏ; chỉ thi hành theo quyết định
của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Người ta phân biệt VBQPPL do quốc hội, cơ quan Nhà nước cao nhất ban hành

có hiệu lực pháp lý cao nhất với văn bản dưới luật.
- 11 -

a.Văn bản luật là văn bản quy phạm pháp luật do quốc hội ban hành, có hiệu lực
pháp luật cao nhất; bao gồm: hiến pháp và luật
Hiến pháp là: VBQPPL có giá trị pháp lý cao nhất, là luật cơ bản của Nhà nước,
hiến pháp quy định những vấn đề cơ bản nhất của Nhà nước như bản chất và
hình thức của Nhà nước, thể chế chính trị, kinh tế xã hội; tổ chức, nguyên tắc
hoạt động và thẩm quyền của cơ quan Nhà nước. Hiến pháp là cơ sở để Xây
dựng mọi hệ thống pháp luật đồng bộ và hoàn chỉnh. Hiến pháp do quốc hội
thông qua với 2/3 tổng số đại biểu quốc hội tan thành.
Luật: là văn bản có giá trị sau hiến pháp. Luật cụ thể hoá các nguyên tắc cơ bản
của Hiến pháp, nó được ban hành để quy định các nguyên tắc tổ chức và hoạt
động của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước, các quan hệ xã hội vào hoạt
động của công dân, luật do quốc hội thông qua với mức quá bán tổng số đại
biểu quốc hội.
b.Văn bản dưới luật là những văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà
nước khác ngoài quốc hội ban hành theo thủ tục pháp luật quy định.
Văn bản dưới luật có giá trị pháp lý thấp hơn luật được ban hành trên cơ sở văn
bản luật. Văn bản dưới luật ta hiện nay gồm có: Pháp lệnh, nghị quyết, lệnh,
nghị định, quyết định, thông tư, chỉ thị.
Pháp lệnh: do uỷ ban thường vụ quốc hội ban hành để quy định những vấn đề
được quốc hội giao. Pháp lệnh có hiệu lực pháp quy thấp hơn luật nhưng là văn
bản dưới luật cao nhất. Ngoài pháp lệnh còn có nghị quyết, nghị quyết có giá trị
như pháp lệnh.
Lệnh, quyết định của chủ tịch nước là văn bản được ban hành để thực hiện
những nhiệm vụ, quyền hạn của chủ tịch nước mà hiến pháp quy định.
Nghị quyết, nghị định của Chính phủ:
Nghị quyết của chính phủ là văn bản để ban hành chủ trương lớn và chính sách
cụ thể về Xây dựng, kiện toàn bộ máy Nhà nước, thông qua dự án, kế hoạch và

ngân sách, xử lý những việc quan trọng khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ.
Nghị định có hai loại:
Nghị định quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của quốc hội, pháp lệnh
với nghị quyết của uỷ ban thường vụ quốc hội, lệnh, quyết định của chủ tịch
nước, quy địn nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của bộ, cơ quan thuộc
chính phủ và các cơ quan thuộc thẩm quyền của chính phủ thành lập; quy định
các biện pháp để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính phủ.
Nghị định quy định các vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa có đủ điều kiện để
Xây dựng pháp luật. Hoặc pháp lệnh để đảm bảo yêu cầu quản lý kinh tế, quản
lý xã hội.
Quyết định, chỉ thị của thủ tướng chính phủ
Quyết định của TTCP được ban hành để quy định các chủ trương, hoạt động
của chính phủ và hệ thống hành chính Nhà nước; quy chế làm việc với thành
viên chính phủ, chủ tịch+uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung
- 12 -

ương và quy định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của thủ tướng chính
phủ.
Chỉ thị của TTCP để chỉ đạo, đôn đốc kiểm tra, hướng dẫn phối hợp hoạt động
của các bộ, các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND tỉnh thành
các cấp trong việc thực hiện các chủ trương chính sách pháp luật của Nhà nước
và các quyết định của CP.
Quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc CP
Thông tư: được ban hành để hướng dẫn thực hiện luật, nghị quyết của quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết của uỷ ban thường vụ quốc hội, lệnh, quyết định của chủ
tịch nước, nghị quyết, nghị định của chính phủ; Quyết định, chỉ thị của Thủ
tướng chính phủ thuộc phạm vi ngành, lĩnh vực do mình phụ trách.
Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao, được ban hành để hướng
dẫn toà án nhân dân các cấp áp dụng, thống nhất pháp luật và tổng kết kinh
nghiệm xét xử.

Quyết định, chỉ thị, thông tư của viện trưởng, viện kiểm sát nhân dân tối cao,
được ban hành quy định các biện pháp để thực hiện nhiệm vụ quyền hạn.
Câu 16 ý nghĩa của hệ thống hoá ? các phương pháp hệ thống pháp luật.
Trả lời:
ýNghĩa: tập hợp các văn bản pháp quy là hoạt động thường xuyên của cơ quan
Nhà nước. Việc ban hành quy phạm pháp luật mới đòi hỏi phải có sự xử lýu các
văn bản đã ban hành nhằm phát hiện quyết định không phù hợp, loại bỏ những
mâu thuẫn, chồng chéo, bảo đảm sự thống nhất của hệ thống quản lý, tạo điều
kiện thuận lợi cho áp dụng pháp luật.
Tập hợp hoá là sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật toe một tiêu chí nhất
định. Tập hợp hoá không bổ sung quy phạm mới. Không thay đổi nội dung của
văn bản mà chỉ loại bỏ những quy phạm đã hết hiệu lực thi hành và có nội dung
mâu thuẫn với quy định hiện hành. Đối tượng của tập hợp hoá là VBQPPL và
những phần, những điều khoản của văn bản hệ thống hoá, nó vẫn giữ nguyên
hiệu lực của mình.
Pháp điển hoá: là hình thức hệ thống hoá pháp luật trong đó tập hợp những quy
phạm pháp luật về mỗi lĩnh vực nhất định đã được quy định trong mỗi văn bản
quy phạm pháp luật khác để Xây dựng thành một VBQPPL mới cả nội dung và
hình thức. Pháp điển hoá loại bỏ những quy phạm đã cũ, sửa đổi quy phạm sai
sót, bổ sung quy phạm mới, đối tượng của pháp điển hoá là quy phạm pháp
luật; kết quả của pháp điển hoá là những bộ luật
Ví dụ: Bộ luật lao động của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được
thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994 là một công trình pháp điển hoá pháp luật
lao động của Nhà nước ta từ trước tới nay.
Câu 17: Khái niệm, đặc điểm chung của hệ thống luật các kiểu luật trong lịch
sử, hệ thống quốc gia và hệ thống luật quốc tế trong thời đại ngày nay.
- 13 -

Khái niệm: hệ thống pháp luật là một chỉnh thể thống nhất cấu thành các ngành
luật, các chế định pháp luật khác điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội cùng loại, tồn

tại một cách khách quan, phù hợp với sự khách quan của chế độ kinh tế – chính
trị – xã hội.
Đặc điểm thống nhất-sự phân chia HTPL-tính khách quan của hệ thống pháp
luật
Tính thống nhất: hệ thống pháp luật có tính thống nhất- việc ban hành pháp luật
phải dựa trên nguyên tắc, lẫn tư tưởng xuyên suốt chỉ đạo – chính những quy
tắc đó mà hệ thống pháp luật có tính thống nhất.
Sự phân chia HTPL của mình phù hợp với kết cấu kinh tế, giai cấp trong xã hội.
Trong chế độ chiếm hữu nô lệ xã hội được Xây dựng trên nguyên tắc đối lập
giữa chủ với nô lệ.
Hệ thống pháp luật phong kiến: được chia thành pháp luật trong quý tộc, tăng
lữ, pháp luật cho những người dân, pháp luật nông nô… dựa trên sự pháp luật
đẳng cấp trong xã hội phong kiến.
Pháp luật tư sản phân chia thành hai bộ phân công pháp và tư pháp, công pháp
điều chỉnh các quan hệ xã hội về tổ chức và hoạt động của các nước cơ quan
Nhà nước (luật hành chính). Tư pháp điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan
đến việc bảo vệ lợi ích của cá nhân (luật dân sự, luật thương mại)
Chế định pháp luật là một nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm quan
hệ xã hội cùng loại.
Ví dụ: trong bộ luật dân sự có rất nmhiều chế định về một nhóm quan hệ sở hữu
tạo thành chế định sở hữu. Tính khách quan của HTPL là ý chí của giai cấp
thống trị. pháp luật ra đời nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và tồn tại khác,
tất cả các điều đó thể hiện tính khách quan của pháp luật.
Hệ thống luật quốc gia và hệ thống luật quốc tế trong thời đại ngày nay.
Hệ thống luật quốc gia gồm:
Luật hành chính
Luật dân sự,
Luật hình sự
Hệ thống luật quốc tế được hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa các quốc gia
và thể hiện ý chí chung của quốc gia đs. Hệ thống pháp luật quốc tế:

Công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế.
Câu 18: Khái niệm, đặc điểm đối tượng điều chỉnh và nội dung chủ yêú của các
ngành luật trong hệ thống luật của Nhà nước ta hiện nay.
Trả lời:
Trong HTPL Nhà nước ta hiện nay, tuy mức độ phát triển của các ngành luật có
khác nhưng mà nước ta có nhữn ngành luật chủ yếu như sau:
Luật Nhà nước: là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã
hội cơ bản nhất cấu thành chế định chính trị – xã hội của Nhà nước. Các quy
- 14 -

phạm của ngành luật Nhà nước củng cố và bảo vệ Chế độ chính trị kinh tế xã
hội văn hoá của Nhà nước. Xác định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Xác định cơ cấu và nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà
nước.
Luật Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, luật Nhà nước bảo đảm cho sự thống nhất
pháp luật. Hiến pháp cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 gồm
những chế định chủ yếu sau:
Chế định chính trị-kinh tế-văn hoá-giáo dục-koa học-công nghệ-bảo vệ
TQXHCN-UBND-TAND và VKSND.
Luật hành chính gồm: những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội
hình thành trong quá trình tổ chức và hoạt động chấp hành điều chỉnh.
Câu 19: khái niệm, đặc điểm tồn tại của các loại cơ quan Nhà nước.
Khái niệm: cơ quan hành chính Nhà nước là những chủ thể chủ yếu của qppl
hành chính. Là những cơ quan thực hiện các loại hoạt động chấp hành điều
hành đối với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội mà khi thực hiện các
nhiệm vụ này cơ quan hành chính Nhà nước phải phục tùng hành chính Nhà
nước.
Đặc điểm: là một loại cơ quan Nhà nước, cơ quan hành chính Nhà nước có toàn
bộ các đặc điểm của cơ quan Nhà nước nói chung.
Tính quyền lực Nhà nước là đặc điểm quan trọng. Nhà nước vì lợi ích của Nhà

nước, có quyền đưa ra các quyết định quản lý để thực hiện chức năng của mình.
Phạm vi thẩm quyền là tổng thể những quyền và nghĩa vụ chung cũng như các
quyền hạn cụ thể được pháp luật quy định để các cơ quan đó thực hiện chức
năng của mình. Ngoài ra các cơ quan hành chính Nhà nước còn có đặc điểm là:
Hoạt động theo hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước là hoạt động chấp hành,
điều hành, hoạt động phải dựa trên cơ sở sau để thực hiện: hoạt động của cơ
quan này phải chấp hành nghị quyết của hội đồng nhân dân các cấp và cơ quan
hành chính cấp trên. Các cơ quan hành chính phải báo cáo công việc của mình
trước cơ quan quyền lực chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực.
Các cơ quan hành chính Nhà nước được tổ chức theo quan hệ song trùng trực
thuộc: dọc và ngang. Trong quan hệ này Chính phủ là cơ quan hành chính Nhà
nước cao nhất.
Toàn bộ hệ thống và mối quan hệ chặt chữ giữ các quan hệ hành chính tạo
thành bộ máy hành chính quốc gia, bộ phận quan trọng của bộ máy Nhà nước.
Phân loại các cơ quan hành chính Nhà nước.
Có nhiều cách khác nhau:
Cách 1: Căn cứ vào cơ sở pháp lý trong việc thành lập cơ quan hành chính Nhà
nước, có hai loại:
Cơ quan hành chính Nhà nước thành lập trên cơ sở hiến định là những cơ quan
được thành lập trên cơ sở hiến pháp. ví dụ Chính phủ là cơ quan hành chính cao
- 15 -

nhất. Các bộ, cơ quan ngang bộ là cơ quan của Chính phủ, UBND các địa
phương là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương
Cơ quan Nhà nước thành lập trên cơ sở văn bản dưới luật. Ví dụ; tổng cvụ, cụ,
các vụ, phòng ban thuộc cơ quan hiến định nói trên.
Cách hai: Căn cứ vào thẩm quyền quản lý của cơ quan hành chính Nhà nước.
Cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền chung: Chính phủ và Uỷ ban
nhân dân các cấp giải quyết các vấn đề khác nhau trong phạm vi toàn quốc hoặc
địa phương. Cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền riêng là những cơ

quan quản lý theo ngành và theo chức năng
Cách 3: căn cứ vào chế độ lãnh đạo của các cơ quan hành chính có thẩm quyền
chung. Cơ quan làm việc theo chế độ tập thể lãnh đạo, các cơ quan hành chính
có thẩm quyền chung. Cơ quan làm việc theo chế độ cá nhân lãnh đạo.
Cách 4: Căn cứ vào phạm vi quản lý, hai loại: Cơ quan hành chính Nhà nước
Trung ương: Chính phủ, bộ, cơ quan ngành bộ. Cơ quan hành chính Nhà nước
địa phương UBND các cấp sở.
Câu 20: Hệ thống văn bản hành chính Nhà nước? Phân biệt hệ thống văn bản
hành chính với hệ thống văn bản pháp luật.
Hệ thống văn bản hành chính Nhà nước.
Văn bản hành chính Nhà nước là những văn bản được cơ quan hành chính Nhà
nước ban hành nhằm thực hiện các hoạt động chấp hành điều hành của mình.
Văn bản do cơ quan hành chinh snn là một loại văn bản, nó có đặc điểm của
văn bản Nhà nước nói chung, đặc biệt là tính pháp lý của nó. Văn bản hành
chính Nhà nước là các văn bản dưới luật được ban hành trên cơ sở hiến pháp để
chấp hành hiến pháp, luật và các nghị quyết của cơ quan quyền lực.
-Văn bản hành chính Nhà nước bao gồm:
+Văn bản chính Pủ
+Văn bản của thủ tướng chính phủ
+Văn bản của bộ trưởng, thứ trưởng các cơ quan ngành bộ, thủ trưởng chính
phủ
+Văn bản của Uỷ ban nhân dân các cấp.
+Văn bản về quản lý hành chính nội bộ do các cơ quan kiểm soát xét xử ban
hành.
+Văn bản về quản lý hành chính Nhà nước có thẩm quyền chuyên môn ở địa
phương
*Phân biệt hệ thống văn bản hành chính và hệ thống văn bản pháp luật
Hệ thống văn bản hành chính la do các cơ quan hành chính Nhà nước ban hành
nhằm thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành của mình.
Hệ thống văn bản pháp luật là do cơ quan quyền lực cao nhất cảu Nhà nước ban

hành. Nó là một tổng thể của pháp luật có mối liên hệ nội tại thống nhất với
nhau và có sự phân định một cách kết quả thành một ngành luật khác nhau, điều
- 16 -

chỉnh các nhóm quan hệ xã hội cùng loại tồn tại một cách khách quan, phụ
thuộc với sự phát triển khách quan của chế độ kinh tế chính trị – xã hội. Hệ
thống văn bản pháp luật bao gồm hệ thống văn bản hành chính.
Câu 21: Khái niệm - Đặc điểm – Phân loại viên chức Nhà nước. Nội dung chủ
yếu của các quy chế viên chức Nhà nước.
*Khái niệm viên chức Nhà nước là những người làm việc trong các cơ quan
Nhà nước được tuyển dụng, bầu hoặc bổ nhiệm giữ một chức vụ hay là theo
loại hoạt động đó.
*Đặc điểm:
Viên chức Nhà nước bao giờ cũng là người thực hiện các công vụ Nhà nước.
Khi thực hiện các công vụ, viên chức Nhà nước nhân danh quyền lực Nhà nước,
họ chỉ được hoạt động trong phạm vi quyền hạn được giao.
Hoạt động thừa hành công vụ của viên chức Nhà nước không trực tiếp sản xuất
ra cơ sở vật chất cho xã hội mà nó là phạm trù quản lý Nhà nước nói chung.
+Viên chức Nhà nước được hưởng lương do ngân sách Nhà nước đài thọ.
Phân loại:
Công chức Nhà nước
+Viên chức Nhà nước không phải là công chức Nhà nước
Công chức Nhà nước là công dân Việt Nam được tuyển dụng và giữ một công
vụ thường xuyên trong một công sở Nhà nước ở Trung ương hay địa phương ở
trong nước hay ở nước ngoài đã được xếp vào ngành công tác và được hưởng
lương theo ngân sách Nhà nước cấp.
Những người thuộc phạm vi công chức Nhà nước
Những người làm việc trong các cơ quan hành chính Nhà nước ở Trung ương, ở
các tỉnh, huyện, và cấp tương đương.
Những người làm việc trong các trường học, bệnh viện, cơ quan nghiên cứu

Nhà nước và được nhận lương từ ngân sách.
Những nhân viên dân sự làm ở cơ quan bộ quốc phòng.
Những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ chức vụ thường xuyên trong
quốc hội, UBTVQH, HĐND, toà án, viện kiểm sát.
Viên chức Nhà nước không phải là công chức Nhà nước: Các đại biểu quốc hội,
đại biểu hội đồng nhân dân; những sĩ quan, hạ sĩ quan trong quân đội; những
người làm việc trong các tổ chức kinh doanh Nhà nước giữ chức vụ như: giám
đốc, thư ký, kế toán trưởng. Ngoài những viên chức được giữ chức vụ vẫn còn
những viên chức Nhà nước được cử là: Các hội thẩm toà án nhân dân tối cao;
Các hội thẩm quân sự của các toà án quân sự
Căn cứ vào đặc điểm pháp lý của các công việc mà viên chức năm giữ người ta
chia viên chức Nhà nước thành hai loại: Viên chức phụ trách: thông thường
hành vi có thể làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt những mối quan hệ nhất
định. Người giúp việc, phục vụ cho các cơ quan Nhà nước, giúp cho viên chức
phụ trách những quyết định: đánh máy, văn thư.
- 17 -

*Nội dung chủ yếu của các quy chế viên chức Nhà nước:
+Các nguyên tắc chung về các viên chức Nhà nước
+các quyết định về quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của viên chức Nhà nước
+Các chế độ về kỷ luật, khen thưởng.
-Hoạt động thực hành công vụ của viên chức Nhà nước không trực tiếp sản xuất
ra cơ sở vật chất cho xã hội mà nó là phạm trù quản lý Nhà nước nói chung.
Câu 22: Khái niệm, nội dung và phạm vi áp dụng của trách nhiệm hành chính
Khái niệm:
Đó là những hậu quả pháp lý bất lợi theo quyết định của Luật HC Nhà nước áp
dụng cho những đơn vị, những cá nhân hay tổ chức đã có hành vi VPPLHC
xâm hại những nguyên tắc quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực khác nhau của
đời sống xã hội nhưng chưa đủ mức độ nguy hiểm để truy cứu trách nhiệm hình
sự.

Nội dung và phạm vi áp dụng TNHC chủ yếu là các cơ quan ở HTHC Nhà
nước và các viên chức THHC đối với bất cứ cá nhân, tổ chức nào có hành vi vi
phạm hành chính trong phạm vi thẩm quyền của mình.
Các hình thức có trách nhiệm hành chính.
+Các chế tài thi hành hành chính.
+Các biện pháp bắt buộc hành chính khác: buộc đình chỉ hành vi gây ô nhiễm,
gây náo động.
+Các biện pháp hành chính khác buộc đưa vào cơ sở giáo dưỡng, quản chế
hành chính, đưa vào cơ sở giáo dục. Ví dụ: một người bị bệnh tâm thần có hành
vi ăn cắp tài sản của người khác, do đó không áp dụng chế tài mà phải đưa vào
cơ sở chữa bệnh để họ có thể nhận ra rõ hành vi của mình.
Thủ tục áp dụng trách nhiệm hành chính: Có hai thủ tục khác nhau
Thủ tục đơn giản: được thực hiện trong những trường hợp hành vi vi phạm
pháp luật có tính chất đơn giản, ví dụ vi phạm pháp luật giao thông
Thủ tục hành chính đầy đủ: xử lý những vi phạm pháp luật trong đó người phát
hiện ra hành vi vi phạm pháp luật hành chính lập biên bản và thu giữ những
chứng cứ; sau đó giử lên cho các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xét xử.
Phạm vi áp dụng các trách nhiệm hành chính: đối với những hành vi nguy hiểm
cho xã hội nhưng với mức độ thấp hơn so với trách nhiệm hình sự.
Câu 23: Tổ chức và thủ tục tài phán hành chính
Khởi kiện vụ án: toà án chỉ nhận giải quyết các khởi kiện hành chính khi người
khởi kiện có làm đơn ra toà trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được văn
bản trả lời của cơ quan Nhà nước hoặc người đã ra quyết định hành chính hoặc
hành vi hành chính việc giải quyết khiếu nại trừ khi pháp luật có quy định khác.
Đơn kiện phải có các nội dung chính như ngày… tháng … năm; toà án được
yêu cầu nội dung kiện được quy định trong điều 30. Nếu thấy có đầy đủ điều
kiện đã đáp ứng, nguyên đơn đóng lệ phí thì toà án mới thụ lý vụ án.
- 18 -

Chuẩn bị xét xử: trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án toà án phải

thông báo cho bên bị kiện và người có quyền nghĩa vụ liên quan biết đến nội
dung đơn kiện trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, họ phải
gửi cho toà ý kiến của mình bằng văn bản đơn kiện và các tài liệu khác liên
quan đến việc giải quyết vụ án trong thời hạn 60 ngày nếu phức tạp thì không
quá 90 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, thẩm phán được phân công chủ toạ phải
quyết định tạm đình chỉ hoặc đưa vụ án ra xét xử và thông báo cho các bên liện
quan trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử và
thông báo cho các bên liên quan trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày có quyết
định đưa vụ án ra xét xử; toà án phải mở phiên toà sơ thẩm.
Phiên toà sơ thẩm được xét xử công khai, trừ trường hợp quyết định khác, với
sự có mặt của người tiến hành tố tụng, đương sự, bên bị kiện người đại diện do
đương sự uỷ quyền, người giám định và phán quyết.
Thủ tục xét xử được tiến hành:
+Thủ tục bắt đầu: Thẩm phán được phân công xét xử sẽ được quyết định kiểm
tra sự có mặt của bên có liên quan. Hội đồng xét xử hỏi các đương sự; hội đồng
xét xử gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân. trường hợp xét xử sơ
thẩm đồng thời là chung thẩm, thì có 3 thẩm phán và hai hội thẩm.
+Tranh luận tại phiên toà:
+Quyết định bản án.
Biên án
Thủ tục phúc thẩm
là việc toà án cấp trên trực tiếp xem xét lại những bản án hoặc quyết định của
toà sơ thẩm có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc đang bị thúc quyền của
viện kiểm soát nhân dân; thời hạn đương sự có quyền kháng cáo là ba ngày thời
hạn kháng nghị lên viện kiểm sát cùng cấp là 10 ngày, của cấp trên là 20 ngày.
Nếu cấp xét xử sơ thẩm là toà án nhân dân cấp huyện thì xét xử phúc thẩm là
toà án nhân dân cấp tỉnh, nếu là sơ thẩm là cấp tỉnh thì phúc thẩm là toà án nhân
dân tối cao.
Thời hạn xét xử phúc thẩm tối đa là 60 ngày, trường hợp đặc biệt không quá 90
ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ toà án xét xử cấp sơ thẩm gửi đến.

Thủ tục phúc thẩm như sơ thẩm.
Hội đồng xét xử gồm ba thành phần không có bị thẩm giám đốc thẩm và tái
thẩm.
Giám đốc thẩm: là xét lại các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực nhưng có
những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản của nội dung bản án hoặc quyết
định đó cần có căn cứ để xác định phúc thẩm được quyết định trong điều 67
khoản 2.
Những cơ quan có quyền kháng nghị trong TT.
Toà án nhân dân tối cao, viện trưởng viện kiểm soát nhân tối cao có quyền
kháng nghị đối với toà án; phó chánh án toà án nhân dân tối cao; phó viện
- 19 -

trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao theo thủ tục giám đốc đối với toà án địa
phương. TANN, VTVKSND cấp tỉnh đề nghị đối với toà án cấp huyện được
quyền giải quyết của toà án đối với hai bên của toà án nhân dân tỉnh GĐT và
thủ tục với toà án nhân dân huyện. Hành chính toà án nhân dân tối giám đốc
thẩm đối với toà án nhân dân cấp tỉnh TPTANDTC giám đốc thẩm va thủ
trưởng.
Quyết định đưa vụ án ra xét xử toà án phải xét xử sơ thẩm.
Những toà án sơ thẩm được tiến hành công khai trừ trường hợp quyết định
khác, với sự có mặt của người tiến hành tố tụng, thẩm phán hỏi thẩm phán nhân
dân, kiểm sát viên, thư ký, toà án, người tham gia tố tụng, đương sự, người bị
kiện, bên bị kiện, người đại diện do đương sự uỷ quyền, người giám định và
phiên dịch.
Thủ tục tiến hành: hội đồng xét xử hỏi các đương sự. Thông thường hội đồng
xét xử có một thẩm phán và hhai hội thẩm nhân dân, trường hợp xét xử sơ thẩm
đồng thời là chung thẩm, có ba thẩm phán, hai hội thẩm nhân dân.
+Tranh luận tại phiên toà
+Nghị án và quyết định bản án.
+Tuyên án.

Câu 24: Đặc điểm quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân với tư cách là đối tượng
điều chỉnh của luật dân sự.
Quan hệ tài sản là quan hệ giữa người và người thông qua một tài sản dưới dạng
tự điều sản xuất. TLTD hoặc dịch vụ tạo ra từ mỗi sản xuất nhất định .
Theo điều 172 của bộ luật dân sự .Tài sản bao gồm :vật có thực nếu giấy tờ trị
giá được bằnh tiền ngân phiếu. Cổ phiếu , tài sản về sở hữu đát , về trí tụe và
đặc điểm. Những quan hệ tài sản giữa người với người mang tính ý trí là biểu
hiện chủ quan của quan hệ kinh tế cụ thể phát sinh trong quá trình sản xuất
:phân phối lưu thông từ bên sản xuát tư liệu tiêu dùng trong xã hội gắn liền với
quan hệ sản xuất nhất định.
Trong phần lớn các quan hệ tài sản bình đẳng với nhau, người bán đồng ý bán
và người mua đồng ý mua.
Quan hệ nhân thân là quan hệ giữa người với ngưỡi về lĩnh vực phi vật chất
Không mang tính kinh tế không tính được thành tiền và không thể chuyển
giao.Nó phải phát sinh từ một giá trị tinh thần của một cá nhân hay một tổ chức
và luôn gắn với chủ thể nhất định. Ví dụ: quyền đứng tên tác giả trên các tác
phẩm văn học nghệ thuật hoặc tên tuổi, hình ản, danh dự.
*Đặc điểm: luôn gắn liền với một chủ thể và không thẻ chuyển dịch. Không xác
định đượng bằng tiền vì không phải là đại lượng tương đương, không trao đổi
ngang giá, ví dụ họ tên đời tư. quan hệ nhân thân gồm hai loại: Quan hệ nhân
thân gắn liền với tài sản là các quan hệ nhân thân làm tiêu đề phát sinh các quan
hệ tài sản tiêp theo như: quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học nghệ thuật,
hoặc các công trình nghiên cứu. Quan hệ nhân thân phi tài sản là những quan hệ
- 20 -

giữa người với người về lĩnh vực tinh thần, tồn tại một cách độc lập không liên
quan tới tài sản cũng như quan hệ họ tên, danh dự quốc tịch, bí mật đời tư…
Câu 25: Khái niệm chung về quyền sở hữu, các loại quyền sở hữu của nước ta
hiện nay
Khái niệm quyền sở hữu: là những quan hệ được pháp luật điều chỉnh trở thành

quyền sở hữu. Quan hệ sở hữu cơ sở là mọt quan hệ xã hội về việc chiếm giữ
các của cải vật chất trong xã hội thông qua quan hệ sở hữu để phân biệt tài sản
thuộc về ai đó. Các loại quyền sở hữu ở nước ta hiện nay. Quyền sở hữu nhà
nước, sở hữu toàn dân là chiếm hữu công cộng của toàn thể xã hội đối với
những tư liệu sản xuất. Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam thay mặt
cho toàn xã hội để trực tiếp làm chủ sở hữu. nhà nước là chủ thể mang quyền và
nghĩa vụ trực tiếp sử dụng các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối
với tài sản thuộc sở hữu toàn dân…
Quyền sở hữu hợp tác: là loại hình sở hữu đặc trưng thuộc chế độ sở hữu tập
thể. Những người lao động đối với tư liệu sản xuất; HTX là chủ sở hữu của
những tài sản đã được tập thể hoá nhằm mục đích hỗ trợ tạo điều kiện cho
những xã viên sản xuất kinh doanh tốt. Quyền sở hữu HTX là tổng hợp các quy
phạm pháp luật. Sử dụng và định đoạt tài sản HTX. ở nước ta hiện nay có nhiều
loại HTX hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau, các HTX độc lập với nhau
về mặt tổ chức và tài sản.
Quyền sở hữu công dân là tổng hợp các quy phạm pl điều chỉnh các quan hệ về
chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của các nhân. Mọi công dân đều có
quyền sở hữu đối với tài sản của mình. Tài sản thuộc về quyền sở hữu của công
dângồm những thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, đồ dùng sinh hoạt và
các tư liệu sản xuất. Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân đối với
những tài sản hợp pháp.
Quyền sở hữu chung là những quyền năng của hai hay nhiều chủ thể đối với
một tài sản hoặc một khối tài sản, có hai loại:
Quyền sở hữu chung theo phần: mỗi chủ thể sở hữu chung có một phần sở hữ
được xác định trước trong toàn bộ khối tài sản chung đó.
Quyền sở hữu chung hợp nhất: các chủ sở hữu chung có quyền ngang nhau ví
dụ tài sản chung của vợ chồng.
Câu 26: Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng dân sự? Các quyết định chủ yếu về
giao kết và thực hiện hợp đồng dân sự.
Khái niệm: đó là những thoả thuận giữa các bên về việc xác lập thay đổi hoặc

chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự. Hợp đồng dân sự là căn cứ chủ yếu để
làm phát sinh nghĩa vụ dân sự, làm phát sinh quyền sở hữu của cá nhân, tổ chức
đối với tài sản.
Ví dụ: một người muốn mua một ngôi nhà đều thoả thuận với người bán và
người bán nhà có nghĩa vụ giao nhà, khi đã nhận đủ tiền.
Các quyết định chủ yếu về giao kết thực hiện hợp đồng dân sự.
- 21 -

Giao kết hợp đồng dân sự
Nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác
có quyền tự do giao kết hợp đồng với điều kiện không trái pháp luật.
Cac bên giao kết hợp đồng phải bình đẳng với nhau, chủ thể giao kết hợp đồng
dân sự: cá nhân từ đủ 18 tuổi có khả năng nhận thức được quyền và nghĩa vụ
thực hiện hợp đồng và trách nhiệm về việc thực hiện nghĩa vụ đó.
-Người từ 16 tuổi có tài sản riêng đủ đảm bảo việc thanh toán nghĩa vụ thì được
giao kết hợp đồng mà không cần người đại diện thoe pháp luật đồng ý. Người
dưới 16 tuổi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự được phép tham gia
quan hệ hợp đồng dân sự nhưng phải được sự đồng ý của người giám hộ (bố,
mẹ) trừ trường hợp phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Pháp nhân và các
chủ thể khác cũng là chủ thể của hợp đồng dân sự, trong quan hệ hợp đồng dân
sự, các chủ thể này phải cử những người đại diện hợp pháp.
Thực hiện hợp đồng dân sự: HĐ DS phải được thực hiện một cách trung thực
theo tinh thần hợp tác và đảm bảo lợi ích của hai bên. việc thực hiện quyền và
nghĩa vụ trong hợp đồng dân sự không được xâm phạm lợi ích của nhà nước và
của người khác. Các bên có quyền thoả thuận sửa đổi hợp đồng và phải tự chịu
hậu quả. Hợp đồng dân sự chấm dứt trong các trường hợp sau:
Hợp đồng đã được hoàn thành; Theo thoả thuận của các bên; Cá nhân giao kết
hợp đồng chết; Hợp đồng bị huỷ bỏ đình chỉ; các trường hợp khác nếu pl có
quy định. Bên huỷ bỏ hợp đồng phải thông báo cho bên kia biét nếu khốngẽ bị
chịu hậu quả. Một bên có thể đơn phương huỷ bỏ hợp đồng nếu được; hợp đồng

không mang lại lợi ích cho mình dẫn đến bên này phải bồi thường cho bên kia.
Câu 27: Nội dung chủ yêu của chế độ thừa kế theo di chúc và thừa kế thoe pháp
luật
Thừa kế theo di chúc là việc thừa kế theo hợp đồng định đoạt của người có tài
sản khi họ còn sống. Sự định đoạt của người có tài sản được thể hiện trong di
chúc. Có di chúc miệng di chúc viết.
Di chúc miệng phải có người làm chứng và nội dung phải hợp pháp. người lập
di chúc phải hoàn toàn trong trạng thái sáng suốt. Di chúc của người để lại chỉ
phát sinh hiệu lực pl kể từ thời điểm mở thừa kế. Nội dung định đoạt của người
lập di chúc:
+Chỉ định người thừa kế, để lại tài sản cho bất cứ cá nhân hay tổ chức nào, truất
quyền hưởng thừa kế của người thừa kế theo pháp luật mà không nhất thiết phải
nêu lý do. Phân định tài sản cho từng người thừa kế; giao nghĩa vụ cho người
thừa kế; giành một phần tài sản để tặng hoặc thờ cúng; Chỉ định người giữ di
chúc và quản lý tài sản; người lập di chúc có quyền sửa đổi bổ sung di chúc đã
lập. Thay thế di chúc đã lập bằng di chúc khác hay huỷ bỏ di chúc.
Thừa kế theo pl là việc chuyển giao tài sản của người chế cho người còn sóng
không phải theo định đoạt của người có tài sản mà tuân theo những quy định
của pl về thừa kế. Điều kiện áp dụng thừa kế theo pl: không có di chúc hoặc di
- 22 -

chúc bất hợp pháp; Người thừa kế theo di chúc chế trước hoặc cùng một thời
điểm với người để lại di chúc. Tổ chức được chỉ định là người thừa kế theo
trong di chúc còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Người thừa kế hợp pháp
theo di chúc không có quyền hưởng thừa kế hoặc từ chối quyền hưởng thừa kế.
Tất cả những người nằm trong diện thừa kế gồm ba hàng: vợ hoặc chồng, con
đẻ, con nuôi, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, những người này được xếp vào
hàng thừa kế thứ nhất là người có quan hệ gần gũi nhất đối với người để lại tài
sản; ông bà ngoại, cô, gì, chú bác, cậu ruột hoặc cháu ruột của người chết.
Nguyên tăc chia thừa kế: những người ở hàng thừa kế được hưởng thừa kế khi

không có ai ở hàng thừa kế trước. Nếu cả ba hàng thừa kế không có ai htì tài
sản thuộc về sở hữu toàn dân, do nhà nước thay mặt quản lý. Thừa kế vị: là việc
các con hoặc cháu được thay vào vị trí của bố mẹ hay ông bà hoặc cụ khi trước
cùng một thời điểm với người để lại tài sản.
Câu 28: Khái niệm, đặc điểm của tội phạm? Phân biệt tội phạm với các vi phạm
pháp luật.
Trả lời: tội phạm là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ
luật hình sự, thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, tổ chức xâm phạm toàn vẹn
lãnh thổ, xâm phạm nhà nước xã hội cn vn, xâm phạm tính mạng, sức khở,
danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của
công dân, xâm phạm các lĩnh vực khác trong trật tự pháp luật xhcn (điều 8 luật
hình sự nước chxhcnvn)
Đặc điểm tội phạm theo luật hình sự vn phải là hành vị của người, còn những gì
mới xuất hiện trong tư tưởng, chưa có biểu hiện ra bên ngoài bằng hành vi thì
chưa thể là tội phạm.
Phân biệt tội phạm với các vi phạm pl khác:
Giống nhau: tội phạm cũng như các hành vi vi phạm pl khác đều là những hành
vi vi phạm pl và đều bị lên án và cần xử lý nghiêm khắc.
Khác nhau: đề phân biệt được hành vi tội phạm và các quy phạm pl khác ta phải
dựa vào bốn dấu hiệu: tính nguy hiểm cho xã hội. Thể hiện ở tính chất quan
trọng của quan hệ xã hội bị xâm hại, tính chất và mức độ thiệt hia gây ra hoặc
có thể gây ra. Ví dụ hành vi phản bội tổ quốc, âm mưu lật đổ chính quyền, giết
người cứơp của. Những hành vi này luôn được coi là tội phạm, nó mang tính
nguy hiểm cho xã hội, để xác định mức độ nghiêm trọng của nó ta phải dựa vào
những biểu hiện: tính chất của cqh xã hội bị xam phạm; tính chất của hành v
khách quan, phương pháp, thủ đoạn, công cụ hoặc phương tiện phạm tội; mức
độ thiệt hại gây ra hoặc đe doạ gây ra; tính chất và mức độ lỗi; động cơ mục
đích của người có hành vi vi phạm; xuất thân của người có hành vi phạm tội;
những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhự; người phạm tội có lỗi. Lỗi là thái độ
chủ quan của mỗi chủ thể; thể hiện ở sự nhận thức của họ đối với hành vi trái pl

và hậu quả do họ gây ra lỗi cố ý hoặc vô ý. Trong bộ luật hình sự vn được nêu
trong định nghĩa về cùng tính nguy hiểm cho xã hội mang tính khách quan
- 23 -

trong lỗi. Tính trái pháp luật là biểu hiện đồi hỏi phải có hành vi phạm tội. Luật
hình sự vn coi tính trái pl là một dấu hiệu của tội phạm, đó là dấu hiệu biểu hiện
về mặt ình thức pháp lý của dấu hiệu tính nguy hiểm cho xã hội. Tính chịu hình
phạt là một dấu hiệu của tội phạm nhưng không phải là thuộc tính bên trong của
tội phạm như trên, chính phạm vi nguy hiểm cho xã hội và trái pl hình sự nên
tội phạm phải chịu hình phạt
Câu 29: Khái niệm, và đặc điểm của hình phạt với các chế tài pháp luật khác.
Khái niệm: hình phạt là biện pháp cưỡng chế do toà án nhân dân quyết định áp
dụng đối với những người phạm tội theo quyết định của luật hình sự. Tước bỏ
hoặc hạn chế những quyền và lợi ích nhất định của người bị kết án nhằm mục
đích cải tạo, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm.
Đặc điểm của hình phạt là biện pháp khác nhau, nó có thể tước bỏ những quyền
và lợi ích thiết thực của tội phạm như quyền tự do, quyền sở hữu, quyền được
sống. Hình phạt được quy định trong cả phần chung và phần các tội phạm trong
bộ luật hình sự vn. Phần các tội phạm quyết định các loại và mức hình phạt cho
từng tội phạm cụ thể. Mức độ nghiêm khắc của hình phạt phụ thuộc vào tính
chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm. Phân biệt hình phạt với các chế tài
pl khác: hình phạt và các chế tài pl đều chia rõ ràng, nếu vào những điều kiện
hoàn cảnh khác nhau, người vi phạm có những hành vi vi phạm khác nhau thì
phải chịu những hậu quả, hình phạt khác nhau.
Khác nhau: Chế tài được áp dụng rộng rãi; chế tài hình sự là hình phạt; chế tài
hành chính, chế tài kỷ luật, chế tài dân sự. Hình phạt là một loại chế tài đó là
chế tài hình sự.
- 24 -


×