BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
LÊ ANH HÙNG
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT
NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH HƯNG YÊN TRONG
ĐIỀU KIỆN ĐÔ THỊ HÓA VÀ CÔNG NGHIỆP HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hữu Ngoan
Hà Nội - 2011
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và
nguồn gốc thông tin được trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ
rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Học viên
Lê Anh Hùng
i
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành đến các thầy,
cô giáo khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, trưởng đại học Nông
nghiệp Hà Nội đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích và đã tạo
mọi điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện bản luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS
TS Nguyễn Hữu Ngoan đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo tôi trong suốt
quá trình thực hiện đề tài này.
Tôi xin trân thành cảm ơn HĐND, UBND, các ban ngành, đoàn
thể tỉnh Hưng Yên đặc biệt là Sở Tài nguyên và Môi trường, sở Nội
vụ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn của tỉnh đã cung cấp
những số liệu cần thiết và giúp đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu nghiên
cứu tại địa bàn.
Tôi xin trân thành cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã không
ngừng động viên, giúp đỡ tôi cả về vật chất và tinh thần trong suốt
quá trình học tập và rèn luyện.
Dù đã có nhiều cố gắng nhưng trong báo cáo chắc không tránh
khỏi sai sót kính mong thầy, cô giáo, các bạn học viên góp ý để nội
dung nghiên cứu này được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Học viên
Lê Anh Hùng
ii
MỤC LỤC
Trang
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT Viết tắt Nội dung
1 CNH Công nghiệp hóa
2 HĐH Hiện đại hoá
3 ĐNNo Đất nông nghiệp
4 ĐTH Đô thị hóa
5 KH-KT Khoa học kỹ thuật
6 KT-XH Kinh tế xã hội
7 QHSDĐ Quy hoạch sử dụng đất
8 QLĐĐ Quản lý đất đai
9 QLNN Quản lý Nhà nước
10 SHTT Sở hữu tập thể
11
SHTN
Sở hữu tư nhân
v
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai tồn tại từ xa xưa, từ trước khi xuất hiện loài người, qua nhiều thiên
niên kỷ, con người sống và tồn tại vĩnh hằng cùng đất đai, đất đai gắn bó với con
người một cách chặt chẽ cả về mặt vật chất và tinh thần. Đất là nguồn tài nguyên
quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông nghiệp, là thành
phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư,
xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng.
Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là cơ sở của sản xuất
nông nghiệp, là đối tượng lao động độc đáo, đồng thời cũng là môi trường sản xuất
ra luơng thực, thực phẩm, là một nhân tố quan trọng của môi trường sống và trong
nhiều trường hợp lại chi phối sự phát triển hay huỷ diệt các nhân tố khác của môi
trường. Vì vậy, chiến lược sử dụng đất hợp lý là một phần của chiến lược nông
nghiệp sinh thái bền vững của tất cả các nước trên thế giới cũng như của nước ta hiện
nay.
Nông nghiệp là hoạt động sản xuất cổ nhất và cơ bản nhất của loài người. Hầu
hết các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển
nông nghiệp dựa vào khai thác tiềm năng của đất nông nghiệp (ĐNNo), lấy đó làm
bàn đạp cho việc phát triển các ngành khác. Vì vậy, tổ chức sử dụng nguồn tài
nguyên đất nông nghiệp hợp lý, có hiệu quả cao theo quan điểm sinh thái và phát
triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính toàn cầu. Mục đích của việc sử dụng
đất nông nghiệp là làm thế nào để bắt nguồn tư liệu có hạn này mang lại hiệu quả
kinh tế, hiệu quả sinh thái, hiệu quả xã hội cao nhất, đảm bảo lợi ích trước mắt và lâu
dài. Nói cách khác, mục tiêu hiện nay của loài người là phấn đấu xây dựng một nền
nông nghiệp toàn diện về kinh tế, xã hội, môi trường một cách bền vững. Để thực
hiện mục tiêu này cần bắt đầu từ nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp một
cách toàn diện, như G.S Bùi Huy Đáp đã viết “Phải bảo vệ một cách khôn ngoan tài
nguyên đất còn lại cho một nền sản xuất nông nghiệp bền vững” .
Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên - Môi trường và Tổng cục Thống kê
năm 2009, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.105,1 nghìn ha, trong đó
ĐNNo chỉ có 9.598,8 nghìn ha chiếm 28.99%. Bình quân diện tích đất tự nhiên trên
đầu người là 0,43 ha bằng 1/7 mức bình quân thế giới. Bình quân ĐNNo trên đầu
1
người là 1230 m
2
bằng 1/3 mức bình quân thế giới. Mặt khác, ĐNNo phân bố không
đồng đều, tập trung chủ yếu ở khu vực đồng bằng. Chính vì vậy, việc tăng cường
quản lý nhà nước về đất nông nghiệp và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
là nhiệm vụ cấp bách, lâu dài của Đảng và Nhà nước ta.
Thực tế, trong những năm qua Nhà nước đã có nhiều biện pháp nhằm tăng
cường công tác quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp như tiến hành
giao quyền sử dụng đất lâu dài, ổn định cho người sử dụng đất, hoàn thiện hệ thống
thuỷ lợi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hoá và đưa các giống cây tốt, năng
suất cao vào sản xuất, nhờ đó mà năng suất cây trồng, hiệu quả sử dụng đất được
nâng lên. Trong đó, việc thay đổi cơ cấu cây trồng, sử dụng giống mới với năng suất
và chất lượng cao, áp dụng các tiến bộ KH-KT, có biểu hiện ảnh hưởng rõ rệt đến
hiệu quả sử dụng đất. Tuy nhiên do ĐNNo thì có hạn, diện tích không tăng mà còn
có nguy cơ bị giảm đi do xu hướng khí hậu nóng lên làm mực nước biển dâng cao.
Bên cạnh đó là việc sử dụng đất lãng phí, không hiệu quả, huỷ hoại đất cũng như
tốc gia tăng về dân số, đặc biệt là tốc độ công nghiệp hóa (CNH), đô thị hóa
(ĐTH) nhanh khiến cho ĐNNo đã mất dần lại càng trở nên khan hiếm hơn. Trong
khi đó, Quản lý nhà nước (QLNN) về ĐNNo đã bộc lộ nhiều vấn đề bất cập, làm
đau đầu nhiều nhà chính trị và quản lý, là mối quan tâm hàng đầu của các tầng lớp
nhân dân. Vấn đề này cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc, bằng những luận
cứ khoa học để có những biện pháp, chính sách điều chỉnh thích hợp.
Hưng Yên là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, nằm ở trung tâm đồng
bằng Bắc Bộ và trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cùng với việc CNH nhanh,
mở rộng quy mô sản xuất, kinh tế liên tục phát triển, tốc độ tăng trưởng GDP bình
quân trong 5 năm, từ 2003-2007 đạt 13,17%/năm. Cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh
trong những năm qua có bước chuyển dịch mạnh theo hướng tăng nhanh tỷ trọng
khối ngành công nghiệp - xây dựng, giảm tỷ trọng khối ngành nông nghiệp và thuỷ
sản. Tỉnh Hưng Yên đang từng bước thay đổi theo dáng dấp của một quần thể đô thị
mới hiện đại.
Tuy nhiên, cùng với quá trình CNH và ĐTH phát triển nhanh chóng, thực
trạng phát triển KT-XH trong thời gian qua của tỉnh Hưng Yên cho thấy áp lực đối
với ĐNNo của tỉnh ngày càng gia tăng. Thực tế trong những năm vừa qua QLNN
về ĐNNo của Tỉnh Hưng Yên đang đối mặt là phức tạp, mang nhiều nét đặc trưng
2
mà nhiều tỉnh, thành phố khác trên cả nước thường gặp phải. Do vậy, nếu QLNN về
ĐNNo tại tỉnh Hưng Yên được nghiên cứu, giải quyết tốt sẽ mang lại những bài học
cả về lý thuyết và thực tiễn cho các Tỉnh, Thành phố khác tham khảo và học tập
Vấn đề đặt ra là:
1. Thực trạng quản lý nhà nước về đất đai trong đó có đất nông nghiệp của tỉnh
Hưng Yên trong những năm qua diễn ra như thế nào?
2. Quá trình Công nghiệp hóa, Đô thị hóa ảnh hưởng như thế nào đến vấn đề an
ninh lương thực, Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp?
3. Vấn đề đặt ra cho nông thôn thay đổi ra sao?
4. Giải pháp nào đảm bảo quá trình CNH-ĐTH và tăng cường Quản lý nhà nước về
đất nông nghiệp?
Để trả lời câu hỏi trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện
Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp ở tỉnh Hưng Yên trong điều kiện đô thị
hóa và công nghiệp hóa”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng QLNN về ĐNNo của tỉnh Hưng Yên trong quá trình
ĐTH-CNH, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN đối với ĐNNo của
tỉnh Hưng Yên.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về Quản lý nhà nước về đất nông
nghiệp trong quá trình CNH-ĐTH.
- Đánh giá thực trạng QLNN về ĐNNo của tỉnh Hưng Yên trong quá trình
ĐTH-CNH
- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến công tác QLNN về ĐNNo của tỉnh
Hưng Yên
- Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN đối với ĐNNo của tỉnh
Hưng Yên.
3
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề về QLNN về ĐNNo trên địa bàn tỉnh Hưng Yên trong điều
kiện ĐTH - CNH. Tuy nhiên, Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các yếu tố tác
động trực tiếp và gián tiếp đến QLNN về ĐNNo của tỉnh như: mối liên hệ trong hệ
thống QLNN về ĐNNo, hoạt động của các tổ chức và cá nhân tham gia vào quá
trình QLNN và sử dụng ĐNNo.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Hoạt động QLNN về ĐNNo thể hiện trên những khía cạnh
về nội dung QLNN trong điều kiện ĐTH - CNH.
- Về thời gian, không gian nghiên cứu: Công tác QLNN về ĐNNo ở tỉnh
Hưng Yên từ năm 2005 đến nay và định hướng đến năm 2015.
4
Phần II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Khái niệm về đất nông nghiệp
Đất đai được hình thành thông qua quá trình lịch sử lâu dài nhờ vào sự phong
hoá đá mẹ dưới sự tác động của không khí, gió, nước, sinh vật. Sản phẩm của quá
trình phong hoá đá đó là các chất vô cơ như: N,C,S,Mg Theo thời gian sản phẩm
của quá trình phong hoá đó tích tụ thêm các chất hữu cơ từ xác của động vật, thực
vật bị chết, phân, chất thải cửa động, thực vật (đây chính là một phần nguồn dinh
dưỡng quan trọng sẽ cung cấp cho thực vật sau này) . và hình thành nên đất.
Đất đai được hình thành trên bề mặt trái đất do đó đất đai là một khoảng
không gian có giới hạn theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu, lớp đất phủ bề mặt, );
và theo chiều ngang (là sự kết hợp của thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực
vật., .). Quỹ đất đai của mỗi vùng, địa phương luôn bị giới hạn bởi địa giới hành
chính của vùng, địa phương đó. Quỹ đất đai của một đất nước bi giới hạn bởi biên
giới, địa giới lãnh thổ quốc gia. Tổng quỹ đất của toàn thế giới bị giới hạn bởi bề mặt
trái đất. Chính vì thế không ai có thể nói rằng đất đai là nguồn tài nguyên vô tận,
không có giới hạn mà ngược lại đất đai có giới hạn.
Đất nông nghiệp (ĐNNo) là nơi con người khai thác các loài động vật, thực
vật bằng cách săn bắn, hái lượm, sản xuất ĐNNo cung cấp cho con người từ thời
nguyên thuỷ tất cả những sản phẩm cần thiết của đời sống, đời sống con người
những năm nguyên thủy là đời sống cộng đồng, hoạt động sản xuất nông nghiệp còn
rất thô sơ, và đất đai là tư liệu lao động quý giá nhất mà họ có lúc bấy giờ. Dần dần,
khi cuộc sống con người ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng tăng
lên. Con người nguyên thuỷ bắt đầu có những nhận thức mới, những nhu cầu và sự
thay đổi mới trong xã hội. Lúc này, chỉ dựa hoàn toàn vào thiên nhiên không có sự
canh tác thôi không thể đáp ứng được nhu cầu ngày một cao được nữa. Từ đó con
người đã biết dựa vào ĐNNo để chăn nuôi, cày cấy, trồng trọt và từ đây cuộc sống
con người bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ mà con người biết tự canh tác tạo ra
của cải vật chất cho bản thân, hạn chế ảnh hưởng của thiên nhiên đến đời sống. Sản
phẩm mà con người tạo ra ngày càng đa dạng, đầy đủ hơn, nhờ biết khai thác sức
mạnh của ĐNNo mà đời sống con người ngày càng nâng lên nhanh chóng, kéo theo
nó là sự phát triển của xã hội, nền kinh tế và nhận thức.
5
Cho đến ngày nay, khi con người nhờ có KH-KT mà đời sống ngày một cải
thiện và chất lượng ngày một nâng cao nhưng cuộc sống con người vẫn không thể
tách rời khỏi ĐNNo. Dọc theo quá trình phát triển ta có thể thấy mục đích đầu tiên
của con người đối với đất đai để sản xuất nông nghiệp; vả bây giờ có thêm rất nhiều
ngành sản xuất mới ra đời, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại
dịch vụ. Cho đến nay, con người vẫn không rời bỏ được nền sản xuất nông nghiệp đã
tồn tại từ rất lâu đời. Như vậy, một nguồn đất trong tổng quỹ đất của loài người là
phục vụ cho mục đích trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng quỹ đất đó được gọi là
ĐNNo.
Theo luật đất đai năm 2003, “ĐNNo là đất được sử dụng vào mục đích sản
xuất nông nghiệp như: Trồng trọt, chăn nuôi, làm muối, nuôi trồng thuỷ sản hoặc
sử dụng để nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp”.
Đất đai khi được sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì được gọi là ruộng đất.
Con người tác động vào ĐNNo tạo ra của cải, vật chất cho đời sống. ĐNNo - ruộng
đất là đối tượng lao động đồng thời là tư liệu lao động của con người. Lúc đầu, con
người canh tác chỉ để đáp ứng nhu cầu của bản thân, gia đình nền kinh tế “tự cung tự
cấp”. Xã hội phát triển quá trình chuyên môn hoá diễn ra, nông phẩm không đơn
giản chỉ để phục vụ cho bản thân người sản xuất nữa. Nông phẩm là một mặt hàng
quan trọng trên thị trường, mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người sử dụng đất và
cho toàn xã hội. Vì vậy, đất đai sử dụng vào sản xuất nông nghiệp - ruộng đất chiếm
vị thế đáng kể đối với sự phát triển của nền sản xuất xã hội loài người.
2.1.2. Vai trò của đất nông nghiệp
2.1.2.1. Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất không thể thay thế của hoạt
động sản xuất nông nghiệp
ĐNNo là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, là nguồn tài nguyên vô
cùng quý giá đối với mỗi quốc gia, là điều kiện tồn tại, là điều kiện tiên quyết không
thể thiếu được cho sản xuất cơ bản. Quả thật, trong quá trình sản xuất và tồn tại của
con người, con người không thể tách rời đất đai. Vai trò của đất đai trong ngành
trồng trọt và ngành sản xuất nông nghiệp còn được thể hiện rõ ràng hơn.
Thứ nhất, ĐNNo là đối tượng của sản xuất thể hiện ở chỗ người sản xuất tác
động vào đất đai để sản xuất ra của cải nông nghiệp như: lương thực, thực phẩm, rau
quả Nhờ vào KH-KT, sự tiên tiến của công nghệ, con người đã tác động làm thay
đổi tính chất, độ phì của đất để phục vụ mục đích cuối cùng là sản lượng cây trồng
6
với năng suất ngày càng cao, chất lượng cây trồng ngày càng tăng lên không ngừng,
khả năng chống chọi với những tác động bất lợi đến cây trồng ngày càng lớn.
Hoạt động của con người tác động vào đất có thể là trực tiếp hay gián tiếp
Con người trực tiếp tác động vào đất đai như là một tư liệu sản xuất, đối tượng sản
xuất như: Cày bừa, cuốc đất, trồng trọt Con người tác động vào đất đai gián tiếp
như: sản xuất phân bón, hoá chất ứng dụng vào đất đai. Tất cả để phục vụ cho đời
sống của con người.
Thứ hai, ĐNNo là tư liệu sản xuất, từ ĐNNo cây cối, động vật được trồng
trọt, chăn nuôi cho ra sản phẩm. ĐNNo là nguồn cung cấp môi trường sống cho
động, thực vật các nguồn khoáng vi lượng và dinh dưỡng cho sự sống của thực vật.
Trong ĐNNo chứa đầy đủ thức ăn, dinh dưỡng, không khí mà cây trồng cần thiết
cho sự sống. Chính vì vậy người sản xuất đã có trong tay một tư liệu sản xuất vô
cùng quan trọng không thể thay thế được.
Mặt khác, mặc dù con người đã cố gắng để tạo ra sản phẩm nông nghiệp mà
không cần dùng đến đất đai như: trồng cây trên nước, trồng cây bằng dung dịch dinh
dưỡng Nhưng chưa có một quốc gia nào có thể tách rời trồng trọt với ĐNNo cả.
Những sản phẩm tạo ra từ những thí nghiệm chỉ có khối lượng rất nhỏ và năng suất
rất thấp, Điều này càng chứng minh sự cần thiết, và tầm quan trọng của đất đai nói
chung và ĐNNo. Có thể khẳng định con người luôn cần đến ĐNNo để sản xuất và đó
là tư liệu sản xuất không thể thay thế được.
2.1.2.2. Sử dụng đất nông nghiệp hợp lý
Đất nông nghiệp là một trong những yếu tố cấu thành nên môi trường, gắn
liền với môi trường tự nhiên và điều kiện sinh thái. Theo quy luật của mối liên hệ
phổ biến thì để có được môi trường trong sạch, các yếu tố trong môi trường phải
được bảo vệ và trong lành, nếu không yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến yếu tố khác, một
yếu tố không được bảo vệ có thể gây ảnh hưởng xấu đến các yếu tố khác và như thế
môi trường sẽ bị ô nhiễm.
Nếu ĐNNo không có được môi trường trong sạch, hiệu quả sử dụng đất nói
chung sẽ giảm sút đáng kể. Chúng ta có thể thấy nếu đất đai bị ô nhiễm hậu quả tất
yếu là nguồn nước bị ô nhiễm, không khí bị ô nhiễm, môi trường sống bị ô nhiễm
Con người khai thác đất đai không có ý thức thường chỉ xét đến các lợi ích trước mắt
mà không thể nhìn thấy được lợi ích lâu dài. Điều này càng lành suy giảm môi
trường của cuộc sống hơn.
7
Tuy nhiên, con người có thể tác động lên đất đai theo hai mặt: một mặt tiêu
cực làm ĐNNo và môi trường xấu đi. Một mặt tích cực làm ĐNNo và môi trường tốt
lên.
Con người - chủ thể của hoạt động kinh tế - xã hội hoàn toàn có thể tạo ra môi
trường trong sạch cho đời sống của bản thân và cộng đồng bằng những hành vi tích
cực: dùng phân bón hợp lý, không phá rừng ồ ạt, không bỏ hoang hoá, khai thác đất
đai hợp lý, năng suất, hiệu quả Những hành động này làm một trong những tác
nhân quan trọng trong bảo vệ môi trường nói chung và ĐNNo nói riêng. Tuy nhiên,
môi trường trong sạch là đóng góp chung của toàn xã hội, của toàn cầu, của cả thế
giới, của cả cộng đồng loài người không phải là nhiệm vụ của riêng ai. Do đó, cần có
sự nỗ lực chung và một chiến lược hợp tác, giúp đỡ, làm việc có hệ thống trên tầm
quốc tế.
2.1.2.3. Đất nông nghiệp là nguồn cung cho các mục đích sử dụng
Như ADam Smith đã nhận định “đất đai, trong hầu hết các tình huống sản
sinh ra một lượng lương thực nhiều hơn so với khối lượng đủ để duy trì sự sống của
người lao động”.
Nói như vậy có nghĩa là ĐNNo có thể sản sinh ra một lượng sản phẩm thừa
đủ để cung cấp cho bản thân người nông dân sản xuất, một phần sản phẩm dư thừa
còn lại sử dụng vào đâu? trong xã hội, quá trình trao đổi mua bán xảy ra và sản phẩm
dư thừa được người sản xuất đưa ra thị trường cung cấp cho xã hội, các cá nhân
khác. Cùng với khoa học công nghệ càng phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ
và kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp ngày càng nhanh và mạnh theo cả chiều sâu
(khoa học và công nghệ áp dụng hiệu quả, ngày càng mạnh, càng hiện đại) và chiều
rộng (khóa học công nghệ áp dụng vào hầu hết các công đoạn, các giai đoạn sử dụng
đất, trên diện tích rộng, hầu khắp). Dựa trên sức sản xuất của ĐNNo và khoa học
công nghệ, con người có thể tạo ra một khối lượng lớn hơn nữa các sản phẩm nông
nghiệp. Như vậy con người không cần phải sử dụng một diện tích quá lớn để sản
xuất ra sản phẩm đầy đủ cho đời sống, họ có thể sử dụng một diện tích nhất định
cũng đã đủ cung cho nhu cầu của xã hội. Diện tích ĐNNo cần sử dụng cho quá trình
sản xuất so với trước kia giảm xuống, Diện tích ĐNNo dôi ra dùng vào đâu?
Quá trình phát triển của nền sản xuất xã hội, ngành sản xuất công nghiệp và
dịch vụ ngày càng mở rộng. Nhu cầu đất đai phục vụ cho mục đích sản xuất công
nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên. Quá trình chuyển dịch cơ cấu đất đai cho các
mục đích sử dụng của con người cũng xảy ra sao cho phù hợp. ĐNNo sẽ là nguồn
8
cung quan trọng cho các mục đích sử dụng khác quỹ ĐNNo được cắt để phân bổ cho
mục đích sử dụng khác. Đối với nước ta là một nước đang phát triển, nền kinh tế còn
phụ thuộc nhiều vào nền sản xuất nông nghiệp do vậy diện tích ĐNNo còn chiếm tỷ
trọng lớn trong quỹ đất của quốc gia. Tuy có diện tích khá lớn khoảng 33.105,1
nghìn Ha (năm 2009) nhưng ĐNNo chưa được khai thác đúng mức, hiệu quả và năng
suất còn thấp, thu nhập bình quân đầu người còn ở mức thấp so với thế giới. Vì vậy,
cần thiết phải chuyển một số diện tích ĐNNo sang mục đích khác nhằm mang lại
hiệu quả cao hơn. Trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hóa của đất nước, cơ
cấu nền kinh tế đang chuyển đổi mạnh mẽ từng ngày, diện tích đất cần cung cấp cho
mục đích xây dựng, giao thông, đất ở, đất khu công nghiệp, thương mại gia tăng
nhanh chóng. Quỹ ĐNNo là một nguồn cung quan trọng cho các mục đích sử dụng
đất khác cho nên một diện tích lớn ĐNNo đã và sẽ được chuyển sang mục đích phi
nông nghiệp đã mang lại những hiệu quả lớn lao cho đất nước. Tuy nhiên, sự chuyển
đổi này cần phải có tính toán và có quy hoạch rõ ràng, thực tế và mang tính dự báo
cao. Trong hệ thống các điều khoản của Pháp luật nước Việt Nam đã có những quy
định chặt chẽ cho các trường hợp điều chỉnh các quỹ đất nhằm cân đối các nhu cầu
và bảo đảm diện tích ĐNNo cần thiết của xã hội.
2.1.3. Đặc điểm, phân loại đất nông nghiệp
ĐNNo là một bộ phận của tổng quỹ đất, Nó có đặc điểm chung của đất đai
đồng thời có những đặc điểm riêng của nó,
2.1.3.1. Đất nông nghiệp không tự sinh ra và có khả năng tái tạo
Quá trình hình thành đất đai là quá trình của tự nhiên, đó là một quá trình dài,
diễn ra liên tục dưới sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau, không thể ngày một
ngày hai mà có khi là cả hàng ngàn hàng vạn năm mới hình thành nên được đất đai
trên bề mặt trái đất. Đất đai được hình thành với một số lượng hạn chế trên toàn cầu
và phạm vi từng quốc gia, đất đai phải chịu chi phối bởi nguồn gốc hình thành, đá
mẹ, các hệ sinh thái, khí hậu, chế độ mưa nắng Con người không thể tạo ra đất đai,
ĐNNo quá trình hình thành nên đất đai là một quá trình tự nhiên qua thời một
khoảng thời gian dài, năng lực của con người không đủ để tạo ra đất đai. Chính vì
vậy mà ta có thể nói ĐNNo không thể tái sinh.
Tuy nhiên, con người tác động vào ĐNNo theo hai hướng khác nhau: tích cực
và tiêu cực. Quá trình tác động theo chiều hướng tích cực sẽ góp phần rất lớn vào
cải tạo và nâng cao chất lượng ĐNNo, khắc phục được hiện tượng hoang hoá, khôi
phục và nâng cao độ phì nhiêu của ĐNNo, tạo ra một diện tích ĐNNo mới cho sản
9
xuất. Như vậy nếu biết cách gìn giữ và sử dụng thì đất đai vẫn có thể tái tạo lại, thực
tế cũng đã chứng minh điều đó.
Qua đây, có thể kết luận đất đai nói chung và ĐNNo nói riêng có tính hai mặt:
không thể tái sinh nhưng có khả năng tái tạo, Tính hai mặt này rất quan trọng trong
quá trình sử dụng đất, Một mặt, con người sử dụng ĐNNo phải hết sức tiết kiệm,
xem xét kỹ lưỡng, cẩn thận khi phân bố, sử dụng, chuyển mục đích sử dụng các loại
đất, Một mặt, phải luôn chú ý ứng dụng tiến bộ KH-KT để tăng khả năng phục hồi
sức sản xuất và tái tạo ĐNNo, phục hồi đất hoang hoá đưa vào sử dụng , Trong quá
trình sử dụng con người phải luôn biết cách khai thác ĐNNo, không vắt kiệt khả
năng sản xuất của ĐNNo
2.1.3.2. Tính sở hữu và sử dụng
Có một thời xã hội loài người không có sự phân hóa, cuộc sống bầy đàn mọi
sản vật tìm được đều là của chung của toàn cộng đồng, ngay cả đất đai. Đất đai là sở
hữu chung của cả bầy đàn, cộng đồng. Cùng với sự phát triển của xã hội chế độ sở
hữu và chiếm hữu đất đai cũng phát triển theo. Chế độ chiếm hữu ruộng đất đã biến
quyền sở hữu đất đai từ sở hữu chung của tập thể bầy đàn thành sở hữu tư nhân.
Cùng với quá trình thương mại hoá nền nông nghiệp thì việc chia nhỏ quyền sở hữu
ĐNNo và quyền sở hữu tư nhân về đất đai cũng là một tất yếu dĩ nhiên dẫn đến quá
trình bần cùng hoá nông dân những người luôn cần đến đất đai như là một tư liệu lao
động, đối tượng lao động trực tiếp. Người nắm trong tay đất đai là người có nhiều
quyền lợi kinh tế lớn nhất trong nền sản xuất xã hội, song song với nó người sở hữu
đất đai còn nắm quyền lực về mặt chính trị. Kẻ không có đất đai chỉ là kẻ làm thuê,
làm công bị tách ra khỏi tư liệu sản xuất mất đi tư liệu sản xuất. Và như vậy, trong xã
hội xuất hiện sự tách biệt giữa người sở hữu ĐNNo và người sử dụng đất ĐNNo,
người sở hữu ĐNNo giờ đây không phải là người lao động trực tiếp mà trao quyền
sử dụng đó cho các đôi tượng khác qua các hình thức cho thuê đất, giao đất.
Ở nước ta ngay sau ngày đất nước được giải phóng năm 1945 đất nước bước
đầu tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc; và cho tới nay pháp luật nước Cộng hoà
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nanh đã quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà
nước làm đại diện chủ sở hữu”, Nhà nước thể hiện vai trò của mình thông qua việc
- Quyết định mục đích sử dụng đất
- Quy định hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất
- Quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
10
- Định giá đất (Trích luật đất đai năm 2003)
Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi có từ ĐNNo thu được bằng
các chính sách tài chính về ĐNNo như: chính sách thuế sử dụng ĐNNo, chính sách
quy định về tiền thuê ĐNNo, thuế thu nhập khi chuyển quyền sử dụng ĐNNo. , . Là
người đại diện chủ sở hữu ĐNNo trên cả nước nhưng Nhà nước không phải là người
trực tiếp sử dụng ĐNNo, Nhà nước trao quyền sử dụng ĐNNo cho những người có
nhu cầu sử dụng ĐNNo thông qua hình thức: giao đất, cho thuê đất. Người sử dụng
trực tiếp ĐNNo, được Nhà nước ban một số quyền đối với ĐNNo như: sử dụng, định
đoạt. Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đã tạo ra nhiều thuận lợi cho công tác QLNN
về đất đai nói chung và QLNN về ĐNNo nói riêng, Nhà nước có thể thu hồi, điều
chỉnh, giao đất, quyết định mục đích sử dụng của đất đai sao cho phù hợp với yêu
cầu của sự phát triển. Khi cần thu hồi, lấy lại ĐNNo Nhà nước có thể bồi thường cho
cá nhân, tổ chức sử dụng đất tiền bồi thường thiệt hại, nếu người sử dụng đất không
chấp nhận với mức đền bù, hay vì lý do khác thì Nhà nước có quyền cưỡng chế đối
với trường hợp đó.
2.1.3.3. Đất nông nghiệp có tính đa dạng và phong phú
Trên bề mặt trái đất, đất đai nói chung và ĐNNo nói riêng được hình thành
nhờ vào quá trình phong hoá đá mẹ, đá mẹ là nguồn gốc sinh ra đất đai. ĐNNo được
tạo ra mang những tính chất khác nhau phụ thuộc nhiều vào lớp đá mẹ tạo ra lớp
ĐNNo đó. Chính vì vậy mà chúng ta có những loại ĐNNo khác nhau như: đất phù
sa, đất đỏ bazan, đất sét thịt, đất cát Thiên nhiên tạo ra rất nhiều loại ĐNNo khác
nhau có tính chất và đặc điểm khác nhau đặc trưng riêng của mỗi loại.
Thậm chí trong một loại ĐNNo, không phải ở đâu loại đất đó cũng giống
nhau, có nơi đất đó tốt hơn, có nơi lại xấu hơn, thành phần cơ giới, độ phì nhiêu của
chúng là khác nhau. Ví dụ như: ĐNNo do phù sa Sông Hồng thường mang tính chất
cơ giới nhẹ, nhiều kiềm. Phù sa Sông Cửu Long thường mang tính chất cơ giới nặng
hơn phù sa Sông Hồng, Dựa trên tính chất đặc biệt của mỗi loại đất và sự phù hợp
của khí hậu, điều kiện tự nhiên của địa phương nơi ĐNNo phân bố mà con người lựa
chọn loại hình canh tác, cây con giống, chế độ luân canh, tưới tiêu sao cho phù hợp
mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nữa. Tính đa dạng và phong phú của ĐNNo vì thế
cũng mang lại nhiều lợi ích cho con người. Mỗi một địa phương một loại đất, một
tính chất khác nhau lại có luồng sản phẩm khác nhau, phù hợp và như thế con người
sẽ có nhiều sản phẩm nông nghiệp đa dạng và phong phú hơn. Một số vùng có thể
11
hình thành nên nền sản xuất chuyên canh cây, con đặc sản mà không vùng nào có thể
có được mang lại giá trị kinh tế cao.
2.1.4. Phân loại đất nông nghiệp
Phân loại ĐNNo là một việc làm quan trọng cho công tác sản xuất và quản lý
ĐNNo. Dựa vào sự phân loại đó con người có thể xác định được mục tiêu sản xuất,
cây con giống phù hợp, chế độ chăm sóc hợp lý. Có rất nhiều tiêu chí khác nhau để
phân chia ĐNNo. Có thể phân chia ĐNNo dựa vào: mục đích sử dụng, tính chất đất,
độ PH, thành phần cơ giới
Theo luật đất đai năm 2003 điều 13 quy định: đất đai chia làm ba nhóm: nhóm
ĐNNo, nhóm đất phi nông nghiệp, nhóm đất chưa sử dụng, Trong đó ĐNNo: Đất
trồng cây hàng năm, Đất trồng cây lâu năm, Đất lâm nghiệp, Đất nuôi trồng thuỷ sản,
Đất làm muối, ĐNNo khác theo quy định của chính phủ.
Ta có thể nhận thấy sự thay đổi rất lớn giữa cách phân loại đất của luật Đất
đai năm 1993 và luật Đất đai năm 2003, Luật đất đai năm 2003 đâ quy định chi tiết
và cụ thể hơn, các loại đất đã được phân chia theo đúng mục đích sử dụng. Sự thay
đổi có thể thấy rõ, một số loại đất chuyên dùng và ĐNNo nay chuyển sang đất phi
nông nghiệp nông nghiệp. Sự đổi mới này thể hiện một tư duy mới tránh xảy ra sự
trùng lặp, chồng chéo trong phân chia các loại đất như trước đây.
Ngoài ra, việc phân chia ĐNNo còn theo nhiều cách khác nhau, dựa trên
những tiêu chí khác nhau. Ví dụ, phân chia ĐNNo dựa trên đặc tính đất đai, thổ
nhưỡng của đất đai. Hay ta có thể phân chia ĐNNo theo phân bố vị trí địa lý, tính
chất màu mỡ của đất đai, độ phì nhiêu của ĐNNo Ta có ĐNNo phân bố ở đồng
bằng, ĐNNo phân bố ở miền trung du, ĐNNo có tính chất màu mỡ cao, ĐNNo độ
phì thấp, ĐNNo có tính chất màu mở trung bình
2.1.5. Khái quát Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
QLNN là sự tác động một cách có tổ chức, hệ thống nhằm mục đích điều
chỉnh các hành vi của con người, tổ chức, cá nhân bằng quyền lực của Nhà nước
để hướng ý chí và mục đích của họ theo mục đích chung của toàn xã hội. Nhà nước
tác động lên các đối tượng thông qua công việc thiết lập các mối quan hệ xã hội,
quan hệ giữa con người với con người, giữa các tập thể với nhau, quan hệ giữa cá
nhân với tập thể các mối quan hệ tồn tại trong xã hội là rất nhiều, tất cả các mối
quan hệ đó đều cần phải được điều chỉnh để lợi ích của người này không làm xâm
phạm lợi ích của người khác, đảm bảo được lợi ích của đất nước.
12
Trước hết Nhà nước vừa là một cơ cấu có tổ chức bao gồm một hệ thống các
cơ quan từ trung ương đến địa phương. Tính tổ chức đặt ra vấn đề là làm sao hình
thành nên các tổ chức, bộ máy quản lý với cơ cấu và cơ chế hoạt động thích hợp. Các
tổ chức, bộ máy đó hoạt động như thế nào? Sự phối hợp hoạt động, phân chia quyền
hạn, trách nhiệm giữa các cá nhân tổ chức như thế nào để bộ máy Nhà nước quản lý
mang lại hiệu quả tối ưu đạt được mục tiêu đã đề ra?. Đó là một vấn đề lớn đối với
công tác tổ chức bộ máy QLNN.
Nhà nước còn tạo lập nên bộ máy sức mạnh về pháp luật, an ninh, bộ máy
pháp chế để thực hiện công tác quản lý của mình, đưa cá nhân, tổ chức vào đúng
quỹ đạo, hoạt động trong khuôn khổ phục vụ lợi ích cá nhân mà lợi ích đó không gây
ảnh hưởng xấu đến xã hội. Sự tồn tại của bộ máy pháp chế trong cơ cấu các cơ quan
chức năng quản lý là một tất yếu khách quan, đó là điều kiện cần thiết để thực hiện
nhiệm vụ quản lý trong những trường hợp cần thiết
QLNN còn được thể hiện ở quan hệ chủ thể và khách thể và đối tượng quản
lý. Chủ thể của sự QLNN là bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương, tỉnh,
thành, phường, xã… và toàn bộ các cán bộ công nhân viên chức của Nhà nước làm
việc trong công tác QLNN. Khách thể quản lý là các công dân, tổ chức, các thành
phần kinh tế, xã hội: . . Đối tượng của công tác QLNN là các quá trình kinh tế, các
hoạt động, các mối quan hệ có liên quan. Riêng trong lĩnh vực QLNN về đất đai chủ
thể QLNN về đất đai (cụ thể ở đây là ĐNNo) thì Nhà nước đóng vai trò là chủ thể
quản lý, khách thể của sự quản lý là các cá nhân tổ chức, doanh nhân, doanh nghiệp
sử dụng ĐNNo, có liên quan đến ĐNNo. Và đối tượng của công tác QLNN về
ĐNNo là những mối quan hệ phát sinh, những vướng mắc, vấn đề có liên quan đến
ĐNNo xảy ra trong xã hội.
2.1.6. Sự cần thiết Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu đất đai thay đổi theo hướng chuyển dịch
của cơ cấu nền kinh tế. Vì vậy, trong tổng quỹ đất không đổi thì ĐNNo có chiều
hướng giản dần diện tích do phải chuyển mục đích sử dụng sang các loại đất khác
(đất dùng cho công nghiệp, đất dùng vào mục đích thương mại, đất ở ). Xu hướng
là khách quan nhưng không thể phủ nhận được vai trò của ĐNNo trong đời sống của
con người ngày nay. Tổng quỹ đất của mỗi quốc gia phải luôn có một quỹ ĐNNo cần
thiết với mục đích đảm bảo an ninh lương thực của quốc gia cũng như các nhu cầu
khác về nông sản cho xã hội.
13
Đứng trước sức ép của sự phát triển kinh tế, ĐNNo phải được sự quản lý và
sử dụng hợp lý để không còn việc sử dụng tràn lan nếu không có thể dẫn đến những
hậu quả khôn lường, không những ảnh hưởng đến thế hệ này mà còn ảnh hưởng đến
thế hệ sau, dẫn tới nguy cơ phá huỷ sự phát triển bền vững của thế giới.
Theo thống kê của Liên Hợp Quốc hàng năm có hàng vạn ha ĐNNo bị
hoang hoá, bị sa mạc hoá, mất tính canh tác, bị bỏ không không ai canh tác. Mỗi giây
đồng hồ trôi qua có gần 20 ha bị hoang hoá, sa mạc hoá, Đây là một mối đe doạ lớn
đối với quỹ ĐNNo trên thế giới.
Ngay ở nước ta, sau đại hội Đảng lần thứ VI (1986) Đảng và Nhà nước ta đã
đề ra nhiều chủ trương, chính sách, phương hướng và giải pháp phát triển và đổi mới
cho đất nước. Sau hơn 20 năm đổi mới đất nước bước đầu đã thu được rất nhiều
thắng lợi như: GDP đầu người không ngừng tăng lên, thu nhập bình quân đầu người
tăng, tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 7% trở lên, thoát khỏi đói nghèo, đói ăn Từ một
đất nước đói nghèo, sống nhờ vào viện trợ của nước ngoài trở thành một đất nước
xuất khẩu gạo đứng nhất nhì thế giới, lương thực không những đủ để cung cấp trong
nước mà còn thoả mãn nhu cầu xuất khẩu nông phẩm. ĐNNo là một tiềm lực to lớn
mang lại cho toàn dân tộc ta nhiều lợi thế phù hợp với truyền thống lao động phong
tục tập quán, trình độ phát triển nếu biết cách khai thác và sử dụng sẽ là một tài
nguyên vô giá cho sự phát triển của đất nước.
Nhà nước chủ thể quản lý của xã hội, phải QLĐĐ nói chung và ĐNNo nói
riêng một cách hợp lý, có các chế tài mới phù hợp với xu thế hội nhập để có được
hiệu quả sử dụng tối ưu, lâu dài, bền vững đảm bảo được nền độc lập dân tộc, phát
triển kinh tế. Trong các chế tài QLNN đã có và đang dần hoàn thiện những quy định
liên quan đến yếu tố nước ngoài giúp cho quá trình hội nhập của nước ta.
Thực tế cho thấy, công tác QLNN về đất đai nói chung và ĐNNo nói riêng
đã đạt được nhiều bước tiến đáng kể trong suốt thời gian qua. Đó là những tiền đề
thuận lợi cho công cuộc cải cách hành chính, nâng cao chất lượng của công tác
QLNN về ĐNNo phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn nữa.
2.1.7. Nội dung công tác Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
Theo luật đất đai 2003 nội dung của công tác QLNN về đất đai nói chung
gồm có 13 nội dung. Tuy nhiên, đối với ĐNNo là một bộ phận của tổng quỹ đất đai,
nó mang những đặc thù riêng biệt, chính vì vậy mà nội dung của công tác quản lý
của Nhà nước về ĐNNo cũng có nhiều khác biệt. Công tác QLNN về ĐNNo có thể
khái quát ở các nội dung sau:
14
2.1.7.1. Ban hành văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất nông nghiệp
và tổ chức thực hiện văn bản đó.
Để đảm bảo được vai trò quản lý của mình, bất kỳ một Nhà nước nào cũng
tan ra và thực thi một chế tài phù hợp. Những chế tài này là tiền đề, hàng lang cho
lĩnh vực áp dụng. Không có một quốc gia nào có thể có được hiệu quản quản lý mà
không cần đến chế tài. Ngay cả ở nước ta, hệ thống văn bản điều chỉnh các mối quan
hệ đất đai nói chung và ĐNNo nói riêng rất đa dạng. Đó là những công cụ để Nhà
nước thực hiện được quyền quản lý của mình.
2.1.7.2. Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất nông nghiệp, lập bản
đồ hiện trạng và bản đồ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp có nhiều loại, tính chất, vùng miền khác nhau chúng được
sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau Để có một cơ chế quản lý phù hợp, có được
định hướng, quy hoạch và kế hoạch phù hợp với địa phương, tỉnh, thành phố, cả
nước. Việc đầu tiên bắt buộc Nhà nước phải nắm được các thông tin về đất nông
nghiệp như: Diện tích, loại đất tình hình sử dụng, phân bố, mục đích sử dụng,
Những thông tin này sẽ đóng góp rất lớn cho công tác QLNN về đất đai nói chung và
ĐNNo nói riêng
Đối với ĐNNo, để quản lý được ĐNNo một cách có hệ thống Nhà nước
cũng cần những thông tin về ĐNNo: diện tích, tình trạng sử dụng, mục đích sử dụng
(trồng cây ngắn ngày, dài ngày ). Từ những thông tin về ĐNNo người quản lý có
được kế hoạch sử dụng hợp lý và cho ra những quyết định sử dụng đứng đắn, phải
thu thập tiếp những thông tin về ĐNNo để biết được tình hình ĐNNo đang diễn biến
như thế nào từ đó có những điều chỉnh, sửa đổi kế hoạch, quy hoạch, pháp luật đất
đai Chính vì vậy, Nhà nước phải tiến hành khảo sát đo đạc đánh giá, phân hạng
ĐNNo, lập bản đồ hiện trạng và bản đồ quy hoạch sử dụng ĐNNo.
2.1.7.3. Lập, quản lý và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông
nghiệp
Bất kể quốc gia nào cũng cần có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói chung
và ĐNNo nói riêng. Đứng trên cương vị là cơ quan QLNN về đất đai nói chung và
ĐNNo nói riêng. Nhà nước là người tiến hành lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
cho các vùng, lãnh thổ, ngành Xét trên phạm vi quy hoạch thì quy hoạch, kế hoạch
sử dụng ĐNNo có thể được lập cho một huyện, thành phố, vùng, cả nước. Công tác
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định rất rõ và cụ thể trong luật Đất đai
2003 từ Điều 21 đến Điều 30.
15
Kế hoạch sử dụng ĐNNo được lập theo kỳ kế hoạch, và phải dựa trên
QHSDĐ đã được ban hành, phù hợp với sự phát triển khoa học công nghệ Trong
quá trình thực hiện kế hoạch sử dụng đất nếu cần phải đánh giá và điều chỉnh cho
phù hợp với phương hướng phát triển KT-XH của địa phương thì phải tiến hành
chỉnh sửa sao cho phù hợp.
2.1.7.4. Công tác giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
nông nghiệp
Công tác giao đất, cho thuê đất “Giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử
dụng đất bằng quyết định hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất” “Cho
thuê đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp đồng cho đối tượng có
nhu cầu sử dụng đất”
Ngoài ra, khi có nhu cầu chuyển đổi giữa hình thức giao đất hay cho thuê
đất, người sử dụng đất có thể xin phép chuyển đổi hình thức.Thời hạn sử dụng đất
còn lại được tính theo quy định của pháp luật.
2.1.7.5. Chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp.
Khi sử dụng ĐNNo người sử dụng ĐNNo được quyền chuyển đổi mục đích
sử dụng đất khi thấy cần thiết, Nhà nước quy định ở trong luật Đất đai năm 2003.
Đây là một biện pháp QLNN về đất nông nghiệp, tạo điều kiện cho người sử dụng
ĐNNo có điều kiện linh hoạt trong cách sử dụng, nâng cao hiệu quả của đất nông
nghiệp, đồng thời, Nhà nước cũng phải nắm được những biến động của ĐNNo, nắm
bắt được tình hình đất nông nghiệp trong cả nước, chính vì vậy công tác QLNN về
ĐNNo sẽ thuận lợi, hiệu quả hơn rất nhiều.
2.1.7.6. Thu hồi đất nông nghiệp
Theo luật Đất đai năm 2003 “thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành
chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã,
phường, thị trấn quản lý theo quy định của pháp luật”. Việc thu hồi đất là một vấn đề
rất phức tạp ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của dân cư, hộ gia đình, cá nhân, tổ
chức Vì vậy công tác này cần được làm triệt để, khoa học và chính xác đảm bảo
tính công bằng tránh thất thoát nguồn vốn của Nhà nước.
Việc thu hồi đất là để tận dụng nguồn lực của đất đai nói chung và ĐNNo nói
riêng. Mục đích trước hết của việc thu hồi đất là phục vụ cho lợi ích quốc gia, cộng
đồng. Chính phủ ban hành Nghị định 197/2004/CP ngày 03/12/2004 về bồi thường,
hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, trường hợp mà ĐNNo đang sử dụng
16
vượt hạn mức được giao, ĐNNo nhận giao khoán khi bị thu hồi được quy định
trong điều 10 Nghị định 197/2004/NĐ-CP.
2.1.7.7. Thống kê, kiểm kê đất nông nghiệp
Việc thống kê đất đai được thực hiện hàng năm, mỗi năm thực hiện một lần
phục vụ cho tình hình QLĐĐ. Qua công tác thống kê Nhà nước nắm bắt tình hình
thực tế của địa phương, tỉnh thành, cả nước, có được thông tin về các loại đất (diện
tích, phân bổ, tình hình sử dụng, )
Trách nhiệm về thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai thuộc về UBND các cấp
tổng hợp báo cáo kết quả thống kê, kiểm kê đất đai lên Bộ Tài nguyên và Môi
trường. Bộ Tài nguyên và Môi trường báo cáo lên chính phủ kết quả thống kê hàng
năm, kết quả thống kê hàng năm của cả nước. Chính phủ báo cáo Quốc hội kết quả
kiểm kê đất hàng năm đồng thời kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cả nước.
2.1.7.8. Công tác đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
nông nghiệp
“Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý xác nhận mối quan
hệ giữa người sử dụng đất và Nhà nước, công nhận quyền sử dụng hợp pháp của
người sử dụng đất, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất hợp
pháp”.
Các cá nhân tổ chức, hộ gia đình sử dụng đất hợp pháp được Nhà nước cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với ĐNNo người dân làm hồ sơ đăng ký với
cơ quan Nhà nước có chức năng có thẩm quyền, người được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất được phép toàn quyền sử dụng đất, trên mặt pháp lý họ là người
chủ duy nhất được thừa nhận quyền sở hữu và được trao, bảo vệ những quyền, lợi
ích chính đáng bởi pháp luật Nhà nước.
Nói chung những quy định về việc đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng ĐNNo được quy định rất chi tiết và đầy đủ trong luật Đất đai năm 2003. Việc
đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ĐNNo là một công tác được Nhà nước
ta chú ý và được triển khai khá sớm ở nước ta, kết quả mang lại đã được công nhận.
2.1.7.9. Thực hiện công cụ tài chính trong công tác quản lý nhà nước về
đất nông nghiệp
Công cụ tài chính là một trong những biện pháp của Nhà nước ban hành ra
nhằm phân phối lại lợi ích của các bên thân gia trong các mối quan hệ liên quan đến
đất nông nghiệp. Việc thực thi công cụ tài chính trong quản lý sử dụng ĐNNo phải
17
đảm bảo được các yêu cầu mà Nhà nước đặt ra để phục vụ cho công tác quản lý,
nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Việc thu tài chính đất đai nói chung và ĐNNo nói riêng phải tuân theo quy
định của pháp luật. Việc thu tiền sử dụng đất phải căn cứ vào diện tích, thời hạn sử
dụng đất, khung giá đất tương ứng, tuân theo các văn bản hướng dẫn như: thông tư
117/2004/TT-BTC (ngày 07/12/2004), nghị định 198/2004/NĐ- CP. Nghị định
74/NĐ-CP ngày 25/10/1993 quy định chi tiết thi hành luật thuế sử dụng ĐNNo.
2.1.7.10. Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật của người
dân sử dụng đất nông nghiệp và của cơ quan Quản lý nhà nước về đất đai
Thanh tra việc QLNN về đất nông nghiệp của UBND các cấp, Thanh tra việc
chấp hành pháp luật về đất nông nghiệp của người dân, tổ chức, cá nhân. Việc thanh
tra đất đai đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm, nghiệp vụ và lực
lượng thanh tra đủ lớn, Mục đích của công tác thanh tra là mang lại những thông
tin nhanh và chính xác về tình hình sử dụng đất đai phát hiện sớm những trường hợp
vi phạm để xử lý kịp thời, Mặt khác thanh tra đội ngũ thực hiện công tác QLNN để
phát hiện hành vi gian lận, tham ô, thanh lọc bộ máy, hạn chế, triệt tiêu hành động có
hại cho lợi ích xã hội, tư lợi cá nhân.
2.1.7.11. Công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong quản lý
và sử dụng đất nông nghiệp
Gần đây, dư luận đã dấy lên nhiêu vụ kiện tụng về đất đai, có vụ mang tính
tập thể khiếu kiện hang loạt, gây bức xúc xã hội, mất niềm tin của dân chúng. Hơn
nửa số đơn thư khiếu kiện là về lĩnh vực đất nông nghiệp đủ thấy tình hình sử dụng,
QLNN ở ta đang có vấn đề, giải quyết được tranh chấp, khiếu nại là rất khó khăn,
mất nhiều thời gian, hệ thống pháp luật phải đầy đủ hoàn thiện.
Nghị định 181/NĐ - CP quy định bổ sung những vấn đề về thẩm quyền giải
quyết tranh chấp, giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính, giải
quyết khiếu nại tố cáo. Tuy nhiên hệ thống văn bản hướng dẫn như thế là vẫn chưa
đủ, còn nhiều quy định mang tính chất chung chung không cụ thể khó khăn cho
người thực thi luật.
2.1.8. Bộ máy Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
Mỗi chế độ chính trị được thiết lập thì có một bộ máy quản lý khác nhau. Cơ
cấu tổ chức, phân công chức năng, quyền hạn của bộ máy quản lý đó cũng khác nhau
phù hợp với từng điều kiện cụ thể của đất nước, đối với nước ta chế độ sở hữu đất
18