Tải bản đầy đủ (.doc) (100 trang)

thực trạng việc làm phi nông nghiệp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (461.34 KB, 100 trang )

Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
MỤC LỤC
I. GIỚI THIỆU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài:
Công cuộc cải cách kinh tế ở Việt Nam hay còn gọi là đổi mới được khởi
xướng từ giữa những năm 1980 và đã mang lại những thay đổi căn bản trong
kinh tế xã hội khu vực nông thôn. Các chính sách giao đất cho nông dân, loại
bỏ những rào cản buôn bán trao đổi hàng hóa, khuyến khích đầu tư và phát
triển kinh tế tư nhân đã tạo đà cho sự phát triển của kinh tế nông nghiệp và
tiếp theo đó là sự phát triển các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp. Cùng với
sự phát triển của kinh tế thị trường, các hình thức hoạt động phi nông nghiệp
cũng phát triển mạnh mẽ và mang lại nhiều lợi ích cho người dân như tạo
việc làm, tăng thu nhập… Có nhiều quan điểm định nghĩa hoạt động phi nông
nghiệp nhưng cũng tương tự như quan điểm về phi nông nghiệp ở Việt Nam.
Theo quyết định số 132/2000/QĐ-Ttg của chính phủ Việt Nam ban hành
ngày 24/11/2000 về “Phát triển hoạt động phi nông nghiệp ở các vùng nông
thôn” có xác định rằng: “Hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn là tất cả
các hoạt động công nghiệp, các nghành thủ công hiệp vừa và nhỏ, các dịch
vụ sản xuất và đời sống được thực hiện ở khu vực nông thôn, sử dụng các
nguồn lực tại địa phương và có liên hệ mật thiết với phát triển đời sống nông
thôn”.
Theo số liệu tổng điều tra dân số năm 2009: 70% dân số nước ta đang
sống ở khu vực nông thôn, lao động nông thôn hiện chiếm 75% tổng lực
Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 1
Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
lượng lao động cả nước. Tính đến cuối năm 2010, lao động nông nghiệp
chiêm đến 48,2% lao động cả nước, nhưng chỉ chiếm 20,6% GDP, trong khi
đó lao động các ngành phi nông nghiệp chiếm chỉ 51,8% nhưng đã tạo ra đến
gần 80%, trình độ chuyên môn của lao động nông thôn còn thấp, hiện lao
động có việc làm và kỹ năng chuyên môn chỉ chiếm 16,8%, còn lại 83,2% là
lao động chưa qua đào tạo, chưa có trình độ chuyên môn kỹ thuật.


Cấu trúc việc làm phi nông nghiệp đang có những thay đổi theo chiều
hướng tiến bộ với tỉ trọng lao động làm công ăn lương, làm thuê chiếm tỉ lệ
quan trọng và có xu hướng gia tăng. Hoạt động phi nông nghiệp trên thực tế
đã tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho nông dân và hoạt động này đã góp
phần quan trọng cho công cuộc xóa đói giảm nghèo trong khu vực nông thôn.
Bên cạnh những thay đổi tích cực đó, cũng cần phải khẳng định rằng 1
bộ phận khá lớn lao động trong nông thôn vẫn chưa có việc làm và thời gian
lao động nhàn rỗi trong nông thôn vẫn chưa có những cải thiện rõ rệt. Khu
vực nông nghiệp đang có xu thế không tạo thêm công ăn việc làm mới và vì
vậy việc giải quyết vấn đề công ăn việc làm trong khu vực nông thôn sẽ tùy
thuộc sự mạnh mẽ và vào sự phát triển của các hoạt động phi nông nghiệp.
Trên thực tế, sự phát triển của kinh tế tư nhân, kinh tế hộ phi nông nghiệp
trong nông thôn việt nam còn khá mới mẻ và còn khá nhiều khó khăn do điều
kiện cơ sở hạ tầng còn yếu kém, nguồn nhân lực chưa được đào tạo, kĩ năng
kinh doanh hạn chế, các nguồn vốn kinh doanh thiếu thốn và hệ thống chính
sách chưa hoàn thiện. Chính những nhân tố này đã cản trở cho sự phát triển
của các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn hiện nay.
Xã Quang Phục - Huyện Tứ Kỳ - Tỉnh Hải Dương là một xã thuần nông,
người dân ở đây chủ yếu làm nông nghiệp là chính và đó là nguồn thu nhập
chính của hộ gia đình. Tuy nhiên, trong vài năm gần đây do sự phát triển của
Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 2
Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
kinh tế cũng như nhu cầu mà người dân có xu hướng chuyển dần sang sản
xuất phi nông nghiệp với nhiều hình thức khác nhau.Vì là 1 đơn vị nông thôn
mới chuyển từ nông nghiệp sang sản xuất phi nông nghiệp nên còn nhiều vấn
đề bất cập. Để tìm hiểu về vấn đề thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở đây
diễn ra như thế nào? Khả năng tiếp cận của hộ với việc làm phi nông nghiệp
và đưa ra những kiến nghị, giải pháp cho hoạt động phi nông nghiệp. Chính
vì vậy, nhóm chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Tìm hiểu thực trạng việc
làm phi nông nghiệp ở Xã Quang Phục - Huyện Tứ Kỳ - Tỉnh Hải Dương”.

Đề tài góp phần làm sáng tỏ thêm lý thuyết cấu trúc – chức năng về sự
phân tầng xã hội trong lĩnh vực “việc làm phi nông nghiệp của người dân ở
nông thôn”. Đề tài xem xét việc lựa chọn việc làm phi nông nghiệp dựa trên
yếu tố kinh tế, để đánh giá liệu có sự khác nhau trong việc lựa chọn việc làm
phi nông nghiệp giữa những người có điều kiện kinh tế khác nhau hay không;
ngoài ra còn dựa trên các yếu tố về trình độ văn hóa hay giới tính. Từ đó, lý
giải xem lý thuyết này có còn đúng, và có sự khác biệt nào trong trường hợp
này hay không. Đồng thời đề tài cũng góp phần làm sáng rõ thêm lý thuyết
“Tăng quyền lực và biện hộ” trong Công tác xã hội, thông qua những giải
pháp, kiến nghị của nhóm tác giả.
Đề tài này có thể làm tài liệu học tập cho những sinh viên ngành xã
hội học, cũng như những ai quan tâm đến vấn đề việc làm của người dân
nông thôn. Và chỉ ra thực trạng việc làm phi nông nghiệp tại địa bàn nông
thôn (cụ thể: thị tứ Quang Phục, xã Quang Phục – Huyện Tứ Kỳ - Tỉnh Hải
Dương), những yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận công việc, thuận lợi và
Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 3
Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
khó khăn; từ đó có thể đưa ra được những kiến nghị phù hợp để phát triển
nền kinh tế nông thôn.
Bên cạnh đó trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu cũng
góp phần nhỏ bé vào việc tác động vào nhận thức của người dân, chính quyền
địa phương để họ nhận diện vấn đề của chính họ và suy nghĩ cho riêng mình
những giải pháp thích hợp. Làm tài liệu tham khảo cho các đề tài sau.
1.2. Mục tiêu, đối tượng, khách thể nghiên cứu và nhiệm vụ
của đề tài:
1.2.1. Mục tiêu:
- Mục tiêu chung:
“ Tìm hiểu thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn - Nghiên
cứu trường hợp tại Xã Quang Phục - Huyện Tứ Kỳ - Tỉnh Hải Dương”.
- Mục tiêu cụ thể:

• Tìm hiểu các hình thức cơ bản việc làm phi nông nghiệp tại địa bàn
nghiên cứu.
• Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn việc làm phi nông nghiệp,
những thuận lợi và khó khăn của người dân tại địa bàn nghiên cứu.
• Khả năng tiếp cận đến việc làm phi nông nghiệp của hộ gia đình.
• Đưa ra 1 số kiến nghị và giải pháp.
1.2.2. Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
1.2.3. Khách thể nghiên cứu:
Người lao động sống tại thị tứ Quang Phục – Tứ Kỳ - Hải Dương
1.2.4. Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: do những giới hạn về nhân lực, thời gian và vật chất nên
trong khuôn khổ cho phép nhóm chỉ thực hiện điển cứu tại địa bàn thị tứ
Quang Phục – Xã Quang Phục – Huyện Tử Kỳ - Tỉnh Hải Dương.
Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 4
Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
Về thời gian: từ tháng 03/2012 – 04/2012.
1.3. Lý thuyết nghiên cứu:
1.3.1. Lý thuyết cấu trúc – chức năng về sự phân tầng xã hội:
Quan điểm của Max Weber:
Theo quan điểm của Max Weber thì sự phân tầng xã hội là biểu hiện của
tổ chức của quyền lực mang tính bất bình đẳng. Ông phân tích sự bất bình
đẳng dựa trên ba yếu tố chính: kinh tế, chính trị và xã hội. Trong đề tài này,
nhóm tác giả phân tích dựa trên yếu tố kinh tế. Max Weber sử dụng khái
niệm giai cấp để chỉ sự phân tầng trong xã hội (dựa trên yếu tố kinh tế): “Giai
cấp là những tập đoàn người rộng lớn, khác nhau về vị trí mà họ nắm giữ
trong hệ thống sản xuất xã hội nhất định, về mối quan hệ đối với tư liệu sản
xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động, xã hội, trình độ học vấn; và do
đó về phương thức và quy mô của cải mà họ được hưởng cũng khác nhau”.
Nhóm tác giả nghiên cứu sử dụng lý thuyết này trong đề tài của mình nhằm

đánh gia xem tại địa bàn nghiên cứu liệu có sự khác nhau trong việc lựa chọn
và khả năng tiếp cận việc làm phi nông nghiệp của các “giai cấp” – những
nhóm có điều kiện kinh tế khác nhau hay không. Từ đó, nhóm tác giả cũng
dùng lý thuyết để làm cơ sở để lý giải nếu có sự khác nhau đó.
1.3.2. Lý thuyết “tăng quyền lực và biện hộ”:
“Tăng quyền lực” là một quá trình trong đó cá nhân và nhóm có quyền
hành, tiếp cận được tài nguyên và kiểm soát đời sống bản thân để đạt được
mục tiêu cao nhất của riêng mình và của tập thể. Tăng quyền lực là nới rộng,
phát triển vốn và năng lực của cá nhân và tập thể để họ có thể tham gia,
Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 5
Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
thương thuyết, tác động, kiểm soát và nắm giữ những thể chế ảnh hưởng đến
đời sống của họ.
“Vận động và Biện hộ”: Thuật ngữ “Vận động và biện hộ” được hiểu là
một quá trình hành động tích cực có suy tính để giúp đỡ những người khác
đảm bảo quyền lợi của mình, đại diện cho lợi ích của họ tìm kiếm những dịch
vụ họ cần và bày tỏ quan điểm và ước vọng của họ.
Trong đề tài này, nhóm tác giả sử dụng lý thuyết “Tăng quyền lực” nhằm làm
cơ sở để hỗ trợ cán bộ địa phương và người dân nhận ra những vấn đề của
cộng đồng họ; tự cộng đồng đánh giá những khó khăn, thử thách mà mình
đang phải đổi mặt để chính họ có được những giải pháp tích cực, cũng như
nói lên tiếng nói của bản thân “Vận động và Biện hộ” được sử dụng nhằm
làm cơ sở để đề ra những kiến nghị phù hợp.
1.3.3. Lí thuyết sinh kế:
Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái
niệm phát triển vào những năm đầu 1990. Tác giả Chambers và Conway
(1992) định nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững bao gồm
con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản
của họ. Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư
nợ và cơ hội. Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa

phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến
sinh kế khác. Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc
hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai.
Lý thuyết sinh kế chú trọng đến việc phân tích khả năng tiếp cận và phát
triển bền vững của người dân theo 5 yếu tố nguồn vốn: con người, xã hội, vật
Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 6
Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
chất, tài chính, tự nhiên kết hợp với việc xem xét các yêu tố bao trùm như bối
cảnh dễ bị tổn thương và hệ thống chính sách.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong đề tài này nhóm tác giả kết hợp sử dụng cả hai phương pháp
nghiên cứu xã hội học và phương pháp PRA (nghiên cứu có sự tham gia của
cộng đồng) . Trong đó để thu thập các thông tin định lượng nhóm tác giả sử
dụng công cụ phổ biến trong điều tra nghiên cứu xã hội học là sử dụng bảng
hỏi. Để thu thập thông tin định tính, nhóm tác giả sử dụng các công cụ: thu
thập thông tin sẵn có từ sách, báo, internet, những thông tin địa phương cung
cấp, quan sát, phỏng vấn sâu; và các công cụ của phương pháp PRA: thảo
luận nhóm, vẽ sơ đồ cộng đồng. Mỗi phương pháp, công cụ có một vai trò
riêng, đặc biệt quan trọng trong quá trình nghiên cứu của chúng tôi.
1.4.1. Phương pháp nghiên cứu xã hội học:
- Công cụ thu thập tư liệu sẵn có: nhằm phục vụ cho việc viết tổng
quan địa bàn nghiên cứu, tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài, tìm kiếm
các lý thuyết phù hợp, làm luận cứ để tổng kết vấn đề.
- Công cụ thu thập số liệu, thông tin bằng bảng hỏi. Trong quá trình
thực hiện, nhóm tác giả đã dựa trên tiêu chí về thu nhập, tiến hành điều tra
trong khu vực Thị Tứ: 14 mẫu thuộc hộ giàu, 8 mẫu thuộc hộ trung bình và 6
mẫu thuộc hộ nghèo. Nhóm tác giả không phát bảng hỏi trực tiếp mà thông
qua điều tra viên để thu thập thông tin.
Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 7
Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn

Đối
tượng
được chọn
Phương pháp
chọn mẫu
Lý do sử dụng
phương pháp
chọn mẫu
Động cơ của
phương pháp
thu thập thông
tin bằng bảng
hỏi.
Người dân đang
sinh sống tại thị
tứ Quang Phục
(22 mẫu).
Chọn mẫu chỉ
tiêu – phi xác
suất.
Vì không có sẵn
danh sách người
dân với mức thu
nhập trung bình,
nên nhóm quyết
định thực hiện
chọn mẫu phi
xác suất, với
phương pháp
chọn mẫu chỉ

tiêu, với tiêu chí
dựa vào thu
nhập: 6 mẫu
thuộc hộ giàu,
10 mẫu thuộc
hộ trung bình và
4 mẫu thuộc hộ
Để thu thập
những thông tin
về thực trạng
việc làm phi
nông nghiệp của
người dân; xem
xét các yếu tố
ảnh hưởng đến
việc lựa chọn
nghề nghiệp của
các hộ gia đình,
và yếu tố tài
chính có ảnh
hưởng gì đến
việc tiếp cận
việc làm phi
nông nghiệp của
Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 8
Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
nghèo. người dân tại
địa bàn nghiên
cứu.
Nhóm tác giả sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu bằng phần mềm

SPSS để xử lý số liệu thu được.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Trong quá trình lấy thông tin từ địa
phương, nhóm tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu 4 đối tượng là người dân
đang sinh sống và làm việc phi nông nghiệp tại địa bàn thị tứ Quang Phục –
Xã Quang Phục, Huyện Tứ Kỳ, Tỉnh Hải Dương.
Đồng thời nhóm tác giả cũng đã tiến hành phỏng vấn sâu với cán bộ địa
phương: Bác Lê Xuân Lựa – Bí thư chi bộ.
Đối
tượng
chọn mẫu
Động cơ của việc
thu thập thông tin
thông qua phỏng
vấn sâu
Phương
pháp chọn
mẫu
Lý do của việc sử dụng
phương pháp chọn mẫu
Người dân
đang sống và
làm việc phi
nông nghiệp
tại địa bàn thị
tứ Quang
Phục.
Lấy thông tin việc
làm phi nông nghiệp
của gia đình. Tìm
hiểu về khả năng tiếp

cận (thuận lợi, khó
khăn) khi tham gia
việc làm phi nông
nghiệp của họ. Sự
quan tâm của chính
Chọn mẫu
chỉ tiêu – phi
xác suất. Với
số lượng 2
nam, 2 nữ
làm trong
các ngành
nghề phi
nông nghiệp
Số lượng đơn vị mẫu là
không nhiều do những điều
kiện khách quan và chủ
quan, nên thông tin thu được
còn mang tính chủ quan;
song trong điều kiện cho
phép nhóm chỉ thực hiện
phỏng vấn sâu được với số
lượng như vậy. Việc lựa
Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 9
Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
quyền địa phương và
những mong muốn
của người dân.
khác nhau. chọn nhiều khách thể có đặc
điểm khác nhau nhằm có cái

nhìn tổng quát và so sánh
được sự khác biệt trong quan
khả năng, mong muốn…, và
mang tính đại diện hiệu quả
hơn.
Đại diện
chính quyền
địa phương:
Bí thư chi bộ
Thị tứ Quang
Phục
Lấy thông tin về số
hộ gia đình, bao
nhiêu hộ làm nông
nghiệp, phi nông
nghiệp, quy mô của
hoạt động phi nông
nghiệp tại địa
phương. Tìm hiểu
các hình thức, đặc
điểm việc làm phi
nông nghiệp, những
yếu tố tác động đến
sự tham gia vào việc
làm phi nông nghiệp
của người dân nông
thôn tại địa bàn
nghiên cứu.
Chọn mẫu
chỉ tiêu – phi

xác suất. Với
chỉ tiêu là Bí
thư chi bộ
của địa bàn
nghiên cứu.
- Bí thư chi bộ là người đại
diện của Đảng Cộng sản
Việt Nam - không chỉ nắm
bắt được tình hình kinh tế,
xã hội của địa phương, mà
còn là người luôn quan tâm
đến đời sống, mong muốn
của người dân; bảo vệ quyền
lợi tốt nhất cho dân.
Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 10
Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
- Phương pháp quan sát:
Đối tượng quan sát Nơi quan sát Mục đích quan sát
- Gia cảnh của người
dân địa phương (vật
dụng, nhà cửa).
- Nhà ở. Tìm hiểu về điều kiện sống
của người dân, đánh giá xem
thu nhập từ ngành nghề hiện
tại có đem lại cho người dân
cuộc sống sung túc hay
không.
- Điều kiện tự nhiên,
xã hội của địa phương
- Địa bàn nghiên cứu Đánh giá điều kiện tự nhiên,

xã hội có thuận lợi để phát
triển các ngành nghề phi
nông nghiệp hay không và
ảnh hưởng đó như thế nào;
có thể điều chỉnh để mang
lại kết quả tốt hơn hay
không?
1.4.2. Phương pháp PRA:
Công cụ Đối tượng Cách làm Mục đích
Xếp hạng
các vấn đề
(mức độ
quan trọng
của các việc
làm phi
Nhóm cán
bộ địa
phương (4
người)
- Phát giấy cho từng
cá nhân trong nhóm
liệt kê các yếu tố =>
Cùng nhau thảo
luận cho điểm theo
mức độ
- Tìm hiểu các việc làm phi
nông nghiệp nào là phổ
biến nhất tại địa phương;
xác định những khó khăn
để tìm giải pháp khắc phục

và thuận lợi để phát huy.
Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 11
Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
nông
nghiệp, các
khó khăn,
thuận lợi)
Vẽ sơ đồ
cộng đồng
Nhóm
người dân
tại địa
phương
Họp nhóm mô tả
những điểm chính
về địa hình
Tìm hiểu địa bàn, đồng thời
xác định những thuận lợi,
khó khăn mang lại từ điều
kiện địa lý này.
1.5. Kết cấu của đề tài:
Ngoài các phần tổng quan và giới thiệu ra, đề tài có kết cấu chia làm hai
phần rõ rệt. Phần 1 là khái quát hình hình việc làm phi nông nghiệp tại xã
Quang Phục nhằm đánh giá một cách tổng thể về đặc điểm việc làm phi nông
nghiệp tại địa phương, cơ cấu lao động, sự hài lòng của người dân và hiệu
quả kinh tế của loại hình công việc này. Phần 2 sẽ đề cập đến sự tiếp cận của
người dân đối với việc làm phi nông nghiệp dựa trên việc phân tích theo
khung sinh kế bền vững tại địa phương.
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU:
II.1. Các khái niệm liên quan:

- Việc làm: Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa
ra rất nhiều định nghĩa nhằm làm sáng tỏ : “việc làm là gì? ”. Và ở các quốc
gia khác nhau do ảnh hưởng của nhiều yếu tố (như điều kiện kinh tế, chính
tr ị, luật pháp…) người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau. Chính vì
thế không có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm. Theo Bộ
Lao Động năm 1994 được bổ sung và sửa đổi 2002, 2006, 2007 quy định:
Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 12
Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
“Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị xã hội cấm đều được
thừa nhận là việc làm”.
- Việc làm nông thôn:Việc làm trong nông thôn là hoạt động có ích,
không bị pháp luật ngăn cấm nhằm tạo ra thu nhập hoặc lợi ích cho cá nhân
hoặc gia đình người lao động từ các công việc bao gồm các hoạt động sản
xuất nông nghiệp, phi nông nghiệp (công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ)
thường bắt nguồn từ kinh tế hộ gia đình diễn ra ở khu vực nông thôn và các
thành viên trong gia đình có thể tự chuyển đổi thay thế để thực hiện công việc
của nhau.
- Việc làm phi nông nghiệp:Việc làm phi nông nghiệp là hoạt động tạo
nên thu nhập trong khu vực nông thôn không phụ thuộc vào hoạt động nông
nghiệp cũng không phụ thuộc vào hoạt động có tính chất nguyên thủy trồng
trọt, đánh bắt, chăn nuôi… là tất cả các hoạt động công nghiệp vừa và nhỏ,
các dịch vụ sản xuất, đời sống, được thực hiện ở khu vực nông thôn, sử dụng
các nguồn lực ở địa phương (lao động, đất đai, nguyên liệu…)
- Khái niệm hộ gia đình:Hộ gia đình được hiểu là một nhóm người
cùng chung sống dưới một mái nhà. Hộ có thể là một người, có thể rất nhiều
người. Có thể là một tạp hợp toàn phụ nữ, nam giới hoặc trẻ em chung sống
với nhau do hoàn cảnh nào đó như học tập, lao động sản xuất, phân phối nhà
ở của cơ quan quản lý… Hộ cũng có thể là một gia đình hoặc một vài gia
đình.
- Khái niệm thu nhập:Thu nhập có thể hiểu là tổng số tiền mà một

người hay một gia đình kiếm được trong 1 ngày, 1 tuần hay 1 tháng… Thu
nhập gồm các yếu tố: nguồn thu nhập, mức độ ổn định/bất ổn định của thu
nhập, tổng thu nhập và thu nhập bình quân trong gia đình (theo kê khai của
chủ hộ).
II.2. Tổng quan tài liệu nghên cứu:
Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 13
Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
II.2.1. Thực trạng việc làm phi nông nghiệp tại nông thôn:
- Báo cáo “Việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn Việt Nam trong
những năm đổi mới” của của tác giả Cù Chí Lợi, Nguyễn Chiến Thắng, Vũ
Hùng Cường trong Hội nghị khoa học hàng năm lần thứ 33 của Liên hiệp hội
khoa học kinh tế các nước ASEAN và phát triển nông nghiệp, nông thôn. Về
cơ bản báo cáo này sử dụng các số liệu điều tra có sẵn và sử dụng kết quả
nghiên cứu của một số công trình có liên quan để phân tích. Báo cáo sử dụng
phương pháp phân tích định lượng (hồi quy đa biến) để đánh giá các nhân tố
ảnh hưởng đến việc tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp của hộ gia đình
và tác động của việc tham gia này đến mức sống của hộ. Và cũng đã đưa ra
những đánh giá về khó khăn của các hoạt động phi nông nghiệp. Đây là một
tài liệu vô cùng bổ ích cho quá trình nghiên cứu của nhóm tác giả. Tài liệu
giúp nhóm tác giả có cái nhìn ban đầu về những yếu tố có thể gây ảnh hưởng
đến hoạt động phi nông nghiệp tại nông thôn hiện nay, cũng như mối liên hệ
giữa việc làm phi nông nghiệp đối với mức sống của người dân. Song nếu
như trong báo cáo này, tác giả chỉ sử dụng các kết quả nghiên cứu có sẵn từ
các công trình có sẵn; thì nhóm tác giả đề tài đã tiến hành khảo sát trực tiếp
tại một địa bàn cụ thể.
- Ths.Phạm Văn Hanh với nghiên cứu “Lao động và việc làm ở nông
thôn: Thực trạng và những thách thức” (AgroMonitor) - Nghiên cứu này là
một phần của dự án Thị trường Lao động EU/MOLISA/ILO do Cục Việc làm
(BoE) triển khai nhằm đánh giá những thách thức việc làm ở nông thôn Việt
Nam để làm công cụ hỗ trợ cho việc xây dựng Chiến lược Việc làm Quốc gia

Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020. Báo cáo nghiên cứu về việc làm nông thôn
được thực hiện với mục tiêu làm rõ thực trạng và những thách thức đối với
vấn đề lao động việc làm của khu vực nông thôn. Đề tài giúp tác giả có được
Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 14
Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
những nhìn nhận ban đầu về những thách thức trong vấn đề việc làm tại nông
thôn; giúp nhóm tác giả định hướng được những vấn đề sẽ đưa ra thảo luận
với người dân và chính quyền địa phương. Nhưng bên cạnh những thách
thức, nhóm tác giả còn tìm hiểu những thuận lợi và điểm mạnh của cộng
đồng để có được cái nhìn khái quát hơn.
- Bài viết “Phát triển kinh tế khu vực phi nông nghiệp: Một giải pháp để
xây dựng nông thôn mới hiệu quả” của Giáo sư Bùi Thế Tuấn (Chủ tịch Hội
khoa học phát triển nông thôn Việt Nam) chỉ ra tầm quan trọng của việc
chuyển đổi cơ cấu kinh tế tại nông thôn, chú tâm vào phát triển các ngành
nghề phi nông nghiệp; bài viết cũng chỉ ra thực trạng việc làm phi nông
nghiệp tại nông thôn Việt Nam vẫn diễn ra rất chậm và còn nhiều hạn chế
đến từ nhiều yếu tố khác nhau. Bài viết góp phần giúp nhóm tác giả nhận
thấy thực trạng chung của việc phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp,
làm cơ sở để so sánh thực trạng của địa bàn nghiên cứu với thực trạng chung
của cả nước.
II.2.2. Xu hướng phát triển việc làm phi nông nghiệp tại nông
thôn hiện nay:
- KS.Nguyễn Thị Tuất – “Định hướng phát triển việc làm phi nông
nghiệp ngoại thành Thành Phố Hồ Chí Minh” tập trung vào nghiên cứu các
hoạt động phi nông nghiệp ở ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh, đề tài đã
chỉ ra được những đặc điểm cơ bản nhất của hoạt động kinh tế - xã hội ngoại
thành, chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đế phát triển hoạt động phi nông nghiệp
tại ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh, từ đó chỉ ra tính cấp thiết của việc
phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp. Đề tài giúp nhóm tác giả nhận
thấy tính tất yếu của việc phát triển của các ngành nghề phi nông nghiệp tại

Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 15
Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
nông thôn hiện nay, từ đó có được nền tảng để giải thích nguyên nhân tại địa
bàn nghiên cứu diễn ra hoạt động việc làm phi nông nghiệp.
- Bài viết “Đại Đồng phát triển ngành nghề phi nông nghiệp”, của tác
giả Thái Uyên – Thanh Hương đăng trên baobacninh.com.vn đã chỉ ra sự
năng động của người dân Đại Đồng trong việc chuyển hướng sang phát triển
các ngành nghề phi nông nghiệp và những thành tựu mà người dân nơi đây
đã gặt hái được sau một thời giant hay đổi. Đại Đồng là địa phương có những
đặc điểm gần giống với Quang Phục, diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu
hẹp, kinh tế do hoạt động nông nghiệp mang lại ngày càng thấp; việc chuyển
đổi là vô cùng cần thiết nhằm tránh tình trạng thụt lùi nền kinh tế địa phương.
Dựa trên những thay đổi của Đại Đồng, nhóm tác giả nhìn nhận lại tại địa bàn
nghiên cứu đã có sự thay đổi phù hợp hay chưa và còn hạn chế những gì so
với những địa phương khác để có được hướng khắ phục.
II.2.3. Giải pháp cho việc phát triển việc làm phi nông nghiệp tại
nông thôn:
- Bài viết “Phát triển kinh tế khu vực phi nông nghiệp: Một giải pháp để
xây dựng nông thôn mới hiệu quả” của Giáo sư Bùi Thế Tuấn (Chủ tịch Hội
khoa học phát triển nông thôn Việt Nam) đã đề cập đến một giải pháp để phát
triển phi nông nghiệp tại nông thôn đó chính là: phát triển cụm công nghiệp
từ các làng nghề truyền thống (đan lát, may, gỗ…). Đây là một giải pháp rất
hay và có sức thuyết phục nhưng để gầy dựng một làng nghề như vậy không
phải có thể áp dụng cho tất cả các địa phương. Nhóm tác giả tham khảo giải
pháp này và đặt vào trong hoàn cảnh địa bàn nghiên cứu xem có phù hợp hay
không và liệu nếu áp dụng thì có khả năng không, sẽ gặp những thuận lợi và
khó khăn gì.
Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 16
Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
- Bài viết “Đại Đồng phát triển ngành nghề phi nông nghiệp”, của tác giả

Thái Uyên – Thanh Hương đăng trên baobacninh.com.vn, chỉ ra những giải
pháp cụ thể để phát triển việc làm phi nông nghiệp tại một địa phương cụ thể.
Nhưng bài viết chỉ dừng lại ở những trường hợp điển cứu cá nhân cụ thể,
chưa có được cái nhìn tổng quát đối với một cộng đồng. Nhóm tác giả sẽ
phân tích những giải pháp này trên một diện rộng hơn, để đưa đến cái nhìn
tổng quát của một địa phương.
- Ths.Phạm Văn Hanh với nghiên cứu “Lao động và việc làm ở nông
thôn: Thực trạng và những thách thức” (AgroMonitor) - Nghiên cứu này là
một phần của dự án Thị trường Lao động EU/MOLISA/ILO do Cục Việc làm
(BoE) triển khai nhằm đánh giá những thách thức việc làm ở nông thôn Việt
Nam để làm công cụ hỗ trợ cho việc xây dựng Chiến lược Việc làm Quốc gia
Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020. Công trình này đóng góp vào việc xác định
và đánh giá các phương án chính sách khác nhau nhằm giải quyết những
thách thức liên quan đến: Xúc tiến việc làm nông thôn và Quá trình công
nghiệp hóa và tái cơ cấu tại Việt Nam. Báo cáo cũng chỉ ra những khoảng
trống về mặt chính sách trong việc giải quyết vấn đề việc làm cho khu vực
này. Đề tài này có ý nghĩa quan trọng đối với nhóm tác giả trong quá trình đề
ra những giải pháp ở cấp vĩ mô, thuộc về chính sách; giúp nhóm tác giả nhận
thấy những thiếu sót trong chính sách để đưa ra hướng khắc phục phù hợp
với địa bàn nghiên cứu
- Th.s Phan Văn Nhung trường Chính trị Phạm Hùng đã đưa ra các giải
pháp xử lý chủ động, tích cực vấn đề chuyển dịch lao động từ nông nghiệp
sang các ngành phi nông nghiệp, nhằm giải quyết việc làm và tăng thu nhập
cho lao động nông thôn là một yêu cầu cấp bách hiện nay. Có thể có các kịch
bản khác nhau cho việc chuyển dịch cơ cấu lao động như: Chuyển dịch tuyệt
Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 17
Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
đối, tức là: Đưa nông dân vào làm công nghiệp, dịch vụ ở thành thị; Xuất
khẩu lao động ra nước ngoài; Xuất khẩu lao động trong nước (gia công và
làm việc cho doanh nghiệp FDI), Chuyển dịch tương đối: tức là mở ra ngành

nghề phi nông nghiệp ngay trong nông thôn. Những giải pháp của tác giả có
thể sử dụng chung cho nhiều địa phương khác nhau nhưng chỉ mang tính chất
chung, khái quát. Vì vậy, với mỗi địa phương với những đặc điểm kinh tế -
chính trị - xã hội của mình sẽ có những cách làm khác nhau. Nhóm tác giả sẽ
đưa những giải pháp này vào phân tích thực tế tại địa bàn nghiên cứu, và đưa
ra những giải pháp cụ thể và khả thi hơn.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
III.1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu:
III.1.1. Xã Quang Phục:
Quang Phục là một xã quy mô vào loại trung bình của huyện Tứ Kỳ. Xã
nằm chạy dài 2 bên đường 391, cách thành phố Hải Dương khoảng 12 km về
phía Nam, với diện tích tự nhiên là 667,8 ha, xã được hình thành từ 7 thôn và
một Thị tứ Ngã Tư với tổng số là 1.851 hộ, số nhân khẩu là 6.943 nhân khẩu.
Xã Quang Phục thuộc huyện Tứ Kỳ, nằm hoàn toàn ở giữa vùng hạ lưu của
hệ thống sông Thái Bình, đất đai của huyện được hình thành nhờ sự bồi đắp
của hệ thống sông này. Chính vì vậy mà xã có địa hình khá bằng phẳng,
mang đặc điểm của vùng đồng bằng Sông Hồng, xã có sông Yên, sông Cầu
Muồng, sông Cái Chảy qua 4 thôn Bích Lâm, Bích Cẩm, An giang, An
Phòng. Do đó, mặc dù đất đai màu mỡ nhưng ở xã có nhiều khu vực đồng
trũng, không trồng được lúa, mà chuyển sang nuôi cá hay chăn nuôi. Tuy
Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 18
Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
nhiên, việc đánh bắt cá cũng có nhiều khó khăn do nguồn thu nhập không
cao, bấp bênh, tùy theo mùa nước và theo thời tiết, nên thu nhập của người
dân cho công việc này không được ổn định. Chính từ lẽ đó mà từ khá lâu,
người dân tại đây đã cố tìm cho mình một hướng đi khác trong phát triển kinh
tế mà không phụ thuộc vào nông nghiệp nhiều. Tuy nhiên, có những vùng
người dân vẫn tiếp tục gắn bó và phát triển nông nghiệp.
Qua nhiều năm phát triển, tốc độ tăng trưởng GDP luôn tăng cao từ 10 -
14%. Nông nghiệp tiếp tục phát triển, công nghiệp được đẩy mạnh do ở đây

tập trung nhiều nhà máy như nhà máy Lilama, May mặc - da giày Trường
Phát, Gạch Hoàng Long, thu hút được rất nhiều nhân lực từ nông nghiệp
chuyển sang làm công nhân. Công nghiệp phát triển kéo theo điều tất yếu là
dịch vụ tăng trưởng cao, nhằm phục vụ cho các hoạt động công nghiệp cũng
như nhằm phát triển thương nghiệp trong vùng, các hình thức chủ yếu là
điểm buôn bán vừa và nhỏ. Chính từ điều này mà xã có một lực lượng nhân
công trong các ngành nghề phi công nghiệp tăng mạnh hàng năm.
Nói chung, xã Quang Phục là một xã khá phát triển, tuy là vùng nông
thôn nhưng với sự đầu tư về công nghiệp hoá - hiện đại hoá nên giúp cho địa
phương ngày càng tăng trường cao, đời sống nhân dân được cải thiện.
III.1.2. Thị tứ:
Trước đây thị tứ chỉ là một đường phụ, dân số rất ít, nó thuộc thôn Bích
Cẩm. Sau khi kinh tế phát triển hình thành đường giao thông chính, tập chung
dân cư nhiều hơn nên hình thành Thị Tứ do tách từ thôn Bích Cẩm (khoảng
những năm 1995- 1998). Đặc điểm chính của Thị tứ là không có đất đai nông
nghiệp nhiều, lại gần các đường giao thông chính nên rất thích hợp với việc
đẩy mạnh và phát triển giao thương, buôn bán hơn là sản xuất nông nghiệp.
Cụ thể là Thị tứ đang trên đà phát triển cho nên nhu cầu về dịch vụ của người
Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 19
Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
dân tại đây cũng tăng lên, kích thích hoạt động buôn bán phát triển để đáp
ứng nhu cầu người tiêu dùng, hơn nữa các hộ gia đình ở đây nằm chủ yếu
trên trục đường 391 có địa điểm mặt đường rất thuận lợi cho các hoạt động
buôn bán. Địa điểm và mặt bằng là yếu tố quan trọng hàng đầu giúp cho hoạt
động buôn bán phát triển. Ở đây có rất nhiều những khu công nghiệp mới
được xây dựng như nhà máy Lilama, may mặc, da giày Trường Phát, gạch
Hoàng Long thu hút được sự tham gia của rất nhiều người dân, đặc biệt là
bộ phận các thanh niên, sau khi học xong Trung học phổ thông thường đi làm
công nhân cho các công ty này.
Trên địa bàn Thị Tứ có khoảng 233 hộ, có đến 95% số hộ gia đình làm

phi nông nghiệp, chỉ có 5% số hộ là làm nông nghiệp thuần túy. Trong 233
hộ dân đó thì dân gốc chỉ khoảng 33 hộ, 200 hộ còn lại là dân cư từ nơi khác
chuyển đến, đó là những cán bộ công chức, công nhân, những người có tiền
đến mua đất và định cư. Thị tứ là khu vực đa dạng về nghành nghề, có nền
kinh tế phát triển nhất trong xã và là nơi tập trung nhiều nhân công lao động
từ các thôn khác. Đây là những đặc điểm điển hình của một khu đô thị nhỏ
đang phát triển.
III.2. Thực trạng việc làm phi nông nghiệp tại xã Quang
Phục:
III.2.1. Các loại hình nghề phi nông nghiệp tại địa
phương:
Để khảo sát các loại hình nghề phi nông nghiệp tại địa phương nhóm tiến
hành phỏng vấn sâu cán bộ địa phương và điều tra bằng bảng hỏi để đánh giá
hoạt động nào là phổ biến, và được người dân tham gia nhiều nhất. “Tại địa
Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 20
Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
bàn thị tứ Quang Phục có đến 95% số hộ gia đình làm phi nông nghiệp (tổng
số hộ dân trên địa bàn là 233 hộ), 5% còn lại vẫn là làm việc thuần nông
1
.
Các loại hình phi nông nghiệp cơ bản ở thị tứ là các hộ buôn bán nhỏ, quán
ăn, tạp hóa, công chức nhà nước nghỉ hưu. Cụ thể như sau:
• Ăn uống, giải khát: 10 quán.
• Tạp hóa: 13 quán
• Dịch vụ y tế: 5
• Buôn bán, sữa chữa điện tử: 3
• Xưởng mộc: 3
• Sửa chữa ô tô, xe máy: 7
• Tiệm cắt tóc: 2
• Tiệm karaoke: 2

• Ảnh cưới: 2
• Vật liệu xây dựng: 3
• Internet: 3
• Ngoài ra, còn có Xưởng may là doanh nghiệp nơi khác đến thuê đất đê
làm công ty, thu hút khá nhiều lao động tại địa phương”
2
.
Theo số liệu Bí thư chi bộ thị tứ cung cấp, nhóm tác giả nhận thấy tại địa
bàn nghiên cứu người dân rất chú trọng vào các hoạt động kinh doanh mang
tính cá nhân. Để làm rõ hơn vấn đề này, đồng thời tìm hiểu thêm mức độ
tham gia trong các lĩnh vực hoạt động của người dân địa phương, nhóm tác
giả đã tiến hành điều tra thông qua bảng hỏi, kết quả thu được thống kê theo
bảng dưới đây: Bảng 1 – Số người làm trong các lĩnh vực phi nông
nghiệp.
Số lượng Phần Cumulativ
1
Biên bản phỏng vấn sâu số 1
2
Biên bản phỏng vấn sâu số 1
Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 21
Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
trăm e Percent
Valid Học sinh
Sinh viên
1 3.6 3.6
Công nhân 7 25.0 28.6
Về hưu 1 3.6 32.1
Công chức 2 7.1 39.3
Buôn bán 13 46.4 85.7
Làm thuê 4 14.3 100.0

Total 28 100.0
Thông qua bảng số liệu thu thập được ở trên, nhóm tác giả nhận thấy ngoài
ngành nghề buôn bán chiếm đến 46,4% số người tham gia, thì “công nhân”
cũng là nghề được nhiều người quyết định lựa chọn (chiếm 25%). Ngoài ra
một số hoạt động khác cũng được người dân nơi đây lựa chọn như: công
nhân viên chức, đi làm thuê; nhưng số lượng này không nhiều. Để tìm hiểu
nguyên nhân tại sao các ngành dịch vụ, và công nhân viên chức chiếm số
lượng đông đảo người tham gia, nhóm đã tiến hành phỏng vấn sâu Bí thư chi
bộ thị tứ, và người dân đang sinh sống, làm việc thì thu được những thông tin
sau:
- Phần đông dân cư đang sinh sống tại địa phương là từ nơi khác chuyển
đến; những người này là cán bộ, nhân viên, viên chức có tiền đến mua đất và
định cư, vì địa bàn này có điều kiện giao thông, địa lý rất thuận lợi cho đi lại,
sinh hoạt
3
.
3
Biên bản phỏng vấn sâu số 1
Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 22
Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
- Giao thông tại địa bàn thuận lợi để phát triển các loại hình dịch vụ
4
.
- Làm dịch vụ có nhiều thời gian rảnh rổi hơn, tự chủ về giờ giấc và có
thể chăm sóc được con cái nên nhiều người phụ nữ lựa chọn công việc kinh
doanh buôn bán tại gia đình.
5
- Trình độ dân trí tại địa phương là khá cao, nhiều gia đình quan tâm đến
việc học của con cái; có được kiến thức, người dân dễ dàng mở ra các cửa
tiệm về điện tử, internet, … để phục vụ nhu cầu của người dân, hay làm viên

chức nhà nước. Đồng thời, đời sống của nhân dân tại địa phương cũng ngày
càng nâng cao, nên nhu cầu về các loại hình giải trí cũng cao hơn, cần vật
liệu xây dựng để xây nhà khang trang, cần người sửa chữa các thiết bị điện
tử
6
.
Ngoài những ý kiến trên của cán bộ địa phương và người dân, nhóm tác
giả sử dụng phương pháp quan sát và vẽ sơ đồ cộng đồng để lý giải lý do tại
sao thị tứ Quang Phục lại phát triển nhiều loại hình nghề phi nông nghiệp,
trong đó dịch vụ chiếm số lượng lao động cao nhất: (Bản đồ tại Phụ lục –
Trang )
Theo những gì ghi nhận lại trên bản đồ; nhóm tác giả nhận thấy thị tứ
Quang Phục nằm trên trục đường chính, giao thông rất thuận lợi; lại gần
thành phố Hải Dương. Ngoài ra, khu vực có chợ - là địa điểm tụ tập, giao lưu,
buôn bán chính của một địa phương. Đây là điều kiện rất thuận lợi để phát
triển ngành dịch vụ buôn bán, sửa chữa. Gần khu vực thị tứ Quang Phục còn
có Công ty da giày Trường Phát, nhà máy gạch Hoàng Long, nhà máy Lilama
đây là cơ hội cho rất nhiều thanh niên trong độ tuổi lao động ó được một việc
4
Biên bản phỏng vấn sâu số 1
5
Biênn bản phỏng vấn sâu số 2
6
Biên bản phỏng vấn sâu số 3 và 4
Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 23
Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
làm với mức thu nhập ổn định, chính vì vậy mà nghề công nhân được rất
nhiều người dân lựa chọn; khu công nghiệp cũng là điều kiện tốt để phát triển
ngành dịch vụ.
Mặc dù cùng làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp nhưng thu nhập của các

hộ gia đình không phải hoàn toàn giống nhau; điều đó còn phụ thuộc vào quy
mô của công việc. Mỗi hộ gia đình, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế cá nhân
mà mở ra các dịch vụ buôn bán với quy mô phụ thuộc vào điều kiện đó. Đối
với vấn đề này, nhóm tác giả chú tâm đến việc đánh giá quy mô của ngành
dịch vụ là chính:
Bảng 2: Quy mô các ngành phi nông nghiệp
Công việc
Quy mô
Nông
nghiệp
HS/SV Công
nhân
Về
hưu
Công
chức
Buôn
bán
Làm
thuê
Tổng
Rất lớn
Lớn
Trung
bình
Nhỏ
Rất
nhỏ
0
0

1
0
0
1
0
0
1
0
0
1
1
0
5
1
0
7
0
0
0
0
1
1
0
1
0
0
0
1
0
0

7
2
3
12
0
0
0
0
3
3
1
1
14
3
7
26
Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 24
Đề tài thực trạng việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
Tổng
Theo bảng thống kê trên, hầu hết quy mô công việc theo đánh giá của
chính người dân chỉ nằm ở mức trung bình chứ không lớn lắm, thậm chí một
số gia đình chỉ là buôn bán rất nhỏ. Điều dẫn đến điểm khác biệt này chính là
trình độ chuyên môn, cũng như nguồn vốn ban đầu của gia đình. Theo anh
Nguyễn Xuân Thắng, lý do để anh lựa chọn việc kinh doanh là do: “có kiến
thức về nghành nghề của mình”
7
; còn theo chị Phạm Thị Cúc thì: “Vì nhà cô
có ít ruộng, thu nhập thấp và không có thời gian làm ruộng nên cho thuê
không lấy gạo, cô ở nhờ nhà chị gái vì ở gần mặt đường dễ buôn bán, còn
nhà cô thì ở trong xóm”

8
. Một người đến với nghề vì có kinh nghiệm, kiến
thức về nghề, và một người đến với nghề chỉ vì không còn việc gì khác để
làm nên quy mô của hai cửa hàng trên cũng khác nhau, anh Thắng thu được
hơn 10 triệu/ tháng, còn chị Cúc chỉ thu được khoảng 1 triệu/ tháng.
III.2.2. Sự phân chia nghề nghiệp theo kinh tế hộ gia
đình:
Tại địa bàn thị tứ Quang Phục, trong tổng số 233 hộ chỉ có 17 hộ cận
nghèo, và 5 hộ nghèo. Theo tiêu chí đánh giá điều kiện kinh tế của hộ gia
đình mà cán bộ địa phương cung cấp cấp thì:
- “≤ 400 nghìn đồng/ người/ tháng => nghèo
- ≤ 500 nghìn đồng/ người/ tháng => cận nghèo (theo quy định của nhà
nước)”
9
Nhưng cũng theo chính cán bộ địa phương, để điều tra được thu nhập
của người dân không phải là dễ, vì hiện nay cơ chế quản lý, thu tiền thuế của
7
Biên bản vấn đàm số 4
8
Biên bản vấn đàm số 2
9
Biên bản thảo luận nhóm
Nguyễn Đình Nghiệp - Lớp XHH 54 - MSV 543678 Page 25

×