41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đề tài: Chính sách tiền tệ với mục tiêu ổn định giá cả
Phần 1: Cơ sở lý thuyết của chính sách tiền tệ
1.Khái niệm, vị trí của chính sách tiền tệ :
Khái niệm chính sách tiền tệ :
Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng trung
ương khởi thảo và thực thi, thông qua các công cụ, biện pháp của mình
nhằm đạt các mục tiêu: ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm, tăng
trưởng kinh tế.
Tuỳ điều kiện các nước, chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo
hai hướng:
Chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúc đẩy
sản xuất kinh doanh, giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng - chính sách tiền
tệ chống thất nghiệp)
Chính sách tiền tệ thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm
đầu tư vào sản xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp
tăng - chính sách tiền tệ ổn định giá trị đồng tiền)
Vị trí chính sách tiền tệ :
Trong hệ thống các công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước thì chính
sách tiền tệ là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động
trực tiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ. Song nó cũng có quan hệ chặt chẽ
với các chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài khoá, chính sách
thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại.
Đối với Ngân hàng trung ương, việc hoạch định và thực thi chính sách
chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản nhất, mọi hoạt động của nó đều nhằm
làm cho chính sách tiền tệ quốc gia được thực hiện có hiệu quả hơn.
41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2. Các mục tiêu của chính sách tiền tệ
2.1 Mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ :
*Ổn định giá trị đồng tiền: NHTW thông qua CSTT có thể tác động
đến sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nước mình. Giá trị đồng tiền ổn
định được xem xét trên 2 mặt: Sức mua đối nội của đồng tiền (chỉ số giá cả
hàng hoá và dịch vụ trong nước) và sức mua đối ngoại (tỷ giá của đồng tiền
nước mình so với ngoại tệ). Tuy vậy, CSTT hướng tới ổn định giá trị đồng
tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát =0 vì như vậy nền kinh tế không thể
phát triển được, để có một tỷ lệ lạm phát giảm phảI chấp nhận một tỷ lệ thất
nghiệp tăng lên.
*Tăng công ăn việc làm: CSTT mở rộng hay thu hẹp có ảnh hưởng
trực tiếp tới việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất
kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế. Để có
một tỷ lệ thất nghịêp giảm thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát tăng lên.
*Tăng trưởng kinh tế :Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi
chính phủ trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của
mình, để
giữ cho nhịp độ tăng trưởng đó ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trị
đồng bản tệ là rất quan trọng ,nó thể hiện lòng tin của dân chúng đối với
Chính phủ.Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả hai mục tiêu trên đạt được
một cách hài hoà.
Mối quan hệ giữa các mục tiêu : Có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ
nhau, không tách rời. Nhưng xem xét trong thời gian ngắn hạn thì các mục
tiêu này có thể mâu thuẫn với nhau thậm chí triệt tiêu lẫn nhau. Vậyđể đạt
được các mục tiêu trên một cách hài hoà thì NHTW trong khi thực hiện
CSTT cần phải có sự phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác. Phần
41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lớn NHTW các nước coi sự ổn định giá cả là mục tiêu chủ yếu và dài
hạn của chính sách tiền tệ.
2.2 Mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ :
a. Khái niệm :
Là mục tiêu do NHTW lựa chọn nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng và
phải có liên hệ với mục tiêu cuối cùng
b. Các tiêu chuẩn lựa chọn
Có thể đo lường được một cách chính xác và nhanh chóng để
NHTW điều chỉnh hướng tác động khi cần thiết.
Có khả năng kiểm soát được.
Có liên hệ chặt chẽ với mục tiêu cuối cùng: đây là tiêu chuẩn
quan trọng nhất của mục tiêu trung gian.
c. Các chỉ tiêu thường được lựa chọn
• Chỉ tiêu tổng lượng tiền cung ứng : lựa chọn MS làm lượng tiền
trung gian phải thả nổi lãi suất
• Chỉ tiêu lãi suất: để duy trì mục tiêu lãi suất, mức cung tiền và
tiền cơ sở sẽ biến động.
d. Sự chọn lựa mục tiêu trung gian trong những trường hợp cụ thể
- Khi nhu cầu về hàng hóa biến động bất thường, đường IS dao
động mạnh từ IS’ đến IS’’.
Nếu mức lãi suất i* được chọn làm mục tiêu trung gian, việc
mở rộng hoặc thu hẹp lượng tiền cung ứng nhằm duy trì mức lãi suất i
*
sẽ
làm đường LM dịch chuyển => Y sẽ biến động từ Y’đến Y’’
41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nếu chọn MS làm mục tiêu,
thì sản lượng sẽ biến động từ Y”
M
đến
Y’
M
Nên lựa chọn mục tiêu trung
gian là lượng tiền cung ứng.
- Khi nhu cầu tiền tệ biến
động mạnh hơn
Nếu cố định MS: tổng sản
lượng quốc dân sẽ biến động từ Y’
M
đến
Y”
M
.
Nếu cố định i
* :
mọi biến
động của mức cầu tiền sẽ dẫn đến những
biến động tương ứng của mức cung tiền
nhằm duy trì mức lãi suất cố định, do đó
LM luôn cố định tại vị trí của nó, mức
sản lượng vì thế cố định tại Y
*
Việc lựa chọn lãi suất làm mục tiêu trung gian sẽ thích hợp hơn.
2.3 Mục tiêu hoạt động của chính sách tiền tệ :
- Là mục tiêu do ngân hàng trung ương lựa chọn nhằm đạt được
mục tiêu trung gian. Nó có phản ứng tức thời với những thay đổi trong sử
dụng công cụ của CSTT
- Tiêu chuẩn lựa chọn :
• Có mối quan hệ mật thiết với mục tiêu trung gian.
• NHTW có thể đo lường được
• chịu sự tác động của công cụ gián tiếp
- Các chỉ tiêu thường được lựa chọn
41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
• Về lượng : lượng tiền trung ương MB, dự trữ của các ngân
hàng trung gian R ( Việt Nam chọn dự trữ của các ngân hàng thương mại)
• Về giá: lãi suất liên ngân hàng, lãi suất chiết khấu, lãi suất thị
trường mở, lãi suất cho vay qua đêm, lãi suất tín phiếu kho bạc.
3.Các công cụ của CSTT
3.1 Công cụ gián tiếp
a. Nghiệp vụ thị trường mở
Khái niệm: Là những hoạt động mua bán chứng khoán do NHTW
thực hiện trên thị trường mở nhằm tác động tới cơ số tiền tệ qua đó điều tiết
lượng tiền cung ứng.
Cơ chế tác động: Khi NHTW mua (bán) chứng khoán thì sẽ làm cho
cơ sở tiền tệ tăng lên (giảm đi) dẫn đến mức cung tiền tăng lên (giảm đi).
Nếu thị trường mở chỉ gồm NHTW và các NHTM thì hoạt động này sẽ làm
thay đổi lượng tiền dự trữ của các NHTM (R ), nếu bao gồm cả công chúng
thì nó sẽ làm thay đổi ngay lượng tiền mặt trong lưu thông(C).
Ưu điểm: Do vận dụng tính linh hoạt của thị trường nên đây được coi
là một công cụ rất năng động, hiệu quả, chính xác của CSTT vì khối lượng
chứng khoán mua( bán ) tỷ lệ với qui mô lượng tiền cung ứng cần điều
chỉnh, ít tốn kém về chi phí, dễ đảo ngược tình thế.
Nhược điểm: vì được thực hiện thông qua quan hệ trao đổi nên nó còn
phụ thuộc vào các chủ thể khác tham gia trên thị trường và mặt khác để công
cụ này hiệu quả thì cần phải có sự phát triển đồng bộ của thị trường tiền tệ,
thị trường vốn.
41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
b. Dự trữ bắt buộc
Khái niệm: Số tiền dự trữ bắt buộc là số tiền mà các NH phải giữ lại,
do NHTW qui định, gửi tại NHTW, không hưởng lãi, không được dùng để
đầu tư, cho vay và thông thường được tính theo một tỷ lệ nhất định trên tổng
số tiền gửi của khách hàng để đảm bảo khả năng thanh toán, sự ổn định của
hệ thống ngân hàng.
Cơ chế tác động: Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực
tiếp đến số nhân tiền tệ (m=1+s/s+ER+RR) trong cơ chế tạo tiền của các
NHTM. Mặt khác khi tăng (giảm ) tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì khả năng cho vay
của các NHTM giảm (tăng), làm cho lãi suất cho vay tăng (giảm), từ đó làm
cho lượng cung ứng tiền giảm (tăng).
Ưu điểm: Đây là công cụ mang nặng tính quản lý của Nhà nước nên
giúp NHTW chủ động trong việc điều chỉnh lượng tiền cung ứng và tác
động của nó cũng rất mạnh (chỉ cần thay đổi một lượng nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt
buộc là ảnh hưởng tới một lượng rất lớn mức cung tiền).
Nhược điểm: tính linh hoạt của nó không cao vì việc tổ chức thực
hiện nó rất chậm, phức tạp, tốn kém và nó có thể ảnh hưởng không tốt tới
hoạt động kinh doanh của các NHTM.
c. Chính sách tái chiết khấu:
Khái niệm : Đây là hoạt động mà NHTW thực hiện cho vay ngắn hạn
đối với các NHTM thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu bằng việc điều chỉnh
lãi suất tái chiết khấu (đối với thương phiếu) và hạn mức cho vay tái chiết
khấu (cửa sổ chiết khấu)
Cơ chế tác động: Khi NHTW tăng (giảm ) lãi suất tái chiết khấu sẽ
hạn chế (khuyến khích) việc các NHTM vay tiền tại NHTW làm cho khả
năng cho vay của các NHTM giảm (tăng) từ đó làm cho mức cung tiền trong
41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nền kinh tế giảm (tăng). Mặt khác khi NHTW muốn hạn chế NHTM vay
chiết khấu của mình thì thực hiện việc khép cửa sổ chiết khấu lại.
Ngoài ra, ở các nước có thị trường chưa phát triển (thương phiếu chưa
phổ biến để có thể làm công cụ tái chiết khấu) thì NHTW còn thực hiện
nghiệp vụ này thông qua việc cho vay tái cấp vốn ngắn hạn đối với các
NHTM.
Ưu điểm: Chính sách tái chiết khấu giúp NHTW thực hiện vai trò là
người cho vay cuối cùng đối với các NHTM khi các NHTM gặp khó
khăn
trong thanh toán, và có thế kiểm soát được hoạt động tín dụng của các
NHTM đồng thời có thể tác động tới việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư đối với
nền kinh tế thông qua việc ưu đãi tín dụng vào các lĩnh vực cụ thể.
Nhược điểm: hiệu quả của công cụ này còn phụ thuộc vào hoạt động
cho vay của các NHTM, mặt khác mức lãi suất tái chiết khấu có thể làm méo
mó, sai lệch thông tin về cung cầu vốn trên thị trường.
Trên đây là 3 công cụ tác động gián tiếp tới qui mô lượng tiền cung
ứng, trong một nền kinh tế nếu NHTW sử dụng có hiệu quả các công
cụ này
thì sẽ không cần đến bất cứ một công cụ nào khác. Tuy vậy trong
những điều kiện cụ thể (các quốc gia đang phát triển ;các giai đoạn kinh tế
quá nóng ) thì để đạt được mục tiêu của mình, NHTW có thể sử dụng các
công cụ điều tiết trực tiếp.
3.2 Công cụ trực tiếp
a. Quản lý hạn mức tín dụng của các NHTM
Khái niệm: là việc NHTW quy định tổng mức dư nợ của các NHTM
không được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định
(một
41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
năm) để thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình. Việc
định ra hạn mức tín dụng cho toàn nền kinh tế dựa trên cơ sở là các chỉ tiêu
kinh tế vĩ mô (tốc độ tăng trưởng ,lạm phát tiêu thụ ) sau đó NHTW sẽ phân
bổ cho các NHTM và NHTM không thể cho vay vượt quá hạn mức do
NHTW quy định.
Cơ chế tác động :Đây là một cộng cụ điều chỉnh một cách trực tiếp
đối với lượng tiền cung ứng, việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín
dụng cho nền kinh tế có quan hệ thuận chiều với qui mô lượng tiền cung ứng
theo mục tiêu của NHTM.
Ưu điểm: Giúp NHTW điều chỉnh, kiểm soát được lượng tiền cung
ứng khi các công cụ gián tiếp kém hiệu quả, đặc biệt tác dụng nhất thời của
nó rất cao trong những giai đoạn phát triển quá nóng, tỷ lệ lạm phát quá cao
của nền kinh tế .
Nhược điểm: có thể triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các NHTM,
làm giảm hiệu quả phân bổ vốn trong nến kinh tế, dễ phát sinh nhiều hình
thức tín dụng ngoài sự kiểm soát của NHTW và nó sẽ trở nên quá kìm hãm
khi nhu cầu tín dụng cho việc phát triển kinh tế tăng lên .
b. Quản lý lãi suất của các NHTM:
Khái niệm: NHTW đưa ra một khung lãi suất hay ấn định một trần lãi
suất cho vay để hướng các NHTM điều chỉnh lãi suất theo giới hạn đó, từ đó
ảnh hưởng tới qui mô tín dụng của nền kinh tế và NHTW có thể đạt được
quản lý mức cung tiền của mình.
Cơ chế tác động: Việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tăng hay
giảm sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới qui mô huy động và cho vay của các NHTM
làm cho lượng tiền cung ứng thay đổi theo.
41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ưu điểm: Giúp cho NHTW thực hiện quản lý lượng tiền cung ứng
theo mục tiêu của từng thời kỳ, điều này phù hợp với các quốc gia khi chưa
có điều kiện để phát huy tác dụng của các công cụ gián tiếp.
Nhược điểm: dễ làm mất đi tính khách quan của lãi suất trong nền
kinh tế vì thực chất lãi suất là “giá cả” của vốn do vậy nó phải được hình
thành từ chính quan hệ cung cầu về vốn trong nến kinh tế. Mặt khác việc
thay đổi quy định điều chỉnh lãi suất dễ làm cho các NHTM bị động, tốn
kém trong hoạt động kinh doanh của mình.
Phần 2: Chính sách tiền tệ của Việt Nam trong giai đoạn hiên nay với
mục tiêu ổn định giá cả
1. Nhìn lại tình hình chung của giá cả trong năm 2008 cho tới nay
a)Sự bất thường trong diễn biến giá cả hàng hóa năm 2008
T
hán
T
hán
T
hán
T
hán
T
hán
T
hán
T
hán
T
hán
T
hán
T
hán
T
hán
T
hán
41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
g 1 g 2 g 3 g 4 g 5 g 6 g 7 g 8 g 9 g
10
g
11
g
12
C
hỉ
số
giá
tiêu
dùn
g
1
02.
4
1
06.
0
1
09.
2
1
11.
6
1
16.
0
1
18.
4
1
19.
8
1
21.
7
1
21.
9
1
21.
6
1
20.
7
1
19.
9
L
ươn
g
thực
,
thực
phẩ
m
1
03.
8
1
10.
2
1
14.
5
1
18.
0
1
26.
6
1
30.
7
1
32.
0
1
32.
7
1
32.
7
1
32.
1
1
32.
0
1
31.
9
Lươ
ng
thực
1
03.
4
1
06.
7
1
17.
9
1
25.
1
1
52.
9
1
59.
4
1
58.
9
1
57.
1
1
54.
4
1
51.
4
1
46.
7
1
43.
3
Thự
c
phẩ
m
1
03.
8
1
11.
6
1
13.
1
1
15.
6
1
18.
2
1
21.
8
1
23.
5
1
24.
1
1
24.
4
1
24.
4
1
25.
6
1
26.
5
Đ
ồ
uốn
1
01.
8
1
03.
7
1
04.
4
1
05.
1
1
07.
1
1
08.
2
1
09.
3
1
10.
0
1
10.
6
1
11.
3
1
12.
3
1
13.
1
41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
g và
thuố
c lá
M
ay
mặc
,
giày
dép,
mũ
nón
1
01.
4
1
02.
8
1
03.
7
1
04.
7
1
05.
7
1
06.
7
1
08.
2
1
09.
2
1
10.
1
1
10.
8
1
11.
8
1
12.
9
N
hà ở
và
vật
liệu
xây
dựn
g
1
02.
9
1
04.
3
1
08.
0
1
10.
8
1
12.
2
1
14.
3
1
16.
3
1
18.
8
1
18.
0
1
16.
8
1
11.
1
1
08.
5
T
hiết
bị
và
đồ
dùn
g
gia
đình
1
00.
9
1
01.
6
1
03.
1
1
04.
1
1
05.
1
1
06.
4
1
08.
0
1
09.
2
1
10.
5
1
11.
3
1
12.
0
1
12.
7
41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
D
ược
phẩ
m, y
tế
1
00.
7
1
01.
1
1
01.
9
1
02.
7
1
03.
2
1
03.
9
1
06.
0
1
07.
3
1
08.
1
1
08.
8
1
09.
1
1
09.
4
P
hươ
ng
tiện
đi
lại,b
ưu
điện
1
00.
0
1
01.
5
1
07.
3
1
09.
8
1
10.
2
1
10.
6
1
11.
2
1
21.
3
1
20.
7
1
19.
6
1
14.
3
1
06.
6
G
iáo
dục
1
00.
2
1
00.
3
1
00.
6
1
01.
0
1
01.
4
1
02.
1
1
03.
2
1
04.
4
1
05.
8
1
06.
6
1
06.
7
1
06.
9
V
ăn
hoá,
thể
thao
,
giải
trí
1
00.
1
1
02.
4
1
03.
7
1
04.
3
1
04.
9
1
05.
3
1
06.
2
1
07.
3
1
08.
9
1
09.
3
1
09.
6
1
10.
3
H
àng
hoá
và
1
02.
6
1
06.
1
1
06.
2
1
06.
8
1
07.
1
1
08.
1
1
09.
4
1
10.
4
1
10.
8
1
11.
7
1
12.
1
1
13.
0
41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
dịch
vụ
khá
c
C
hỉ
số
giá
vàn
g
1
05.
1
1
11.
3
1
18.
5
1
15.
9
1
11.
4
1
16.
3
1
20.
0
1
16.
4
1
09.
0
1
12.
5
1
06.
0
1
06.
8
C
hỉ
số
giá
đô
la
Mỹ
9
9.7
9
9.6
9
8.1
9
9.3
1
00.
3
1
05.
0
1
06.
9
1
03.
8
1
03.
0
1
03.
0
1
05.
1
1
06.
3
Năm 2008 là năm giá cả biến động bất thường ở mức cao, chia thành
hai giai đoạn rõ rệt với sáu tháng đầu năm tăng rất cao, sáu tháng cuối năm
thì dịu dần ở quý 3, và 3 tháng cuối năm giảm, đạt dưới 100%.
Diễn biến giá của năm vừa qua có sự nối tiếp của năm 2007, mức tăng
cao của nửa đầu năm 2008 đã có đà từ 6 tháng cuối năm trước đó. Trong 2
quý cuối năm 2007, chỉ số giá tăng trung bình khoảng 1,14%/tháng. Như
chúng ta đã biết, việc tăng chỉ số giá mạnh vào cuối năm 2007 đã đẩy CPI
năm này lên 12,63%.
Đà tăng vẫn tiếp tục kéo sang đến năm 2008, mặc dù đã có một số
biện pháp để cố gắng kìm hãm như thắt chặt tiền tệ Trong 6 tháng này,
41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bình quân chỉ số CPI tăng 2,86%/tháng. Đây là tốc độ tăng bình quân cực
cao. Trong cả chục năm mới có chuyện tăng như vậy. Trước đây, bình quân
mỗi tháng chỉ trên 1% đã là cao rồi.
Như thế thì qua 6 tháng, chỉ số giá đã lên đến hơn 18%, nếu so với
tháng 12 năm 2007. Khi đó, nhiều lo ngại đã nảy sinh và có những ý kiến
cho rằng chỉ số giá cả năm 2008 sẽ lên đến 30%. Theo quy luật thì tháng 2
tăng rất cao, sau đó đến tháng 3 thì chỉ số giá giảm tốc, hoặc âm, đến tháng
4, tháng 5 bằng bằng, hoặc âm một chút. Thế nhưng năm 2008 lại tăng cao
liên tục, đến hết tháng 3, cho thấy nguy cơ không thể giữ được ở mức một
con số.
Mức tăng của CPI vào tháng 5 cũng đạt mức đỉnh điểm của năm.
Chính phủ phải nới biên độ tỷ giá từ ±0,75% lên ±1% vào ngày 10/03/2008
và từ 1% lên 2% vào ngày 27/06/2008, tận dụng sự trượt giá VND so USD
thúc đẩy xuất khẩu, giảm nhập khẩu. Tốc độ tăng tổng phương tiện thanh
toán và dư nợ tín dụng năm 2007 tăng gấp đôi so với tốc độ tăng của năm
2006. Tính đến 31-12-2007, tổng phương tiện thanh toán tăng 46,7% so với
31/12/2006. Tổng dư nợ cho vay của nền kinh tế năm 2007 tăng 58% so với
năm2006.
41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đủ "bộ" nguyên nhân: Lạm phát năm 2008 ở mức cao là tổng hòa
của các loại nguyên nhân, cả chi phí đẩy, cầu kéo, lạm phát tiền tệ và cộng
thêm yếu tố tâm lý.
• Về chi phí đẩy, giá nguyên liệu đầu vào hồi quý 1/2008 tăng rất
cao, ví dụ thép, vật liệu xây dựng tăng giá liên tục. Năm nay, giá nhiều mặt
hàng chịu sự tác động từ giá thế giới.
• Cụ thể là việc tăng giá dầu đã ảnh hưởng đến giá cả nhiều mặt
hàng như thép, xi măng, lương thực Đặc biệt là lúc đó, thị trường thế giới
thiếu lương thực. Do đó, gạo từ mức giá 400-500 USD/tấn đã tăng đến hơn
nghìn, thậm chí 1.200 USD/tấn.
41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
• Nền kinh tế chúng ta là nền kinh tế mở, và Việt Nam phải nhập
nhiều nguyên liệu, nên khi giá thế giới tăng đã như cơn bão ập vào ngay,
khiến chúng ta phải gánh chi phí đầu vào tăng mạnh.
• Nhưng, thậm chí có những mặt hàng chẳng phải nhập khẩu gì
cả mà giá vẫn tăng rất cao như gạch chẳng hạn, tăng gấp đôi, gấp ba. Nhiều
lúc, tốc độ tăng giá của gạch còn cao hơn cả thép. Rõ ràng, đã có một tác
động dây chuyền nào đó.
• Về cầu kéo, nếu nhìn cả năm thì nhu cầu tiêu dùng năm 2008 so
với các năm trước đó không thay đổi nhiều, nhưng giai đoạn 6 tháng đầu
năm lại tăng khá cao, mặc dù giai đoạn này giá hàng hóa tăng.
• Một đặc điểm nữa là năm nay, thị trường chứng khoán kém sôi
động hơn trước, thị trường bất động sản cũng đóng băng nên một lượng tiền
đã đổ vào thị trường hàng tiêu dùng, chuyển thành tích trữ hàng hóa, khiến
giá hàng hóa tăng.
• Tiền tệ thì đúng là nguyên nhân dẫn tới lạm phát trong năm
2008 vì năm 2007 trước đó, khi lượng USD vào nhiều theo kênh FII (đầu tư
gián tiếp - PV) thì các ngân hàng đã phải đưa một lượng tiền mặt ra để đối
ứng, giữ vững tỷ giá.
• Nhưng mặt khác, động thái đó lại làm mất giá đồng tiền nội tệ.
Sau này, Ngân hàng Nhà nước đã có một loạt động thái thu tiền về bằng tăng
dự trữ bắt buộc, bán trái phiếu nhưng cũng không thể thu ngay về được.
Lượng tiền trong lưu thông còn rất lớn gây áp lực lạm phát.
Năm 2008, yếu tố tâm lý cũng có đóng góp đáng kể vào mức
tăng của chỉ số giá
Yếu tố tâm lý nổi lên ở mấy đợt sốt giá cả trong năm 2008, liên quan
đến xi măng, sắt thép, đặc biệt là các lần sốt gạo. Riêng về sốt gạo,có thể
41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khẳng định là hoàn toàn do yếu tố tâm lý, vì nước ta là nước xuất khẩu gạo,
không hề thiếu nguồn cung.
Cơn sốt gạo năm vừa qua phát đi từ Tp.HCM và lan ra cả nước. Trong
thời điểm giá gạo tăng đột biến, tại Tp.HCM, có hiện tượng người dân tranh
nhau đi mua gạo giá cao, thậm chí mỗi người chỉ được mua vài kg. Điều này
càng kích thích giá cả tăng cao hơn.
Sau đó, cũng có một số biện pháp bình ổn lại, nhưng rõ ràng giá cả đã
lên rất cao và ảnh hưởng từ giá gạo đã kéo theo hàng loạt hàng hóa, dịch vụ
khác tăng theo. Kết quả là vào tháng 5, chỉ số giá đã tăng cao nhất trong năm
vừa qua, tới 3,91%.
Thêm vào đó là xăng dầu, theo chúng tôi thống kê được thì năm vừa
qua, Nhà nước đã 15 lần điều chỉnh giá xăng dầu, trong đó chỉ có hai lần
tăng giá, 13 lần giảm giá. Tuy tăng giá hai lần nhưng biên độ điều chỉnh rất
cao, nhất là lần điều chỉnh hồi tháng 7, tới gần 30%.
Giá xăng dầu tăng đã tác động mạnh đến nền kinh tế. Dầu diezen tăng
thì các tầu đánh cá phải nằm bờ hết. Cứ thế, sản xuất bị đình đốn, hàng hóa
ít đi, khó khăn chồng chất lên.
Một yếu tố nữa có thể đề cập thêm là thời tiết. Mặc dù các năm đều có
bị ảnh hưởng của thời tiết đến các hoạt động kinh tế, thế nhưng năm vừa qua
có quá nhiều diễn biến bất thường. Ví dụ như trận rét hồi đầu năm, hay cuối
năm có trận lụt tại Hà Nội đều là mấy chục năm mới có một lần, tác hại rất
lớn.
Nhìn lại giai đoạn này, những vòng tác động gián tiếp và tâm lý đã
đẩy nhiều loại hàng hóa tăng giá bất hợp lý. Tại một số thời điểm, trong lúc
giá xi măng xuất xưởng của một số nhà cung cấp chỉ có 53.000-55.000
đồng/bao, thì giá bán trên thị trường lên 80.000 - 90.000đồng/bao
Không chỉ tác động đến giá các loại hàng hóa vật chất, thị trường
41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chứng khoán cũng nhiều lần chứng kiến tác động của chỉ số giá đến sự tăng
hay giảm của “bảng điện tử”. Những công bố CPI sớm của các thành phố
quan trọng như Tp.HCM, Hà Nội có thời điểm cũng “áp đặt” xu hướng cho
thị trường mua bán giầy tờ có giá này.
CPI cũng đẩy lãi suất huy động và cho vay của các ngân hàng
thương mại tăng liên tục trong giai đoạn này, có những thời điểm vượt trên
18-19%, đối với huy động tiền gửi, và 21-24% với cho vay.
Bình quân mức tăng CPI thời kỳ này đạt 2,48%/tháng, dù đã được
điều chỉnh bởi các nhóm giải pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ.
Đối với giai đoạn sau này, khi chỉ số giá giảm:
Việc chỉ số giá giảm, là điều bất ngờ. Sau 6 tháng đầu năm tăng rất
cao, đến quý 3, chỉ số giá giảm tốc, chỉ còn tăng trên 1%, và đến tháng 9 thì
chỉ tăng 0,18%. xưa nay không bao giờ có chuyện giảm giá vào quý 4, nhất
là các tháng 11 và 12.
Tháng 10 thì còn có thể vì thường là tháng 9 tăng cao do ảnh hưởng từ
Tết Trung Thu, rồi ngày khai giảng, bố mẹ các em học sinh phải mua nhiều
sách vở theo biểu đồ chung thì tháng 9 lên cao, tháng 10 dịu xuống, rồi
tháng 11, 12 lại tăng lên.
Nguyên nhân giảm này, thứ nhất là chính sách tiền tệ thắt chặt có tác
dụng kiềm chế lạm phát, nhưng hàng hóa, dịch vụ doanh nghiệp làm ra lại
cũng không bán được, rất khó khăn, dấn tới giảm giá.
Nguyên nhân nữa là giá thế giới giảm. Nhiều loại hàng hóa đều bắt
đầu giảm giá trong nửa cuối năm 2008, đặc biệt là giá dầu giảm rất mạnh,
đến gần đây chỉ còn trên 40 USD, thậm chí có lúc dưới 40 USD/thùng.
Giá thép cũng giảm rất mạnh, rồi giá lương thực. Gạo, sau một thời
gian tăng giá mạnh thì thế giới họ bắt đầu tăng sản xuất lên, đẩy giá gạo
giảm. Việt Nam có chuyện lo mất an ninh lương thực thì giãn xuất khẩu.
41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hơn nữa, sau những thiên tai hồi đầu năm, ta phải gieo cấy lại, cứ
nghĩ có lẽ mất mùa nhưng năm nay lại được mùa, nguồn cung thừa thãi
khiến giá gạo xuống nhanh. Ngoài ế thừa do không xuất được, ta lại nhập
khẩu gạo ngon qua Campuchia, khiến nhu cầu tiêu dùng gạo trong nước
càng giảm hơn nữa.
Một chuyện nữa liên quan đến thịt lợn, mặt hàng quan trọng trong tiêu
dùng của người dân Việt Nam, có trọng số khá cao trong rổ hàng hóa tính
CPI. Hồi đầu năm, giá thịt lợn tăng rất cao, nguyên nhân do dịch bệnh. Lúc
đó, ta xuất mạnh lợn sữa sang Trung Quốc, nguồn cung càng thiếu.
Để bình ổn giá, Chính phủ cho nhập thịt về, sau đó thì hàng về quá
nhiều. Giai đoạn sau này thì mặt hàng này lại kéo chỉ số giá đi xuống. Vì
vậy, ngành chăn nuôi năm vừa qua cũng bị ảnh hưởng ít nhiều bởi nhập
khẩu thịt lợn, thịt gà
Tháng 11, tại các tỉnh chỉ số giá đã xuống rồi thì Hà Nội vẫn tăng.
Đây lại là trung tâm kinh tế, có sức lan tỏa mạnh. Chính vì thế thiệt hại càng
nặng nề hơn.
Về phía Chính phủ, nhận thức được nguy cơ này, gói giải pháp
tổng thể hơn 100.000 tỷ đồng đã được tung ra để kích thích nền kinh tế.
Tại phiên họp thường kỳ tháng 12 vừa qua, các thành viên Chính phủ
cũng nhất trí tiếp tục thực hiện năm nhóm giải pháp cấp bách, chủ yếu
để ngăn chặn đà suy giảm kinh tế, bao gồm thúc đẩy sản xuất, kinh
doanh và xuất khẩu; kích cầu đầu tư; chính sách tài chính, tiền tệ linh
hoạt; bảo đảm an sinh xã hội và tăng cường công tác điều hành.
b) Biến động giá cả 2009 và những dự báo
Theo số liệu do Tổng cục Thống kê công bố, chỉ số giá tiêu dùng
(CPI) tháng 1/2009 tăng 0,32% so với tháng 12/2008 và tăng 17,48% so với
cùng kỳ năm 2008.
41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Như vậy, CPI đã tăng trở lại sau 3 tháng giảm liên tục, nhưng đây là
mức tăng thấp nhất của tháng 1 trong vòng 4 năm qua (tháng 1/2006 tăng
1,2%; tháng 1/2007 tăng 1,05%; tháng 1/2008 tăng 2,38% so với tháng
trước)
Trong năm nay, lạm phát vẫn là yếu tố đầu tiên cần được tính đến,
Việt Nam vẫn phải tiếp tục ưu tiên kiềm chế lạm phát theo hướng giảm dần.
Năm 2009, giá cả thị trường Việt Nam sẽ biến động và gắn kết ngày
càng chặt chẽ vào biến động của giá nguyên, nhiên vật liệu trên thị trường
thế giới.
CPI năm 2009 sẽ là 7%[16/07/2009]
CPI có thể tiếp tục tăng nhẹ trong các tháng tiếp theo nhưng không có sự
biến động lớn và CPI tháng 12 năm 2009 so với tháng 12 năm 2008 tăng ở
mức 1 con số (<10%).
41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2. Sự đổi mới trong việc thực hiện chính sách tiền tệ.
Kể khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường thì quá trình thực
hiện chính sách tiền tệ cũng được xây dựng, đổi mới theo đúng ý nghĩa kinh
tế của nó và phù hợp với thực tiễn Việt Nam, thể hiện ở một số mặt sau:
Cách xác định lượng tiền cung ứng: Nếu như trong thời kỳ bao cấp
chúng ta chỉ quan niệm lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế chỉ bao gồm
tiền mặt và mức cung là bao nhiêu, ở thời kỳ nào là do chính phủ phê duyệt
thì ngày nay việc quan niệm về lượng tiền cung ứng để thay đổi bên cạnh
lượng tiền mặt (C) còn tính đến khả năng tạo tiền của các NHTM, tổ chức
tín dụng khác (D). Bên cạnh đó lượng tiền cung ứng hàng năm phải dựa trên
cơ sở: tỉ lệ lạm phát ước tính, tốc độ tăng trưởng kinh tế theo kế hoạch, vòng
quay tiền tệ
Việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ: Được sử dụng một
cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện Việt Nam ở các thời điểm cụ thể chứ
không đông cứng, đóng băng như thời kì bao cấp (lãi mất cố định nhiều
năm )
Cơ chế điều hành: Năm 1988, Hệ thống NH đã được phân thành 2 cấp
NHNN và các NHTM, trong đó NHNN là cơ quan quản lý Nhà nước trên
lĩnh vực tiền tệ- tín dụng- ngân hàng; trực thuộc chính phủ. Thống đốc
NHNN có quyền chủ động hơn và chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc thực
hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
2.1 Các công cụ của chính sách tiền tệ:
Công cụ lãi suất:
Ở Việt Nam, lãi suất được sử dụng như công cụ chính của chính sách
tiền tệ, nó là yếu tố đánh dấu sự chuyển biến từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá
tập trung sang cơ chế thị trường, nó còn là công cụ quan trọng để chuyển các
Ngân hàng sang cơ chế tự hạch toán kinh doanh.
41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Quá trình cải cách lãi suất trên đã nâng cao tính chủ động cho các
NHTM trong việc ấn định mức lãi suất cụ thể theo yêu cầu huy động vốn và
nhu cầu tín dụng thị trường, tăng sự cạnh tranh trong hoạt động tín dụng và
làm giảm chi phí NH có lợi cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho các NHTM
thực hiện điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo mục tiêu chính sách tín dụng.
Giai đoạn từ 1996- Nay: Đến cuối 1996, NHNN chỉ quy định các mức
lãi suất :“trần” theo thời hạn cho vay và khống chế tỷ lệ chênh lệch giữa lãi
suất cho vay và lãi suất huy động vốn bình quân chung là 0,35%(tháng)
(4,2% năm). Trong phạm vi “trần” lãi suất và tỷ lệ chênh lệch lãi suất được
công bố, các NHTM được điều chỉnh linh hoạt các mức lãi suất cho vay và
huy động vốn phù hợp với quan hệ cung cầu về vốn và đặc điểm kinh doanh
riêng.
Mặt khác nhằm điều chỉnh các luồng vốn dư thừa từ thành thị về nông
thôn thì lãi suất cho vay ở nông thông được duy trì cao hơn một chút so với
lãi suất cho vay ở thành thị.
Sự điều chỉnh lãi suất trên là quyết định hết sức kịp thời và phù hợp
với diễn biến của nền kinh tế, kích thích tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh
nguy cơ giảm phát đang làm chậm lại tốc độ tăng trưởng.
Chính sách lãi suất linh hoạt và phù hợp cùng với việc ổn định tỷ giá
VND/USD trong những năm qua không những góp phần quan trọng trong
quá trình ổn định kinh tế vĩ mô mà còn làm tăng tính hấp dẫn của đồng tiền
Việt Nam và lòng tin của dẫn chúng vào hệ thống ngân hàng, giảm dần tình
trạng sử dụng hay cất trữ USD, từng bước đẩy lùi tình trạng “đô la hoá” ở
Việt Nam.
Điều đó chứng tỏ rằng: Trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát
triển chưa cao, việc sử dụng lãi suất làm công cụ điều hành chính sách tiền
tệ của NHNN Việt Nam là hoàn toàn cần thiết và đúng đắn.
41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Công cụ Hạn mức tín dụng:
Đây là công cụ được coi là cần thiết ở Việt Nam trong những năm đầu
của thời kì đổi mới hiệu quả của nó đã thể hiện rõ rệt trong việc chống lạm
phát.
Tuy nhiên, từ năm 1998 đến nay, công cụ hạn mức tín dụng đã mất
dần vai trò của nó trong việc hạn chế sự gia tăng của tổng phương tiện thanh
toán vì lạm phát có xu hướng giảm và thấp dần ; mặt khác nhu cầu vốn của
nền kinh tế ngày càng tăng và cần phải mở rộng tín dụng để thực hiện mục
tiêu tăng trưởng kinh tế. Do đó từ quý II/1998, NHNN đã không áp dụng
công cụ này như một công cụ thường xuyên để điều hành chính sách tiền tệ
(mặc dù có thể coi nó như một giải phóng tình thế khi cần thiết).
Công cụ này sẽ được xoá bỏ hoàn toàn khi thị trường tiền tệ ổn định,
thị trường vốn phát triển và thị trường mở đi vào hoạt động có hiệu quả.
Công cụ Dự trữ bắt buộc
Đây là công cụ gián tiếp điều chỉnh mức cung tiễn được sử dụng sớm
nhất ở Việt Nam (từ 1991), theo pháp lệnh Ngân hàng (1990), tỷ lệ DTBB
có thể ở mức từ 10% đến 30% tổng nguồn vốn huy động của các NHTM.
Song trong điều kiện thực tế lúc bấy giờ khi tiềm lực của các NHTM Việt
Nam còn nhỏ bé và lạm phát đã được kiềm chế ở mức đáng kể, nên NHNN
đã quy định tỉ lệ DTBB là 10%; được áp dụng cho các NHTMQD, NHTM
cổ phần ,chi nhánh NH nước ngoài,NH liên doanh và các công ty tài chính.
Qua quá trình thực hiện ban đầu cho thấy rất ít NHTM dự trữ đủ 10%
nhất là các NHTM cổ phần, do vậy để nâng cao hiệu quả của công cụ này,
trong năm 1994, NHNN đã hai lần điều chỉnh tỉ lệ DTBB; quy định mức
DTBB thống nhất đối với tất cả các NHTM(có phân biệt với các loại tiền gửi
41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khác nhau : tiền gửi, tiền tiết kiệm không kì hạn: 13%;tiết kiện kì hạn
3,6 tháng, kì phiếu mục đích, trái phiếu: 8%) ; đồng thời đẩy mạnh việc áp
dụng quy chế phạt đối với các TCTD không thực hiện đúng quy chế DTBB.
Để tạo đà khôi phục, phát triển kinh tế trong năm 1999 tỉ lệ DTBB
được điều chỉnh nhiều lần theo xu hướng gỉam nhằm nới lỏng tiền tệ, kích
thíh đầu tư, tiêu dùng.
Việc giảm tỷ lệ DTBB trên đã đóng góp phần nhất định vào việc mở
rộng tín dụng, giảm chi phí hoạt động và góp phần làm dịu đi những khó
khăn của các NHTM do lãi suất giảm.
Công cụ DTBB ngày càng được hoàn thiện và trở thành công cụ đắc
lực của NHNN Việt Nam trong điều hành chính sách tiền tệ.
Công cụ Cho vay tái chiết khấu
Ở Việt Nam, cho vay tái chiết khấu đã được sử dụng như là một công
cụ của CSTT ngay từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới. Tuy vậy, vì chưa
hội đủ những điều kiện nên việc áp dụng nó còn giản đơn làm cho hiệu quả
của nó còn nhiều hạn chế. Mặc dù vậy trong những năm gần đây nó đã trở
thành công cụ đắc lực góp phần thực hiện tốt các mục tiêu của CSTT quốc
gia. Thời kỳ đầu, cho vay chiết khấu được thực hiện qua việc NHNN cho
NHTM vay ngắn hạn căn cứ vào khế ước tín dụng ( có chất lượng ) do
NHTM đem thế chấp tại NHNN, lãi suất tái cấp vốn được xác định dựa theo
lãi suất cho vay (cao nhất ) của các NHTM và được điều chỉnh linh hoạt theo
mục tiêu CSTT quốc gia ở mỗi thời kỳ để các NHTM điều chỉnh lãi suất
cùng với sự phát triển của thị trường ở Việt Nam , trở thành một công cụ đắc
lực của chính sách tiền tệ quốc gia
Công cụ Nghiệp vụ thị trường mở
Luật NHNN Việt Nam quy định “NHNN thực hiện nghiệp vụ thị
trường mở thông qua việc mua, bán tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, tín
41
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phiếu NHNN các loại giấy tờ có giá ngắn hạn khác trên thị trường tiền tệ để
thực hiện CSTT quốc gia”
Ở Việt Nam thị trường mở đã tìm được con đường đi riêng cho mình
và tính ưu việt của nó đã được phát huy tác dụng ở một mức độ nhất định
(đã giúp cho các NHTM được chủ động hơn trong việc điều chỉnh lượng vốn
khả dụng của mình, qua đó NHNN phần nào đã thực hiện được mục tiêu
CSTT quốc gia).Tuy vậy ,đây mới chỉ là giai đoạn khởi đầu và mang tính
chất thử nghiệm nên đòi hỏi nó phải được tiếp tục đổi mới và hoàn thiện.
2.2 Đánh giá quá trình thực hiện các công cụ của chính sách tiền tệ
những năm qua.
2.2.1 Những thành tựu trong việc ổn định kinh tế vĩ mô.
*Góp phần ổn định giá trị đồng bản tệ: Có thể nói đây là thành tựu
đáng được ghi nhận ở Việt Nam, bằng các công cụ điều tiết, NHNN đã kiểm
soát chặt chẽ khối lượng tiền cung ứng hàng năm và đó được xem như một
bàn tay hữu hiệu đẩy lùi và kiềm chế làm phát, ổn định sức mua của đồng
tiền Việt Nam, làm cho giá cả ổn định, đời sống người dân không ngừng
được cải thiện. Năm 2008, Thu nhập bình quân đàu người của Việt Nam đạt
và vượt 1000 USD/năm.
Từ các kết quả trên cho thấy, việc sử dụng các công cụ điều tiết của
CSTT ở Việt Nam đã góp phần đạt được hai mục đích thường mâu thuẫn
nhau đó là: Vừa đẩy lùi lạm phát vừa tăng trưởng kinh tế. Có được kết qủa
này còn phải kể đến vai trò của nhiều CSKT vĩ mô khác nữa và đặc thù của
nền kinh tế Việt Nam đó là chúng ta chưa đạt được mức năng suất biên của
sản lượng tiềm năng trong nền kinh tế.