Tải bản đầy đủ (.doc) (117 trang)

nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và bệnh nguyên của suy giáp tiên phát

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (757.76 KB, 117 trang )

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy giáp là hội chứng đặc trưng bởi tình trạng suy giảm chức năng
tuyến giáp, sản xuất hormon không đầy đủ so với nhu cầu của cơ thể hoặc
tác dụng không hiệu quả, gây nên tổn thương ở các mô, cơ quan và rối loạn
chuyển hóa trên lâm sàng và xét nghiệm [1], [4].
Bệnh lý suy giáp đang là vấn đề sức khỏe đáng quan tâm ở các nước
đang phát triển trong đó có Việt Nam. Nếu suy giáp không được phát hiện
sớm, điều trị kịp thời sẽ gây nhiều hậu quả xấu.
Với trẻ sơ sinh nếu không được chẩn đoán và điều trị sớm, bệnh sẽ gây
chậm phát triển thể chất, trí tuệ và tâm thần không hồi phục, trở thành những
trẻ tàn phế thực sự, đó là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Suy giáp sơ sinh
còn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây chậm phát triển tâm thần
có thể phòng tránh được, nếu phát hiện và điều trị ngay từ thời kỳ sơ sinh,
những trẻ suy giáp sơ sinh sẽ phát triển về mọi mặt như bình thường [4], [5].
Đối với người mẹ mang thai bị suy giáp, 40% có biến chứng như chảy
máu sau đẻ, thiếu máu, bong rau sớm.
Trong thời kỳ phôi thai, hormon tuyến giáp của mẹ có vai trò cực kỳ
quan trọng đối với sự phân chia, hình thành các cơ quan cũng như sự phát
triển não bộ của trẻ. Nhiều nghiên cứu về hậu quả thai nhi phải gánh chịu do
người mẹ suy giáp không được phát hiện và điều trị kịp thời gây nên suy
giáp phôi thai. 20% trẻ bị đẻ non, bệnh tật và dị tật bẩm sinh, 60% trẻ bị trì
trệ về tâm thần và kém phát triển thể lực, [1], [4], [5], [6].
Với người trưởng thành, suy giáp gây nên sự trì trệ ở các cơ quan. Biến
chứng của suy giáp nếu không nhận biết được đôi khi rất nặng (suy vành, hôn
mê suy giáp) đe dọa đến tính mạng người bệnh. Vì vậy cần phải phát hiện
sớm, là yếu tố quan trọng trong việc hạn chế các biến chứng [1], [4], [6], [9].
2
Tuy có nhiều nguyên nhân suy giáp như suy giáp tiên phát, thứ phát,
tam phát hay do đề kháng hormon giáp, nhưng trong đó suy giáp tiên phát
chiếm hơn 90%, và để chẩn đoán chỉ dựa vào nồng độ TSH tăng [4].


Trên thế giới, đã có một số nghiên cứu về bệnh lý suy giáp. Trong một
nghiên cứu lớn tại Mỹ cho thấy 2,5% phụ nữ có thai bị suy giáp có tăng TSH
và chỉ có 0,3% trường hợp suy giáp có giảm FT
4
. Tỷ lệ suy giáp sơ sinh
chiếm 1/4000 trong số trẻ mới đẻ. Đa số là suy giáp nguyên phát. Châu Âu,
suy giáp ở người cao tuổi gặp nhiều hơn 6-8 lần so với cường giáp [2], [3], [8]
Tại Việt Nam, chưa có thống kê để có con số chính xác. Tuy nhiên
bệnh khá thường gặp, tỷ lệ trội ở nữ, thường do thương tổn giáp tự miễn, bệnh
gia tăng theo tuổi. Thống kê tại Viện lão khoa Việt Nam, suy giáp ở người
cao tuổi chiếm 2,2% số người bệnh nằm viện [1], [2], [4], [19].
Bệnh nhân suy giáp thường đến bệnh viện muộn do nhiều nguyên nhân
như: bệnh tiến triển âm thầm, khó nhận biết hoặc do nhiều cơ sở y tế không
có khả năng làm các xét nghiệm tầm soát nên bệnh hay bị bỏ sót. Hơn nữa
việc chỉ định điều trị phẫu thuật, iod phóng xạ ngày càng rộng rãi nên bệnh
suy giáp có thể gia tăng [1], [4], [9].
Do mức độ trầm trọng của các biến chứng, hậu quả của việc phát hiện
muộn. Đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống
các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, biến chứng, cũng như biện pháp can thiệp
phù hợp, nên chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận
lâm sàng và bệnh nguyên của suy giáp tiên phát” nhằm các mục tiêu:
1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và bệnh nguyên của suy
giáp tiên phát chưa điều trị.
2. Đánh giá mối liên quan giữa bệnh nguyên với đặc điểm lâm sàng và
cận lâm sàng.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CÁC VẤN ĐỀ VỀ SUY GIÁP
1.1.1. Định nghĩa

Suy giáp là hội chứng đặc trưng bởi tình trạng suy giảm chức năng tuyến
giáp, sản xuất hormon không đầy đủ so với nhu cầu của cơ thể, gây nên tổn
thương ở các mô, cơ quan và rối loạn chuyển hóa trên lâm sàng và xét nhiệm.
Suy giáp là một hội chứng khá phổ biến của bệnh lý tuyến giáp nói
chung, đứng hàng thứ ba sau cường giáp và bướu cổ đơn thuần [1], [2], [3],
[4], [10], [11].
1.1.2. Lịch sử về suy giáp
Năm 1871 tại bệnh viện Guy, C.M.Fagge lần đầu tiên trình bày một
trường hợp suy giáp do không có tuyến giáp, sau đó suy giáp được Gunn
(1874) mô tả một cách chi tiết hơn.
1878, Ord dùng thuật ngữ phù niêm và xác định mối liên quan giữ phù
niêm và suy giáp. Kết luận, phù niêm là triệu chứng đặc hiệu của suy giáp.
1885, Victor Hosley tiến hành thực nghiệm cắt tuyến giáp và đã gây ra
được suy giáp và phù niêm điển hình.
1891, Murray dùng chất chiết xuất từ tuyến giáp cừu để điều trị cho
bệnh nhân suy giáp và thấy có kết quả.
1927, Harington tìm cách tổng hợp được thyroxin và thành công này đã
đóng góp rất lớn trong quá trình điều trị suy giáp [1], [5], [20].
4
1.1.3. Giải phẫu và sinh lý tuyến giáp
1.1.3.1. Giải phẫu
Tuyến giáp là tuyến nội tiết lớn nhất cơ thể, gồm hai thùy nối với nhau
qua eo tuyến giáp nằm trước thanh khí quản, di động theo nhịp nuốt. Ở người
bình thường khó sờ thấy tuyến giáp. Khi tuyến giáp to lên có thể sờ thấy được.
Tuyến giáp được cấu tạo bởi các đơn vị chức năng là các nang giáp.
Bình thường các nang có dạng hình cầu, trong lòng chứa đầy chất keo, thành
nang là các tế bào chế tiết. Hình thể nang thay đổi tùy theo chức năng tuyến
giáp trong các thời kỳ hoạt động khác nhau. Dưới sự điều hòa hoạt động của
TSH (Thyroid stimulating hormon - hormon kích thích tuyến giáp) làm cho các
tế bào chế tiết tăng dần về chiều cao và khoan các nang hẹp lại, tuy nhiên, các

nang không hoạt động nhất loạt trong cùng một thời kỳ [1], [4], [6], [8], [24].
1.1.3.2. Sinh lý hormone giáp
* Cấu trúc hormon giáp
Tuyến giáp bài tiết hai hormon chính:
+T4 (tetraidothyronin) chứa 4 nguyên tử iod, còn gọi là thyroxin.
+T3(Triiodothyronin) chứa 3 nguyên tử iod.
Phân tử T4 gồm một nhân ái mỡ được hình thành từ 2 nhân thơm nối
với nhau bằng cầu nối este. Nó có sự khác nhau giữa vòng trong chứa chuỗi
5
phenylalanine và vòng ngoài (vòng phenolic), do đó phân tử T4 có cấu trúc 3-
5-3’-5’ tetra-idothyronin và sự mất một iod ở vị trí 5’ tạo thành phân tử T3.
Trong huyết thanh, T3, T4 gắn chủ yếu với albumin. Một phần nhỏ
hormon ở dạng tự do, chỉ có các hormon ở dạng tự do (Free Thyroxin - FT4)
và Free triiodothyronin (FT3) mới có tác dụng sinh học [26], [39], [44].
* Sinh tổng hợp hormon giáp
Quá trình tổng hợp hormon giáp trải qua 4 giai đoạn [4], [6], [19], [20].
+ Thâu nhận iod
+ Iod hóa thyroglobulin và hình thành các thyronin
+ Sự di chuyển các hormon giáp
+ Sự bài tiết các hormon
- Giai đoạn thâu nhận iod : Iod được hấp thu từ thức ăn qua niêm mạc
dạ dày. Trong dịch ngoại bào, iod ở dạng iodure (I -) bao gồm iod từ thức ăn
và iod được giải phóng từ chuyển hóa hormon giáp. Iod vào tuyến giáp và
được thận đào thải ra khỏi cơ thể. Sự thâu nhận iod không chỉ là đặc tính của
tế bào tuyến giáp mà các tế bào tuyến nước bọt, tuyến vú, niêm mạc dạ dày
cũng có thể thâu nhận iod. Nhưng tế bào tuyến giáp thâu nhận iod cần phải có
sự tham gia của TSH [24], [41], [46], [64].
- Giai đoạn iod hóa thyroglobulin và hình thành các thyronin : Sự tổng
hợp và dự trữ hormon giáp có mối liên hệ mật thiết với thyroglobulin. Đây là
chất cần thiết cho sự iod hóa và tạo nên dạng dự trữ cho hormon giáp trước

khi bài tiết ra ngoài. Bước đầu tiên của sự hình thành hormon giáp là sự oxy
hóa iodure (I
-
) thành iodine I
2
, đây là dạng có khả năng gắn với gốc amino
acid tyrosin của phân tử thyroglobulin. Đầu tiên tyrosin được gắn với một
hoặc hai iod để tạo thành MIT (T
1
) hoặc DIT (T
2
) nhờ vào sự súc tác của
enzym iodinase. Tiếp đến vài phút, vài giờ hay vài ngày các DIT sẽ kết hợp
ghép cặp để tạo thành thyroxin (T
4
) hoặc MIT + DIT để tạo thành
6
Triiodothyronin (T
3
). Như vậy cả T
4
và T
3
được tạo thành đều gắn với phân tử
thyroglobulin. Một phân tử thyroglobulin chứa 1 đến 3 phân tử T
4
và cứ 14
phân tử T
4
thì có 1 phân tử T

3
. Lượng hormon giáp dự trữ này đủ để cung cấp
cho cơ thể trong vòng 2 đến 3 tháng. Tất cả các giai đoạn này đều phải chịu
sự chi phối của hormon tiền yên TSH, hay còn gọi là thyrotropin [6], [9].
- Giai đoạn di chuyển của hormon giáp : Quá trình này diễn ra ngược
với sự thâu nhận iod, từ dịch keo đi qua tế bào và từ cực đỉnh đến cực mạch
máu. Enzym proteinase sẽ phân giải phân tử thyroglobulin và phóng thích T
3
và T
4
bằng cách cắt các dây nối peptid gắn hormon vào phân tử này. Các
hormon khuếch tán về cực mạch máu để đổ vào mao mạch xung quanh, một
số ít đi vào bạch huyết. Khoảng 3/4 tyrosin đã được iod hóa trong
thyroglobulin vẫn ở dạng MIT và DIT. Cùng với sự phóng thích T3 và T4,
các dạng này cũng được phóng thích nhưng chúng không được tiết vào máu,
mà bị khử iod bởi enzym deiodinase. Chính những iod này quay trở lại trong
tuyến giáp để góp phần tạo hormon mới.
- Giai đoạn bài tiết hormon giáp: Khoảng 90% hormon được phóng
thích từ giáp là T
4
(100 nmol/24 giờ) và chỉ 10% là T
3
. Tuy nhiên, sau vài
ngày, phần lớn T
4
bị khử iod để tạo thành T
3
. Như vậy hormon giáp đến và
hoạt động trên tổ chức là T
3

.
Trên thực tế các giai đoạn này xảy ra đồng thời. Giai đoạn 1 và 4 xảy ra
ở cực mạch máu, giai đoạn 2 và 3 xảy ra ở cực đỉnh. Tất cả các giai đoạn này
đều chịu sự chi phối của hormon thùy trước tuyến yên là TSH. TSH là một
glycoprotein, hormon của thùy trước tuyến yên có trọng lượng phân tử
khoảng 28.000, gồm 204 acid amin được hình thành từ 2 tiểu thể alpha và
bêta. Tiểu thể alpha đều có cấu trúc của các hormon thùy trước tuyến yên như
LH, FS, tiểu thể bêta đảm nhiệm chức năng đặc trưng của TSH. TSH có tác
dụng kích thích tuyến giáp qua trung gian một receptor đặc hiệu có 744 acid
7
amin, hoạt động qua hệ thống AMP vòng [25], [30], [32].
* Tác dụng của hormon giáp
FT
3
tác dụng mạnh và ngắn, FT
4
tác dụng chậm và kéo dài hơn. Trong
huyết thanh, nồng độ T
4
lớn hơn T
3
và một phần T
4
sẽ được chuyển thành T
3
khi phát huy tác dụng.
+ Tác dụng lên sự phát triển bào thai:
Hormon giáp tác dụng lên sự phát triển của bào thai ở tuần thứ 11, có
tác dụng phát triển, biệt hóa não bộ và hệ cơ xương của thai. Nếu thiếu sẽ gây
suy giáp bẩm sinh.

+ Tác dụng lên sự tiêu thụ oxy, sinh nhiệt và tạo gốc tự do
T
3
có tác dụng tăng tiêu thụ oxy và sinh nhiệt thông qua bơm Na
+
- K
+
-
ATPase của hầu hết các tổ chức trừ tổ chức não, lách, tinh hoàn. Nếu hormon
giáp giảm dẫn đến sinh nhiệt giảm, chuyển hóa cơ bản giảm, bệnh nhân sợ
lạnh. Nếu hormon giáp tăng dẫn đến giảm nồng độ superoxid - dismutase dẫn
đến tăng gốc tự do, đặc biệt trong nhiễm độc giáp.
+ Tác dụng lên hệ tim mạch (T
3
, T
4
nhưng chủ yếu là T
3
)
- Hormon giáp gây tăng chuyển hóa oxy, tăng chuyển hóa cơ bản, tăng
các sản phẩm chuyển hóa gây giãn mạch dẫn đến tăng lưu lượng tim, tăng lưu
lượng máu ngoại vi để tăng thải nhiệt, giảm hormon giáp sẽ giảm lưu lượng tim.
- Tăng hormon T
3
sẽ gây tăng hoạt tính thụ thể bêta-adrenergic và
protein dẫn tới tăng nhịp tim, tăng sức co bóp cơ tim, tăng cung lượng tim.
Thiếu hormon giáp sẽ gây biểu hiện lâm sàng ngược lại.
- Hormon giáp không gây ảnh hưởng nhiều tới huyết áp trung bình do
làm tăng thể tích nhát bóp, tăng lưu lượng máu giữa hai chu kỳ chu chuyển tim,
vì vậy huyết áp tâm thu có thể tăng 10-20 mmHg và giảm huyết áp tâm trương.

- Hormon giáp (T
3
) kích thích sự sao chép chuỗi nặng alpha-myosin và
ức chế sự sao chép chuỗi nặng bêta-myosin dẫn tới tăng sức co bóp cơ tim.
8
+ Tác dụng lên hệ thần kinh:
- Hệ giao cảm: Hormon giáp làm tăng số lượng thụ thể bêta-adrenergic ở
cơ tim, hệ xương, tổ chức mỡ và làm giảm thụ thể bêta-adrenergic ở cơ tim, tăng
tác dụng của catecholamin ở vị trí hậu thụ thể. Trong suy giáp, ngược lại giảm
tác dụng của catecholamin dẫn tới nhịp tim chậm.
- Hệ thần kinh trung ương: Hormon giáp có tác dụng phát triển và biệt
hóa não bộ thai nhi. Ở người trưởng thành, hormon giáp có tác dụng kích
thích hoạt động hệ thần kinh trung ương, vì vậy, nếu suy giáp sẽ có biểu hiện
trí tuệ giảm, trì trệ, chậm chạp, ngủ gà, ngủ nhiều.
+ Tác dụng trên hệ da - cơ - xương:
- Hormon giáp gây co cơ cường độ tăng, thời gian co cơ ngắn và tăng,
trong khi đó suy giáp làm cơ mệt mỏi, thời gian giãn cơ kéo dài sau khi co.
Có biểu hiện chuột rút, cơ bị thâm nhiễm chất dạng nhầy, men cơ CPK tăng
cao trong huyết thanh.
- Hormon giáp có tác dụng kích thích sự đổi mới ở tổ chức xương. Suy
giáp có hiện tương tăng lắng đọng calci bất thường ở xương dẫn tới giảm
calci huyết và calci niệu và PTH giảm (Para Thyroid Hormon)
- Hormon giáp tăng thoái hóa glycosaminoglycan với thành phần chính
là acid hyaluronic ở tổ chức kẽ và mô liên kết, tăng tính thấm của mô mạch
dẫn tới phù tổ chức kẽ, da sần sùi, khô, màu vàng sáp là do giảm khả năng
chuyển hóa caroten thành vitamin A.
+ Tác dụng về huyết học:
Hormon tuyến giáp giúp tăng nhu cầu oxy tế bào dẫn tới tăng sản xuất
erythropoietin là chất tạo hồng cầu, tăng chất 2,3 DPG của hồng cầu, tăng
phân ly oxy với hemoglobin dẫn tới giải phóng oxy cho tổ chức tăng. Trong

suy giáp, nhu cầu oxy của tế bào giảm nên giảm sản xuất erythropoietin khiến
hồng cầu giảm và oxy tổ chức giảm dần tới bệnh nhân thiếu máu nhẹ.
9
+ Tác dụng trên tiêu hóa:
Hormon giáp kích thích tiết dịch tiêu hóa dẫn tới dễ tiêu hóa, ăn ngon
miệng, chóng đói, ăn nhiều, tăng nhu động ruột. Trong suy giáp thì ngược lại,
dẫn tới chán ăn, táo bón.
+ Tác dụng trên chuyển hóa:
Hormon tuyến giáp tăng, dẫn tới tăng chuyển hóa cơ bản, suy giáp làm
giảm chuyển hóa cơ bản tới 20-50%.
Tăng hormon giáp dẫn tới tăng tạo đường mới, tăng thoái hóa glycogen
ở gan, cơ, tăng hấp thu glucose ở ruột, tăng sử dụng glucose ở tế bào, tăng tiết
insulin. Trong suy giáp thì ngược lại dẫn tới hạ đường huyết.
Hormon giáp tăng sẽ gây tăng thoái hóa cholesterol, tăng đào thải
cholesterol qua đường mật, tăng hoạt hóa receptor với LDL tại gan và
cholesterol máu giảm. Trong suy giáp cholesterol máu tăng.
+ Tác dụng trên hệ nội tiết
- Thượng thận: Cortisol có thời gian bán hủy 100 phút. Trong suy giáp
thời gian bán hủy cortisol 150 phút.
- Tụy: Suy giáp làm giảm tiết insulin.
- Cận giáp: Suy giáp làm giảm tiết PTH (Para thyroid hormone).
- Tuyến yên: Suy giáp có thể gây tăng prolactin tới 40% các trường
hợp, có thể tăng giải phóng TRH.
- Sinh dục: Suy giáp ở nữ gây rong kinh, ở nam gây suy sinh dục [1],
[4], [5], [6], [8], [37], [38], [40], [47], [48].
1.1.4. Bệnh nguyên
Phân loại bệnh nguyên có nhiều loại, nhiều tài liệu phân loại bệnh
nguyên suy giáp chia thành 4 nhóm chính:
10
1.1.4.1. Suy giáp tiên phát

+ Viêm giáp Hashimoto
- Thể có bướu giáp (thường gặp ở trẻ em)
- Thể teo tuyến giáp vô căn, giai đoạn cuối của bệnh tuyến giáp tự
miễn, sau viêm giáp Hashimoto hoặc Basedow (gặp ở người lớn do tuyến
giáp bị hủy hoại cần thăm dò kháng thể kháng giáp)
+ Suy giáp sơ sinh do kháng thể ức chế thụ thể TSH truyền từ máu mẹ
qua nhau thai.
+ Điều trị iode phóng xạ
+ Cắt giảm giáp gần toàn phần do bệnh Basedow hoặc bướu giáp nhân.
+ Nhiễm iode (thuốc chứa iode như thuốc ho, cordarone, chất cản
quang thăm dò mạch máu…) thường tự khỏi sau ngưng tiếp xúc.
+ Viêm giáp bán cấp.
+ Viêm giáp chu sinh
+ Viêm giáp Riedel
+ Hiếm hơn:
- Thiếu iode
- Các chất sinh bướu như Lithium, thuốc kháng giáp tổng hợp (Prophyl
Thyo Uracin, carbimazol…)
- Bất thường tổng hợp hormon giáp (suy giáp nhẹ nếu rối loạn ít, suy
giáp nặng nếu rối loạn tổng hợp toàn phần.)
- Do thâm nhiễm như: sarcoidose, amylase, cystinose.
1.1.4.2. Suy giáp thứ phát
+ Suy tuyến yên do u tuyến của tuyến yên.
+ Phẫu thuật cắt bỏ tuyến yên.
+ Hủy hoại tuyến yên (hội chứng Sheehan)
11
1.1.4.3. Suy giáp tam phát
Rối loạn chức năng vùng dưới đồi
1.1.4.4. Suy giáp do đề kháng hormone giáp ở ngoại biên
Về phương diện lâm sàng, nguyên nhân (1) thường gặp và xác định

được như viêm giáp mạn Hashimoto, do điều trị (phẫu thuật cắt giảm hoặc cắt
bỏ, xạ trị liệu tuyến giáp…) và (2) thường gặp nhưng thoáng qua như viêm
giáp bán cấp, viêm giáp chu sinh, do thuốc ức chế tổng hợp (lithium
carbonate, kháng giáp tổng hợp, iode…) [1], [2], [4], [7].
1.1.5. Bệnh sinh
- Hoạt động chức năng tuyến giáp được điều hòa bởi cơ chế thông qua
trục dưới đồi - yên - tuyến giáp - mô đích.
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ điều hòa tổng hợp Hormone tuyến giáp
Nồng độ hormon tuyến giáp tự do trong huyết thanh có tác dụng điều
hòa ngược âm tính lên điều hòa bài tiết hormon TSH của tuyến yên và
hormon TRH vùng dưới đồi.
Gần đây, nhiều nghiên cứu còn tìm ra cơ chế điều hòa thứ cấp:
- Somatostatin, dopamine: Ức chế bài tiết TSH.
- Alpha-adrenergic: kích thích bài tiết TSH.
12
Suy giáp tiên phát là do tổn thương tế bào tuyến giáp, dẫn tới giảm sản
xuất hormon giáp (T
3
, T
4
). Với nồng độ T
3
, T
4
trong máu giảm gây hiện tượng
phản hồi ngược âm tính (mất kiểm soát ngược đối với tuyến giáp và dưới đồi)
trong khi tuyến yên-dưới đồi vẫn bình thường, hậu quả là TSH tăng trong
máu. Vì vậy bệnh nhân suy giáp tiên phát có T
3
, T

4
giảm và TSH tăng.
Suy giáp thứ phát: Tổn thương vùng dưới đồi yên dẫn tới giảm tiết
TRH, TSH dẫn đến giảm tiết T
3
, T
4
của tuyến giáp, Giảm T
3
, T
4
dẫn đến kích
thích tuyến yên và dưới đồi tăng tiết TSH và TRH, nhưng dưới đồi bị tổn
thương nên tuyến giáp không sản xuất được T
3
, T
4
dẫn tới T
3
, T
4
tiếp tục
giảm. Suy giáp thứ phát thường có T
3
, T
4
giảm, TSH giảm hoặc bình thường
[1], [4], [49], [70], [71], [72], [73].
1.1.6. Lâm sàng suy giáp
1.1.6.1. Suy giáp ở trẻ sơ sinh

Biểu hiện lâm sàng suy giáp ở trẻ sơ sinh thường không rõ ràng, hoặc
không có triệu chứng gì, do vậy tỷ lệ phát hiện suy giáp ở trẻ sơ sinh còn rất
thấp. Để tạo thuận lợi cho việc phát hiện sớm trên lâm sàng, có thể cho điểm
lâm sàng (điểm Appgar)
• Thoát vị rốn: 2 điểm
• Phù niêm, bộ mặt đặc biệt: 2 điểm
• Táo bón: 2 điểm
• Giới nữ: 1 điểm
• Da xanh, lạnh, hạ thân nhiệt: 1 điểm.
• Lưỡi to: 1 điểm
• Vàng da kéo dài: 1 điểm
• Trương lực cơ giảm: 1điểm
• Da khô: 1 điểm
13
• Thóp sau rộng: 1 điểm
• Thai quá 40 tuần: 1 điểm
• Cân nặng khi đẻ trên 3,5 kg: 1 điểm.
Khi có trên 5 điểm là gợi ý có thể mắc suy giáp, cần làm xét nghiệm để
chẩn đoán xác định.
Việc định lượng FT
4
và TSH giúp phát hiện sớm suy giáp sơ sinh khi
định lượng T
4
dưới 6mcg% và nồng độ TSH trên 30mcU/ml.
Suy giáp sơ sinh là do tuyến giáp lạc chỗ với chức năng kém. Có thể do
kháng thể kháng thụ thể TSH loại ức chế từ mẹ bị Hashimoto truyền qua nhau
thai. Kết quả là không có tuyến giáp và “ phù niêm không tuyến giáp”.
Trong sự khiếm khuyết di truyền về sinh tổng hợp hormon giáp gây suy
giáp kèm bướu giáp.

Cũng không hiếm trường hợp suy giáp do sử dụng nhiều iode trong khi
mang thai, dùng thuốc kháng giáp hoặc điều trị phóng xạ [50], [51], [56].
1.1.6.2. Suy giáp ở trẻ em
Suy giáp ở trẻ em biểu hiện bằng chậm phát triển và trì trệ tâm thần.
Trong độ tuổi vị thành niên, dậy thì sớm có thể xảy ra và có thể lớn mỏm yên
thêm vào thân hình ngắn. Đây không phải là do u tuyến yên mà do tuyến yên
phì đại phối hợp với tăng tiết TSH [50], [56], [83].
1.1.6.3. Suy giáp ở người lớn
Triệu chứng thường xuất hiện từ từ với chậm chạp, vô tình cảm, thờ ơ,
thường quy vào rối loạn mãn kinh. Vì thế chẩn đoán thường đặt ra khi bệnh
cảnh lâm sàng điển hình mà sự tiến triển thực ra đã xảy ra từ nhiều năm do
không nhận biết được.
* Bướu giáp
Bướu giáp thường không sờ thấy, nếu có thường gợi ý Hashimoto.
* Biểu hiện da và niêm mạc
14
Ở phụ nữ có khuôn mặt tròn kèm phù mí mắt, mặt sưng húp toàn thể
kèm dày cánh mũi, rộng dái tai, môi dày, mất các đường nhăn và nếp gấp.
Đầu chi lớn kèm các ngón tay, ngón chân bị bó chặt. Thân và các chi có dạng
hình trụ kèm căng phồng hõm trên xương đòn, nách và bẹn.
Da tái nhạt, lạnh, khô, bong vảy, vảy nến. Tím môi và gò má.
Niêm mạc cũng bị thâm nhiễm lan dần đến các cột thanh âm gây khàn
giọng, lưỡi lớn, vòi Eustache gây giảm thính lực và ù tai, phù niêm mạc mũi
gây chảy nước mũi vào ban đêm.
Rụng lông nách, mu và đuôi lông mày (2/3 ngoài).
Tóc khô, dễ gãy, dễ rụng và mất đi tính chất mềm mại.
Móng tay chân giòn, khô, xước, dễ gãy, mọc chậm. Thâm nhiễm da và
dưới da bởi một tình trạng phù đàn hồi giả, cứng, chứa nước và chất
mucoprotein đưa đến dày nếp gấp da, mất đi đường và nếp gấp bình thường.
* Biểu hiện tim mạch

Là triệu chứng khá nổi bật, luôn là biến chứng của suy giáp tiến triển
với ba biểu hiện thường gặp là:
Rối loạn nhịp tim: nhịp chậm xoang, phân li nhĩ thất kịch phát hoặc
thường xuyên, bloc nhánh, phức bộ QRS có điện thế thấp cũng như các sóng
P và T. Các rối loạn khác cũng thường gặp và đặc biệt xảy ra khi dùng
hormon giáp thay thế.
Biểu hiện tuần hoàn vành: Không phải hiếm, liên quan đến mạch máu,
thiếu máu và thiếu oxy. Thường biểu hiện bằng cơn đau thắt ngực, đôi lúc rất
nặng, được bộc phát khi điều trị thay thế. Thật vậy, trong suy giáp “bảo vệ tim”
vì lý do giảm chuyển hóa và giảm dẫn truyền tự động của cathecholamin trên cơ
tim. Khi trở về bình giáp kèm tăng công tim và tiêu thụ oxy của cơ tim đưa đến
nguy cơ suy mạch vành. Chính vì thế thận trọng khi điều trị thay thế kích tố
giáp.
15
Suy tim: Biểu hiện khó thở khi gắng sức, tím tái và các dấu hiệu lâm
sàng của suy tim toàn bộ. Tim lớn (do thâm nhiễm, do tràn dịch) đập yếu,
cung lượng tim giảm.
* Biểu hiện hô hấp
Thở nông và chậm. Đáp ứng kém với tăng CO
2
hoặc giảm O
2
. Suy hô
hấp là một trong những nguyên nhân tử vong của suy giáp.
* Biểu hiện tiêu hóa
Táo bón, căng đại tràng, giảm trương lực túi mật, kèm sỏi mật. Bối
cảnh phù, báng, gan to, da tái, rụng lông, rối loạn nhân cách không nên nhầm
với chứng nghiện rượu.
* Biểu hiện thận
Chức năng thận bị ảnh hưởng với giảm lọc cầu thận và giảm bài tiết

nước tiểu. Có nguy cơ ứ nước.
* Biểu hiện thiếu máu
Thường nặng, chủ yếu là do sung huyết, thiếu máu đẳng sắc, giảm sắc,
dạng thiếu máu hồng cầu to giả Biermer. Đây là do (1) tổng hợp hemoglobin
ảnh hưởng do thiếu hormon giáp, (2) thiếu sắt do giảm hấp thụ sắt ở ruột hoặc
do mất vì chứng đa kinh, (3) giảm Folat do giảm hấp thụ folic acid ở ruột và
(4) thiếu máu nhược sắc với sự giảm vitamin B12, thiếu máu nhược sắc này
còn liên quan đến tự miễn, nhất là suy giáp do viêm giáp mạn phối hợp với tự
kháng thể, thiếu máu nhược sắc phối hợp với tự kháng thể tế bào thành dạ
dày, đái tháo đường phối hợp với tự kháng thể kháng đảo và suy vỏ thượng
thận phối hợp với tự kháng thể thượng thận (hội chứng Schmidt).
* Biểu hiện tâm thần kinh
Ngoài trì trệ về trí tuệ và rối loạn trí nhớ thường gặp các hội chứng
trầm cảm, bốc hỏa và kích thích. Mệt mỏi thường xuyên cả thể lực, tinh thần,
trí tuệ và sinh dục. Chậm vận động (bradykinesie) kèm thao tác chậm, vụng
16
về, trả lời chậm, ngủ gà.
Biểu hiện thần kinh cơ với cảm giác cứng cơ và chuột rút, cứng khối cơ
gây cảm giác căng, chắc và đau cơ, vụng về gần đây khi thao tác bằng tay.
Dị cảm ở đầu chi với cảm giác châm chích, kiến bò.
Phản ứng giả loạn trương lực kèm chậm co cơ khi khám phản xạ gân xương.
* Biểu hiện ở các tuyến nội tiết khác
Thể phối hợp hoặc ảnh hưởng trên các tuyến nội tiết khác như rối
loạn kinh nguyệt, vô kinh kèm tiết sữa (galactoree), vô sinh. Suy vỏ thượng
thận, đái tháo đường và các rối loạn dung nạp đường. Bệnh tự miễn như
thiếu máu Biermer.
Tỉ lệ các dấu thứng thường gặp trong suy giáp (J. Harzard và cộng sự)
• Dấu chuyển hóa:
- Mệt mỏi (99%)
- Sợ lạnh (89%)

- Tăng cân (59%)
• Dấu tim mạch:
- Nhịp tim chậm (95%)
- Hồi hộp (31%)
- Phù ngoại biên (55%)
- Đau vùng trước tim (25%)
• Dấu thần kinh:
- Ngủ lịm (91%)
- Lời nói chậm (91%)
- Mất trí nhớ (61%)
- Rối loạn tâm thần (35%)
• Dấu da và niêm mạc:
- Rụng tóc (57%)
17
- Khàn giọng (52%)
- Điếc (32%)
- Da khô (97%)
- Lưỡi dày và cứng (82%)
- Rụng lông (76%)
- Da tái (67%)
- Giảm tiết mồ hôi (89%)
• Dấu tiêu hóa:
- Táo bón (23%)
• Dấu cơ:
- Chuột rút (70%)
1.1.7. Cận lâm sàng suy giáp
1.1.7.1. Bilan về hormone
Định lượng hormon giáp dạng tự do có giá trị hơn so với dạng hormon
giáp toàn phần do ảnh hưởng bởi sự thay đổi của protein tải.
+ FT

4
quan trọng hơn so với FT
3
(Giảm FT
3
sinh lý ở người già, sử
dụng amiodarone, nhiễm trùng nặng). Định lượng T
4
còn có ích trong theo dõi
điều trị suy giáp tiên phát.
+ TSH cho phép định vị thương tổn tiên hay thứ phát của suy giáp, cho
phép loại trừ hội chứng giảm T
3
. Nồng độ TSH ≥ 10 mcU/ml cho phép loại
trừ nguyên nhân tại tuyến yên.
+ Test TRH không có ích, ngoại trừ thăm dò trục yên, nghi ngờ suy
giáp thứ phát.
+ Độ tập trung iode phóng xạ tại giáp rất thấp dưới 5%, 10% và 25% ở
các thời điểm 2, 6 và 24 giờ.
+ Xạ hình tuyến giáp không thực hiện được do sự bắt giữ iode phóng
xạ (hoặc với chất Tc99m) quá thấp. Hình ảnh thường kém chất lượng và
18
không đồng nhất nhưng cũng có giá trị trong chẩn đoán và tiên lượng [1],
[4], [52], [83], [84], [85].
1.1.7.2. Bilan miễn dịch
Trong viêm giáp tự miễn, có dấu hiệu rối loạn miễn dịch, dấu hiệu quan
trọng nhất là xuất hiện một số kháng thể như sau:
- Kháng thể kháng peroxydase giáp hiện diện 90 - 100%.
- Kháng thể kháng thyroglobulin hiện diện 90%.
- TBI Ab (Thyrotropin binding inhibiting antibodies) hiện diện 14 - 20%.

- TGI (Thyroid Growth Immunoglobulin) hiện diện trong thể có bướu giáp.
- TGBI (Thyroid Growth Blocking Immunoglobulin) thể teo bướu giáp
- Kháng thể kháng T
3
và T
4
.
- Kháng thể kháng thụ thể TSH loại ức chế tìm thấy ở máu mẹ truyền
sang con gây suy giáp bẩm sinh (trẻ sinh ra không có tuyến giáp) [1], [4],
[57], [60].
1.1.7.3. Iode máu và iode niệu
Trong trường hợp nghi ngờ quá tải iode do dùng nhiều iode hoặc các
thuốc như amiodarone benziodarone…[4], [74], [75], [76].
1.1.7.4. Một số biểu hiện sinh học gián tiếp không đặc hiệu.
+ Thiếu máu: Thường gặp (25-50%), với các loại thiếu máu
- Hồng cầu đẳng sắc, thiếu máu hồng cầu nhỏ do thiếu sắt (do chảy
máu, thiếu dịch vị), thiếu máu hồng cầu to do thiếu folat và B12.
- Thời gian chảy máu kéo dài, bất thường chức năng tiểu cầu, giảm một
vài yếu tố đông máu.
+ Tăng cholesterol máu đơn thuần (type Ia) và hay tăng triglyceride
máu (type IIb), có thể có tăng các loại lipid máu khác.
+ Tăng các enzym cơ: SGOT, CPK, Aldolase.
+ Giảm natri máu do hòa loãng kèm thải natri còn đảm bảo (tiết không
19
kiểm soát ADH).
+ Tăng acid uric máu.
+ Protein niệu vừa phải.
+ Thiếu oxy kèm CO
2
bình thường hoặc tăng.

+ Tăng carotene máu.
+ Bất thường nội tiết
- Sản xuất cortisol bình thường ngoại trừ bệnh lý thượng thận hoặc
vùng đồi yên phối hợp.
- Tăng prolactin máu (do tăng TRH)
- Bất thường về nhịp sinh học tiết LH và FSH: Chu kỳ không phóng
noãn hoặc vô kinh [1], [4], [63], [65].
1.1.8. Chẩn đoán
Chẩn đoán ở giai đoạn lâm sàng điển hình thì quá muộn với các dấu
chứng và biến chứng của thiếu hormon giáp nặng. Triệu chứng thường phụ
thuộc nồng độ và thời gian của thiếu hormon. Bệnh sử và tiền sử cũng rất
quan trọng trong hướng đến chẩn đoán. Trong trường hợp nghi ngờ cần thăm
dò lần lượt như sau:
Kết hợp FT
4
giảm và TSH tăng gợi ý suy giáp tiên phát. T
3
thay đổi và
có thể bình thường. Tự kháng thể kháng giáp (+) gợi ý viêm giáp mạn
Hashimoto.
Chứng phù niêm tuyến yên, FT
4
giảm nhưng TSH không tăng, không
đáp ứng với test TRH.
Nếu test TRH đáp ứng một phần hoặc bình thường điều đó có thể
chức năng của tuyến yên còn nguyên nhưng có sự khiếm khuyết vùng dưới
đồi tiết TRH.
Bệnh nhân dùng L. thyroxin, khi khám thấy bướu giáp và kháng thể
kháng giáp (+) gợi ý Hashimoto, bệnh nhân tiếp tục sử dụng thuốc.
20

Nếu kháng thể (-), thuốc phải ngừng 6 tuần và kiểm tra FT
4
và TSH.
Mặc dù L.thyroxin bán hủy khoảng 7 ngày nhưng tuyến yên thường trở lại
bình thường sau một thời gian dài hơn.
Nếu suy giáp TSH tăng sau 5-6 tuần và T
4
vẫn còn dưới bình thường.
Bệnh nhân đang dùng
L.thyroxin
Bệnh nhân không dùng
L.thyroxin

Ngưng 6 tuần
FT
4
và TSH huyết tương
FT
4
và TSH
Bình thường
FT
4
thấp
TSH cao
FT
4
thấp
TSH bình thường hoặc thấp
Bình giáp Suy giáp tiên phát Suy giáp thứ phát

Test TRH
Đáp ứng quá mức
Suy giáp tiên phát
Đáp ứng bình thường
Tổn thương vùng dưới đồi
Không đáp ứng
Tổn thương tuyến yên
Sơ đồ 1.2. Chẩn đoán suy giáp tiên phát
[1], [4], [66], [78], [79].
1.1.9. Điều trị suy giáp
1.1.10.1.Thuốc sử dụng (chế phẩm hormon giáp)
+ L.thyroxin (Levothyrox) viên 25, 50, 75, 100,và 150mcg
+ L.thyroxin dạng dung dịch (1 giọt chứa 5mcg)
+ Triiodothyronine (cynomel) viên 25mcg
21
+ Dạng phối hợp T
4
và T
3
: Euthyral (20mcg T
3
và 100 mcg T
4
)
Điều trị suy giáp với L.Thyroxin là cơ bản, ổn định và kinh tế. Trong tế
bào thyroxin sẽ chuyển thành T
3
.
Triiodothyronin (T
3

, L.thyronin) không được an toàn do hấp thu nhanh,
tác dụng ngắn, mạnh nhưng thoáng qua, hiện nay ít dùng để điều trị suy giáp.
Bán hủy L. thyroxin khoảng 7 ngày, vì thế chỉ cần dùng liều độc nhất
hàng ngày. Thuốc hấp thu tốt, nồng độ trong máu có thể theo dõi dễ dàng bởi
FT
4
và TSH.
Khi sử dụng 0,1 - 0,15mg L.thyroxin ghi nhận có sự gia tăng T
4
và FT
4
khoảng 1 - 2 mcg% (13 - 26 nmol/l) và giảm TSH khoảng 1 - 2 mcgU/ml bắt
đầu sau 2 giờ và kéo dài 8 - 10 giờ.
Vì vậy nên cho thuốc vào buổi sáng hơn là buổi chiều nhằm tránh kích
thích, mất ngủ [80], [81], [82].
1.1.9.2. Ứng dụng lâm sàng
* Bệnh nhân không bị tim mạch, suy giáp gần đây
Liều thay thế ở người lớn 0,05 - 0,2 mg/ngày, trung bình 0,125 mg.
Liều phải phù hợp với tuổi tác và cân nặng của bệnh nhân, người trẻ
liều cao hơn.
Người lớn liều T
4
khoảng 1,7µg/kg/ngày.
Người cao tuổi liều dưới 1,5µg/kg/ngày.
Liều ức chế trong điều trị bướu giáp đa nhân hoặc K giáp khoảng 2,2
µg/kg/ngày.
Nếu sử dụng bằng đường chích thì lưu ý giảm liều còn 75 - 80% so với
liều đường uống.
Lưu ý giảm tác dụng thuốc khi dùng chung đường uống với các thuốc
aluminum và cholestyramin.

Liều levothyroxin theo tuổi
22

23
Bảng 1.1. Liêu lượng levothyroxin
Tuổi Levothyroxin µg / kg / ngày
0 - 6 tháng
7 - 11 tháng
1 - 5 năm
6 - 10 năm
11 - 20 năm
Người lớn
8 – 10
6 - 8
5 - 6
3 - 4
2 - 3
1- 2
* Người già và / hay suy tim hoặc suy vành.
-Cần phải nằm viện
-Liều thấp L.thyroxin: (10 - 15 µg/ngày)
-Tăng liều theo bậc thang 5 µg/tuần nhưng bệnh nhân phải thích nghi
-Duy trì tối đa 75 µg/ngày.
-Theo dõi chặt chẽ.
-Điều trị phối hợp với thuốc giãn vành.
-Có thể làm cầu nối trước khi điều trị L.thyroxin.
* Tác dụng phụ của liệu pháp hormon giáp
Chưa thấy báo cáo về dị ứng levothyroxin đơn thuần mà có thể dị ứng
với tá chất. Tác dụng phụ chính là nhiễm độc giáp do thuốc, đặc biệt là các
biểu hiện tim mạch và loãng xương.

Các biểu hiện của chứng nhiễm độc giáp kinh điển (loạn nhịp tim, mất
ngủ, run tay, không chịu nóng ) ngừng thuốc sau 3 ngày giảm liều cho phù hợp.
Gia tăng thoái biến xương và gây loãng xương thường phối hợp với
cường giáp kéo dài và cũng gặp ở bệnh nhân sử dụng levothyroxin lâu ngày.
Cần theo dõi FT
4
và TSH đặc biệt ở bệnh nhân điều trị ức chế TSH (K
giáp, bướu giáp nhân) nếu TSH bị ức chế nhưng FT
4
được ở giới hạn trên
bình thường, thì tác dụng phụ của T
4
trên xương sẽ vừa phải [1], [4].
1.1.10. Suy giáp dưới lâm sàng
24
Từ lâu các nhà y học nhận thấy có những trường hợp thử các xét
nghiệm chức năng tuyến giáp đều bình thường, ngoại trừ nồng độ TSH huyết
thanh tăng cao (nhờ vào phương pháp định lượng TSH siêu nhạy). Tình trạng
này được đặt tên “suy giáp dưới lâm sàng”, khi nồng độ TSH từ 4,2 đến
10mcIU/ml [7], [19], [39], [40].
Nguyên nhân suy giáp dưới lâm sàng, thường là những nguyên nhân
suy giáp nói chung như: Viêm giáp mạn Hashimoto, điều trị phẫu thuật tuyến
giáp, điều trị iod phóng xạ, tai biến do dùng thuốc kháng giáp…
Bảng 1.2. Suy giáp tiên phát
Xét nghiệm TSH FT
4
TPOAb TgAb TRAb
Kết quả Tăng BT BT tăng BT tăng BT tăng
TPOAb: Kháng thể thyroperoxidase.
TgAb: Kháng thể kháng thyroglobulin.

TRAb: Kháng thể kháng thụ thể TSH loại ức chế.
Suy giáp dưới lâm sàng có thể tiến triển như sau: Nồng độ TSH có thể
trở lại bình thường sau vài tháng hoặc suy giáp yên lặng thoáng qua hay là
suy giáp dưới lâm sàng không thay đổi. Có 5% suy giáp dưới lâm sàng trở
thành suy giáp thật sự mỗi năm.
Suy giáp dưới lâm sàng nếu không điều trị có thể mắc các nguy cơ sau:
Tăng nguy cơ đột ngụy, xơ vữa động mạch, tăng cholesterol máu, trầm cảm,
lo lắng.
Như vậy những bệnh nhân suy giáp dưới lâm sàng cần được xét nghiệm
TSH thường xuyên để phòng tránh những nguy cơ trên [12], [59], [67], [68], [69].
1.2. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH SUY GIÁP
1.2.1.Trong nước
- Theo Trần Đức Thọ tỷ lệ suy giáp ở nữ nhiều hơn nam, đặc biệt sau
tuổi vào mãn kinh nữ giới nhiều hơn nam giới từ 4 - 8 lần.
- Theo Trần Đức Thọ thống kê tại Viện lão khoa Việt Nam, suy giáp ở
25
người cao tuổi chiếm 2,2% số người bệnh nằm viện [52], [59], [77].
1.2.2. Nước ngoài
- Đã có một số nghiên cứu về bệnh lý suy giáp. Trong một nghiên cứu
lớn tại Mỹ cho thấy 2,5% phụ nữ có thai bị suy giáp có tăng TSH và chỉ có
0,3% trường hợp suy giáp có giảm FT
4
. Tỷ lệ suy giáp sơ sinh chiếm 1/4000
trong số trẻ mới đẻ. Đa số là suy giáp nguyên phát. Châu Âu, suy giáp ở
người cao tuổi gặp nhiều hơn 6 - 8 lần so với cường giáp [2], [4].
- Bemben và cộng sự phát hiện suy giáp dưới lâm sàng trên 14,6% phụ
nữ và 15,4% đàn ông ở độ tuổi 60 - 97 tuổi.
- Nghiên cứu của Valentin Fadeyev với 260 người sống ở viện dưỡng
lão tại Moscow, tuổi trung bình là 79 (60 - 101), rối loạn chức năng tuyến
giáp 11,2%, trong đó suy giáp dưới lâm sàng là dạng rối loạn chức năng

thường gặp nhất
- Moreau đưa ra một tần suất tổng quát là 0,4 - 1,7 số bệnh nhân vào
lão khoa. Vào tuổi 60, tỷ lệ suy giáp được ghi nhận theo các tác giả như sau:
+ Kết quả của Mac Csvaek tỷ lệ suy giáp là 0,4%
+ Loyd và cộng sự tỷ lệ suy giáp là 1,7%
+ Martin tỷ lệ suy giáp là 1,7 - 2,2% ở các nước châu âu [52], [59],
[86], [87], [88], [89].

×