ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
VŨ QUỲNH NAM
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HỖ
TRỢ NHỎ VÀ VỪA Ở TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60-34-01
L
L
U
U
Ậ
Ậ
N
N
V
V
Ă
Ă
N
N
T
T
H
H
Ạ
Ạ
C
C
S
S
Ỹ
Ỹ
K
K
I
I
N
N
H
H
T
T
Ế
Ế
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Trần Chí Thiện
Thi Nguyên, năm 2012
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sƣ̣ cầ n thiết của đề tài
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có một vai trò quan trọng trong
sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nƣớc. Tính đến tháng 9 năm
2011 số lƣợng doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký hoạt động là 500.000, chiếm
tỷ lệ hơn 98% trên tổng số doanh nghiệp hoạt động của nền kinh tế với tổng
số vốn đăng ký 121 tỷ USD, hàng năm đóng góp hơn 40% cho GDP, 33% sản
lƣợng công nghiệp, 30% giá trị xuất khẩu. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa
không chỉ đóng gióp đáng kể vào sự phát triển của đất nƣớc mà còn tạo ra
nhiều việc làm cho ngƣời lao động. Hiện các doanh nghiệp này sử dụng trên
50% lao động xã hội [Tổng Cục thống kê, 2011]. Nhƣ vậy, có thể nói doanh
nghiệp nhỏ và vừa đã và đang thể hiện vai trò quan trọng của mình đối với
nền kinh tế, và là khu vực phát triển nhanh nhất góp phần quan trọng vào tốc
độ phát triển chung trong nền kinh tế. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có những ƣu
điểm nổi bật mà các loại hình doanh nghiệp khác không có đƣợc, đặc biệt
trong thời kỳ chuyển đổi hiện nay ở nƣớc ta nhƣ có sức năng động, có khả
năng thích nghi, dễ thay đổi công nghệ, rủi ro thấp, hiệu quả đầu tƣ tƣơng đối
cao, dễ quản lý,
Tuy nhiên, tiến trình hội nhập quốc tế vừa tạo ra nhiều cơ hội, vừa đƣa
lại không ít thách thức cho từng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp
nhỏ và vừa, tạo ra sức ép buộc doanh nghiệp phải cải cách, đổi mới toàn
diện về mọi mặt để tồn tại và phát triển. Riêng trong năm 2011 đã có gần
50.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa (chiếm tỷ lệ 9%) phải tuyên bố phá sản
hoặc giải thể. Do vậy các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần tìm ra những hƣớng
đi đúng đắn để có thể vững vàng trong cạnh tranh trong nền kinh tế thị
trƣờng.
2
Thái Nguyên, là một tỉnh nằm ở khu vực trung du, miền núi phía Bắc,
là tỉnh có ngành công nghiệp phát triển sớm, trong những năm gần đây phát
triển tƣơng đối nhanh, ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế.
Thời gian qua ngành công nghiệp Thái Nguyên luôn duy trì tốc độ tăng
trƣởng khá, tuy nhiên công nghiệp phát triển chủ yếu theo chiều rộng đa
ngành nghề. Sản xuất một số ngành công nghiệ p chủ lƣ̣ c nhƣ : dệt may, cơ
khí, còn mang nặng gia công , nguyên vậ t liệ u, linh kiệ n chủ yế u nhậ p khẩ u ,
giá trị gia tăng thấp, khả năng cạnh tranh chƣa cao, do ngành công nghiệp
hỗ trợ chƣa phát triển mạ nh.
Ngành công nghiệp hỗ trợ là các ngành công nghiệp trợ giúp cho việc
hoàn thành sản phẩm cuối cùng thông qua việc cung cấp các chi tiết, linh kiện,
phụ kiện và các sản phẩm hàng hóa dịch vụ trung gian khác. Đẩy mạnh phát
triển công nghiệp hỗ trợ là một giải pháp quan trọng, là khâu đột phá để phát
triển nhanh và bền vững các ngành công nghiệp chủ lực của tỉnh trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo sự chuyển dịch trong ngành và chuyển
biến mạnh về chất trong phát triển công nghiệp Thái Nguyên. Do đó, việc tìm
ra giải pháp phát triển các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này là rất cần
thiết, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề này, tôi đã lựa chọn đề tài
“Giải php pht triển doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nhỏ và vừa ở
tỉnh Thi Nguyên”. Đề tài đƣợc thực hiện nhằm đánh giá thực trạng tình hình
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa trong ngành
công nghiệp hỗ trợ của tỉnh Thái Nguyên. Trên cơ sở đó, giúp các doanh
nghiệp, nhà quản lý thấy đƣợc những khó khăn, vƣớng mắc để từ đó đề xuất
một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp góp phần giải quyết việc làm,
phát triển kinh tế – xã hội của địa phƣơng.
3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu:
Tìm ra các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển các doanh nghiệp nhỏ và
vừa trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển
kinh tế của tỉnh Thái Nguyên.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và làm rõ thêm các vấn đề lý luận chung về phát triển
doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Nghiên cứu thực tiễn phát triển DNNVV trong một số ngành công
nghiệp hỗ trợ của Việt nam
- Phân tích thực trạng phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt
động trong các ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển doanh nghiệp nhỏ
và vừa trong ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng hoạt động doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nhỏ và vừa của
tỉnh và các giải pháp tiếp tục thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp này.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu tình hình phát triển của các doanh
nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên; đề xuất các giải pháp tiếp tục phát triển của các doanh
nghiệp này trong thời gian tới.
- Về không gian: Đề tài đƣợc nghiên cứu tại một số DNNVV hoạt động
trong một số ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Về thời gian: Thời gian đƣợc nghiên cứu là những năm gần đây, chủ
yếu là giai đoạn 2009-2011.
4
3.3. Khch thể nghiên cứu
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong các ngành công nghiệp
hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
4. Mộ t số đóng góp chủ yếu của Luận văn
- Phân tích đƣợc thực trạng và các nhân tố tác động đến phát triển các
doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong một số ngành công nghiệp hỗ trợ
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Đề ra một số giải pháp chủ yếu có tính khoa học để tiếp tục phát triển
các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong một số ngành công nghiệp
nghiệp hỗ trợ tỉnh Thái Nguyên .
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về phát triển doanh nghiệp công nghiệp hỗ
trợ nhỏ và vừa.
Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu
Chƣơng 3: Thực trạng phát triển doanh nghiệ p công nghiệp hỗ trợ nhỏ và
vừa ở tỉnh Thái Nguyên.
Chƣơng 4: Một số giải pháp phát triển doanh nghiệ p công nghiệp hỗ trợ
nhỏ và vừa ở tỉnh Thái Nguyên.
5
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆ P CÔNG
NGHIỆP HỖ TRỢ NHỎ VÀ VỪA
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1.1. Khi niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Có nhiều quan niệm khác nhau về doanh nghiệp nhỏ và vừa, tuy nhiên,
đa phần các định nghĩa về doanh nghiệp nhỏ và vừa đều sử dụng số lƣợng lao
động thƣờng xuyên nhƣ là một tiêu chí ƣu tiên, ngoài ra còn sử dụng quy mô
vốn, quy mô doanh thu,…Đối với đa phần các quốc gia phát triển (Mỹ, Pháp,
Nhật), những doanh nghiệp có số lao động từ 500 trở xuống thì đƣợc coi là có
quy mô nhỏ và vừa, trong số đó những doanh nghiệp có số lao động 200 trở
xuống đƣợc coi là doanh nghiệp nhỏ. Ở Việt Nam hiện nay, theo quy định tại
Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Thủ tƣớng Chính phủ ban hành năm 2009 thì
doanh nghiệp nhỏ và vừa có khái niệm sau:
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh
theo quy định pháp luật, đƣợc chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy
mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tƣơng đƣơng tổng tài sản đƣợc xác định
trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân
năm (tổng lao động là tiêu chí ƣu tiên), cụ thể nhƣ sau:
Quy mô
Khu vực
DN siêu nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ
Doanh nghiệp vừa
Số lao động
(ngƣời)
Tổng N.Vốn
(tỷ đồng)
Số LĐ
(ngƣời)
Tổng N.Vốn
(tỷ đồng)
Số lao động
(ngƣời)
I. NL – T.sản
≤10
≤20
>10 - 200
>20-100
>200-300
II. CN-XD
≤10
≤20
>10 - 200
>20-100
>200-300
III. TM- DV
≤10
≤10
>10 - 50
>10-50
>50-100
Nhƣ vậy, định nghĩa này đã phân biệt rõ đƣợc doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh
nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh của mình.
6
1.1.2. Đặc điểm doanh nghiệ p nhỏ và vừa
1.1.2.1.Ưu điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Bên cạnh các đặc điểm vốn có của doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp nhỏ
và vừa có những ƣu điểm nổi bật nhƣ sau:
Một là, nhạy cảm, linh hoạt, thích ứng nhanh với sự biến động của thị
trƣờng: Thông thƣờng, các doanh nghiệp nhỏ và vừa năng động và linh hoạt
hơn so với các doanh nghiệp lớn trong sản xuất kinh doanh qua hệ thống tổ
chức sản xuất, quản lý gọn nhẹ, công việc điều hành mang tính trực tiếp, đồng
thời doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng đổi mới nhanh trang thiết bị kỹ
thuật, thích ứng nhanh với thị trƣờng biến động.
Hai là, vốn đầu tƣ vào doanh nghiệp nhỏ và vừa không nhiều: Do là loại
hình doanh nghiệp có quy mô sản xuất không lớn về mặt bằng sản xuất, số lao
động, doanh số,… nên vốn đầu tƣ vào doanh nghiệp nhỏ và vừa không nhiều,
có thể bằng nguồn vốn tự có hay vốn vay mƣợn nhỏ. Do đó chúng tạo ra cơ
hội đầu tƣ đối với nhiều ngƣời, tạo điều kiện cho mọi tầng lớp nhân dân trong
nƣớc dù ở điều kiện văn hóa, giáo dục khác nhau đều có thể tìm kiếm cơ hội
lập nghiệp. Chính vì thế mà ở các nƣớc phát triển cũng nhƣ các nƣớc đang
phát triển, số lƣợng doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng rất nhanh và chiếm tỷ lệ
tuyệt đối trong tổng số các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Ba là, hoạt động nhanh chóng và thu hồi vốn nhanh: Các doanh nghiệp
nhỏ và vừa chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực công nghiệp nhẹ, công
nghiệp chế biến thực phẩm, thƣơng mại dịch vụ,…vốn là những ngành thu
hút vốn nhanh.
Bốn là, sử dụng máy móc công nghệ trung bình và mang tính trung gian,
đòi hỏi sử dụng nhiều lao động. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa gắn liền với
các công nghệ trung gian vốn là cầu nối giữa công nghệ truyền thống và công
nghệ hiện đại. Và lợi thế đặc biệt của công nghệ trung gian là sử dụng nhiều
7
lao động, từ đó tạo nhiều cơ hội việc làm cho ngƣời dân. Điều này không
những cần thiết đối với các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam mà còn cần
thiết đối với các nƣớc phát triển.
Năm là, quan hệ chủ thợ tốt đẹp: Quan hệ giữa ngƣời lao động và ngƣời
quản lý trong doanh nghiệp nhỏ và vừa khá chặt chẽ, gần gũi thân thiết so với
các doanh nghiệp lớn. Điều này tạo điều kiện rất thuận lợi trong quá trình tiến
hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Sáu là, khả năng hợp tác với các doanh nghiệp lớn là rất tốt: Các doanh
nghiệp nhỏ và vừa dễ dàng nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ, sản phẩm,
ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, thích hợp với sự biến động đa dạng của thị
trƣờng, thích ứng với cuộc cách mạnh khoa học công nghệ hiện nay. Từ đó tạo
ra cơ hội hợp tác, cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn.
Bẩy là, ít chịu ảnh hƣởng của khủng hoảng kinh tế và ngƣợc lại cũng ít
ảnh hƣởng đến nền kinh tế khi rơi vào khủng hoảng: doanh nghiệp nhỏ và vừa
ít chịu ảnh hƣởng, tác động của các cuộc khủng hoảng kinh tế dây chuyền. Sự
đình trệ, thua lỗ, thậm chí phá sản của các doanh nghiệp nhỏ và vừa có ảnh
hƣởng không lớn đến đời sống kinh tế xã hội.
Tám là, doanh nghiệp nhỏ và vừa cần diện tích nhỏ, đòi hỏi về cơ sở hạ
tầng không quá cao. Vì thế có thể đƣợc đặt ở nhiều nơi trong nƣớc, từ thành
thị cho tới các vùng nông thôn, miền núi và hải đảo,…Đó chính là đặc điểm
quan trọng nhất của doanh nghiệp nhỏ và vừa để có thể giảm bớt đƣợc sự
chênh lệch về phát triển kinh tế giữa các vùng trong cả nƣớc, giảm bớt luồng
chảy lao động tập trung vào các thành phố, để tiến hành công nghiệp hóa
nông thôn.
1.1.2.2. Cc điểm yếu của doanh nghiệp nhỏ và vừa
So với các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa còn có một số
yếu điểm nhƣ:
8
Thứ nhất, nguồn tài chính hạn chế, đặc biệt là nguồn vốn tự có cũng nhƣ
bổ sung để thực hiện quá tình tích tụ, tập trung nhằm duy trì hoặc phát triển mở
rộng sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp nhỏ và vừa khó có khả năng tiếp cận
đến các nguồn vốn của các tổ chức tín dụng vì bản thân doanh nghiệp thiếu tài
sản thế chấp, khó xây dựng phƣơng án kinh doanh, chƣa tạo đƣợc sự tin cậy tín
dụng cần thiết do xuất phát từ quy mô kinh doanh nhỏ của mình.
Thứ hai, cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ kỹ thuật công nghệ còn yếu
kém, lạc hậu, khó có khả năng đầu tƣ công nghệ mới do vốn lớn, qua đó ảnh
hƣởng đến năng suất kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng.
Thứ ba, trình độ quản lý nói chung và quản trị các mặt theo các chức
năng còn hạn chế. Đa số các doanh nghiệp nhỏ và vừa chƣa đƣợc đào tạo cơ
bản, đặc biệt là những kiến thức về kinh tế thị trƣờng, về quản trị kinh doanh,
họ quản lý bằng kinh nghiệm thực tiễn là chủ yếu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa
thƣờng thiếu những nhà quản lý có trình độ, thiếu đội ngũ lao động lành nghề,
thiếu chuyên gia cố vấn cho doanh nghiệp.
Thứ tƣ, khả năng tiếp cận thông tin và tiếp cận thị trƣờng của các
DNNVV bị hạn chế rất nhiều. DNNVV khó cập nhật đƣợc các thông tin trong
kinh doanh và dễ bị các công ty lớn thôn tính.
Thứ năm, hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa phân tán, rải rác
nên khó quản lý và hỗ trợ.
Thứ sáu, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có năng suất lao động và sức cạnh
tranh về kinh tế thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp lớn. DNNVV thiếu
khả năng mở rộng thị trƣờng tiêu thụ quốc tế, khó khăn trong việc thiết lập và
mở rộng hợp tác với bên ngoài.
9
1.1.2.3. Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam
Tại Việt Nam, ngoài những đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa nói
chung nhƣ đã đề cập ở trên, các DNNVV Việt Nam còn có một số đặc điểm
riêng cần nhấn mạnh, nổi bật là:
Một là, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam rất đa dạng về loại hình
tổ chức kinh doanh, về lĩnh vực kinh doanh, về hình thức sở hữu, về đị bàn
hoạt động. Trƣớc kia trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp,
các DNNVV tồn tại chủ yếu dƣới hai loại là doanh nghiệp nhà nƣớc và hợp
tác xã thì hiện nay chúng tồn tại, phát triển ở mọi thành phần kinh tế nhƣ
doanh nghiệp nhà nƣớc, công ty liên doanh, doanh nghiệp tƣ nhân, công ty
trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xã,…
Hai là, tồn tại ở nhiều hình thức khác nhau. Khi nói đến các DNNVV tại
Việt Nam là chủ yêu nói đến các doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài quốc
doanh. Do tính lịch sử của quá trình hình thành, phát triển các thành phần kinh
tế của nƣớc ta, đại bộ phận các DNNVV đều thuộc khu vực ngoài quốc doanh
mà điển hình nhất là kinh tế tƣ nhân. Bởi vậy, đặc điểm và tính chất của các
doanh nghiệp khu vực ngoài quốc doanh, trong đó chủ yếu là khu vực tƣ nhân
mang tính đại diện cho các DNNVV Việt nam.
Ba là, các DNNVV Việt nam hiện nay gắn liền với công nghệ lạc hậu,
trình độ nhân lực không cao, khả năng tiếp cận thông tin chƣa tốt.
Bốn là, môi trƣờng pháp lý cho sự phát triển của các DNNVV Việt nam
đang trong quá trình hoàn thiện nên còn nhiều sự chồng chéo dẫn đến khó
khăn trong việc thực hiện của DNNVV.
1.1.3. Vai trò của doanh nghiệ p nhỏ và vừa
Các tổ chức kinh doanh nhỏ và vừa ở bất cứ quốc gia nào đều giữ một
vai trò rất quan trọng và hỗ trợ cho tiến trình phát triển kinh tế, không chỉ
trong những giới hạn cho phép đáp ứng nhu cầu trong cả nƣớc mà còn hỗ trợ
10
các công ty đa quốc gia. Chính phủ nhiều quốc gia đã công nhận vai trò các
loại hình doanh nghiệp này đƣợc coi là nguồn động lực và sức mạnh kinh tế
cho sự phát triển mới và phát triển các mối quan hệ kinh doanh. Vai trò của
doanh nghiệp nhỏ và vừa đƣợc thể hiện nhƣ sau:
Thứ nhất, tuyệt đại đa số các doanh nghiệp là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Ở Việt nam, nền kinh tế kém phát triển, chủ yếu là sản xuất nhỏ nên DNNVV
chiếm đa số. Từ khi Luật Doanh nghiệp đƣợc ban hành năm 1999 có hiệu lực
từ năm 2000, các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng
đã phát triển tƣơng đối nhanh về số lƣợng. Tính đến ngày 31-12-2011, Việt
Nam có 543.963 doanh nghiệp, với số vốn khoảng 6 triệu tỷ đồng. Trong tổng
số doanh nghiệp đó, có gần 97% quy mô nhỏ và vừa, chủ yếu là DN tƣ nhân.
[VCCI, 2011].
Theo kết quả điều tra những năm gần đây, nếu đem tiêu chí DNNVV là
dƣới 300 lao động và vốn dƣới 10 tỷ đồng thì có đến 96,81% doanh nghiệp
của Việt Nam thuộc nhóm này. Trong đó, xét quy mô về vốn thì doanh nghiệp
có số vốn dƣới 1 tỷ đồng chiếm 41,8%; từ 1 - 5 tỷ đồng chiếm 37,03%; doanh
nghiệp có vốn từ 5 - 10 tỷ đồng chỉ chiếm 8,18%. Về quy mô lao động có tới
51,3% doanh nghiệp có dƣới 10 lao động,…Tại 2 thành phố lớn là Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh, số lƣợng DNNVV chiếm đến 42,46% tổng số
DNNVV của cả nƣớc [Tổng cục Thống kê, 2011].
Nhìn tổng thể, mặc dù quy mô vốn đầu tƣ ban đầu của các DNNVV không
lớn nhƣng chúng đƣợc phát triển rộng khắp trên tất cả các vùng miền trong cả
nƣớc, tham gia vào hầu hết các ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân.
Thứ hai, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò đặc biệt quan trọng
trong tăng trƣởng kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Các doanh
nghiệp nhỏ và vừa cung cấp một khối lƣợng lớn, đa dạng và phong phú về sản
phẩm, đóng góp vào kết quả hoạt động kinh tế.
11
Ở Việt nam, chỉ tính riêng trong lĩnh vực công nghiệp, trung bình hàng năm
các DNNVV đã tạo ra 33% giá trị sản lƣợng; hơn 50% giá trị công nghiệp địa
phƣơng và đóng góp khoảng 40% GDP [VCCI, 2011]. Nhƣ vậy, DNNVV đã
đóng góp vào giá trị gia tăng, góp phần đáng kể vào việc tăng trƣởng kinh tế.
Thứ ba, các DNNVV là nơi tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho hàng
triệu lao động, góp phần ổn định xã hội. Việc làm là vấn đề cấp bách hiện nay
ở Việt Nam. Với tốc độ tăng trƣởng dân số trên 2%, hàng năm cả nƣớc có
thêm 1 triệu ngƣời đến tuổi lao động có nhu cầu về việc làm. Đó là chƣa kể
đến số ngƣời thất nghiệp (con số chính thức là 6%) và bán thất nghiệp hiện
nay do cơ cấu lại nền kinh tế, sắp xếp lại DNNVV đã làm tỷ lệ lao động trong
các DNNVV và các cơ quan hành chính sự nghiệp có chiều hƣớng giảm, số
quân nhân giải ngũ. Trong hoàn cảnh này, các DNNVV ngoài quốc doanh trở
thành nơi giải quyết nhu cầu về việc làm cho số lao động đƣợc tinh giảm
trong các doanh nghiệp và hệ thống hành chính nhà nƣớc. Các DNNVV Việt
Nam còn là nơi tạo việc làm cho số lƣợng lớn những ngƣời mới tham gia vào
lực lƣợng lao động hàng năm. Nhìn chung, các DNNVV Việt Nam là nguồn
chủ yếu tạo ra việc làm trong tất cả các lĩnh vực. Với việc tuyển dụng gồm 1
triệu lao động, các DNNVV chiếm trên 51% lực lƣợng lao động trong tất cả
các loại hình doanh nghiệp. Có thể thấy, các DNNVV Việt Nam đã thu hút
nguồn lao động rộng khắp trên phạm vi toàn quốc, tạo việc làm, nâng cao thu
nhập của dân.
Thứ tƣ, các DNNVV thu hút có hiệu quả nhất các nguồn vốn trong dân
và tận dụng các nguồn lực xã hội khác. Do đòi hỏi vốn không nhiều, thời gian
thu hồi vốn nhanh DNNVV tạo cơ hội và tập quán đầu tƣ cho đông đảo dân
cƣ góp vốn kinh doanh. Kết quả điều tra của VCCI cho thấy, đối với DNNVV
đầu tƣ vào thành lập doanh nghiệp cần dƣới 500 triệu đồng, vốn cho một chỗ
làm việc ở Việt Nam trung bình phải mất 5-10 triệu đồng (bằng 1/5 đến 1/10
12
của doanh nghiệp lớn). Ƣớc tính phát triển trên 500.000 doanh nghiệp công
nghiệp ở mọi thành phần kinh tế đã thu hút hơn 25.000 tỷ đồng, chƣa kể phần
thu hút hàng tỷ đồng nhàn rỗi khác phục vụ cho nhu cầu ngắn hạn về vốn của
doanh nghiệp. Đồng thời, với quy mô nhỏ gọn, các doanh nghiệp nhỏ và vừa
thƣờng sử dụng nguyên vật liệu tại chỗ, thuộc phạm vi địa phƣơng để khai
thác sử dụng.
Thứ năm, các DNNVV góp phần quan trọng vào việc tăng nguồn hàng xuất
khẩu. Kinh nghiệm các nƣớc cho thấy các DNNVV rất tích cực tham gia vào
hoạt động xuất khẩu. Song do quy mô nhỏ bé, công nghệ lạc hậu nên giá trị xuất
khẩu không lớn, tính đến tháng 9 năm 2011 thì giá trị xuất khẩu của các
DNNVV khoảng 30% giá trị xuất khẩu [VCCI, 2011].
Thứ sáu, các DNNVV đóng vai trò vệ tinh hỗ trợ cho các doanh nghiệp
lớn, là lực lƣợng chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ. Tạo nên ngành
công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ quan trọng: doanh nghiệp nhỏ và vừa thƣờng
chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết đƣợc dùng để lắp ráp thành một
sản phẩm hoàn chỉnh. DNNVV hoạt động rất hiệu quả trong vai trò thầu phụ,
gia công sản phẩm cho các ngành công nghệ cao. Có thể nói các DNNVV nhƣ
những “vệ tinh” hay “mạng lƣới” là chân rết của các doanh nghiệp lớn, hỗ trợ,
bổ sung cho các khu công nghiệp lớn, tạo thành mối liên hệ cùng hợp tác,
cùng cạnh tranh để phát triển. DNNVV nếu kinh doanh tốt sẽ là doanh nghiệp
lớn trong tƣơng lai.
Thứ bẩy, DNNVV làm cho nền kinh tế năng động, hiệu quả hơn. Tăng
tính cạnh tranh, giảm bớt mức độ rủi ro trong nền kinh tế do số doanh nghiệp
tăng lên rất lớn kéo theo sự tăng lên nhanh chóng số lƣợng các mặt hàng. Ngoài
ra, các DNNVV có khả năng thay đổi nhanh chóng số lƣợng các mặt hàng,
công nghệ và chuyển hƣớng kinh doanh nhanh, làm cho nền kinh tế năng động
hơn. Hơn nữa, sự có mặt của các DNNVV trong nền kinh tế có tác dụng hỗ trợ
13
các doanh nghiệp lớn kinh doanh có hiệu quả hơn: làm đại lý, vệ tinh cho các
doanh nghiệp lớn, giúp tiêu thụ hàng hoá, cung cấp các đầu vào nhƣ nguyên
liệu, thâm nhập vào mọi ngõ ngách thị trƣờng mà các doanh nghiệp lớn không
với tới.
Một điều quan trọng là: vốn của các DNNVV, trong đó phần lớn là khu
vực tƣ nhân, chủ yếu chỉ đầu tƣ vào các ngành nghề có hiệu quả kinh tế cao.
Do vậy, việc tăng cƣờng các cơ sở này càng làm cho hiệu quả kinh tế cao hơn
trong tƣơng lai gần.
Thứ tám, các DNNVV là trụ cột của kinh tế địa phƣơng: nếu nhƣ doanh
nghiệp lớn thƣờng đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nƣớc, thì
doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắp các địa phƣơng và là ngƣời đóng
góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lƣợng và tạo công ăn việc làm ở
địa phƣơng.
1.2. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
1.2.1. Ngành sản xuất công nghiệp
Cùng với nông nghiệp và dịch vụ - thƣơng mại, công nghiệp là một trong
ba ngành kinh tế cơ bản của nền kinh tế quốc dân. Trong quá trình lịch sử
hình thành và phát triển, sản xuất công nghiệp đã khẳng định vị trí chủ đạo
của mình trong nền kinh tế, tạo ra nhiều của cải vật chất, tƣ liệu phục vụ sản
xuất, cuộc sống của nhân loại và của từng quốc gia, đã góp phần giải phóng
con ngƣời và lao động. Cùng với những ngành khác, sản xuất công nghiệp đã
từng bƣớc tạo ra nền văn minh hiện đại. Song trong một số trƣờng hợp sản
xuất công nghiệp cũng gây ra những tác động tiêu cực lên môi trƣờng thiên
nhiên, con ngƣời và những thành quả tích cực do chính nền sản xuất công
nghiệp tạo ra. Ngày nay công nghiệp và sản xuất công nghiệp đƣợc xác định
dựa theo những nội dung sau:
14
Một là, công nghiệp là ngành chủ đạo của nền kinh tế quốc dân hiện đại,
bao gồm các xí nghiệp khai thác, chế biến nguyên vật liệu và nhiên liệu, chế
tạo công cụ lao động, khai thác rừng, chế biến sản phẩm của các ngành nông
nghiệp, lâm nghiệp, ngƣ nghiệp.
Hai là, công nghiệp là ngành kinh tế thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất –
một bộ phận cấu thành của nền sản xuất vật chất xã hội. Công nghiệp bao
gồm ba loại hoạt động chủ yếu: khai thác tài nguyên thiên nhiên tạo ra nguồn
nguyên liệu nguyên thủy; sản xuất và chế biến sản phẩm công nghiệp khai
thác của nông nghiệp thành nhiều loại sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu khác
nhau của xã hội, khôi phục giá trị sử dụng của sản phẩm đƣợc tiêu dùng trong
quá trình sản xuất và trong sinh hoạt.
Nhƣ vậy, sản xuất công nghiệp là một ngành kinh tế thuộc lĩnh vực sản
xuất vật chất và là ngành chủ đạo của nền kinh tế quốc dân, bao gồm ba loại
chủ yếu: khai thác tài nguyên thiên nhiên, sản xuất và chế biến sản phẩm của
công nghiệp khai thác và của nông nghiệp, khôi phục giá trị sử dụng của một
số sản phẩm đã đƣợc tiêu dùng trong hoạt động của con ngƣời.
1.2.2. Khi niệm công nghiệp hỗ trợ
Công nghiệp hỗ trợ (supporting inductries) là khái niệm chỉ toàn bộ
những sản phẩm có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính. Cụ
thể là những linh kiện, phụ kiện, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để
sơn, nhuộm,…và cũng có thể bao gồm những sản phẩm trung gian, những
nguyên liệu sơ chế. Nếu kể các sản phẩm tƣơng tự thì phạm vi sẽ rất rộng
nhƣng nếu theo một đặc tính nữa sẽ thấy phạm vi rõ ràng hơn: sản phẩm công
nghiệp hỗ trợ thƣờng đƣợc sản xuất với quy mô nhỏ và vừa.
Trong thực tiễn sản xuất kinh doanh, có 2 cách hiểu về công nghiệp hỗ
trợ. Ở góc độ hẹp, công nghiệp hỗ trợ là các ngành sản xuất phụ tùng linh
kiện phục vụ cho công đoạn lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh. Ở góc độ rộng hơn,
15
công nghiệp hỗ trợ đƣợc hiểu nhƣ toàn bộ các ngành tạo ra các bộ phận của
sản phẩm cũng nhƣ tạo ra máy móc, thiết bị hay những yếu tố vật chất nào
khác góp phần tạo thành sản phẩm. Khái niệm công nghiệp hỗ trợ trên thực tế
chủ yếu sử dụng trong các ngành công nghiệp có sản phẩm đòi hỏi sự kết nối
của nhiều chi tiết phức tạp đòi hỏi tính chính xác cao, dây chuyền sản xuất
đồng loạt với các công đoạn lắp ráp tách biệt, hai ngành công nghiệp hay sử
dụng khái niệm công nghiệp hỗ trợ là ngành ô tô và điện tử.
Tuy nhiên, nếu đặt góc độ nhìn rộng hơn, công nghiệp hỗ trợ phải đƣợc
hiểu một cách tổng quát nhƣ một hình dung về toàn bộ quá trình sản xuất nói
chung, chứ không thể bổ dọc, cắt lớp theo ngành hay sản phẩm vì mỗi ngành,
mỗi loại sản phẩm đều có những đặc thù riêng và đều có những đòi hỏi ở các
mức độ khác nhau về yếu tố hỗ trợ. Công nghiệp hỗ trợ đƣợc chia thành các
ngành sản xuất: các ngành cứng nhƣ sản xuất nguyên liệu và linh kiện; các
ngành mềm nhƣ thiết kế sản phẩm, mua sắm, marketing quốc tế, viễn thông,
vận tải, năng lƣợng, cấp nƣớc; các ngành phục vụ nhu cầu nội địa nhƣ thép,
hóa chất, giấy, xi măng,…
Theo Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg ngày 24/02/2011
Công nghiệp hỗ trợ là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng,
linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản
xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tƣ liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu
dùng.
Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ là sản phẩm cung cấp cho các ngành công
nghiệp cơ khí chế tạo; công nghiệp điện tử - tin học; công nghiệp sản xuất, lắp
ráp ô tô; công nghiệp dệt may; công nghiệp công nghệ cao, gồm: vật liệu, phụ
tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm sản xuất tại Việt Nam để cung cấp
cho khâu lắp ráp, sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh.
16
1.2.3. Vai trò và đặc điểm công nghiệp hỗ trợ
1.2.3.1. Vai trò công nghiệp hỗ trợ
Thứ nhất, công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò quan trọng quyết định đối với
khả năng cạnh tranh và có vai trò to lớn trong quá trình công nghiệp hóa. Tuy
nhiên ngành công nghiệp hỗ trợ của nƣớc ta đang phải đối mặt với những khó
khăn về nguồn vốn cũng nhƣ sức cạnh tranh của ngành đối với khu vực và thế
giới.
Thứ hai, công nghiệp hỗ trợ tạo nhiều công ăn việc làm, thu hút lao động
phù hợp với điều kiện Việt nam.
Thứ ba, công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò quan trọng trong việc tăng sức
cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp chính và đẩy mạnh công nghiệp hóa
theo hƣớng mở rộng và chuyên sâu.
Thứ tƣ, công nghiệp hỗ trợ phát triển kéo theo các công ty lắp ráp và sản
xuất thành phẩm cuối cùng thoát khỏi cảnh phụ thuộc vào nhập khẩu. Giá nhập
khẩu những sản phẩm nhƣ chi phí đầu vào tăng cao còn chƣa kể rủi ro về tiến
độ, thời gian nhận hàng nhập khẩu.
Thứ năm, công nghiệp hỗ trợ phát triển có vai trò đặc biệt trong vấn đề
thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài (FDI), nhất là FDI trong ngành sản xuất các loại máy
móc. Thực tế cho thấy tỷ lệ chi phí về công nghiệp hỗ trợ cao hơn nhiều so với
lao động trong giá thành sản phẩm, nên một nƣớc dù có ƣu thế về lao động
nhƣng công nghiệp hỗ trợ không phát triển cũng làm cho môi trƣờng đầu tƣ
kém hấp dẫn.
1.2.3.2. Đặc điểm công nghiệp hỗ trợ
Trong hoạch định chiến lƣợc và chính sách công nghiệp của một quốc gia,
quan hệ giữa một ngành sản xuất công nghiệp với các ngành hỗ trợ là vấn đề
quan trọng. Phát triển hợp lý công nghiệp hỗ trợ sẽ đóng góp quan trọng vào sự
phát triển công nghiệp và kinh tế của quốc gia, lâu nay khi nói đến hạn chế trong
17
thu hút đầu tƣ vào nƣớc ta ngƣời ta cho rằng lỗi là do cơ sở hạ tầng bất cập, thủ
tục hành chính rƣờm rà,…tuy nhiên nhiều địa phƣơng đã nỗ lực cải thiện môi
trƣờng đầu tƣ nhƣng thực ra vẫn còn yếu. Đến nay, các nhà quản lý nhận ra rằng
một trong những yếu tố cốt lõi là do chính sách nội tại các doanh nghiệp trên địa
bàn, nhất là các doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động hỗ trợ.
1.2.3.3. Một số sản phẩm công nghiệp hỗ trợ
Theo Quyết định số 1483/QĐ-TTg ngày 26 tháng 8 năm 2011 của Thủ
tƣớng Chính phủ ban hành về danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ƣu tiên
phát triển đến năm 2015 thì các sản phẩm hỗ trợ bao gồm:
* Ngành dệt – may: Xơ thiên nhiên, xơ tổng hợp, vải, hóa chất, chất trợ, thuốc
nhuộm phục vụ ngành nhuộm hoàn tất vải, phụ liệu ngành may.
* Ngành da – giầy: mũ, giầy
* Ngành điện tử - tin học: Linh kiện điện tử, quan điện tử cơ bản, vi mạch
điện tử, vật liệu sản xuất linh kiện điện tử,…
* Ngành sản xuất lắp ráp ô tô: Động cơ và chi tiết động cơ, hệ thống bôi trơn,
hệ thống làm mát, hệ thống cung cấp nhiên liệu, hệ thống treo,…
* Ngành cơ khí chế tạo: Khuân mẫu, đồ gá, dụng cụ dao cắt, phụ tùng máy
gia công cơ khí, dụng cụ đo lƣờng, kiểm tra dùng trong cơ khí, chi tiết máy,…
* Các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho công nghiệp công nghệ cao: Các
khuôn mẫu, các loại chi tiết cơ khí tiêu chuẩn chất lƣợng cao, các loại linh
kiện điện tử, mạch vi điện tử để phát triển các thiết bị, các cụm linh kiện, phụ
tùng cho hệ thống thiết bị sản xuất điện năng từ năng lƣợng mới và năng
lƣợng tái tạo, các loại chi tiết nhựa chất lƣợng cao.
Hiện nay, để khuyến khích ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm hỗ trợ
phát triển, nhà nƣớc đã có nhiều chính sách để các doanh nghiệp hoạt động
trong nhóm ngành này, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
18
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NHỎ VÀ VỪA
1.3.1. Tiềm năng và nguồn lực
Tiềm năng và các nguồn lực cho phát triển công nghiệp hỗ trợ bao gồm:
các loại tài nguyên thiên nhiên, dân số và lao động, sự phát triển của cơ sở hạ
tầng kỹ thuật. Đây chính là thị trƣờng sản phẩm nguồn của công nghiệp hỗ trợ.
* Các loại tài nguyên thiên nhiên như: khoáng sản, lâm sản, thuỷ sản và
các điều kiện tự nhiên (đất đai, song hồ, khí hậu, thời tiết,…) hoặc trở thành đối
tƣợng lao động để phát triển công nghiệp khai thác và chế biến, hoặc trở thành
điều kiện tiền đề để xây dựng và phát triển một số ngành công nghiệp. Vì vậy,
tài nguyên thiên nhiên đa dạng, trữ lƣợng lớn, điều kiện khai thác thuận lợi sẽ
cho phép đầu tƣ phát triển công nghiệp đạt đƣợc hiệu quả cao và là nền tảng để
phát triển.
Nhìn chung, tài nguyên thiên nhiên của một địa phƣơng, của một quốc
gia có ảnh hƣởng đến số lƣợng và cơ cấu đầu tƣ công nghiệp nói chung và
công nghiệp hỗ trợ nói riêng. Thông thƣờng các địa phƣơng nên xác định lợi
thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên để có định hƣớng về đầu tƣ phát triển
những ngành khai thác và chế biến những loại tài nguyên nhất định, tạo ra
những sản phẩm chủ lực có lợi thế cạnh tranh trên thị trƣờng.
* Dân số và lao động.
Đây là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế nói chung, công nghiệp
hỗ trợ nói riêng. Bởi vì, quy mô và cơ cấu dân cƣ tạo thành thị trƣờng tiêu thụ
tại chỗ to lớn mà ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng cần đƣợc phát
triển mạnh mẽ để đáp ứng. Hơn nữa, trình độ dân trí và chất lƣợng nguồn
nhân lực là điều kiện quan trọng để phát triển các ngành công nghiệp, đặc biệt
là các ngành công nghệp sử dụng kỹ thuật cao. Với những đặc trƣng của
mình, ngành công nghiệp đòi hỏi cao về tính kỷ luật, sự nhanh nhay và trình
19
độ ngày càng cao. Ngoài ra, lợi thế về nguồn nhân lực còn đƣợc thể hiện ở
các ngành nghề thủ công của mỗi vùng. Việc đầu tƣ phát triển các ngành nghề
này vừa thể hiện việc thực hiện phân công lao động tại chỗ ở nông thôn, vừa
tạo ra những sản phẩm độc đáo mang đậm bản sắc dân tộc phục vụ xuất khẩu.
* Sự phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng.
Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật của mỗi vùng lãnh thổ bao gồm mạng
lƣới giao thông vận tải, sản xuất và cung ứng điện năng, cấp thoát nƣớc,
thông tin liên lạc,…Sự phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật là
nhân tố quan trọng ảnh hƣởng đến hoạt động đầu tƣ phát triển công nghiệp.
Đó là điều kiện không thể thiếu để đảm bảo hoạt động đầu tƣ phát triển này
có hiệu quả, khai thác các tiềm năng và lợi thế của địa phƣơng. Thông thƣờng
thì đòi hỏi đầu tƣ cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật phải đi trƣớc để tạo điều kiện
thúc đẩy hoạt động đầu tƣ phát triển công nghiệp.
Do vậy, nhu cầu sản phẩm nguồn phải tạo ra thị trƣờng ổn định để phát
triển hiệu quả các ngành phụ trợ. Nếu sản phẩm nguồn có quy mô nhỏ và
chủng loại đa dạng thì số lƣợng sản xuất của các ngành hỗ trợ sẽ nhỏ, giá
thành cao. Nếu tiêu thụ sản phẩm nguồn nội địa không lớn các nhà sản xuất
nguồn sẽ không tham gia thị trƣờng và ngành sản xuất sản phẩm hỗ trợ gặp
khó khăn.
1.3.2. Nguồn lực tài chính
Đầu tƣ vào ngành sản xuất phụ trợ bất lợi hơn so với đầu tƣ vào sản xuất
nguồn (thƣờng là lắp ráp): Suất đầu tƣ lớn, công nghệ phức tạp, thời hạn đầu
tƣ và hoàn vốn dài, rủi ro trong đầu tƣ cao. Nguồn lực tài chính cho đầu tƣ
phát triển công nghiệp và chính sách huy động nguồn lực đóng vài trò quan
trọng trong việc bảo đảm các ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển bền vững.
20
1.3.3. Hệ thống luật php và chính sch
Hệ thống luật pháp sẽ tác động đến hoạt động đầu tƣ phát triển. Trong
điều kiện nền kinh tế thị trƣờng, Nhà nƣớc cũng nhƣ các chính quyền địa
phƣơng không can thiệp trực tiếp vào quyết định đầu tƣ của các chủ thể kinh
tế khác nhau, mà sử dụng hệ thống các công cụ chính sách, luật pháp và đòn
bẩy kinh tế để hƣớng các chủ thể góp phần vào thực hiện mục tiêu chung của
nền kinh tế. Điều đó thể hiện nhƣ sau:
Một là, hoạch định chiến lƣợc, quy hoạch phát triển các ngành công
nghiệp hỗ trợ là một phần của chính sách phát triển kinh tế quốc gia, thu hút
đầu tƣ nƣớc ngoài và phân công lao động hiệu quả giữa sản xuất trong nƣớc
và các tập đoàn đa quốc gia, nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu kinh tế xã
hội nhất định. Các chiến lƣợc và quy hoạch này sẽ là định hƣớng phát triển
ngành và định hƣớng đầu tƣ cho các chủ thể kinh tế. Một định hƣớng đúng sẽ
thúc đẩy đầu tƣ công nghiệp và đảm bảo cho hoạt động này phát triển bền
vững có hiệu quả.
Hai là, Nhà nƣớc ban hành hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách để
khuyến khích, động viên hoặc tạo áp lực để các nhà đầu tƣ trong và ngoài nƣớc
vận động theo đúng quỹ đạo mà Nhà nƣớc đã vạch ra. Hệ thống luật pháp và
chính sách thông thoáng, ổn định và minh bạch sẽ có tác dụng kích thích các
nhà đầu tƣ phát triển hoạt động đầu tƣ theo định hƣớng của Nhà nƣớc. Ngƣợc
lại, hệ thống này không ổn định và không rõ ràng sẽ bóp nghẹt các ý tƣởng đầu
tƣ, định hƣớng Nhà nƣớc đã vạch ra khó có thể thực hiện đƣợc.
1.3.4. Nhân tố tiến bộ khoa học công nghệ
Tiến bộ khoa học – công nghệ ảnh hƣởng lớn đến phân bố sản xuất công
nghiệp, tạo tiền đề vật chất - kỹ thuật cho tổ chức hợp lý sản xuất công nghiệp.
21
Do yêu cầu cải tiến liên tục để nâng cao năng lực canh tranh, việc thiết kế
và chế tạo mới sản phẩm nguồn yêu cầu công nghiệp hỗ trợ phải thƣờng xuyên
đổi mới, nghiên cứu và sản xuất phụ kiện, phụ tùng hay chi tiết phù hợp.
Tiến bộ khoa học – công nghệ tạo điều kiện để hoạt động đầu tƣ phát triển
công nghiệp hỗ trợ có hiệu quả cao vì nó cho phép sử dụng đầy đủ, tiết kiệm và
hợp lý nhất các nguồn tài nguyên thiên nhiên của địa phƣơng, của đất nƣớc.
Ngoài ra, tiến bộ khoa học – công nghệ thúc đẩy phát triển hệ thống cơ
sở hạ tầng kỹ thuật, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tƣ phát triển công nghiệp
hỗ trợ, giảm bớt sự phụ thuộc vào tự nhiên, thậm chí cho phép phát triển công
nghiệp ở ngay những vùng mà điều kiện tự nhiên không thuận lợi.
1.3.5. Công tc khuyến công và xúc tiến đầu tƣ
Hoạt động khuyến công là những hoạt động khuyến khích, hƣớng dẫn,
hỗ trợ và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sản xuất
công nghiệp nông thôn nhằm mục tiêu động viên và huy động các nguồn lực
trong nƣớc và ngoài nƣớc tham gia hoặc hỗ trợ các tổ chức, cá nhân đầu tƣ sản
xuất công nghiệp nông thôn và các dịch vụ khuyến công theo quy hoạch phát
triển công nghiệp của cả nƣớc và từng địa phƣơng. Hoạt động khuyến công
cũng sẽ hỗ trợ, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần
kinh tế đầu tƣ phát triển sản xuất công nghiệp một cách bền vững, nâng cao
năng lực cạnh tranh, thực hiện có hiệu quả lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Cùng với hoạt động khuyến công thì hoạt động xúc tiến đầu tƣ cũng giữ
vai trò đặc biệt quan trọng vì đây là hoạt động cung cấp thông tin đáng tin cậy
cho các nhà đầu tƣ để họ có quyết định đúng khi khảo sát, thăm dò và lựa
chọn địa điểm đầu tƣ. Hoạt động xúc tiến đầu tƣ giúp các chủ đầu tƣ rút ngắn
thời gian tìm hiểu, tạo điều kiện cho họ nhanh chóng đƣa ra quyết định chính
xác. Bên cạnh đó, các dịch vụ tƣ vấn đầu tƣ sẽ giúp chủ đầu tƣ có thông tin về
thị trƣờng, về đội ngũ lao động cũng nhƣ thủ tục đăng ký đầu tƣ, tháo gỡ
22
những khó khăn vƣớng mắc mà chủ đầu tƣ có thể gặp phải khi tiến hành hoạt
động đầu tƣ.
1.3.6. Sự pht triển công nghệ thông tin và thƣơng mại điện tử
Sự phát triển công nghệ thông tin và thƣơng mại điện tử hiện nay tạo
điều kiện cung và cầu (sản phẩm hỗ trợ và sản phẩm nguồn) gần nhau hơn,
giảm thời gian giao dịch, mở rộng phạm vi quan hệ giữa hai khu vực. Quan hệ
giữa sản phẩm hỗ trợ và sản phẩm nguồn không chỉ giới hạn trong phạm vi
quốc gia, mà phải phát triển trong phạm vi khu vực và toàn cầu để nâng cao
hiệu quả.
1.3.7. Tốc độ tăng trƣởng của ngành công nghiệp
Đây là nhân tố sẽ tạo nên sức hấp dẫn để thu hút vốn đầu tƣ vào ngành
công nghiệp nói chung và ngành công nghiệp hỗ trợ nói riêng. Rõ ràng rằng
năng lực tăng trƣởng kinh tế của ngành là yếu tố quan trọng xác định triển
vọng huy động các nguồn vốn đầu tƣ có hiệu quả. Vấn đề này liên quan đến
một nguyên tắc mang tính chủ đạo trong thu hút vốn đầu tƣ: vốn đầu tƣ sử
dụng càng có hiệu quả thì khả năng huy động nó càng lớn.
1.3.8. Cc nhân tố nội tại doanh nghiệp
Bên cạnh các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp: tiềm năng, nguồn lực cho
sự phát triển công nghiệp, nguồn lực tài chính, công tác khuyến công xúc tiến
đầu tƣ, sự phát triển công nghệ thông tin,…các nhân tố từ nội tại doanh
nghiệp: Vốn của chủ doanh nghiệp, trình độ của chủ doanh nghiệp, yếu tố
công nghệ, yếu tố trình độ lao động trong doanh nghiệp,…ảnh hƣởng rất lớn
đến quá trình phát triển của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ:
1.3.8.1. Vốn kinh doanh
Ngày nay, nói đến kinh doanh thì nhân tố đầu tiên đƣợc quan tâm chính
là vốn, đây là yếu tố nền tảng cho một hoạt động kinh doanh bắt đầu. Ngay
trong luật pháp của Việt Nam cũng có quy định điều luật một doanh nghiệp
23
đƣợc xã hội thừa nhận thì phải có số vốn tối thiểu là bao nhiêu (vốn pháp
định). Vì vậy có thể khẳng định tầm quan trọng của vốn trong kinh doanh.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc thực hiện bằng tiền của toàn bộ
tài sản của doanh nghiệp dùng trong kinh doanh, bao gồm: Tài sản cố định
hữu hình: Nhà cửa, kho tàng, cửa hàng, quầy hàng, các thiết bị máy móc, ;
tài sản cố định vô hình: Bằng phát minh sáng chế, bản quyền sở hữu công
nghiệp, uy tín của công ty trên thị trƣờng, vị trí địa lý, nhãn hiệu các hàng hoá
mà doanh nghiệp kinh doanh, ; tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc đá quý,
Vốn kinh doanh trong doanh nghiệp có vai trò quyết định trong việc
thành lập loại hình doanh nghiệp theo luật định. Nó là điều kiện quan trọng
nhất cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Vốn kinh doanh là một trong những tiềm năng quan trọng nhất của doanh
nghiệp. Vốn lớn hay nhỏ là một trong những điều kiện quan trọng để xếp
doanh nghiệp vào loại có quy mô lớn, trung bình, nhỏ, hay siêu nhỏ. Vốn kinh
doanh bao giờ cũng là cơ sở để hoạch định chiến lƣợc và kế hoạch kinh doanh.
Nó là một chất keo để chắp nối, dính kết các quá trình và các quan hệ kinh tế.
Vốn kinh doanh là điều kiện, khả năng để đẩy mạnh hoạt động kinh
doanh. Nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là việc tối đa hoá lợi ích dựa trên
cơ sở chi phí bỏ ra hay là tối thiểu hoá chi phí cho một mục tiêu nhất định nào
đó. Trong kinh doanh không thể thiếu khái niệm chi phí muốn có hiệu quả. Vì
vậy mà vốn chính là cơ sở để tạo ra lợi nhuận, đạt đƣợc mục đích cuối cùng
của nhà kinh doanh.
Thiếu vốn cho kinh doanh sẽ làm giảm hiệu quả do không tận dụng
đƣợc lợi thế quy mô, không tận dụng đƣợc các thời cơ, cơ hội. Tuy nhiên,
thiếu vốn là vấn đề mà các doanh nghiệp luôn luôn gặp phải. Đứng trên góc
độ của nhà kinh doanh thì cách thức giải quyết sẽ là tối đa hoá lợi ích trên cơ
sở số vốn hiện có.
24
1.3.8.2. Kỹ thuật công nghệ
Yếu tố kỹ thuật công nghệ làm cơ sở cho yếu tố kinh tế, là phƣơng cách để
dẫn đến sự ra đời của sản phẩm mới, tác động và mô hình tiêu thụ và hệ thống
bán hàng. Những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ đã làm thay đổi tận gốc hàng
hoá và quy trình sản xuất, tác động sâu sắc đến hai yếu tố cơ bản tạo lên khả
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trƣờng, đó là chất lƣợng và giá
bán sản phẩm.
Doanh nghiệp cần phải hiểu rõ những biến đổi đang diễn ra của yếu tố
khoa học kỹ thuật. Phân tích yếu tố khoa học kỹ thuật giúp doanh nghiệp nhận
thức đƣợc các thay đổi về mặt công nghệ và khả năng ứng dụng của nó vào
doanh nghiệp, bao gồm những yếu tố sau: Cơ sở vật chất kỹ thuật của nền
kinh tế, tiến bộ kỹ thuật và khả năng ứng dụng trong hoạt động kinh doanh,
chiến lƣợc phát triển kỹ thuật và công nghệ của đất nƣớc.
1.3.8.3. Bộ my tổ chức, quản lý và lao động
Con ngƣời là khởi nguồn của mọi hoạt động có ý thức. Hoạt động kinh
doanh đƣợc bắt đầu là do con ngƣời, tổ chức thực hiện nó cũng chính do con
ngƣời. Một đội ngũ công nhân viên tốt là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện
kinh doanh có hiệu quả. Với khả năng lao động và sáng tạo thì nhân tố con
ngƣời đƣợc đánh giá là nhân tố nòng cốt cho sự phát triển. Kết hợp với hệ
thống tƣ liệu sản xuất con ngƣời đã hình thành lên quá trình sản xuất. Sự hoàn
thiện của nhân tố con ngƣời sẽ từng bƣớc hoàn thiện quá trình sản xuất và xác
lập hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp. Tuy vậy mỗi cá nhân đặt ngoài
sự phân công lao động sẽ lại là một nhân tố làm giảm hiệu quả kinh doanh,
khắc phục điều này chính là nguyên nhân ra đời của bộ máy tổ chức, quản lý.
Bộ máy tổ chức, quản lý là sự tác động trực tiếp của các cấp lãnh đạo
xuống các cá nhân, công nhân viên nhằm mục đích buộc phải thực hiện một
hành động hay một công việc nào đó. Bộ máy tổ chức, quản lý có hiệu quả là