Tập thơ-Từ ấy
Từ ấy là tập thơ đầu của nhà thơ Việt Nam Tố Hữu, được sáng tác trong khoảng 10 năm
kéo dài từ 1937 đến 1946. Phần lớn các bài thơ trong tập được đăng trên báo chí công khai và bí
mật từ những năm 1938, được tập hợp lại và xuất bản lần đầu năm 1946 với nhan đề Thơ, và
năm 1959 tái bản có sửa chữa, bổ sung, dưới tên gọi "Từ ấy".
Năm 1935, lúc Nhà thơ Tố Hữu vừa tròn 15 tuổi, cũng là lúc Phong trào Mặt trận Bình dân Pháp
lên cao, lập được Chính quyền mới ở Pháp theo xu hướng cánh tả; lúc đó tác giả tham gia phong
trào thanh niên cánh tả ở Đông Dương.
Đặc điểm
Từ ấy gồm 71 bài thơ tập hợp trong 3 phần tương ứng với ba giai đoạn lịch sử: Máu lửa (27
bài), Xiềng xích (30 bài) và Giải phóng (14 bài), ghi lại một thời kỳ lịch sử cách mạng của nhân
dân Việt Nam, thông qua chặng đường hoạt động 10 năm của người thanh niên cộng sản Tố
Hữu.
Máu lửa
Máu lửa bao gồm trong đó 27 bài thơ được sáng tác trong khoảng 2 năm (từ cuối năm 1937
đến đầu năm 1939). Trong thời gian này, Mặt trận Dân chủ Đông Dương đang phát triển mạnh
dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương, đồng thời đây cũng là những năm tháng mà
trên thế giới, phong trào chống phát xít, bảo vệ dân chủ và hòa bình thế giới diễn ra sôi nổi. Với
riêng tác giả Tố Hữu, giai đoạn này cũng là lúc bước vào tuổi thanh niên, được gặp gỡ lý tưởng
cộng sản và trở thành một người chiến sĩ hăng hái, một người lãnh đạo phong trào thanh niên
dân chủ ở Huế. Phần Máu lửa cho thấy nội dung chủ đạo là tiếng lòng đồng cảm với những thân
phận bị đọa đày, hắt hủi của những người lao động nghèo khổ ở thành thị
[1]
. Đó là em bé mồ côi
(bài Hai đứa trẻ), chị vú em phải bỏ con ở quê nhà đói lạnh để ôm con của chủ (bài Vú em), ông
lão đầy tớ, cô gái giang hồ trên dòng Hương Giang (bài Trên dòng Hương Giang) v.v. Niềm
cảm thông, xót xa, đồng cảm với những thân phận nghèo hèn trong xã hội thực dân nửa phong
kiến luôn đi đôi với tiếng nói khơi gợi trong họ ý thức phản kháng, đem đến cho họ niềm tin vào
một cuộc đổi đời. Bên cạnh đó, những tình cảm trắc ẩn và niềm cảm thông đó đã những đã tiếp
sức cho nhà thơ trên bước đường đến với cách mạng.
Không chỉ có tình cảm với người lao động trong nước, lý tưởng cộng sản quốc tế phản ánh
trong phần Máu lửa thông qua cả những tiếng nói chống chiến tranh phát xít, có ý nghĩa ở tầm
nhân loại.
Với riêng nhà thơ, Máu lửa biểu hiện tiếng reo ca náo nức của một tâm hồn trẻ khát khao lẽ sống
đã gặp lý tưởng cách mạng, mà bài thơ Từ ấy là một điển hình.
Xiềng xích
Phần Xiềng xích gồm 30 bài sáng tác trong thời gian tác giả bị giam tại nhà tù đế quốc từ tháng 4
năm 1939 đến tháng ba năm 1942. Phần này như một bản quyết tâm thư của người chiến sĩ trẻ
tuổi tự nhủ với lòng mình không khuất phục trước súng đạn và sự tra tấn tàn bạo của kẻ thù,
không nản chí trước mọi khó khăn trở ngại
[1]
. Đó là những cuộc tuyệt thực trong nhà lao, những
cuộc chiến đấu gay go với bản thân để vượt qua những cám dỗ thấp hèn (bài Con cá chột nưa,
1
Tranh đấu); là những lời trăng trối của bạn tù gửi lại khi ra pháp trường (bài Trăng trối); là xúc
cảm xao động trước tiếng vọng của cuộc đời bên ngoài qua song cửa nhà tù (bài Một tiếng rao
đêm, Nhớ người, Nhớ đồng); là ý chí hướng về những tấm gương hy sinh của đồng bào và chiến
sĩ trong Khởi nghĩa Nam Kỳ (bài Bà má Hậu Giang); là tiếng nói đấu tranh góp phần với phong
trào đấu tranh bên ngoài và những tiếng thơ kêu gọi tâm huyết
[1]
(bài Dậy mà đi, Dậy lên thanh
niên) v.v.
Giải phóng
Giải phóng gồm 14 bài, sáng tác trong những năm từ 1942 đến 1946. Đây là những năm
tháng khi nhà thơ vượt ngục và sống trong không khí sục sôi cách mạng, chuẩn bị tổng khởi
nghĩa. Thơ Tố Hữu trong giai đoạn này là tiếng thét căm thù đối với sự áp bức của hai đế quốc
Pháp-Nhật (bài Tiếng hát trên đê, Đói! Đói! Đói!); là sự dự cảm tin lành chiến thắng (bài Xuân
đến); là niềm say sưa ca niềm vui bất tuyệt của độc lập, tự do (bài Huế tháng Tám, Vui bất tuyệt)
v.v.
Một số bài thơ trong thi tập
1. Ba tiếng
2. Bà má Hậu Giang
3. Chiều
4. Con cá chột nưa
5. Con chim của tôi
6. Dậy mà đi
7. Dửng dưng
8. Đời thơ
9. Đêm giao thừa
10. Đông
11. Đông Kinh nhuộm
máu
12. Đi
13. Đi đi em!
14. Giờ quyết định
15. Hai đứa trẻ
16. Hồ Chí Minh
17. Hi vọng
18. Huế tháng tám
19. Khi con tu hú
20. Lao Bảo
21. Lão đầy tớ
22. Mồ côi
23. Một tiếng rao đêm
24. Nhớ đồng
25. Nhớ người
26. Những người không
chết
27. Như những con tàu
28. Từ ấy
29. Tâm tư trong tù
30. Tương tri
31. Tháp Đổ
32. Tiếng chuông nhà
thờ
33. Tiếng hát đi đầy
34. Tiếng hát sông
Hương
35. Tiếng sáo Ly Quê
36. Trăng trối
37. Vú em
38. Xuân đến
39. Xuân lòng
40. Xuân nhân loại
41. Ý xuân
Giá trị nghệ thuật
Với tất cả những chủ đề có trong thi tập, theo Đặng Thai Mai, Từ ấy là tiếng nói cáo trạng nhân
danh phẩm giá của con người lao khổ; nhân danh chủ nghĩa nhân đạo để chống với một chế độ
tàn bạo; nhân danh cái đẹp của thiên nhiên và của nghệ thuật, của chân lý và của công lý để phản
kháng với cái xấu, cái giả dối; nhân danh cái mới để chống lại cái lạc hậu. Đó cũng là bản quyết
tâm thư của một chiến sĩ cách mạng không do dự trước nhiệm vụ, khó khăn, lao tù, súng gươm
và sự tra tấn của kẻ thù, không tuyệt vọng trên những bước đường thử thách đau đớn nhất.
Ở phương diện nghệ thuật, Từ ấy trở thành một trong những thành tựu của văn học cách mạng
Việt Nam. Tố Hữu đã kết hợp được giữa nghệ thuật và cách mạng, giữa người chiến sĩ và thi sĩ,
góp phần vào tiến trình đổi mới thi ca hiện đại Việt Nam
[1]
.
2
Sinh năm 1920 tại làng Phù Lai, gần cố đô Huế, Tố Hữu, tên thật là Nguyễn Kim Thành, làm thơ
khá sớm. Mười tám tuổi, ông có thơ đăng. Cùng năm đó, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông
Dương. Tháng 4-1939, ông bị địch bắt. Tháng 3-1942, ông vượt ngục Đác Glây, tiếp tục hoạt
động cách mạng ở Thanh Hóa. Cách mạng Tháng Tám, ông làm Chủ tịch Uủy ban khởi nghĩa
Huế. Năm 1946, tập thơ đầu tay Thơ ra đời (sau đổi là Từ ấy) tập hợp các bài thơ viết từ 1937
đến 1946, chia làm ba phần "Máu lửa" (27 bài), "Xiềng xích" (30 bài) và "Giải phóng" (14 bài).
Ba chặng thơ là ba chặng hoạt động cách mạng của Tố Hữu. Chặng đầu là cái nhìn hiện
thực, tố cáo xã hội đương thời, gắn với lòng say mê lý tưởng xóa áp bức bất công, xây dựng
cuộc sống hạnh phúc, nhân ái. Chặng thứ hai là thơ tù, những bài thơ xuất sắc của một tâm hồn
chiến sĩ đa cảm với một bút pháp thơ tài năng. Chặng cuối là thơ vận động cách mạng tiến tới
khởi nghĩa và cách mạng thành công, những bài thơ say đắm, sôi sục và hào hùng. Cách mạng tự
hào có trong đội ngũ của mình một thi sĩ có tầm cỡ khai sáng cho cả nền thơ trữ tình cách mạng.
Tố Hữu, vinh dự là ngay từ các bài thơ đầu, đã mang tình cảm người chiến sĩ cách mạng. Thơ
Tố Hữu, khi ấy, về nghệ thuật, ông có những nét tương đồng với Thơ mới. Tương đồng về bút
pháp và tương đồng ngay cả việc hướng cảm xúc vào cái Tôi cá thể. Nhưng cái tôi của Tố Hữu
ngược hẵn với cái tôi của Thơ mới. Với Tố Hữu Tôi đã là con của vạn nhà, trong khi cái tôi Thơ
mới: Ta là một, là riêng, là thứ nhất/Không có ai bè bạn nổi cùng ta/Ta bỏ đời và đời cũng bỏ ta.
Chính vì vậy, Tố Hữu, là người đầu tiên mang vào thơ Việt Nam một phẩm chất mới: chất trữ
tình riêng tư của người cộng sản. Ơở đấy có sự hòa trộn của đời công và đời tư - cái riêng tư của
nhân vật trữ tình trong thơ Tố Hữu là sự nghiệp cách mạng. Tố Hữu rất tinh tế, tinh tế như các
nhà thơ tài năng của phong trào Thơ mới khi diễn đạt những biến động tinh tế của tình cảm con
người trước cuộc đời. Chỉ có khác cuộc đời ở Tố Hữu là chiến đấu, là tù tội, là chiến thắng. Có
thể nói, những thành tựu mà thơ ca đương thời đạt được, đều tìm thấy trong Từ ấy. Tố Hữu sử
dụng những thành tựu ấy vào một hướng cảm xúc khác, một nội dung tư tưởng khác đến cách
xây dựng hình ảnh. Đây là hình ảnh con thuyền in bóng trên mặt nước phẳng lặng của sông
Hương. In cả ảnh, in cả âm điệu:
Trên dòng Hương giang:
Em buông mái chèo
Trời trong veo
Nước trong veo
Em buông mái chèo
Trên dòng Hương Giang.
3
(Hãy kẻ một đường ngang dưới câu thơ thứ ba sẽ thấy một cảnh đối xứng giữa trời và nước qua
các cặp câu thơ).
Và cái âm điệu mà các tác giả Thơ mới mang vào tiếng Việt tạo nên sức gợi cảm gần như
là thần bí cũng ẩn hiện trong bút pháp của nhà thơ - chiến sĩ này. Đây cảnh một rừng chiều, đi
đày ở Tây Nguyên, âm điệu đã trở thành tâm trạng:
Thông reo bờ suối rì rào
Chim chiều chiu chít ai nào kêu ai
Hãy nhớ lại thi đàn Việt Nam những ngày đầu cách mạng ấy càng thấy Từ ấy quả là một
mùa gặt bội thu. Với Từ ấy, Tố Hữu lấy lại lòng tin vào đường lối văn học cách mạng cho cả nhà
văn lẫn bạn đọc. Với Từ ấy, Tố Hữu khẳng định phẩm chất thẩm mỹ mới của thơ Việt Nam.
Trong chín năm kháng chiến chống Pháp, thơ Tố Hữu với các bài Phá đường, Bầm ơi cùng
với thơ ca của phong trào quần chúng sáng tác điển hình là thơ bộ đội mà hồi đó người ta gọi là
thơ đội viên đã trở thành một gợi ý có sức thuyết phục về phương pháp sáng tác hiện thực - lấy
cuộc sống thực tế làm cốt lõi của thơ, hướng cảm xúc của công chúng vào những tình cảm cao
cả đánh giặc cứu nước. Tập thơ Việt Bắc là tiếng hát của toàn dân kháng chiến. Lời thơ bình dị,
gần với lời ăn tiếng nói của công nông binh đánh giặc. Với Việt Bắc, tố Hữu đã đi từ tâm tình cá
thể đến tâm tình của cộng đồng. Nhà thơ phát hiện và biểu dương những tình cảm cao cả của
người dân thường. Chủ đề của thơ là lòng yêu nước. Đề tài của thơ là cuộc sống đánh giặc. Tác
động của thơ là xây dựng tình cảm yêu nước, hy sinh chiến đấu. Với Việt Bắc, hình ảnh người
dân thường yêu nước được khắc họa và trở thành biểu tượng mỹ học cho một giai đoạn thơ ca.
Năm 1954, miền bắc hoàn toàn giải phóng, những kế hoạch 5 năm xây dựng đất nước
được triển khai. Sông Đà, sông Lô, sông Hồng, sông Chảy / Nào đâu thác nhảy cho điện quay
chiều. Tập thơ Gió lộng thể hiện nỗi niềm phấn chấn của người xây dựng đất nước: Gió lộng
đường khơi rộng đất trời. Thời kỳ này, thơ Tố Hữu cũng lộng gió, gió của tâm hồn, sức bay cao
của nghệ thuật. Thơ Tố Hữu có sức ôm trùm bề thế và nghệ thuật thơ, theo ý chúng tôi, là ở vào
điểm đỉnh của ông với Em ơi Ba Lan, Mẹ Tơm, Người con gái Việt Nam, Tiếng chổi tre Thơ
Tố Hữu lúc này trở thành một động lực tinh thần tác động tới đời sống xã hội rộng lớn.
Ra trận là tập thơ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ông vẫn giữ được giọng thơ đằm
thắm. Đề tài mở rộng như đánh dấu những sự kiện chính trị, quân sự của đời sống. Có Lá thư
Bến Tre, có lời dặn của anh Trỗi, có kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du, có ngọn lửa Mo-ri-xơn,
có nước mắt khóc Bác Hồ Tố Hữu có khuynh hướng khái quát thời đại. Ông hướng tới những
tình cảm phổ quát, cộng hưởng được với nhiều lòng người. Đề tài rất thời sự mà ý thơ thấm thía,
sâu, bền. Cái tài phát hiện chất thơ trong cuộc đời, trong những vấn đề chính trị là một đặc sắc
của thơ Tố Hữu. Sau ba câu hô Hồ Chí MInh muôn năm của Nguyễn Văn Trỗi, Tố Hữu hạ một
lời bình luận:
Phút giây thiêng anh gọi Bác ba lần
Bài Mẹ Suốt, cũng là hình ảnh người dân thường anh hùng nhưng ý thơ hàm súc hơn so
với bài Bà má Hậu Giang, và cho thấy một chặng đường phát triển của tâm hồn người Việt Nam
ta. Tính biểu tượng được đẩy cao hơn mà bài thơ vẫn giữ nét sinh động vốn có của đời sống.
Phẩm chất nhân dân trong thơ Tố Hữu ngày càng sâu sắc và nhuần nhuyễn.
Tập thơ gần đây nhất của Tố Hữu là tập Một tiếng đàn. Ông vẫn thủy chung với nguồn đề
tài của đời sống cách mạng, của toàn đất nước. Đôi khi tưởng chạm tới một điều gì riêng tư của
tuổi cuối đời nhìn lại. Đêm cuối nằm riêng một ngọn đèn. Ơở tập thơ này, Tố Hữu trở về bút
pháp nội tâm, rất gần với thời kỳ Từ ấy. Có một sự đấu tranh nội tâm rất mạnh. Mới bảy mươi
sao đã gọi là già. Bút pháp không tung hoành hào sảng nhưng mà trầm xuống trong chiêm
nghiệm. Phẩm chất phấn đấu nội tâm vốn có của Tố Hữu vẫn nguyên vẹn. Lắng nghe trong Một
tiếng đàn thấy bóng dáng một Tố Hữu của Con cá chột nưa. Cuộc đời không phải lúc nào cũng ở
thế thuận. Tuy vậy, ở Tố Hữu vẫn lấy niềm tin, lấy kinh nghiệm cuộc sống của mình mà nhìn
hiện tại Nắng tự lòng ta cứ ấm dần. Dù có phải làm lại từ đầu, ông không nhượng bộ, không đầu
hàng hoàn cảnh. Trong cái bình đạm của giọng thơ, có sức rắn lại của ý chí Ta lại đi, như từ ấy
ra đi / Lòng hăm hở tưởng như mình trẻ lại.
Tố Hữu là con chim đầu đàn vạch hướng cho cả nền thơ. Tư tưởng tiên tiến của thời đại
cách mạng, lòng yêu sâu thẳm đối với nhân dân được thể hiện trong một hình thức nghệ thuật
tinh xảo. Có những giai đoạn thơ Tố Hữu thành chỗ dựa tâm hồn cho mọi người. Ông đã kinh
qua nhiều chức vụ quan trọng của Đảng, của Nhà nước: Uủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng
thường trực Chính phủ. Thơ đối với ông là phương tiện để phục vụ cách mạng. Nỗi niềm sâu kín
trong tâm hồn ông là nỗi niềm người chiến sĩ cách mạng. Ông còn đóng góp nhiều ý kiến về
quan điểm, phương thức xây dựng nền văn nghệ. Ông bàn về nghệ thuật cũng là bàn về cách
mạng, bàn về sự đóng góp của văn học nghệ thuật vào sự nghiệp chung.
Bây giờ tuổi cao, nhưng trách nhiệm cách mạng vẫn thường trực trong ông. Với cương vị
là một nhà thơ lớn của nhân dân, ông có điều kiện để gần đời và đời cũng có điều kiện để gần
ông. Đây là một thuận lợi để Tố Hữu mở thêm sự phong phú của thơ mình.
Vũ Quần Phương