Tải bản đầy đủ (.doc) (72 trang)

phát triển các ngành động lực trên địa bàn tỉnh hưng yên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (646.95 KB, 72 trang )

MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
BẢNG
BIỂU
Bản đồ 1: Bản đồ tỉnh Hưng Yên Error: Reference source not found
Biểu đồ 1: Tỷ lệ DTGT rau của 3 huyện Ân Thi, Khoái Châu, Tiên Lữ
(2005-2010) Error: Reference source not found
Biểu đồ 2: Các huyện trồng rau chính Error: Reference source not found
Biểu đồ 3: Sự tăng lên về số lượng điểm bán rau trên địa bàn huyện
Khoái Châu Error: Reference source not found
Biểu đồ 4: Số lượng gia súc, gia cầm tại địa bàn tỉnh Hưng Yên thời gian qua
Error: Reference source not found
LỜI MỞ ĐẦU
Tỉnh Hưng Yên thuộc trung tâm đồng bằng sông Hồng, trong khu vực
kinh tế trọng điểm, nên có rất nhiều thuận lợi về vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, thị
trường tiêu thụ và các điều kiện khác. Tỉnh đã tập trung khai thác tiềm năng,
thế mạnh, thu hút hàng tỷ USD của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.
Tháng 3 năm 2011, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết về thăm tỉnh, ông
đã nhấn mạnh mục tiêu mà tỉnh cần hướng tới: “Tỉnh phấn đấu trở thành trung
tâm công nghệ cao, là tỉnh có nền nông nghiệp chất lượng, hiệu quả gắn với
xây dựng nông thôn mới, dịch vụ có giá trị gia tăng cao”. Việc lựa chọn các
ngành nghề có lợi thế so sánh, các ngành động lực để tăng thu nhập cho người
lao động, tăng chất lượng tăng trưởng, đồng thời tạo ra những thế mạnh cho
tỉnh đã và đang là vấn đề được các cấp chính quyền của Tỉnh quan tâm.
Xuất phát từ tầm quan trọng đối với phát triển kinh tế của tỉnh; Đồng
thời, nhằm khảo sát, phân tích đánh giá rõ hơn thực trạng phát triển các ngành
trên địa bàn tỉnh Hưng Yên thời gian qua; Đánh giá đúng mức các yếu tố ảnh
hưởng tới phát triển các ngành động lực trên địa bàn tỉnh. Qua đó, đề xuất
một số giải pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao vai trò của các ngành động lực
tôi đã lựa chọn đề tài: “Phát triển các ngành động lực trên địa bàn tỉnh


Hưng Yên” làm đề tài nghiên cứu. Do trình độ có hạn, đồng thời nghiên cứu
trong phạm vi rộng, tác giả xin dừng lại ở phạm vi ngành động lực đối với
lĩnh vực nông nghiệp.
Đề tài sẽ là cơ sở cho việc nhìn nhận lại thực trạng phát triển các ngành
động lực trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên thời gian qua, là cơ
sở để giúp các nhà quản lý hoạch định chính sách và chỉ đạo thực hiện công
tác phát triển các ngành nghề trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua.
1
Luận văn này được chia thành 3 phần:
Chương I: Sự cần thiết phải phát triển các ngành động lực trên địa
bàn tỉnh Hưng Yên
Chương II: Lựa chọn và phân tích thực trạng phát triển các ngành
động lực của tỉnh Hưng Yên
Chương III: Một số giải pháp thúc đẩy phát triển các ngành động lực
của tỉnh Hưng Yên
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn tới:
- Thầy giáo TS. Nguyễn Tiến Dũng đã tận tình giúp đỡ em trong suốt
quá trình nghiên cứu đề tài.
- Các thầy cô trong khoa Kế hoạch & Phát triển, các thầy cô trường Đại
học Kinh tế quốc dân đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập.
Được sự quan tâm như vậy em đã hoàn thành luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn !
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu và làm sáng tỏ những lý luận cơ bản về ngành động lực và
phát triển các ngành động lực; từ đó đề xuất các nội dung phát triển ngành
động lực phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh Hưng Yên hiện nay.
- Có một cái nhìn tổng thể về các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình chuyên
môn hóa nói chung và những yếu tố tác động tới các ngành động lực của địa
bàn tỉnh Hưng Yên
- Phân tích thực trạng phát triển của các ngành chuyên môn hóa dựa trên

những số liệu thống kê từ các ngành từ đó đánh giá những kết quả được, đồng
thời nhận định được những hạn chế cũng như nguyên nhân của những hạn chế
để làm tiền đề cho việc đề xuất các giải pháp phát triển các ngành động lực .
- Đề xuất một số giái pháp chủ yếu và cơ bản nhất để phát triển các
ngành động lực trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác phát triển các ngành động
lực trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, trong đó luận văn chủ yếu tập trung vào
những vấn đề: Khung lý thuyết về động lực; thực trạng phát triển các ngành
2
động lực trên địa bàn tỉnh Hưng Yên qua đó đề xuất những giải pháp, kiến
nghị nhằm phát triển các ngành động lực.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung vào nghiên cứu các ngành động
lực trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
4. Phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết được sử dụng để phân tích thực tiễn: tổng hợp những
quan điểm, lý thuyết, chủ trương về chuyên môn hóa và lợi thế của các nhà
kinh tế và hoạch định chính sách.
Phương pháp thu thập và xử lý số liệu:
Luận văn chủ yếu sử dụng số liệu được thu thập từ nguồn dữ liệu thứ
cấp: Các con số thống kê về các ngành động lực trên địa bàn nghiên cứu. Trên
cơ sở những dữ liệu thu thập được, luận văn còn sử dụng một số kỹ thuật như
phân tích, so sánh, tổng hợp, sử dụng phần mềm Excel đề xử lý số liệu, đưa ra
các sơ đồ, biểu mẫu để so sánh, đánh giá trong quá trình phân tích thực trạng
phát triển các ngành chuyên môn hóa.
5. Đóng góp khoa học của luận văn
Với mục đích nghiên cứu cuối 0063ùng là được hội đồng khoa học và các
thày cô trong khoa chấp nhận, luận văn sẽ có những đóng góp chủ yếu sau:
Thứ nhất: Đi sâu phân tích, làm rõ một số lý luận cơ bản về ngành động
lực và phát triển ngành động lực.

Thứ hai: Chỉ ra những kết quả đạt được và những hạn chế trong hoạt
động phát triển các ngành động lực trên địa bàn tỉnh hiện nay trên cơ sở phân
tích, đánh giá thực trạng.
Thứ ba: Luận văn có đề xuất một số giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh và
nâng cao hiệu quả phát triển đối với các ngành động lực trên địa bàn tỉnh
trong thời gian tới.
3
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CÁC
NGÀNH ĐỘNG LỰC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN
I. Giới thiệu khái quát về tỉnh Hưng Yên
1. Quá trình hình thành và phát triển của tỉnh Hưng Yên
Hưng Yên là một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng Việt Nam.
Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hưng Yên nằm cách thủ đô Hà
Nội 64 km về phía đông nam, cách thành phố Hải Dương 50 km về phía tây
nam. Phía bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía đông giáp tỉnh Hải Dương, phía tây và
tây bắc giáp thủ đô Hà Nội, phía nam giáp tỉnh Thái Bình và phía tây nam
giáp tỉnh Hà Nam. Trong quy hoạch xây dựng, tỉnh này thuộc vùng Hà Nội
Sự phân bố không gian, lãnh thổ của tỉnh Hưng Yên có tọa độ địa lý: Từ
20
o
36’ đến 21
o
01’ độ vĩ Bắc; 105
o
53’ đến 106
o
17’ độ kinh Đông.
Tỉnh Hưng Yên nguyên thuộc thừa tuyên Sơn Nam đặt vào năm Quang
Thuận thứ 10 đời Lê (1469). Đến năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741) thì chia thành

Sơn Nam Thượng và Sơn Nam Hạ. Đời nhà Nguyễn năm Minh Mệnh thứ 3
(1822), Sơn Nam Thượng được đổi thành trấn Sơn Nam còn Sơn Nam Hạ thì
gọi là trấn Nam Định. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), tỉnh Hưng Yên được
thành lập gồm các huyện Đông Yên, Kim Động, Thiên Thi, Tiên Lữ, Phù
Dung của trấn Sơn Nam và Thần Khê, Hưng Nhân, Duyên Hà của trấn Nam
Định (các huyện Thần Khê, Duyên Hà và Hưng Nhân sau bị cắt vào tỉnh Thái
Bình mới thành lập)
[1]
.
Tuy là tỉnh "mới" chỉ non 200 năm, vùng đất Hưng Yên đã nổi danh từ
thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh trước đó với Phố Hiến, vốn là thương cảng
đô hội quan trọng bậc nhất ở Đàng Ngoài. Thuyền bè ngược sông Hồng lên
Thăng Long "Kẻ Chợ" đều phải dừng ở Phố Hiến đợi giấy phép nên Phố Hiến
trở thành tụ điểm sầm uất. Người Tàu, người Nhật và người Tây phương đều
4
đến đấy buôn bán. Do vậy dân gian đã có câu: "Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì phố
Hiến". Trải qua hơn 175 năm xây dựng và trưởng thành ( thành lập năm
1831), Hưng Yên có 30 năm hợp nhất với tỉnh Hải Dương (1968-1997) thành
tỉnh Hải Hưng cũ, và tỉnh mới được tái lập năm 1997.
Tỉnh Hưng Yên có 10 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 01 thị xã, 09
huyện; có 07 phường, 09 thị trấn và 145 xã. Thị xã Hưng Yên là trung tâm
chính trị, văn hóa của tỉnh. Diện tích, dân số được phân bố ở các huyện, thị
như sau:
Bảng 1: Diện tích, dân số các huyện của tỉnh Hưng Yên
Huyện, thị xã Diện tích (ha) Dân số (người)
Mật độ dân số
(người/km2)
Tổng số: 92.309 1.116.401 1.209
1. Thị xã Hưng Yên 4.680 77.398 1.654
2. Văn Giang 7.179 94.763 1.320

3. Văn Lâm 7.442 97.108 1.305
4. Mỹ Hào 7.910 84.571 1.069
5. Yên Mỹ 9.100 127.137 1.397
6. Khoái Châu 13.086 186.102 1.422
7. Ân Thi 12.822 130.295 1.016
8. Kim Động 11.465 125.381 1.094
9. Tiên Lữ 9.243 105.632 1.143
10. Phù Cừ 9.382 88.014 938
2. Vị trí và vai trò của tỉnh Hưng Yên
Hưng Yên là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng Việt Nam.
Trung tâm hành chính của tỉnh là Thành phố Hưng yên, nằm cách thủ đô Hà
Nội 64km về phía Đông Nam, cách thành phố Hải Dương 50km về phía Tây
Nam. Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây
giáp tỉnh Hà Tây cũ (nay là Hà Nội), phía Tây Bắc giáp thủ đô Hà Nội, phía
Nam giáp tỉnh Thái Bình và phía Tây Nam giáp tỉnh Hà Nam. Tính đến
31/12/2008, toàn tỉnh có 171 đơn vị hành chính, bao gồm: 1 thành phố, 9
huyện và 161 xã, phường, thị trấn (trong đó:145 xã, 7 phường, 9 thị trấn).
Tỉnh có tọa độ như sau:
+ Vĩ độ: 21
o
01’ Bắc
5
+ Kinh độ: 106
o
17’ Đông

Chú thích bản đồ ▼
Tên quốc gia
VIỆT NAM
Tên tỉnh

HƯNG YÊN
Tên thành phố
6
Bản đồ 1: Bản đồ tỉnh Hưng Yên
Trên địa bàn Hưng Yên có các quốc lộ sau chạy qua:
• 5A: Như Quỳnh - Minh Đức
• 39A: Phố Nối - Triều Dương
• 38: Cống Tranh - Trương Xá, thành phố Hưng Yên - cầu Yên
Lệnh
• 38B (39B cũ): Cầu Tràng - Chợ Gạo
Tỉnh lộ:
• 202: Minh Tân - La Tiến (chạy dọc Huyện Phù Cừ qua phà La
Tiến sang Tỉnh Thái Bình).
• 200: Triều Dương - Cầu Hầu .
• 203: Đoàn Đào - Lệ Xá - Trung Dũng - Thụy Lôi - Hải Triều -
Cầu Triều Dương( Nối QL 38B với QL 39A)
• 195: Chạy dọc đê sông Hồng từ thành phố Hưng Yên tới Bát
Tràng, Gia Lâm.
Đường sắt: tuyến đường sắt Hà Nội-Hải Phòng chạy qua địa phận Hưng
Yên 17 km, từ Như Quỳnh tới Lương Tài.
Đường thủy: Sông Hồng là ranh giới của Hưng Yên với các tỉnh, thành
phía tây, dài 57 km. Sông Luộc là ranh giới với tỉnh Thái Bình dài 25 km.
Sông Luộc và sông Hồng giao nhau tại địa phận thành phố Hưng Yên. Ngoài
ra còn các sông nhỏ khác như: sông Sặt (sông Kẻ Sặt), sông Chanh, sông Cửu
An (sông Cửu Yên), sông Tam Đô, sông Điện Biên, v.v. Hệ thống đại thủy
nông Bắc Hưng Hải chủ yếu phục vụ tưới tiêu cho nông nghiệp. Tất cả các
tuyến giao thông kể trên tạo thành một mạng lưới giao thông tương đối thuận
lợi cho phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
7
3. Tiềm năng và thế mạnh của tỉnh Hưng Yên đối với việc phát triển

các ngành động lực
3.1. Đặc điểm địa hình
Địa hình của tỉnh Hưng Yên tương đối bằng phẳng, hướng dốc từ Tây
Bắc xuống Đông Nam, độ dốc 14cm/k. Độ cao đất đai không đều mà hình
thành các dải, các khu, vùng cao, thấp xen kẽ nhau như làn song. Cao độ
trung bình từ 2-4,5m, chiếm 70%; cao độ thấp nhất từ 1,2 – 1,8m chiếm 10%
và cao độ cao nhất là 5-7m chiếm 20%. Địa hình cao chủ yếu ở phía tây bắc
tỉnh gồm các huyện Phù Cừ, Tiên Lữ, Ân Thi.
3.2. Khí tượng, Thủy văn
Hưng Yên chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm.
Hàng năm có hai mùa nóng và lạnh rõ rệt: mùa lạnh, trong thời kỳ đầu mùa
đông, khí hậu tương đối khô, nửa cuối thì ẩm ướt; mùa hạ nóng ẩm, mưa
nhiều.
Nhiệt độ trung bình 23,5
o
C khá đồng nhất trên địa bàn tỉnh; Nhiệt độ
trung bình thấp nhất là 16
o
C, các tháng có nhiệt độ thấp là từ tháng 11 năm
trước đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ tối thấp là 4,9
o
C. Theo nghiên cứu cho
thấy, nhiệt độ bình quân các tháng trong năm thuận lợi cho cây ăn quả và
chăn nuôi phát triển trên 20
o
C là thích hợp và cho hiệu quả kinh tế cao nhất.
Lượng mưa trung bình đạt 1710mm, nhưng phân bố không đều trong
năm. Mùa mưa )từ tháng 5 đến tháng 10) tập trung tới 70% lượng mưa cả
năm. Chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính: gió đông nam thổi vào mùa
hạ, gió đông bắc thổi vào mùa đông. Mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm

sau) lạnh và thường có mưa phùn, thích hợp gieo trồng nhiều loại cây ngắn
ngày có giá trị kinh tế cao. Độ ẩm không khí trung bình trong năm là 86%,
tháng cao nhất (tháng 3) là 92% và tháng thấp nhất (tháng 12) là 9%. Lượng
mưa tháng 2-3-4 tuy không nhiều nhưng độ ẩm không khí cao, đây là giai
8
đoạn ra hoa và đậu quả non nên nếu gặp mưa nhiều, cộng với cường độ chiếu
sáng yếu kết với với nhiệt độ thấp xảy ra do gió mùa Đông Bắc (thường kéo
dài 3-4 ngày thậm chí có những năm kéo dài hàng tháng) là nguyên nhân trực
tiếp và gián tiếp ảnh hưởng tới tỷ lệ đậu quả thấp, quả non dễ rụng và mang
lại hiệu quả không cao.
Như vậy, điều kiện khí hậu của Hưng Yên là thích hợp với yêu cầu cho
nuôi trồng sinh trưởng và phát triển.
3.3. Lợi thế từ các nguồn lực sản xuất
 Tài nguyên thiên nhiên
- Tài nguyên đất
Hưng Yên có diện tích đất nông nghiệp là 64.177 ha, trong đó đất cây
hàng năm là 57.074,3 ha (chiếm 88,9%), cây lâu năm 716 ha (chiếm 1,1%),
mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 4000 ha. Quỹ đất nông nghiệp Hưng Yên còn
nhiều tiềm năng để khai thác, đặc biệt là tăng vụ và có thể tăng vụ đông lên
30.000 ha. Ngoài ra còn nhiều ao, hồ, sông cụt chưa được khai thác sử dụng
hết. Đất trồng cây lâu năm, đất vườn có khả năng trồng nhiều cây có giá trị
kinh tế cao như: nhãn, vải, táo, cây cảnh, cây dược liệu… cung cấp cho thị
trường trong nước đang tăng nhanh (đặc biệt là thị trường Hà Nội) và xuất
khẩu. Hình thành các vùng sản xuất tập trung tạo nguồn nguyên liệu lớn và
ổn định cho phát triển công nghiệp chế biến, đây là một thế mạnh của Hưng
Yên.
- Tài nguyên khoáng sản
Khoáng sản của Hưng Yên rất hạn chế, chủ yếu là nguồn cát đen với trữ
lượng lớn ven sông Hồng, sông Luộc có thể khai thác đáp ứng nhu cầu xây
dựng và san lấp mặt bằng, làm đường giao thông và phục vụ các vùng lân

cận. Bên cạnh đó, tỉnh còn có nguồn đất sét tương đối lớn để sản xuất vật
liệu xây dựng. Hưng Yên có nguồn than nâu (thuộc bể than nâu vùng đồng
bằng sông Hồng) có trữ lượng rất lớn (hơn 30 tỷ tấn) nhưng nằm ở độ sâu
trung bình từ 600 – 1.000 m, điều kiện khai thác rất phức tạp do lún sụt.
9
 Nguồn nhân lực:
Thế mạnh nổi trội nhất của tỉnh là nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ
lao động, nhà giáo và bác sỹ cả về quy mô và trình độ, có tác dụng thúc đẩy
phát triển các dịch vụ giáo dục – đào tạo, y tế và chăm sóc sức khỏe chất
lượng cao ở trong tỉnh, trong nước và ra khu vực.
Theo số liệu điều tra dân số năm 1999, tỉnh Hưng Yên có 1.071.973
người. Mật độ dân số là 1161 người/km2, cao hơn mật độ trung bình đồng
bằng sông Hồng và gấp hơn 5 lần trung bình của cả nước. 91,5% dân số Hưng
Yên sống ở nông thôn, 8,5% dân số sống ở thành thị.
Trong số 10 huyện, thị:
* Dân số đông nhất là huyện Khoái Châu: 186.102 người.
* Thị xã Hưng Yên có dân số ít nhất: 77.398 người và mật độ dân số lớn
nhất: 1.654 người/km2.
* Mật độ dân số thấp nhất là huyện Phù Cừ: 938 người/km2.
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1%/năm.
Có 57 vạn lao động trong độ tuổi, trẻ khỏe và có trình độ văn hóa cao,
chiếm 51% dân số, lao động đã qua đào tạo nghề đạt 25%, chủ yếu có trình độ
đại học, cao đẳng, trung học và công nhân kỹ thuật được đào tạo cơ bản, có
truyền thống lao động cần cù và sáng tạo.
Theo điều tra dân số 01/04/2009 Hưng Yên có 1.128.702 người với mật
độ dân số 1.223 người/km².
4. Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh
Hưng Yên trong thời gian qua
4.1. Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô
Năm 2010, là năm cuối của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm

10
2006-2010, trong bối cảnh kinh tế thế giới dần được hồi phục, quan hệ giữa
các nước ngày càng được tăng cường; kinh tế nước ta có bước phát triển, sản
xuất ổn định, dịch bệnh diễn biến ít phức tạp, nhưng những tháng cuối năm
giá của các mặt hàng trên thị trường có khả năng diễn biến phức tạp. Tỉnh ta,
với sự quyết tâm cao của các cấp Uỷ đảng, chính quyền và toàn thể nhân dân,
đã tổ chức thành công Đại hội Đảng các cấp và Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ
XVII, được Bộ chính trị đánh giá cao ; kinh tế tăng trưởng khá, sản xuất tiếp
tục phát triển, lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục chuyển biến tích cực; chính
trị ổn định, quốc phòng và an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được
đảm bảo, các chỉ tiêu ước thực hiện như sau:
- Tổng sản phẩm (GDP) tăng 12,11% (KH 11-12%);
- Giá trị sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản tăng 5,78% (KH tăng 5%);
- Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14,65% (KH 14,5%);
- Giá trị các ngành dịch vụ tăng 15,54% (KH tăng trên 14%);
- Cơ cấu kinh tế NN
0
-CN,XD-DV đạt kế hoạch: 25% - 44% - 31%;
- Thu nhập bình quân đầu người đạt 20 triệu đồng (KH: 20 triệu đồng);
- Kim ngạch xuất khẩu đạt 530 triệu USD (KH: 500 triệu USD);
- Tổng thu ngân sách trên địa bàn 3.000 tỷ đồng (KH Trung ương giao
2.087 tỷ đồng, KH tỉnh giao 2.306 tỷ đồng), trong đó: Thu nội địa 2.274 tỷ
đồng (KH tỉnh giao 1.850 tỷ); thu thuế xuất, nhập khẩu đạt 720 tỷ đồng (KH:
450 tỷ) và thu xổ số kiến thiết 6 tỷ đồng (KH 6 tỷ đồng).
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 0,94% (KH: 0,94%); tỷ lệ hộ nghèo còn 3%
theo chuẩn năm 2005 (KH 3%); tạo thêm việc làm mới đạt cho 2,5 vạn lao
động (KH 2,4 vạn);
- Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế đạt kế hoạch 90%;
- Tỷ lệ làng, khu phố văn hoá đạt kế hoạch 72%.
4.2. Tình hình phát triển nông nghiệp và Nông thôn

11
Đầu năm, dịch bệnh tai xanh xảy ra trên địa bàn 02 huyện Văn Lâm và
Khoái Châu, làm 24.344 con lợn bị nhiễm bệnh, trong đó chết và tiêu huỷ
12.968 con (tính đến 30/6/2010), sâu bệnh hại cây trồng xẩy ra ở nhiều địa
phương; nắng nóng, hạn hán diễn ra trên diện rộng, gây khó khăn cho sản
xuất nông nghiệp, nhưng UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành, địa phương khắc
phục kịp thời, hạn chế ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.
Sản xuất nông nghiệp được tỉnh đặc biệt quan tâm, tích cực chuyển dịch
cơ cấu giống, thời vụ, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật; công tác phòng, trừ
sâu bệnh được dự tính, dự báo chính xác và xử lý kịp thời, cơ bản nông dân
thực hiện đúng lịch gieo trồng trong khung thời vụ tốt nhất, nên sản xuất nông
nghiệp năm 2010 đạt kết quả khá. Tổng diện tích gieo trồng cả năm 110.816
ha, đạt 102,2% kế hoạch năm (KH), tăng 4.196 ha so cùng kỳ (CK); trong đó,
diện tích cây vụ đông 14.942 ha, đạt 93,4% KH năm, tăng 4.074 ha so với
CK; diện tích lúa 81.941 ha, đạt 102,4% so KH, tăng 0,5 so CK, lúa chất
lượng cao chiếm 50,3%; năng suất lúa cả năm bình quân một vụ ước đạt 62,7
tạ/ha, sản lượng lương thực ước 56 vạn tấn (thóc 51,2 vạn tấn); cơ cấu giống,
trà vụ chuyển biến theo hướng tích cực, đã đưa vào gieo cấy nhiều giống lúa
có năng suất cao, chất lượng và khả năng kháng bệnh tốt. Sản lượng nhãn, vải
đạt 26 nghìn tấn, tăng 4% so cùng kỳ, cam quýt 30,2 nghìn tấn, tăng 7,8%,
chuối 27,7 nghìn tấn, tăng 39,8%.
Nhìn chung chăn nuôi và thuỷ sản phát triển khá, các giống vật nuôi có
năng suất, chất lượng cao phát triển nhanh. Chăn nuôi trang trại phát triển
nhanh ở các địa phương, nhiều mô hình chăn nuôi hiệu quả cao, số đàn được
khôi phục nhanh sau dịch bệnh; tổng đàn lợn hiện có 648 ngàn con, đạt 99,4%
KH, tăng 6,4% so CK, sản lượng thịt hơi 89 ngàn tấn, đạt 104,3% KH, tăng
5,4% so CK; số lượng đàn trâu, bò 49,7 ngàn con, đạt 91% KH, tăng 0,9% so
cùng kỳ, sản lượng thịt trâu bò xuất chuồng đạt 2,8 ngàn tấn, đạt 80% KH,
tăng 21,7 so CK; đàn gia cầm 7,5 triệu con, đạt 111,2% KH, tăng 6% CK, sản
lượng thịt gia cầm 20,9 ngàn tấn, đạt 97,2% KH, tăng 9,9% so CK. Diện tích

nuôi trồng thủy sản tăng cao, đạt 4.800 ha, tăng 9% so CK, sản lượng thuỷ
sản đạt 23,1 nghìn tấn, đạt 100,4% KH, tăng 8,8% so CK.
12
Công tác tu bổ và nạo vét kênh mương được thực hiện đúng tiến độ, tiến
độ xây dựng các công trình thủy lợi được quan tâm, chủ động kịp thời phục
vụ cho sản xuất nông nghiệp. Công tác phòng chống lụt bão được chú trọng,
đảm bảo ổn định đời sống cho nhân dân và phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp.
Kinh tế trang trại tiếp tục phát triển, toàn tỉnh hiện có khoảng 2.500 trang trại
đạt tiêu chí. Đã tích cực triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia
về xây dựng nông thôn mới theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết
định số 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010; các làng nghề, ngành nghề tiểu thủ công
nghiệp được phát triển, giải quyết được nhiều lao động tại chỗ, tăng thu nhập
cho người dân. Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường được quan
tâm, tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 85%.
II. Lựa chọn các ngành động lực trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh
Hưng Yên
1. Quan điểm về các ngành động lực trong nông nghiệp
Để hiểu rõ khái niệm về ngành động lực trước tiên chúng ta tìm hiểu
khái niệm về động lực. Theo triết học Mác - Lênin thì “động lực là cái thúc
đẩy sự vận động và phát triển của mọi sự vật hiên tượng, động lực xuất hiện
khi giải quyết tốt mâu thuẫn giữa các mặt đối lập”.
Như vậy, dựa theo khái niệm về động lực của Mác – Lênin thì ngành
động lực trong nông nghiệp là ngành thúc đẩy sự vận động và phát triển của
ngành nông nghiệp. Ngành động lực có thể có nhiều nghĩa nhưng trong phạm
vi luận văn này có nghĩa là sự phát triển của các ngành động lực có thể tạo ra
hiệu ứng lan tỏa đến toàn bộ nền kinh tế và nâng cao mặt bằng kinh tế thông
qua việc phát triển sản xuất trong nước, tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm
nghèo, củng cố công nghiệp phụ trợ, tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của
các ngành kinh tế khác
Trên thực tế, có thể coi các ngành lực động lực là những ngành hiện

đang hoặc không có về lợi thế cạnh tranh, song nó có những đóng góp lớn đối
13
với phát triển kinh tế (về đóng góp vào giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, về kim
ngạch xuất khẩu, về giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội khác,…). Trong
từng thời kỳ, việc lựa chọn ngành động lực là những ngành có điều kiện phát
triển trong thời gian đó, đóng vai trò, vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân cũng như được ưu tiên đầu tư phát triển nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động của nền kinh tế.
Trên cơ sở đó, chúng ta có thể thấy ngành động lực có một số đặc điểm
sau đây:
- Thứ nhất là những ngành có hiệu quả cao so với các ngành khác. Hiệu
quả ở đây hiểu là hiệu quả cả về mặt kinh tế và xã hội. Hiệu quả về mặt kinh
tế được đo lường bằng sự đóng góp vào các chỉ tiêu GNP và GNI; hiệu quả về
mặt xã hội được đo lường bằng việc xóa bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, sự
tăng lên của tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nước
sạch, trình độ dân trí giáo dục của quảng đại quần chúng nhân dận
- Thứ hai là những ngành dựa trên nguồn lực sẵn có. Nguồn lực
đầu vào có sẵn có thế là lao động, có thể là tài nguyên, cũng có thể dựa
vào nguồn lực về vốn hoặc công nghệ.
- Thứ ba là các ngành động lực có khả năng lan tỏa tác động đến
các ngành khác. Đây là những ngành có điều kiện phát triển, có thị trường
rộng bên trong, bên ngoài và có tác động tích cực đối với các ngành, sản
phẩm khác, lôi kéo các ngành, sản phẩm khác cùng phát triển.
Trong thời kỳ phát triển kinh tế như hiện nay, để có thể đứng vững trên
thị trường trong nước và thị trường quốc tế, việc lựa chọn đúng đắn ngành
nào là động lực cho từng giai đoạn phát triển để đạt được hiệu quả kinh tế
cao, nhanh chóng tăng tốc nền kinh tế là vấn đề cần được cân nhắc kỹ của
chính quyền các cấp địa phương, tỉnh thành cũng như của các quốc gia.
2. Các tiêu chí lựa chọn ngành động lực
Bất kỳ một quốc gia nào cho dù lựa chọn con đường phát triển nào cũng

hướng tới cái đích cuối cùng đó là sự tăng trưởng bền vững. Song để đạt được
mục tiêu này thì việc lựa chọn một chính sách đúng đắn có khả năng bảo đảm
14
kết hợp hài hòa lợi ích của cá nhân với doanh nghiệp với lợi ích của nhà nước
với toàn xã hội, sự phát triển của toàn xã hội sẽ tạo điều kiện để mỗi cá nhân,
doanh nghiệp phát triển và hoàn thiện mình là hết sức khó khăn. Các chính
sách sẽ được coi là phối hợp một cách hiệu quả khi đạt được các yêu cầu sau:
(1) Khuyến khích sự tăng trưởng mạnh các sản phẩm có đóng góp lớn
cho giá trị sản xuất, cho giá trị tăng thêm, doanh thu thuần, thể hiện sự chiếm
lĩnh thị trường trong nước và thị trường thế giới nhưng đồng thời phải giảm
thiểu được những tác động về môi trường, duy trì sự phát triển bền vững của
sản xuất, xuất khẩu và an ninh xã hội.
(2) Khuyến khích phát triển các ngành có đóng góp làm gia tăng giá trị
sản xuất và xuất khẩu những vẫn bảo đảm giải quyết nhiều việc làm cho
người lao động nhằm duy trì sự ổn định của xã hội.
(3) Khuyến khích phát triển các ngành có thể đầu tư ít vốn nhưng lại chủ
yếu sử dụng tài nguyên và nhân lực trong nước mà vẫn bảo đảm chất lượng
để cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Để lựa chọn được ngành động lực có thể dựa trên 9 tiêu chí cơ bản:
(a) Thiết yếu đối với nhu cầu sinh hoạt (ăn, mặc, ở, đi lại, sinh hoạt, học
hành, giải trí) và hợp thị hiếu thị trường trong nước và quốc tế.
(b) Thiết yếu đối với nhu cầu và phù hợp môi trường sản xuất trong nước
và quốc tế.
(c) Thường xuyên đóng góp lớn cho giá trị tăng thêm và tăng trưởng giá
trị tăng thêm của nền kinh tế hàng năm.
(d) Có khả năng chiếm lĩnh thị phần lớn trên thị trường nội địa và thế giới.
(e) Sử dụng nhiều nguồn nhân lực trong nước
(f) Sử dụng nhiều nguồn tài nguyên tại chỗ và nguyên liệu sản xuất tại
chỗ với giá rẻ để tăng khả năng cạnh tranh.
(g) Đạt mức thu nhập cao cho một lao động.

15
(h) Đạt giá trị tăng thêm cao trên một đồng vốn đầu tư phát triển, một
đồng vốn tài sản lưu động và một đồng vốn tài sản cố định.
(i) Đạt yêu cầu về bảo vệ môi trường.
Hệ thống chỉ tiêu lựa chọn ngành công nghiệp chủ yếu được xây dựng
trên cơ sở 9 tiêu chí đánh giá hiệu quả ở trên gồm:
Tiêu chí thứ nhất : Là những ngành có dấu hiệu lợi thế cạnh tranh được
thể hiện như lợi thế về nguồn tài nguyên, nguồn nguyên liệu, lợi thế về nguồn
nhân lực.
Tiêu chí thứ hai : Là những ngành phát triển mạnh và hiệu quả, có khả
năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và thị trường thế giới.
Tiêu chí thứ ba : Là những ngành mà sản phẩm của nó đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng, nhu cầu phát triển, sản xuất của thị trường trong nước và quốc tế.
Tiêu chí thứ tư : Là những ngành có tác dụng lan tỏa trong cả nền kinh tế.
3. Các ngành động lực trong nông nghiệp tỉnh Hưng Yên
Hưng yên là một tỉnh nằm ở đồng bằng Châu thổ Sông Hồng, thuộc vùng
kinh tế trọng điểm Bắc bộ. Sản xuất nông nghiệp của tỉnh nói chung và ngành
trồng trọt nói riêng tương đối phát triển. Hưng Yên là tỉnh có thế mạnh sản
xuất rau vụ đông do vị trí địa lý thuận lợi trong quá trình vận chuyển sản
phẩm đến các thị trường tiêu thụ lớn như Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh.
Với các tiêu chí đã nêu ở phần trên cùng với việc xem xét các điều kiện thực
tế tại tỉnh Hưng Yên, chính sách phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, các ngành
động lực trong nông nghiệp được lựa chọn bao gồm:
- Ngành trồng rau: Hiện nay rau được sản xuất theo 2 phương thức: tự
cung tự cấp và sản xuất hàng hoá, trong đó rau hàng hoá tập trung
16
chính ở 2 khu vực:
• Vùng rau chuyên canh: Sản phẩm chủ yếu cung cấp cho dân phi nông
nghiệp, với nhiều chủng loại rau phong phú (gần 80 loài với 15 loài chủ
lực), hệ số sử dụng đất cao (4,3 vụ/năm), trình độ thâm canh của nông

dân khá, song mức độ không an toàn sản phẩm rau xanh và ô nhiễm
môi trường canh tác rất cao.
• Vùng rau luân canh: đây là vùng có diện tích, sản lượng lớn, cây rau
được trồng luân canh với cây lúa hoặc một số cây màu. Tiêu thụ sản
phẩm rất đa dạng: phục vụ ăn tươi cho cư dân trong vùng, ngoài vùng,
cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu.
Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu rau quả, trong những năm gần đây
những loại rau được xác định có khả năng phát triển để cung cấp sản phẩm
cho xuất khẩu là cà chua, dưa chuột, đậu rau, ngô rau phát triển mạnh cả về
quy mô và sản lượng, trong đó sản phẩm hàng hoá chiếm tỷ trọng cao.
- Ngành chăn nuôi: Lĩnh vực chăn nuôi ở tỉnh Hưng Yên những năm qua
phát triển khá toàn diện cả về năng suất, chất lượng, hiệu quả, quy mô và hình
thức chăn nuôi
III. Sự cần thiết phải phát triển các ngành động lực
1. Ngành động lực góp phần thực hiện thành công Chiến lược phát
triển kinh tế xã hội của tỉnh
Lựa chọn những ngành động lực là một trong những nội dung quan trọng
của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội, và là cơ sở để Chính phủ và các cơ
quan quản lý đưa ra những chính sách phát triển phù hợp, nhằm đạt được
những mục tiêu cao nhất đã đề ra đối với vùng kinh tế cũng như nền kinh tế
quốc dân. Đó là mục tiêu phát triển kinh tế nhanh, mạnh và bền vững trở
thành một trung tâm kinh tế phát triển, là một cực tăng trưởng của đất nước.
17
Nếu như việc xác định các ngành động lực không chính xác hay đã xác
định nhưng phát triển nó lại không được sự ưu tiên, quan tâm đúng mức thì đã
làm tổn thất rất nhiều nguồn lực quốc gia, gây thiệt hại lớn mà sự phát triển
bền vững có khi cũng không được đảm bảo. Đây có thể nói là định hướng
phát triển kinh tế bị sai lệch kéo theo đó là các cơ chế chính sách phát triển
được xây dựng không hợp lý, ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện các mục tiêu
đã đề ra.

2. Ngành động lực chủ yếu giúp phát huy lợi thế so sánh và nâng cao
năng lực cạnh tranh
Như đã bàn ở trên, một trong những đặc điểm của ngành động lực đó là
có khả năng phát huy những lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh của vùng, của
quốc gia.Trong điều kiện thực trạng vùng cũng như thực trạng của nền kinh tế
quốc gia đó là điều kiện nguồn lực hạn chế, đặc biệt là nguồn lực về vốn, về
công nghệ, về tài nguyên thì bài toán lựa chọn ngành động lực để tập trung
đầu tư có hiệu quả, tạo cơ sở nền tảng cho sự phát triển của vùng, của quốc
gia được đặt ra rất bức thiết. Chính vì vậy những ngành động lực cần tập
trung phát triển phải là những ngành có lợi thế khai thác tốt những lợi thế so
sánh, lợi thế cạnh tranh của đất nước.
Ngành nông nghiệp là ngành phát triển chính của tỉnh, không những tận
dụng được lợi thế về lao động, địa hình, điều kiện tự nhiên, đây lại là tỉnh
giáp thành phố Hà Nội, một thị trường tiêu thụ hàng nông sản và sản phẩm
chăn nuôi lớn. Điều này vừa là cơ hội cũng vừa là thách thức lớn đề ra cho
nhà nông khi đứng trước những người tiêu dùng khó tính và sành sỏi.
3. Ngành động lực tạo ra sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế của tỉnh
` Thực chất của việc lựa chọn ngành động lực chính là việc tìm ra một cơ
cấu ngành hợp lý, trong đó hình thành các ngành phát triển bền vững nhằm
khai thác tốt nội lực, tham gia có hiệu quả vào phân công lao động, hợp tác
quốc tế để đáp ứng được các mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, phát
triển toàn diên có trọng điểm với tốc độ cao và bền vững. Đảm bảo công bằng
xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường sinh thái và hội nhập
vững chắc có hiệu quả.
18
Như đã phân tích ở trên, khi lựa chọn ngành động lực là ngành nông
nghiệp, sản phẩm có khả năng xuất khẩu thì đồng thời với những ngành này là
sự phát triển của công nghiệp chế biến, tạo ra sản phẩm sơ chế. Sự phát triển
của công nghiệp chế biến tạo cơ hội cho việc gia tăng xuất khẩu sản phẩm
nông nghiệp, nó lại có tác động ngược lại với các ngành cung ứng nguyên

liệu, tạo ra „mối liên hệ ngược“. Tác động của „ mối liên hệ ngược“ đặc biệt
có hiệu quả nhờ vào quy mô sản xuất lớn làm giảm chi phí sản xuất và tăng
cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Sự phát triển của các ngành có liên quan
còn được thể hiện qua mối liên hệ gián tiếp „ thông qua nhu cầu về hàng tiêu
dùng. Mối liên hệ nảy sinh khi phần lớn lực lượng lao động có mức thu nhậ
ngày càng tăng tạo ra nhu cầu tăng thêm về hàng tiêu dùng.
Vì thế khi xác định và phát triển các ngành động lực sẽ giúp đất nước đạt
được những mục tiêu đã đề ra trong Quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã
hội của qu cũng như Phương quốc gia đó và xác định phương hướng chủ yếu
phát triển kinh tế xã hội, mà trong đó có mục tiêu quan trọng, nhiệm vụ hàng
đầu là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại
hóa.
19
CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN
CÁC NGÀNH ĐỘNG LỰC TRONG NGÀNH
NÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH HƯNG YÊN
I. Quy mô phát triển các ngành động lực trong ngành nông nghiệp của
tỉnh Hưng Yên
A. Thực trạng phát triển ngành rau
1. Thực trạng diễn biến về diện tích, năng suất rau
1.1. Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng rau
1.1.1. Về diện tích gieo trồng rau
Rau xanh, rau gia vị là cây trồng luôn có diện tích vào loại lớn nhất
trong cơ cấu cây trồng vụ đông. Đến nay, nông dân các địa phương đã trồng
được trên 4 nghìn ha rau xanh các loại, tập trung tại các huyện như: Khoái
Châu, Ân Thi, Tiên Lữ. Rau xanh là loại cây trồng đa dạng về chủng loại, phù
hợp với nhiều điều kiện về thổ nhưỡng, thời tiết khác nhau. Đây cũng là loại
cây trồng ngắn ngày nên dễ quay vòng đất
Bảng 2. Diện tích gieo trồng rau của tỉnh Hưng Yên

Năm Tỉnh
Hưng
Các huyện điều tra
Tiên Lữ Khoái Châu Ân Thi
DTGT
rau (ha)
DTGT
rau (ha)
So sánh
với toàn
tỉnh
DTGT
rau (ha)
So sánh
với toàn
tỉnh
DTGT
rau (ha)
So sánh
với toàn
tỉnh
2005 6235 1600 25.66 1100 17.64 1215 19.48
2006 6365 1270 19.95 1089 17.10 1126 17.69
2007 6129 1369 22.33 1147 18.71 1165 19.00
2008 6597 1413 21.41 1150 17.43 1170 17.73
2009 6696 1456 21.74 1153 17.21 1135 16.9
2010 6366 1160 18.22 971.6 15.26 798 12.53
Nguồn: Cục thống kê và Sở nông nghiệp và PTNT Hưng Yên
Năm 2005, DTGT rau toàn tỉnh là 6235 ha và đến năm 2010 là 6366
ha. Năm có diện tích gieo trồng rau lớn nhất là năm 2009 với 6696 ha. Qua đồ

thị có thể thấy, DTGT rau có xu hướng tăng qua các năm, tuy nhiên tốc độ
20
tăng không ổn định.
Biểu đồ 1: Tỷ lệ DTGT rau của 3 huyện Ân Thi, Khoái Châu, Tiên Lữ
(2005-2010)
Bảng 3: Diện tích các loại rau trồng chính (ha)
1997 2004
Các rau khác 2,281 3,291
Các loại cải 1,521 1,865
Bí xanh 267 1,428
Khoai tây 1,460 1,419
Rau muống 445 919
Cà chua 300 742
Hành, tỏi 289 732
Dưa chuột - 725
Xu hào 404 634
Cải bắp 429 449
1.1.2. Năng suất và sản lượng rau trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Năng suất rau phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chủng loại, chất lượng
giống, biện pháp kỹ thuật canh tác, thời vụ Hiện nay, cơ cấu chủng loại rau,
thời vụ sản xuất rất phong phú, nhiều biện pháp kỹ thuật tiên tiến được áp
21
dụng, mỗi chủng loại rau có sự biến động về năng suất khác nhau khi có tác
động kỹ thuật khác nhau
Bảng 4: Năng suất – Sản lượng rau ở Hưng Yên
Năm Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng (tấn)
2000 14.16 139.504
2002 16.55 184.119

2004 17.74 200.462
2006 18.62 270.475
2008 20.33 323.743
2010 24.67 394.256
Nguồn: Sở NN& PTNT Hưng Yên
Có thể thấy rằng diện tích cũng như sản lượng rau của Hưng Yên qua
các năm ngày càng tăng mặc dù diện tích đất dành cho khu công nghiệp đang
chiếm phần lớn. Năm 201 năng suất cũng như sản lượng rau của tỉnh đạt giá
trị cao nhất, tương ứng với sản lượng rau 394.256 tấn. Nguyên nhân chính của
việc sản xuất rau ngày càng tăng là do trồng rau mang lại hiệu quả kinh tế cao
hơn cho người lao động, đồng thời thị trường tiêu thụ rau cũng được mở rộng
hơn, không chỉ trong tỉnh, trong vùng, trong nước mà còn xuất khẩu sang
nước ngoài.
22

×