Tải bản đầy đủ (.pdf) (40 trang)

VHVN 30-45

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (341.24 KB, 40 trang )


TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
KHOA NGỮ VĂN



ThS. PHAN THỊ HỒNG



VĂN HỌC VIỆT NAM 1900-1930
(Giáo trình tóm tắt dùng cho lớp Đại học từ xa)






Đà lạt 2003

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
KHOA NGỮ VĂN
F 7 G






GIÁO TRÌNH
VĂN HỌC VIỆT NAM 1900-1930


(Giáo trình tóm tắt dành cho lớp Đại học từ xa)



ThS. PHAN THỊ HỒNG




2003
Văn học Việt Nam 1900 – 1930 - 1 –


ThS. Phan Thò Hồng Khoa Ngữ Văn
MỤC LỤC
Z

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT 2
1. Hoàn cảnh đất nước 2
a) Công cuộc củng cố bộ máy thống trò, khai thác thuộc đòa của thực dân
Pháp và sự chuyển biến của xã hội Việt Nam.
2
b) Các phong trào yêu nước 3
2. Tình hình văn học 4
a) Tính chuyển tiếp, giao thời hay sự đan xen giữa hai nền văn học cũ và
mới.
4
b) Những thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của văn học mới 5
CHƯƠNG II: VĂN HỌC YÊU NƯỚC BA MƯƠI NĂM ĐẦU THẾ KỶ 7
1. Quá trình bền bỉ phát triển 7

2. Một số nội dung trong văn thơ yêu nước của các só phu cấp tiến đầu thế kỷ .9
a) Tâm tư trước thời đại mới của các nhà yêu nước 9
b) Tư tưởng mới, duy tân để tự cường, giành độc lập 10
CHƯƠNG III: PHAN BỘI CHÂU (1867 – 1940) VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC
THƠ VĂN YÊU NƯỚC
15
1. Trước khi xuất dương cứu nước cho đến 1908 17
2. Giai đoạn 1908 – 1925 21
a) Thơ tuyên truyền yêu nước, cứu nước 22
b) Truyện, tiểu thuyết 24
3. Giai đoạn “Ông già Bến Ngự” 27
a) Tiếp tục làm thơ văn cổ động yêu nước cứu nước 27
b) Thơ tâm sự 30
CHƯƠNG IV: TẢN ĐÀ – NGUYỄN KHẮC HIẾU (1889 – 1939) 32
1. Tản Đà – Nhà văn 33
2. Tản Đà – Nhà thơ 34


Văn học Việt Nam 1900 – 1930 - 2 –


ThS. Phan Thò Hồng Khoa Ngữ Văn
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT
1. Hoàn cảnh đất nước
a) Công cuộc củng cố bộ máy thống trò, khai thác thuộc đòa của thực dân
Pháp và sự chuyển biến của xã hội Việt Nam.
Độ vài thập niên cuối thế kỷ XIX, với sự thất bại của các phong trào yêu
nước, sự đầu hàng của triều Nguyễn, việc bình đònh Việt Nam của thực dân Pháp
cơ bản đã xong. Để giữ vững ách đô hộ, Pháp khẩn trương củng cố bộ máy hành
chính, thiết lập hệ thống quân sự, cảnh sát, tòa án, nhà tù, đề ra chính sách riêng về

văn hóa, giáo dục v.v
Đầu thế kỷ XX, khi bộ máy thống trò đã được tổ chức, củng cố, thực dân
Pháp bắt đầu công cuộc khai thác thuộc đòa. Các lónh vực quan trọng của nền kinh
tế như: nông, công, thương nghiệp, giao thông vận tải, ngân hàng, tài chính đều
nằm trong tay thực dân. Để thuận lợi cho việc kìm kẹp, bóc lột nhân dân thuộc đòa,
thực dân vẫn cho duy trì bộ máy quan liêu, cường hào với chính sách sưu thuế cũ.
Bộ máy chính quyền thực dân hay chế độ thực dân nửa phong kiến cơ bản được
thiết lập trên cơ sở của sự cấu kết chặt chẽ giữa chủ nghóa đế quốc và thế lực phong
kiến phản động, là công cụ của thực dân Pháp đàn áp dân tộc Việt Nam, chia rẽ đất
nước Việt Nam, thực hiện chính sách khai thác thuộc đòa vô cùng tàn bạo của
chúng.
Công cuộc khai thác thuộc đòa của thực dân Pháp khiến đất nước Việt Nam
bò cuốn vào q đạo hoạt động của chủ nghóa tư bản chủ yếu ở phương diện thò
trường tiêu thụ và cung cấp nguyên liệu, hàng xuất khẩu. Nhưng quá trình đô hộ
của Pháp dù muốn dù không đã tạo ra những biến đổi lớn: giao thông mở mang,
buôn bán phát triển, các đô thò lớn hình thành, các hải cảng được xây dựng, tạo nên
sự tiếp xúc ngày càng rộng rãi của nước ta với thế giới.
Chế độ thực dân phong kiến với chính sách sưu thuế, phu phen tạp dòch
nặng nề cùng thiên tai, mất mùa đã làm cho một bộ phận nông dân, thợ thủ công
bần cùng, phá sản. Bò cướp mất nguồn sống là đất đai, những người nông dân bần
cùng nhanh chóng trở thành công nhân đồn điền, hầm mỏ, những người làm thuê,
buôn thúng bán mẹt ở khắp thành phố.
Nhìn chung, công cuộc khai thác thuộc đòa của thực dân Pháp đã thúc đẩy
đất nước Việt Nam vận động, phát triển theo xu hướng tư sản hóa. Mặc dù xu
hướng tư sản hóa của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ là một xu hướng “kém lành
mạnh nhất, què quặt nhất, để lại những hậu quả tai hại nhất nhưng điều đó cũng lôi
kéo các mặt khác phát triển: thay đổi bộ mặt thành thò, biến nó thành những trung
tâm kinh tế, dần dần qui tụ nông thôn quanh thành thò, thay đổi kết cấu xã hội, làm
mất thế lực nhiều lực lượng bảo thủ, trì trệ, tạo điều kiện cho cái mới – sau khi đã
thay da, đổi thòt, biến hóa – có điều kiện từ thành thò tỏa về nông thôn, chi phối sự


Văn học Việt Nam 1900 – 1930 - 3 –


ThS. Phan Thò Hồng Khoa Ngữ Văn
phát triển theo kiểu các xã hội hiện đại”
(1)
. Cùng với sự thay thế của chế độ thực
dân nửa phong kiến, trạng thái ý thức của xã hội cũng biến đổi theo – sự xuất hiện
của ý thức hệ tư sản chính là một nhân tố mới có vai trò quan trọng trong đời sống
tinh thần của xã hội.
b) Các phong trào yêu nước
Sau thất bại của các phong trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX và ngay từ thập
niên đầu thế kỷ XX, yêu cầu độc lập, tự cường vẫn nung nấu trong suy nghó của
những nhà yêu nước Việt Nam. Trên cơ sở tiếp thu những tư tưởng mới, tư tưởng
dân chủ tư sản qua tân thư, tân văn Trung Quốc, các thuyết về nhân đạo, dân quyền
của các nhà tư tưởng giai cấp tư sản Pháp như Voltaire, Roussault, Montesquier và
gương tự cường của Nhật theo chủ nghóa dân chủ tư sản – một phong trào yêu nước
cách mạng mang màu sắc mới đã dấy lên trong nước như phong trào Đông Du,
Đông Kinh Nghóa Thục, Duy Tân Về cơ bản có thể phân biệt các phong trào này
thanh hai xu hướng chính đó là xu hướng bạo động và xu hướng cải lương.
Để tạo được vũ lực tiến tới bạo động cởi ách thống trò của thực dân Pháp,
thủ lónh của xu hướng bạo động là Phan Bội Châu đã tổ chức đưa thanh niên sang
Nhật đào tạo về văn hóa, quân sự Phong trào dấy lên từ 1905 kéo dài cho đến
1908. Cuối 1908, Nhật bắt tay với Pháp trục xuất các học viên Đông Du. Năm 1909
lãnh tụ Phan Bội Châu cũng bò buộc rời khỏi đất Nhật. Phong trào Đông Du tuy thất
bại nhưng nó đã khẳng đònh một xu hướng cứu nước mới với nỗ lực tìm tòi sáng tạo
của các nhà Nho yêu nước đầu thế kỷ.
Một số nhà yêu nước khác lại thấy rằng bạo động giành chính quyền lúc bấy
giờ là việc hết sức khó khăn. Cầu viện thì chắc chắn sẽ lâm vào cảnh “đổi chủ mà

vẫn làm đầy tớ”. Vì thế, cách duy nhất để khôi phục chủ quyền đất nước là vận
đ6ọng nhân dân cách tân văn hóa, tư tưởng, sinh hoạt, kinh tế theo phương thức tư
bản chủ nghóa để tự cường tự chủ lâu dài về sau. Lúc bấy giờ, Pháp cũng đang thực
hiện chủ trương mở mang kinh tế nên chúng ta có thể tạm thời đoàn kết, hợp tác.
Tuy nhiên, cái khó là, để thực hiện được điều này phải triệt hạ quan lại, thực hiện
quyền dân. Chủ trương đường lối cứu nước này là nhà yêu nước Phan Châu Trinh.
Ông cùng các đồng chí của mình như Huỳnh Thúc Kháng, Trần Q Cáp đã nỗ lực
tuyên truyền cho công cuộc khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, đánh đổ chế
độ quân chủ, tiến lên con đường dân chủ.
Xu hướng cải lương với việc đề cao công việc duy tân còn được thể hiện rõ
ở phong trào Đông Kinh Nghóa Thục. Các só phu Đông Kinh Nghóa Thục vừa hô
hào thực nghiệp, chấn hưng kinh tế vừa trực tiếp tham gia hoạt động công thương,
mở xưởng, thành lập hãng buôn để cổ động hàng trong nước.

(1)
Trần Đình Hượu – Lê Chí Dũng,Văn học Việt Nam 1900-1930, NXB Giáo dục 1996, tr. 12.

Văn học Việt Nam 1900 – 1930 - 4 –


ThS. Phan Thò Hồng Khoa Ngữ Văn
Cùng với phong trào Duy Tân ở Bắc kỳ với tổ chức Đông Kinh Nghóa Thục,
ở Trung Kỳ công cuộc vận động Duy Tân cũng diễn ra sôi nổi. Đả phá những tập
tục hủ bại của xã hội phong kiến, tuyên truyền cho xã hội mới, một xã hội dân chủ,
đó là mục đích hướng tới của só phu và nhân dân Trung kỳ.
Về kinh tế, các quan niệm cũ “Trọng nông ức thương”, “Trọng vương khinh
bá” bò đả phá. Các nhà Nho yêu nước kêu gọi lập hội kinh doanh buôn bán, mở cơ
sở sản xuất, cổ động cho các hoạt động nông, công, thương. Một số só phu yêu nước
đã trực tiếp điều hành các cơ sở sản xuất, kinh doanh như Ngô Đức Kế, Đặng
Nguyên Cẩn, Nguyễn Quyền v.v Về văn hóa, các nhà Nho Duy Tân đã nô nức

lập trường học theo kiểu mới, đặc biệt là họ đã biến các trường học này thành các
trung tâm cải cách xã hội, tuyên truyền yêu nước cứu nước. Nhìn chung, lãnh tụ các
phong trào Duy Tân là các nhà Nho tiến bộ. Họ dũng cảm đòi bỏ chữ Hán, khuyến
khích học chữ quốc ngữ, hùn vốn lập hội buôn, mở xưởng công nghiệp, đổi mới lối
sống như hạn chế cúng tế, xôi thòt, biếu xén, khuyến khích tập thể dục, hớt tóc
ngắn, bỏ nhuộm răng v.v Những phong trào Duy tân do các só phu yêu nước, tiến
bộ lãnh đạo đã khuấy động đời sống chính trò, xã hội Việt Nam suốt trong thập kỷ
thứ nhất của thế kỷ XX. Đó là cơ sở thực tế cho một giai đoạn văn học yêu nước
phong phú, hào hùng, tha thiết nhất trong lòch sử văn học yêu nước Việt Nam.
Khi những phong trào trên lắng xuống thì tổ chức yêu nước Việt Nam
Quang phục hội (1912) ra đời, tiếp đến Việt Nam Quốc dân đảng theo xu hướng
dân chủ tư sản xuất hiện và thất bại (1927-1930). Từ sau 1922, cách mạng Việt
Nam chuyển biến mạnh mẽ, công cuộc giải phóng dân tộc tất yếu phải chuyển
sang phạm trù khác, phạm trù cách mạng dân chủ. Với sự thành lập của Đảng cộng
sản Đông Dương (1930) một kỷ nguyên đấu tranh cách mạng mới đã được khai mở,
đó là kỷ nguyên cách mạng vô sản do giai cấp công nhân lãnh đạo. Lãnh tụ của
phong trào nàyy là nhà yêu nước lỗi lạc Nguyễn Ái Quốc.
Trong hoàn cảnh là một nước thuộc đòa, đất nước Việt Nam đầu thế kỷ XX
trên các lónh vực chính trò, kinh tế, văn hóa, xã hội đều có đổi thay, biến chuyển.
Diện mạo, tính chất ba mươi năm văn học đầu thế kỷ chòu ảnh hưởng sâu sắc của
tình hình đó.
2. Tình hình văn học
a) Tính chuyển tiếp, giao thời hay sự đan xen giữa hai nền văn học cũ và
mới.
Những biến chuyển lớn trên đất nước ba mươi năm đầu thế kỷ đã tạo nên sự
đổi thay, biến chuyển trong nền văn học. Trong hoàn cảnh đất nước mất chủ quyền,
vấn đề giải phóng dân tộc đặt ra bức thiết, các nhà Nho cùng với việc thành lập các
tổ chức yêu nước đã phát huy vốn văn chương đào luyện trong trường khoa cử ra
phục vụ sự nghiệp tuyên truyền cứu nước. Các cây bút Nho học thế hệ cuối cùng
như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Ngô Đức Kế, Huỳnh


Văn học Việt Nam 1900 – 1930 - 5 –


ThS. Phan Thò Hồng Khoa Ngữ Văn
Thúc Kháng với bút lực vững vàng về thơ, phú, văn luận đã kế thừa và phát triển
xuất sắc một trong những dòng chủ lưu của văn học trung đại Việt Nam đó là dòng
văn học yêu nước. Lấy văn chương làm vũ khí tuyên truyền, giác ngộ, đấu tranh là
điểm chung trong sáng tác của các nhà Nho yêu nước lúc ấy. Quan điểm “Văn dó
tải đạo” vốn quen thuộc với các nhà Nho trong lòch sử nay lại được các chí só yêu
nước vận dụng, phát huy trong sự nghiệp cứu quốc. Trong tay các nhà Nho yêu
nước, đồng thời là những người đỗ đạt cao, các thể loại văn, thơ, phú, lục đều có
thành tựu. Mặt khác, thời đại mới thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển nhanh,
các đô thò lớn, đông đúc xuất hiện, lối sống đô thò hình thành rõ rệt. Các tầng lớp
người mới ở đô thò với nhu cầu tinh thần, văn hóa, giải trí khác trước chính là một
trong những động lực thúc đẩy sự ra đời và phát triển của văn học mới theo kiểu
phương Tây. Bởi vậy, lúc bấy giờ, cùng với văn học yêu nước của các nhà Nho là
sự xuất hiện tuy còn dè dặt nhưng đầy hứa hẹn của văn học mới ở các đô thò.
Như vậy, trong đời sống văn học đầu thế kỷ, do có sự tồn tại, đan xen giữa
văn học trung đại (biểu hiện rõ ở văn học yêu nước) và văn học mới (sáng tác của
các trí thức Tây học) nên có thể gọi đây là giai đoạn có tính chuyển tiếp, giao thời
giữa hai nền văn học, hai thời kỳ văn học. Ở giai đoạn sau 1932-1945, văn học mới
có thể xem là đã chiếm lónh trọn diễn đàn văn học dân tộc.
b) Những thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của văn học mới
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX sự truyền bá văn hóa Pháp vào đời sống xã
hội nước ta đã tạo ra sự tiếp xúc, chọn lựa giữa hai nền văn học: văn học trung đại
Việt Nam và văn học cận hiện đại Pháp. Cuộc tiếp xúc này tạo nên sự so sánh, sau
đó là sự đào thải cái cũ không thích hợp, tiếp thu cái mới tiên tiến để phát triển của
văn học trong điều kiện mới. Văn học nhà Nho chủ yếu là thơ vốn “cao đạo, xa lạ”
không còn đáp ứng được nhu cầu nhận thức, giải trí ngày càng phong phú của đông

đảo tầng lớp người mới trong xã hội. Trong điều kiện đó, văn học cận hiện đại
Pháp với những ưu thế, thành tựu đã được khẳng đònh, trở thành chỗ dựa để người
Việt Nam học tập, noi theo.
Mặt khác, sự thực hiện chính sách văn hóa, giáo dục nô dòch làm xuất hiện
đội ngũ trí thức mới, trí thức Tây học. Tầng lớp trí thức mới này biết tiếng Pháp, am
hiểu văn học Pháp. Và “qua họ, văn học Pháp tác động một cách rất sâu sắc đến sự
phát triển về sau của văn học nước ta”
(1)
. Đội ngũ tri thức mới này dòch, nghiên
cứu, giảng dạy, phổ biến văn học Pháp trong đời sống xã hội văn hóa; giúp công
chúng thích ứng nhanh hơn với cái mới trong văn học. Văn học mới, trước hết là
truyện ngắn, tiểu thuyết nội dung phản ánh hiện thực đời sống, xã hội, tâm lí gần
gũi đã nhanh chóng chiếm được cảm tình của công chúng. Do sự phát triển của
công thương nghiệp, của đô thò văn học mới còn được hỗ trợ tích cực của các
phương tiện như nhà máy giấy, nhà máy in, chữ quốc ngữ, báo chí, hiệu sách v.v
Sự đổi mới, phát triển của xã hội, văn hóa còn thúc đẩy sự ra đời và trưởng thành

(1)
Trần Đình Hượu – Lê Chí Dũng, Sđd, tr. 27.

Văn học Việt Nam 1900 – 1930 - 6 –


ThS. Phan Thò Hồng Khoa Ngữ Văn
của đội ngũ sáng tác mới đầu tiên là các phóng viên báo chí. Từ việc dòch thuật,
phóng tác, sau đó tiến xa hơn một bước nữa, những người làm báo còn tự tay viết
truyện ngắn in báo. Đó là những truyện ngắn được viết theo phương pháp mô tả cụ
thể, sinh động hiện thực mà họ đã đọc, đã dòch.
Về quan niệm văn học, mục đích sáng tác và phương pháp sáng tác, các nhà
báo kiêm nhà văn này đã rất khác các nhà Nho trước đây. Họ là những người đầu

tiên đã kiếm sống bằng ngòi bút của mình, đã biến văn chương thành một nghề
nghiệp như những nghề nghiệp khác trong xã hội. Nhà thơ Tản Đà, một văn thi só
tiêu biểu của giai đoạn văn học này đã nói lên sự đổi mới ấy trong đời sống văn
học thời đại ấy:
Mười mấy năm xưa ngọn bút lông,
Xác xơ chẳng bợn chút hơi đồng.
Bây giờ anh đổi lông ra sắt,
Cách kiếm ăn đời có nhọn không?
(Thuật bút)
Có thể nói, là nhà Nho bảo thủ thì khó có thể hòa nhập được vào sự sôi
động, đổi mới này của thò trường văn học. Thuộc thế hệ trước Tản Đà, nhà thơ Tú
Xương đã diễn tả sự bế tắc của các ông Nghè, ông Cống cũng tức là của văn
chương nhà Nho:
Nào có ra gì cái chữ Nho,
Ông nghè ông cống cũng nằm co.
(Chữ Nho)
Giai đoạn 1900-1930 chứa đựng bước chuyển lớn của lòch sử văn học dân
tộc. Từ nền văn học trung đại mang tính khu vực, văn học Việt Nam đã chuyển
mình để phát triển theo hướng một nền văn học hiện đại, mang tính toàn cầu. Cùng
với việc cách tân văn học trung đại, văn học đầu thế kỷ đã ghi nhận sự nỗ lực vươn
lên của các nhà văn trong việc học tập, tiếp thu thành quả của văn học cận hiện đại
phương Tây.
WX
VẤN ĐỀ ÔN TẬP
1. Tình hình đất nước ba mươi năm đầu thế kỷ?
2. Tính giao thời của văn học ba mươi năm đầu thế kỷ?
3. Những điều kiện thuận lợi cho sự ra đời, phát triển của văn học mới ba mươi
năm đầu thế kỷ?

Văn học Việt Nam 1900 – 1930 - 7 –



ThS. Phan Thò Hồng Khoa Ngữ Văn
CHƯƠNG II: VĂN HỌC YÊU NƯỚC BA MƯƠI NĂM ĐẦU
THẾ KỶ
1. Quá trình bền bỉ phát triển
Từ đầu thế kỷ cho đến năm 1930, các phong trào yêu nước cách mạng liên
tiếp nổ ra, thất bại cho đến ngày ngày Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời. Quá
trình ra đời, phát triển của văn học yêu nước, cách mạng từ nhà chí só yêu nước
Phan Bội Châu cho đến lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc gắn liền với các phong trào này.
Là tiếng nói của những nhà yêu nước, nhằm phục vụ sự nghiệp cứu quốc,
văn học yêu nước ba mươi năm tìm đường này đã trải qua những bước thăng trầm
khác nhau. Độ trong mười năm đầu thế kỷ, do ảnh hưởng tân thư và phong trào Duy
Tân từ Trung Quốc, Nhật Bản dội vào, một phong trào yêu nước, cách mạng mang
màu sắc mới đã bùng nổ trong nước. Liên tục từ năm 1904 đến 1908 các phong trào
Đông Du, Đông Kinh Nghóa Thục, Duy Tân, phong trào chống sưu thuế, chống đi
phu đã làm chấn động bầu không khí chính trò cả nước. Lãnh tụ các phong trào này
là các nhà Nho, đó là các chí só yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,
Trần Q Cáp, Huỳnh Thúc Kháng v.v Trong khoảng 10 năm đầu thế kỷ, các nhà
yêu nước đã sử dụng văn thơ như một thứ vũ khí cổ động, tuyên truyền đắc lực
nhất. Hàng loạt tác phẩm chứa đựng tinh thần yêu nước mãnh liệt, tư tưởng, đường
lối cứu nước mới xuất hiện làm nức lòng công chúng. Đó là các thiên hùng văn như:
Lưu cầu huyết lệ tân thư (1903), Việt Nam vong quốc sử (1905), Hải ngoại huyết thư
(1906) của Phan Bội Châu; Thư gửi chính phủ Đông Dương (1906), Tỉnh quốc hồn
ca của Huỳnh Thúc Kháng; Khuyên người nước học chữ quốc ngữ (1906) của Trần
Q Cáp v.v Văn thơ Đông Du với hai cây bút xuất sắc là Phan Bội Châu,
Nguyễn Thượng Hiền thể hiện dứt khoát tư tưởng bạo động chống Pháp, diễn tả sâu
sắc suy nghó, tình cảm của các chí só trước thảm cảnh mất nước, nô lệ. Riêng với
Phan Bội Châu, những năm phong trào Đông Du phát triển nhất (1906-1908) cũng
đồng thời là những năm ngòi bút của nhà chí só hào hùng, sung sức nhất. Văn thơ

của phong trào Đông Kinh Nghóa Thục, phong trào Duy Tân nội dung thiên về việc
cổ động cho những đổi mới xã hội. Đây là dòp thuận lợi cho những cây bút lớn như
Phan Châu Trinh, Đặng Nguyên Cẩn, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế phát huy
khả năng dùng văn chương làm vũ khí tuyên truyền cứu nước.
Các tác phẩm không lưu tên tác giả xuất hiện trong thời gian này như: Văn
minh tân học sách, Bài ca Átếá, Khuyên nhau hợp quần, Nên dùng đồ nội hóa v.v
đều thể hiện những quan niệm mới về lòch sử, đất nước, xã hội, bộc lộ rõ đường lối
vận động cách mạng của người viết. Văn thơ phong trào chống thuế Trung kỳ tập
trung vào việc phản ánh đời sống cơ cực của quần chúng nhân dân cùng nỗi bất
bình sâu sắc của họ.
Mười năm đầu thế kỷ là giai đoạn sôi nổi, hào hùng nhất của văn học yêu
nước cận đại. Các tác giả lớn đồng thời cũng là những só phu cấp tiến, đầy nhiệt

Văn học Việt Nam 1900 – 1930 - 8 –


ThS. Phan Thò Hồng Khoa Ngữ Văn
tình yêu nước, cứu nước. Họ đã làm nên một thời đại khó quên với những bài ca
yêu nước, cứu nước bất diệt. Sau thời kỳ hào hùng, sôi nổi, văn học yêu nước đầu
thế kỷ do tình hình khó khăn của các phong trào yêu nước đã chuyển sang giai
đoạn trầm lắng. Trước nguy cơ đe dọa của các phong trào yêu nước, thực dân Pháp
đã thẳng tay khủng bố. Các phong trào nhiều nơi bò dập tắt, nhiều chí só bò vào tù.
Từ sau 1909, văn thơ yêu nước cách mạng không còn sôi động, nóng bỏng như
trước nữa. Trong hoàn cảnh bò đàn áp, tù đày, giăng bủa, các nhà yêu nước chỉ còn
có thể làm thơ tâm sự, nuôi dưỡng ý chí. Ngoài đôi lúc mềm yếu nhất thời (1918 –
Phan Bội Châu viết Pháp – Việt đề huề luận) và dù không còn khí thế như trước
nhưng các chí só vẫn tiếp tục sáng tác góp tiếng nói vào sự nghiệp chung.
Đóng góp tích cực của họ được đánh dấu bằng cuộc bút chiến của Ngô Đức
Kế vạch mặt những kẻ bồi bút cho thực dân trên báo Hữu Thanh. Bài báo Luận về
chánh học cùng tà thuyết (1924) của Ngô Đức Kế là một sự kiện văn học có ý nghóa

chính trò lớn. Âm mưu lấy truyện Kiều ru ngủ thanh niên của Phạm Quỳnh bò phơi
trần dưới ngòi bút sắc sảo của nhà chí só yêu nước.
Ngoài các chí só xuất thân Nho học, các thanh niên trí thức tư sản yêu nước
như Trần Huy Liệu, Hoàng Văn Hoan, Tôn Quang Phiệt cũng bắt đầu có sáng tác
văn thơ. Bộc lộ nỗi đau buồn trước vận nước, quyết dấn thân cho sự nghiệp chung,
kêu gọi mọi người chung lòng cứu nước, đó là nội dung văn thơ những thanh niên
trí thức yêu nước. Dù sức nóng tinh thần đấu tranh cách mạng có phần suy giảm so
với trước, nhưng thơ văn yêu nước giai đoạn này vẫn là nguồn động viên, nuôi
dưỡng những nguồn lực ngấm ngầm đang chờ thời cơ bùng nổ.
Năm 1930, cùng với sự thành lập của Đảng Cộng sản Đông Dương, văn thơ
yêu nước theo khuynh hướng cách mạng vô sản ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện.
Nguyễn Ái Quốc là lãnh tụ số 1 của cách mạng vô sản Việt Nam, đồng thời Người
cũng là cây bút khai sinh cho văn học cách mạng vô sản Việt Nam. Từ năm 1922
đến 1930, Người đã làm những việc như: tham gia sáng lập báo Người cùng khổ
(1922), viết bài cho các báo Nhân đạo, Đời sống công nhân, Tạp chí công sản. Hai
công trình chính luận có giá trò của Người là Bản án chế độ thực dân Pháp viết ở
Pháp và cuốn Đường Kách mệnh viết ở Trung Quốc (1927). Ngoài văn chính luận,
Người còn viết kòch, truyện ngắn, ký. Từ nội dung tư tưởng văn thơ Nguyễn Ái
Quốc, lý tưởng giải phóng dân tộc gắn với lý tưởng giải phóng loài người bò áp bức
lần đầu tiên được thể hiện trong văn học Việt Nam. Vì mới ở bước đầu, văn thơ
theo khuynh hướng cách mạng vô sản lúc bấy giờ “Ngoài ngòi bút độc đáo, nhiều
chất thép của Bác ra, chưa phải đã có những tác giả, tác phẩm lớn. Nhưng với quan
điểm giai cấp sắc bén từ đầu, với sự thể hiện nhuần nhuyễn lập trường giai cấp và
quan điểm dân tộc, với tinh thần cách mạng triệt để và khoa học làm nền, nó là
tương lai của văn học nước nhà”
(1)

(1)
Thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX NXB Văn học Hà Nội 1976, tr. 14.


Văn học Việt Nam 1900 – 1930 - 9 –


ThS. Phan Thò Hồng Khoa Ngữ Văn
2. Một số nội dung trong văn thơ yêu nước của các só phu cấp tiến
đầu thế kỷ
a) Tâm tư trước thời đại mới của các nhà yêu nước
Là những só phu cấp tiến, các nhà yêu nước đều hăng hái, yêu đời, yêu
nước, đầy chí khí, nghò lực. Ở buổi giao thời của đất nước, tầng lớp só phu cấp tiến
là kết tinh tình cảm và tinh thần vì nước. Là những “sứ giả của dân tộc đón tiếp tư
trào mới”, văn thơ là nơi để họ gửi gắm nỗi lo đời, lo nước cao cả. Chí só Phan Bội
Châu bộc lộ hùng tâm tráng khí của mình trước vận nước còn muôn trùng khó khăn,
ông viết như tạc chân dung mình trước thời đại:
Nước non Hồng Lạc còn đây mãi,
Mặt mũi anh hùng há chòu ri.
Giang sơn còn tô vẽ mặt nam nhi,
Sinh thời thế phải xoay nên thời thế.
(Chơi xuân)
Bài Lưu biệt khi xuất dương thể hiện ông là con người hoạt động, năng nổ,
nhà yêu nước và nhà thơ trong ông hòa quyện làm một, phơi phới lạc quan trước
giờ lưu biệt đất nước để tìm đường cứu nước. Ông viết thật hùng hồn:
Làm trai phải lạ ở trên đời,
Há để càn khôn tự chuyển dời.
Trong khoảng trăm năm còn có tớ,
Sau này muôn thû há không ai.
Non sông đã chết sống thêm nhục,
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.
Muốn vượt bể đông theo cánh gió,
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.
Tâm tư nhà chí só tróu nặng nỗi lo cho vận nước, đồng thời cũng chất chứa

những mộng nước cứu nước lớn, đầy hào hứng.
Nếu ở các nhà Nho Cần Vương ta không thấy sự nhẹ nhõm của họ trong tâm
tư thì với các chí só đầu thế kỷ XX, họ đã như những cánh én báo trước vận hội mới
của đất nước. Tuy thế, cũng có những giây phút họ thật sự ưu tư trước thảm cảnh nô
lệ của dân tộc. Phan Châu Trinh giãi bày nỗi lo buồn khi nhìn vào hiện thực, ông
viết như than rằng:
Việc đời ngoảnh lại còn chi,
Anh hùng hết nước mất vì giang san.
Muôn dân nô lệ một đàn,
Văn chương bát cổ nồng nàn giấc say.
Trăm năm cam chòu đọa đày,
Thì bao giờ mới hết ngày lao lung.

Văn học Việt Nam 1900 – 1930 - 10 –


ThS. Phan Thò Hồng Khoa Ngữ Văn
Còn đây là nỗi buồn vì nước của chí só Ngô Đức Kế trong bài Cảm tác:
Nước cũ hồn xưa gọi chửa về,
Buồn rứt gãi đầu trong cõi Bắc,
Mòt mù mưa bụi kéo tư bề.
Là những nhà Nho yêu nước có hoài bão lớn, thơ tâm sự của Phan Bội Châu,
Phan Châu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Ngô Đức Kế nhìn chung tràn ngập một
tinh thần phấn khích, một tư thế vững vàng trước thời đại mới. Ưu tư, sầu muộn chỉ
là những giây phút quá lo lắng trước vận mệnh giang sơn. Bởi vậy, tuy vẫn mang
tính chất “thi ngôn chí” nhưng mảng thơ này của họ đã mang một sắc thái tinh thần,
tư tưởng mới, khác với các nhà Nho lớp trước.
Có khả năng hoạt động trong một không gian rộng lớn, tích cực tiếp nhận
những luồng gió mới từ bên ngoài thổi vào, đó là một trong những nét đổi mới về
tính cách, tư tưởng của các só phu cấp tiến mà thơ họ phần nào đã phản ánh được.

Công cuộc đấu tranh cứu nước, giải phóng dân tộc đầu thế kỷ được đẩy lên một
bước mới nhờ vào nỗ lực đổi mới ấy của họ.
b) Tư tưởng mới, duy tân để tự cường, giành độc lập
+ Tạo lập ý thức làm chủ đất nước
Để cổ động cho ý thức trách nhiệm mới của dân đối với nước, các chí só đã
viện dẫn những truyền thuyết về dòng giống chung của người Việt đối với những
nhân vật nửa thực nửa huyền thoại như Lạc Long, Âu Cơ với dòng dõi Tiên, Rồng
cao q. Từ truyền thuyết Lạc Long, Âu Cơ đẻ 100 trứng trong một bọc, họ nhấn
mạnh ý thức về nghóa đồng bào trong suy nghó mọi người. Để tạo lập ý thức làm
chủ đất nước phải đổi mới quan niệm về nước về dân, về quan hệ giữa dân và nước.
Nước không phải của trời, của vua mà là sản phẩm của nhiều thế hệ cha ông tạo
dựng, trách nhiệm bảo vệ đất nước, tài sản chung cha ông để lại thuộc tất cả con
cháu, tức tất cả mọi người dân trên đất nước.
Các nhà yêu nước cấp tiến lúc bấy giờ quan niệm: dân cư trên đất nước Việt
Nam vốn cùng một mẹ, một bọc trứng mà ra, một quan hệ giống nòi. Bởi thế, đất
nước Việt Nam là gia sản chung của tổ tiên truyền lại, là gia tài chung của tất cả
mọi người. Nhà yêu nước Phan Bội Châu khẳng đònh: “Dân là dân nước nước là
nước dân” (Hải ngoại huyết thư) để nhấn mạnh vai trò làm chủ của người dân đối
với đất nước.
Việc tạo dựng lòng yêu nước, ý thức cứu nước trên cơ sở quan niệm mới về
đất nước, về nghóa đồng bào như vậy đã chứng tỏ sự nỗ lực của các nhà yêu nước
khi tìm kiếm cơ sở lý luận mới cho tư tưởng yêu nước mới, từ đó tìm đường cứu
nước mới. Khi viết những câu thơ như:
Hồn xưa dòng dõi Lạc – Long,
Con nhà Nam Việt người trong giống nòi

Văn học Việt Nam 1900 – 1930 - 11 –


ThS. Phan Thò Hồng Khoa Ngữ Văn

(Đòa dư lòch sử nước nhà – Ngô Q Siêu)
Thực sự các nhà yêu nước nhằm gây dựng tình cảm, trách nhiệm của mỗi
người dân đối với đất nước. Ý thức về sự quan trọng của việc chung sức chung lòng,
các nhà yêu nước kêu gọi:
Đã sinh cùng giống cùng nòi,
Cùng trong đất nước là người đồng thân.
Phải coi ruột thòt cho gần,
Phải thương, phải xót, quây quần lấy nhau.
(Đòa dư lòch sử nước nhà – Ngô Q Siêu)
Nước là của dân, dân phải có trách nhiệm với nước, phải đoàn kết để tạo
nên sức mạnh cứu nước. Đó là một trong những nét mới của tư tưởng yêu nước, cứu
nước mà các chí só đầu thế kỷ đã tìm tòi phát biểu với tất cả tình cảm của họ trong
các tác phẩm tuyên truyền cổ động cứu nước.
+ Tạo lập nhận thức về nỗi nhục mất nước, kêu gọi đoàn kết cứu nước
Đây gần như là một sự thức tỉnh, một phát hiện lớn khi các chí só có dòp đi ra
nước ngoài, được nhìn nhận sự văn minh cường thònh của các nước trên thế giới,
điển hình nhất là Nhật, một nước đồng văn đồng chủng gần gũi. Nước mất, dân cơ
cực trong cảnh nô lệ, vua chỉ là “tượng gỗ”, họa diệt chủng bày ra trước mắt, đó là
thảm trạng đau thương mà các chí só yêu nước với tất cả văn tài và nhiệt huyết cứu
nước đã vẽ ra trong các bài thơ cổ động cứu nước. Ta có thể cùng đọc thấy điều này
trong Hải ngoại huyết thư (Phan Bội Châu), Bài ca Á tế á (khuyết danh), và ít nhiều
trong Tỉnh quốc hồn ca (Phan Châu Trinh), Hợp quần doanh sinh thuyết (Nguyễn
Thượng Hiền) v.v
Tác giả Bài ca Á tế á sau khi ca ngợi sự cường thònh của Nhật đã ngồi nghó
“thêm sầu lại tủi” cho nước nhà đang trong cảnh “Vua là tượng gỗ dân là thân
trâu”. Chủ quyền đất nước không còn, mọi ngành kinh tế quan trọng đều nằm trong
tay thực dân, người Việt Nam chỉ còn “Kẻ chức bồi người trước cu li”, hoặc đi làm
thông ngôn, kí lục. Tầng lớp nông dân thì bò vắt kiệt nguồn sống vì hàng trăm thứ
thuế, khốn cùng vì phu phen tạp dòch. Họa diệt chủng quả thật đang treo lơ lửng, đe
dọa số phận cả một nước vốn có lòch sử vinh quang. Tác giả bài ca như giãi bày nỗi

lo sâu thẳm: “Họa diệt chủng vừa thương vừa sợ. Nòi giống ta biết có còn không?”.
Dũng cảm nhìn vào sự thật đen tối của đất nước, để rồi uất ức đến “bầm gan tím
ruột”, để thức tỉnh và kêu gọi “anh em” “vạch trời kêu mà tuốt gươm ra” không
chòu sống trong vòng trói buộc của thực dân cướp nước, đó là mục đích của Bài ca Á
tế á. Lời văn tác phẩm khi lâm li, thống thiết, khi hùng hồn rất kích động lòng
người. Đó cũng là giọng văn phổ biến của các áng văn chương tuyên truyền cứu
nước đầu thế kỷ.

Văn học Việt Nam 1900 – 1930 - 12 –


ThS. Phan Thò Hồng Khoa Ngữ Văn
Những vấn đề lớn đặt ra trong Bài ca Á tế á đồng thời cũng là những vấn đề
quan trọng trong tác phẩm Hải ngoại huyết thư (hai tác phẩm ra đời gần như trong
cùng một thời gian) của Phan Bội Châu. Ta bắt gặp ở hai áng văn cổ động cứu quốc
một phong cách văn chương nhưng về tầm vóc nội dung và số lượng câu chữ, Hải
ngoại huyết thư đã vượt hẳn Bài ca Á tế á.
Sau thất bại của phong trào Cần Vương, các nhà yêu nước Việt Nam rút ra
bài học: muốn đánh Pháp giành độc lập phải làm sao cho dân giàu, nước mạnh. Từ
quan điểm mới này, họ ra sức tuyên truyền, vận động cải cách văn hóa, xã hội, cổ
vũ duy tân đất nước trên nhiều lónh vực. Bởi vậy, cùng với tư tưởng đấu tranh giành
độc lập các nhà yêu nước còn kêu gọi tự cường, phát triển công thương nghiệp. Các
tác phẩm tuyên truyền cứu nước tiêu biểu lúc bấy giờ đều cổ vũ nhân dân học làm
công nghệ, học kinh doanh, làm ăn buôn bán.
Phan Bội Châu trong Hải ngoại huyết thư uất ức vì thực dân cố ý kìm hãm
người Việt Nam trong vòng lạc hậu với chính sách giáo dục nô dòch:
Trường quốc học đặt tên Pháp – Việt,
Dạy người Nam đủ biết tiếng Tây.
Đến như trăm thứ nghề hay,
Binh cơ điện hóa không thầy dạy khôn.

Lối nông học hãy còn ngơ ngẩn,
Việc công trường thơ thẩn biết chi
Noi gương tự cường của Nhật Bản, tác giả bài ca Á tế á kêu gọi đổi mới giáo
dục, thực hiện cải cách kinh tế, văn hóa, xã hội để đất nước hòa nhập vào trào lưu
đổi mới của đòa cầu. Muốn thế, phải :
Việc tân học kíp đem dựng trước,
Hợp doanh đoàn cả nước cùng nhau.
Việc buôn ta lấy làm đầu,
Mọi người cùng với đòa cầu một vai.
Muốn “doanh sinh”, “học nghệ”, “hưng công”, phát triển nông nghiệp,
thương nghiệp, tác giả Hợp quần doanh sinh thuyết kêu gọi người Việt Nam hãy
“hợp đoàn thể”, lập hội góp vốn xây dựng cơ sở sản xuất. Để “kinh thương” phát
triển, phải “nuôi thợ khéo, phải cầu nghề hay”, phải “lẽ hơn thua bàn bạc với
nhau”. Công cuộc “khai dân trí” “chấn dân khí” thành công tất sẽ tạo được sự giàu
mạnh, ấm no:
Dân trí đã xem dường hơn trước,
Dân khí kia cũng được ra tuồng.
Hẳn sau nên nghiệp phú cường,
Lo gì nghèo ngặt trăm đường xót xa.
(Hợp quần doanh sinh thuyết - Nguyễn Thượng Hiền)

Văn học Việt Nam 1900 – 1930 - 13 –


ThS. Phan Thò Hồng Khoa Ngữ Văn
Trong điều kiện khó khăn, bế tắc về đường lối của các phong trào yêu nước
cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các áng văn trên đã góp phần khơi mở một con
đường cứu nước mới có sức thuyết phục, gây được tin tưởng vào thắng lợi.
Để duy tân đất nước, tác gia văn thơ yêu nước đầu thế kỷ còn tập trung đả
phá cái cũ, cái lạc hậu trong tư tưởng, văn hóa, xã hội. Các tư tưởng phục cổ, tâm lý

hám danh, các hủ tục trong đời sống xã hội đều bò lên án. Đặc biệt, các nhà Nho
yêu nước đã dũng cảm phê phán nền học thuật cũ là giáo điều nặng tính văn
chương, xa rời thực tế. Đi liền với điều này các nhà Nho hủ với tính tự kiêu tự đại,
xem kiến thức sách vở là tất cả cũng bò lên án. Từ việc phân tích hạn chế của nền
học thuật cũ, các nhà yêu nước kêu gọi xây dựng nền học thuật mới có tính chất
dân tộc và thực nghiệp. Người Việt Nam cần phải học các môn khoa học, đòa lý,
phải học buôn bán, kinh doanh công thương nghiệp v.v Trong thi cử thì phương
pháp thi là “Đặt câu hỏi, cho phép học sinh bàn luận tha hồ đối đáp tự do, không
phải nề hà, không cần thể cách gì hết” (Văn minh tân học sách - Khuyết danh).
Quan điểm học thuật mới đề cao lí trí, tư duy, óc sáng tạo. Đó được xem là
điều quan trọng thúc đẩy sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, đưa đất nước thoát
khỏi tình trạng lạc hậu của chế độ phong kiến. Đương thời, các chỉ só không chỉ hô
hào, cổ động mọi người mà họ còn trực tiếp đứng ra lập hội buôn, mở xưởng công
nghiệp (Đỗ Phiên làm lò nung bát đóa), mở trường dạy chữ quốc ngữ, toán, thể dục,
các môn khoa học (Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Q Cáp )
Với nội dung mới mẻ, lại được phổ biến sâu rộng trong công chúng, văn học
các nhà Nho yêu nước đầu thế kỷ đã trở thành một bộ phận đặc sắc, mang tính dân
tộc cao của văn học cận đại Việt Nam.
[ [
[
Ngoài những đổi mới về nội dung, tác phẩm văn học của các nhà Nho yêu
nước đầu thế kỷ còn có những điểm khác trước như sau:
1. Nếu như cuối thế kỷ XIX, các bài chiếu, biểu, văn tế, hòch, câu đối, thơ
cảm hoài chiếm số lượng lớn trong văn học yêu nước thì đầu thế kỷ XX các bài ca
tuyên truyền, cổ động viết bằng thể thơ lục bát, song thất lục bát lại nổi lên hàng
đầu. Bởi lẽ, sử dụng hai thể thơ này, ngoài việc truyền đạt được thuận lợi hơn
những điều cần thể hiện, người viết còn tác động đến đối tượng đông đảo công
chúng tuyên truyền một cách mạnh mẽ hơn. Sự lựa chọn thể thơ như vậy biểu hiện
mối quan hệ giữa tác giả và công chúng, đánh dấu một thay đổi lớn trong đời sống
văn học dân tộc.

2. Hiện tương thơ văn các nhà Nho yêu nước được sáng tác hàng loạt, phổ
biến rộng rãi, gần như tương tự nhau về nội dung tử tưởng là điều rất mới so với

Văn học Việt Nam 1900 – 1930 - 14 –


ThS. Phan Thò Hồng Khoa Ngữ Văn
quá trình sáng tác mang tính tự phát, cá nhân riêng lẻ trước đây. Văn chương các
nhà Nho yêu nước không dừng lại ở việc “chở đạo” một cách chung chung nữa mà
thật sự là vũ khí số một trong công cuộc chống thực dân phong kiến, duy tân đất
nước. Chính sự nảy nở của các tầng lớp người mới trong xã hội và điều kiện thông
tin thuận lợi hơn trước đã khiến cho tác phẩm của các nhà Nho yêu nước được lưu
truyền nhanh chóng, công chúng đón tiếp nồng nhiệt thành phong trào rầm rộ trên
toàn quốc. Đó là những thay đổi “tuy mới chỉ là bước đầu nhưng là thay đổi trong
tác giả, trong công chúng, trong bản thân văn học” (Trần Đình Hượu – Lê Chí
Dũng)
3. Để văn thơ tuyên truyền yêu nước nhanh chóng đến với đông đảo công
chúng, các nhà Nho duy tân thấy rằng cần phải cải cách văn tự, ngôn ngữ, nghệ
thuật văn học. Bởi chữ Hán, chữ Nôm cũng như ngôn ngữ nghệ thuật văn học nhà
Nho khiến đại đa số nhân dân ta rất khó tiếp cận. Để giải quyết vấn đề này, các
nhà Nho sáng lập Đông Kinh Nghóa Thục chủ trương dùng chữ quốc ngữ, viết văn
xuôi. Hầu hết các áng văn tiêu biểu đều được viết bằng quốc ngữ hay nhanh chóng
được dòch ra quốc ngữ ngay sau khi xuất hiện. Đặc biệt bài Phú cải lương kêu gọi
duy tân của Hoàng Giáp Nguyễn Thượng Hiền lại sử dụng toàn tục ngữ và thành
ngữ. Với ngôn ngữ dân tộc, lời văn súc tích, giọng văn lôi cuốn, truyền cảm các tác
phẩm lớn như Hải ngoại huyết thư, Bài ca Á tế á, Hợp quần doanh sinh thuyết v.v
là những áng văn nghệ thuật xuất sắc.
Đặt trong lòch sử vận động, phát triển của văn học dân tộc – văn học 30 năm
đầu thế kỷ của các nhà Nho yêu nước có một đóng góp quan trọng: “Trong một thời
gian ngắn ngủi của buổi giao thời, văn chương yêu nước của người chí só dân tộc –

dân chủ chưa tạo ra những giá trò thật đặc sắc. Nhưng những cái mới mà nó mang
vào đời sống văn học lại rất có ý nghóa với lòch sử phát triển văn học dân tộc.
Những cách tân của các nhà Nho yêu nước chưa đưa lại những tác phẩm lớn, nhưng
lại chuẩn bò cho văn học sau đó phát triển”
(1)
.
[]
VẤN ĐỀ ÔN TẬP
1. Những nội dung chính của văn học yêu nước ba mươi năm đầu thế kỷ?
2. Đặc điểm về hình thức nghệ thuật của văn học yêu nước ba mươi năm đầu thế
kỷ?

(1)
Trần Đình Hượu – Lê Chí Dũng, Sđd, tr. 106.

Văn học Việt Nam 1900 – 1930 - 15 –


ThS. Phan Thò Hồng Khoa Ngữ Văn
CHƯƠNG III: PHAN BỘI CHÂU (1867 – 1940) VÀ QUÁ
TRÌNH SÁNG TÁC THƠ VĂN YÊU NƯỚC
Phan Bội Châu sinh ngày 26-12-1867 tại thôn Đan Nhiệm xã Đông Liệt –
huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong một gia đình nhà Nho nghèo. Thû nhỏ, Phan
Bội Châu đã nổi tiếng thông minh học giỏi. Đặc biệt, ông có tư tưởng yêu nước từ
rất sớm, 17 tuổi viết Hòch Bình Tây thu Bắc dán gốc đa đầu làng, 18 tuổi lập đội thí
sinh quân hưởng ứng phong trào Văn thân Nghệ Tónh chống Pháp rầm rộ lúc ấy.
Sau khi bò cấm thi, năm 1897 Phan Bội Châu vào Huế dạy học và bắt đầu
liên lạc với các nhà yêu nước trẻ tuổi ở Kinh đô. Thời gian ở Huế, ông nổi tiếng với
bài phú Bái thạch vi huynh (Tôn đá làm anh). Do bài phú, ông có dòp quen biết
nhiều nhà khoa bảng, đồng thời cũng là những nhà yêu nước theo xu hướng mới

như Nguyễn Thượng Hiền, Phan Châu Trinh, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng,
Đặng Nguyên Cẩn v.v Nguyễn Thượng Hiền là người giúp Phan Bội Châu tiếp
xúc tân thư, nhờ tân thư, nhà chí só càng quyết tâm đi theo con đường cứu nước mới.
Và trong quá trình chủ xướng phái bạo động, nhà yêu nước thực sự vẫn sử dụng
phương thức duy tân trong hành động và tuyên truyền cứu nước. Đó là điều khiến
nhà yêu nước trở thành “linh hồn” của các phong trào yêu nước đầu thế kỷ.
Năm 1900, Phan Bội Châu được ra thi lại, đậu giải nguyên trường Nghệ.
Sau khi thi đậu và sau những cố gắng vào Nam ra Bắc liên kết và thành lập các tổ
chức chống Pháp không thành, vào năm 1904, Phan Bội Châu cùng Nguyễn Hàm
chọn Cường Để – một người trong hoàng tộc – làm minh chủ lập Tân đảng, sau đổi
là Duy tân hội. Tổ chức này giao cho Phan Bội Châu nhiệm vụ sang Nhật cầu viện,
chuẩn bò lực lượng, khí giới đánh Pháp. Năm 1905, Phan Bội Châu trốn sang Nhật,
từ Nhật nhà yêu nước kêu gọi thanh niên Việt Nam trốn ra nước ngoài học tập, lập
thành một trung tâm người Việt Nam hoạt động cứu nước ở Nhật. Thời gian ở Nhật,
Phan Bội Châu viết nhiều, đó là các tác phẩm: Việt Nam vong quốc sử, Việt Nam
quốc sử khảo, Hải ngoại huyết thư, Kính cáo toàn quốc phụ lão văn, Thư gửi Phan
Châu Trinh v.v Năm 1908, chính phủ Nhật theo yêu cầu của Pháp trục xuất các
nhà yêu nước Việt Nam .
Từ năm 1908 đến năm 1925 Phan Bội Châu phải sống lưu vong ở Trung
Quốc, Thái Lan. Cách mạng Tân Hợi Trung Quốc bùng nổ và thành công (cuối
năm 1911 đến 1912) khiến các nhà yêu nước Việt Nam tin tưởng vào vận hội mới
của công cuộc đánh Pháp, giành lại độc lập cho nước nhà. Đó cũng là sự kiện lòch
sử khiến Phan Bội Châu và các đồng chí của ông quyết đònh sáng lập Quang phục
hội, tập hợp nhiều lực lượng yêu nước Việt Nam trong và ngoài nước. Nhưng chỉ
sau một thời gian ngắn hoạt động, tổ chức cứu nước này lại bò thực dân đánh phá,
phong trào bò vỡ lở, thất bại, Phan Bội Châu bò bắt. Ra tù, nhà chí só vẫn phải tiếp
tục sống lưu vong, để kiếm sống, ông viết bài cho một số tạp chí Trung Quốc. Năm
1925, ông bò Pháp bắt ở Thượng Hải, sau đó đem về nước. Không dám bí mật giết

Văn học Việt Nam 1900 – 1930 - 16 –



ThS. Phan Thò Hồng Khoa Ngữ Văn
nhà yêu nước cũng như không thể dùng toà án để buộc tội ông, thực dân cuối cùng
phải tha bổng Phan Bội Châu nhưng bắt ông quản thúc ở Huế.
Đồng bào trong nùc gửi tiền giúp đỡ nhà chí só lão thành làm một ngôi nhà
ở Bến ngự. Sau hơn hai chục năm bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, nhà chí só
hăng say trở thành “ông già Bến Ngự”. Từ năm 1926 –1940 nhà chí só sống trong
điều kiện bò theo dõi, quản thúc. Tuy thế nhiệt tình yêu nước của ông vẫn không hề
bò dập tắt, các tác phẩm văn thơ nhằm giáo dục lòng yêu nước vẫn tiếp tục được
sáng tác như: Nam quốc dân tu tri, Nữ quốc dân tu tri, các bài thơ, phú, truyện ngắn
v.v Các bộ sách như Khổnng học đăng, Phật học đăng, Nhân sinh triết học cũng
được ông biên soạn trong thời gian này.
Phan Bội Châu được đánh giá cao về nhiều phương diện, là “linh hồn của
các phong trào đấu tranh cách mạng đầu thế kỷ” là người “đã có những cống hiến
lớn lao cho dân tộc về mặt chính trò và cả về mặt văn học Văn thơ của ông đã góp
phần rất lớn trong việc nâng cao lòng yêu nước cho mọi tầng lớp nhân dân ta đầu
thế kỷ XX. Văn thơ đó xứng đáng là phần q giá nhất, phong phú nhất của dòng
văn thơ cách mạng hồi đầu thế kỷ”
(1)
.
[ [
[
Xuất thân là một nhà Nho, nhưng tiếp nhận tư tưởng mới của thời đại dân
chủ (tư tưởng dân chủ) qua tân thư, tham gia công cuộc cứu nước bằng phương thức
tổ chức chính đảng với qui mô toàn quốc, Phan Bội Châu đã trở thành nhà chính trò
mới. Để tuyên truyền vận động cứu nước, với Phan Bội Châu, văn chương là
phương tiện số 1, “ông là nhà chính trò mới nhưng viết văn như một nhà Nho, chứ
không phải vừa là nhà chính trò vừa là nghệ só”
(2)

. Tuy nhiên, cũng có thời gian, nhà
chí só đã phải kiếm sống bằng việc “buôn văn, bán chữ” với những bài thời bình, xã
luận, tiểu thuyết. Đó là thời gian nhà yêu nước sống lưu vong, làm biên tập viên
cho Binh sự tạp chí ở Hàng Châu, Trung Quốc, trước khi bò thực dân Pháp bắt
(1925). Đây là giai đoạn “ông phải tách người văn nghệ só ra khỏi người chính
khách, chú ý đến những điều mà nhà văn, nhà báo – chứ không phải nhà chính trò
trong ông – phải chú ý”
(1)
. Về cuối đời, dù bò ngăn cách khỏi các phong trào yêu
nước, cứu nước nhưng văn, thơ, phú mà “ông già Bến Ngự” gửi đăng báo vẫn nhằm
thức tỉnh, giáo dục lòng yêu nước của quốc dân. Như vậy, văn chương là một “đóng
góp” của nhà chí só cho sự nghiệp cứu quốc khi ông không còn điều kiện hoạt động
cứu nước. Để thấy rõ đặc điểm quá trình hơn nửa thế kỷ sáng tác văn học của nhà
chí só, có thể nhìn nhận qua ba giai đoạn như sau:

(1)
Thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX (1900-1930), NXB Văn học 1976, tr. 43-44.
(2)
Trần Đình Hượu – Lê Chí Dũng, Sđd, tr. 112
(1)
Trần Đình Hượu – Lê Chí Dũng, Sđd, tr. 112.

Văn học Việt Nam 1900 – 1930 - 17 –


ThS. Phan Thò Hồng Khoa Ngữ Văn
1. Trước khi xuất dương cứu nước cho đến 1908
Đây là giai đoạn sôi nổi, hào hùng nhất trong sự nghiệp chính trò cũng như
sáng tác văn thơ yêu nước của nhà chí só. Các tác phẩm chính gồm: Lưu cầu huyết
lệ tân thư (thất bản), Chơi xuân, Xuất dương lưu biệt, Việt Nam vong quốc sử, Hải

ngoại huyết thư, Sùng bái giai nhân.
a. Nhà chí só thời cận đại với hoài bão, lý tưởng lớn đã hiện diện ngay trong
những bài thơ nhỏ: Chơi xuân, Xuất dương lưu biệt. Chơi xuân là bài thơ kí ngụ hào
khí nam nhi, thơ của một bậc hào kiệt, nuôi nhiều khát vọng lớn cứu nước, cứu dân.
Giải San xứ Nghệ diễn tả một cuộc chơi xuân hào hoa, hết mình và rất lạ:
Quân bất kiến, Nam – Xuân tự cổ đa danh só,
Đã chơi xuân đừng quản nghó chi chi,
Khi ngâm nga xáo lộn cổ, kim đi,
Tùa tám cõi ném về trong một túi.
Thơ rằng: Nước non Hồng, Lạc còn đây mãi,
Mặt mũi anh hùng há chòu ri?
Giang sơn còn tô vẽ mặt nam nhi,
Sinh thời thế phải xoay nên thời thế.
Phùng xuân hội may ra ừ cũng dễ,
Nắm đòa cầu vừa một tí con con.
Đạp tung hai cánh càn khôn,
Đem xuân vẽ lại trong non nước nhà.
Hai vai gánh vác sơn hà,
Đã chơi chơi nốt, ố chà chà xuân.
Một nhà Nho với tính cách năng nổ, với khát khao làm nên nghiệp lớn hiện
lên trong bài thơ câu chữ gồ ghề, không theo thể cách nào nhất đònh. Trong cuộc
“chơi xuân” người danh só; khi mê say “ngâm nga xáo lộn cổ kim đi” khi háo hức
muốn “Tùa tám cõi ném về trong một túi”. Đó là niềm say của một trang nam nhi
mà tâm hồn đang ngập tràn những hoài bão lớn. Trong trạng thái chuếnh choáng
của một “khách chơi”, danh só chỉ một niềm nghó đến “nước non Hồng, Lạc” đến
“mặt mũi anh hùng”, đến thời thế. Con người ấy đang khát khao hành động, khát
khao “đạp tung” trời đất, muốn ghé vai gánh vác sơn hà xã tắc. Bài thơ mang tính
chất “ngôn chí”, ngôn chí một cách say sưa, khác thường của giải San xứ Nghệ.
Cùng một cảm hứng như bài Chơi xuân, là bài Xuất dương lưu biệt
Làm trai phải lạ ở trên đời,

Há để càn khôn tự chuyển dời.
Trong khoảng trăm năm cần có tớ,
Sau này muôn thû há không ai.
Non sông đã chết sống thêm nhục,
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.
Muốn vượt bể đông theo cánh gió,

Văn học Việt Nam 1900 – 1930 - 18 –


ThS. Phan Thò Hồng Khoa Ngữ Văn
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.
Con người chí só hiện diện trong một không gian và thời gian rộng lớn. Thơ
“ngôn chí” của Phan Bội Châu là thơ của một bậc hào kiệt trong thiên hạ, thơ của
người chí só với ý chí, khát vọng và lý tưởng lớn. Thơ ông cấp cho ta sức mạnh, tăng
chí khí. Phan Bội Châu không than vãn, xót xa, bất lực như Tú Xương, không có cái
lẩn quẩn, dằn vặt như Nguyễn Khuyến.
b. Trong thời gian 10 năm đầu thế kỷ, Phan Bội Châu là một trong những
chí só nổi tiếng nhất với sự nghiệp dùng văn chương làm vũ khí tuyên truyền cứu
nước. Việt Nam vong quốc sử là một trong những tác phẩm đầu tiên trong quá trình
sáng tác văn học yêu nước của ông. Tác phẩm được coi là tài liệu tuyên truyền
quốc tế đầu tiên của cách mạng Việt Nam, được viết ra trong thời gian nhà chí só
đang tràn trề niềm tin và nhiệt tình cứu quốc, nhằm tố cáo chính sách cai trò thâm
độc của thực dân Pháp, kêu gọi người Việt Nam đoàn kết chống Pháp. Tác phẩm
được trình bày theo lối đối thoại giữa Sào nam và Ẩm Băng (Lương Khải Siêu), với
bốn chương chính:
1. Nguyên nhân và lòch sử mất nước của nước Việt Nam.
2. Tiểu truyện các chí só hồi mới mất nước.
3. Chính sách ngu dân của thực dân Pháp.
4. Tương lai của nước Việt Nam.

Với niềm tin tưởng lớn ở tinh thần dân tộc và lòng yêu nước của người Việt
Nam, nhà chí só liên tiếp đưa ra những suy nghó, lập luận để bênh vực đồng bào
mình. Lời văn tác phẩm tha thiết, như thúc giục, như lôi kéo khuyến khích, thể hiện
tình cảm yêu nước vừa sâu sa, trìu mến vừa mãnh liệt. Ở chương Tương lai của
nước Việt Nam, để kêu gọi mười hạng người đoàn kết cứu nước và theo tinh thần
“gạn đục khơi trong”, nhà chí só có viết một đoạn rất gây ấn tượng với lối suy luận
rất riêng của ông như sau: “Tôi nghó rằng, từ này nước Việt Nam bò bọn Pháp
chiếm lónh thì người Việt Nam hoàn toàn là nô lệ người Pháp. Tôi nghó rằng bọn
Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thân đã rán hết sức đi hầu hạ bọn Pháp, để giết chóc
người Nam, giúp đỡ kẻ thù ăn thòt đồng bào. Nước tôi đâu có thế – Bác bảo là
người Việt Nam còn có nhân tâm ư? Tôi vẫn không tin.
- Ô hô! i hi! Cái nhân tâm của người Việt Nam, tôi thì tôi lại tin là nó có
ngay trong lòng bọn đó! Bằng nay có cô thiếu nữ và có hai nhà, nhà A và nhà B
tranh nhau đi hỏi cho được cô ả. Anh chàng nhà A thì đẹp mà nghèo, anh chàng
nhà B thì giàu mà xấu. Hỏi cô ta rằng đònh lấy ai, cô sẽ trả lời: “Ăn cơm nhà B, ngủ
nhà A” Bọn Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải thì âu cũng thế thôi. Bọn họ thích gì
làm dân nhà xấu. Bọn họ chỉ kiếm miếng cơm đó thôi Bọn chúng đi hầu hạ quân

Văn học Việt Nam 1900 – 1930 - 19 –


ThS. Phan Thò Hồng Khoa Ngữ Văn
Tây, là vì thời buổi bắt buộc, đi nhầm mất đường, chưa biết đâu; hay là vì len lỏi,
cúi lòn, để chờ cơ hội cũng chưa biết đâu!”
Lấy “lí trí của giống người” nhà chí só khơi gợi lòng yêu nước ở tất cả các
hạng người trong xã hội, đặt niềm tin ở tinh thần dân tộc của họ, khẳng đònh tương
lai sáng lạn của đất nước. Dưới ngòi bút của nhà chí só, các hạng người từ “con nhà
gia thế, dòng dõi thi thư” đến tầng lớp bình dân, người theo đạo Gia Tô, người
nghèo kiết cùng quẫn, cho đến bọn tay sai thực dân lúc bấy giờ sâu xa cũng đều có
lòng tự hào dân tộc, có thể “hăng hái trở giáo đánh lại quân thù để đền nợ nước”

(Việt Nam vong quốc sử). Việt Nam vong quốc sử là thiên chính luận về lòch sử mất
nước của nước Việt Nam, một tác phẩm văn xuôi nhưng lời lẽ nồng nàn, tha thiết
đầy tính trữ tình. Sự uyển chuyển trong suy nghó, lập luận thể hiện một văn bút độc
đáo hiếm có. Đây là một trong những tác phẩm khẳng đònh tài năng trong nghệ
thuật tuyên truyền yêu nước, cứu nước của nhà chí só.
[ [
[
Trong toàn bộ thơ văn tuyên truyền yêu nước cứu nước của Phan Bội Châu
Hải ngoại huyết thư là tác phẩm lôi cuốn, sôi nổi và đạt đến đỉnh cao nhất về
phương diện nội dung tư tưởng cũng như nghệ thuật tuyên truyền, cổ động. Bản
huyết thư nguyên văn chữ Hán với hơn 700 câu thơ (theo thể thơ 7 chữ) được nhà
yêu nước Lê Đại dòch ra quốc ngữ theo thể song thất lục bát là một khúc ngâm lớn,
một bản trường ca yêu nước số 1 đầu thế kỷ. Tác phẩm lần lượt đề cập đến các vấn
đề: thực trạng mất nước đau thương, nguyên nhân mất nước, phương hướng cứu
nước. Ta biết, các vấn đề trên đã từng được đề cập đến trong Việt Nam vong quốc
sử. Với tác phẩm này nhà chí só không “lặp lại” mà đặt lại vấn đề ở một mức độ
cao hơn, sâu hơn với những lời lẽ cấp thiết, nóng bỏng hơn. Tác phẩm được viết với
tất cả tâm hồn và nhiệt huyết. Bức thư được khởi đầu bằng những lời lẽ có tính chất
“thức tỉnh” cả một đất nước đang chìm đắm, mê muội trong nô lệ, lầm than. Thực
trạng đau thương: Pháp đô hộ Việt Nam, ra sức khai thác tài nguyên thiên nhiên đất
nước ta, bòn vét của cải và bạc đãi dân ta. Người Việt Nam nô lệ, yếu hèn, nhục
nhã và họa diệt chủng bày ra trước mắt. Nguyên nhân mất nước là do vua vô trách
nhiệm, quan vô tâm, dân thờ ơ, dốt nát. Nhà chí só thẳng thắn vạch rõ:
Nước ta mất bởi vì đâu?
Tôi xin kể hết mấy điều tệ nhân.
Một là vua sự dân chẳng biết,
Hai là quan chẳng thiết gì dân.
Ba là dân chỉ biết dân,
Mặc quân với quốc mặc thần với ai.
Tiếp thu tư tưởng các nhà duy tân Trung Quốc, Nhật Bản, tác giả Hải ngoại

huyết thư đã thể hiện những nhận thức mới mẻ về chế độ, về quyền dân, về vấn đề

Văn học Việt Nam 1900 – 1930 - 20 –


ThS. Phan Thò Hồng Khoa Ngữ Văn
tự cường dân tộc. Khi nhận xét, khẳng đònh, khi lại như chìm vào ưu tư, lúc lại thúc
giục, những khám phá mới của thời đại xung quanh vấn đề mất nước, đường lối cứu
nước lần lượt được tác giả bản huyết thư đề cập đến. Sự sa sút về dân trí theo nhà
yêu nước là do sự áp chế quá lâu của chế độ quân chủ:
Quyền dân chủ trên đầu ức chế,
Bốn nghìn năm dân trí còn gì.
Để tăng cường trách nhiệm của dân với nước, bản thư tuyên bố: “Dân là dân
nước, nước là nước dân”. Cũng như Bài ca Á tế á, Hải ngoại huyết thư ca ngợi công
cuộc đổi mới của Nhật Bản, coi đất nước này là tấm gương để người Việt Nam noi
theo. Ở đất nước này “Chữ bình đẳng đặt đầu chính phủ. Bấy lâu nay dân chủ cộng
hòa” v.v Để đất nước giàu mạnh, văn minh người Việt Nam cần có “trăm thứ
nghề hay”, phải được học “binh, cơ, điện, hóa” như các nước đó cũng là những
“phát hiện” mới của nhà chí só. Mọi việc cần phải được tiến hành khẩn trương thì
mới có thể cứu được nước nhà:
Nay còn lúc giống người chưa hết,
Chữ tự cường nên biết khuyên nhau.
Từ tất cả những phân tích, giảng giải về thực trạng đất nước, nguyên nhân
mất nước, đề xuất những cách thức khôi phục đất nước, bản thư kêu gọi đoàn kết,
đấu tranh. Năm mươi triệu người Việt Nam từ phú hào, quan tước, só phu, lính tập
cho đến bếp bồi, thông kí, côn đồ nghòch tử, nhi nữ anh só đều có thể đoàn kết
thành một khối, tạo nên sức mạnh giành lại nền độc lập cho nước nhà. Với sự
phong phú về nội dung tuyên truyền và với những đề xuất mới mẻ về đường lối cứu
nước Hải ngoại huyết thư là một trong những tác phẩm lớn nhất của văn học yêu
nước đầu thế kỷ.

Hải ngoại huyết thư – với mục đích tuyên truyền yêu nước cứu nước – sở dó
nồng nàn, kích động lòng người bởi đó là lời giãi bày, tâm sự của một người dân
yêu nước, thiết tha với sự nghiệp cứu quốc. Sắc thái xúc cảm của tác giả biểu hiện
qua dòng ngôn ngữ đa dạng của tác phẩm. Người dân yêu nước này khi thì lo âu,
sốt ruột, khi căm giận uất ức, khi ưu tư, khi sôi nổi, hào hứng Gửi tâm tình về
nước, lời tác phẩm có đoạn thật lắng đọng, trữ tình:
Lời huyết lệ gửi về trong nước,
Kể tháng ngày chưa được bao lâu.
Nhác trông phong cảnh thần châu,
Gió mây phẳng lặng dạ sầu ngẩn ngơ.
Hồn cố quốc vẩn vơ, vơ vẩn,
Khôn tìm đường dò nhắn, hỏi han.
Bâng khuâng đỉnh núi mây ngàn,
Khói tuôn khí mất, sóng cồn trận đau
Để thuyết phục, tuyên truyền, lời thơ khi thủ thỉ tâm tình, khi trách móc phê
phán, khi bàn bạc, thảo luận, khi lại thúc giục, khẳng đònh Thức tỉnh, khơi động,

Văn học Việt Nam 1900 – 1930 - 21 –


ThS. Phan Thò Hồng Khoa Ngữ Văn
tiếp thêm sức mạnh và niềm tin cho quốc dân, đó là hiệu quả mà tác phẩm đã đạt
được. Nghệ thuật tuyên truyền của Hải ngoại huyết thư thật sự đạt đến trình độ
cao, xuất sắc.
Một trong những yếu tố đưa đến sự thành công về mặt nghệ thuật của Hải
ngoại huyết thư là việc vận dụng sáng tạo thể thơ. Từ nguyên bản Hán văn, theo
thể thơ 7 chữ, tác phẩm được dòch ra quốc ngữ theo thể song thất lục bát. Song thất
lục bát là thể thơ được các nhà thơ các giai đoạn trước sử dụng thành công trong
việc sáng tác khúc ngâm: Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm Khúc ngâm với thể
thơ song thất lục bát thường mang âm điệu trữ tình da diết, lâm li rất thích hợp với

việc diễn tả chiều sâu suy nghó, tâm trạng, tình cảm. Các dòch giả và tác giả Chinh
phụ ngâm, Cung oán ngâm đã dùng thể song thất lục bát để diễn tả những dằn vặt,
lo âu, những nỗi xa xót triền miên của nhân vật người chinh phụ và người cung nữ.
Hải ngoại huyết thư – có thể coi bản thư này là một khúc ngâm, một bản trường ca
yêu nước – đã kế thừa việc sử dụng thể thơ song thất lục bát để thể hiện một chuỗi
dài những nhìn nhận, suy nghó, xúc cảm, lập luận v.v của một chí só trước thảm
cảnh của đất nước. Âm điệu Hải ngoại huyết thư lâm li, da diết nhưng đồng thời
cũng rắn rỏi, hùng hồn, kích động chứ không bi lụy như các khúc ngâm trước đó.
Khai thác lợi thế của thể thơ song thất lục bát và “cải tạo” âm điệu của nó, đó là
một trong những thành công về mặt nghệ thuật của Hải ngoại huyết thư.
2. Giai đoạn 1908 – 1925
Cùng với sự tan rã của phong trào Đông du, ngòi bút đầy hào khí của nhà
chí só chuyển sang một giai đoạn khác, trầm lắng hơn dù vẫn mang ít nhiều dư âm
hùng tráng của giai đoạn trước. Từ năm 1908 cho đến khi bò thực dân Pháp bắt
(1925) cùng với những nỗ lực gây dựng phong trào, thành lập tổ chức cứu nước mới,
dù cuộc sống gặp nhiều gian nan, nhưng nhà chí só vẫn sáng tác văn thơ. Tác phẩm
của ông giai đoạn này bao gồm nhiều thể loại khác nhau: Thơ, truyện ngắn, tiểu
thuyết, tuồng. Dù là phương tiện để củng cố phong trào, duy trì hoạt động, hay là
“vì sinh kế” mà viết bài in báo, nội dung tư tưởng xuyên suốt các tác phẩm vẫn là
yêu nước, cứu nước. Xét về phương diện một nhà yêu nước dù Phan Bội Châu vẫn
kiên đònh, nỗ lực, tìm cách tiếp cận tình hình, kòp thời thành lập tổ chức cứu nước
mới nhưng đây là giai đoạn các phong trào cách mạng, yêu nước gặp nhiều khó
khăn, bế tắc vì sự ngăn chặn, đàn áp của thực dân. Xét về phương diện văn chương,
nhà Nho Phan Bội Châu sống và viết trong một giai đoạn văn học dân tộc đang tìm
đường đổi mới cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật Nhưng rõ ràng là “nhà
văn”, “nhà thơ” Phan Bội Châu có rất ít cơ hội để hội nhập vào sự đổi mới của đời
sống văn học. Tuy nhiên, để phản ánh thực tế mới, tư tưởng mới, thơ, văn chính
luận, truyện ngắn, tiểu thuyết của Phan Bội Châu lại có giá trò như là những “thí
nghiệm” những cách “thử bút” của ông trong bước quá độ từ văn học truyền thống,
trung đại sang văn học mới, hiện đại. Nhà yêu nước đã “sử dụng một cách rộng rãi

kinh nghiệm viết văn cũ để viết truyện ngắn và tiểu thuyết. Do đó truyện ngắn và
tiểu thuyết của Phan Bội Châu rất khác truyện ngắn và tiểu thuyết hiện đại, mang

Văn học Việt Nam 1900 – 1930 - 22 –


ThS. Phan Thò Hồng Khoa Ngữ Văn
dấu vết rõ rệt của quá trình cách tân nghệ thuật truyền thống để nói nội dung
mới”
(1)
a) Thơ tuyên truyền yêu nước, cứu nước
Trong hoàn cảnh các phong trào yêu nước gặp nhiều khó khăn, thực dân tay
sai ráo riết đàn áp, chia rẽ nhân dân ta, bản thân phải sống lưu vong nhưng Phan
Bội Châu vẫn không thôi đeo đuổi sự nghiệp khôi phục chủ quyền đất nước. Ông
vẫn tiếp tục làm thơ tuyên truyền, cổ động yêu nước, cứu nước. Với chùm thơ Ái
quốc, Ái quần, Ái chủng nhà chí só tha thiết khơi gợi lòng yêu nước, ý thức về truyền
thống cha ông, kêu gọi đoàn kết đấu tranh giành lại giang sơn, đất nước. Giai đoạn
trước, viết Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoại huyết thư, Sùng bái giai nhân Phan
Bội Châu đã là nhà “ái quốc” số 1 có công khơi dậy tinh thần yêu nước của toàn
thể quốc dân. Bằng văn chương, bút mực nhà chí só đã ra sức “cồng khua”, “mõ
gióng” thức tỉnh đồng bào đang trong cơn mê ngủ. Ái quốc ca được viết vào năm
1910, đó là thời gian không phải là thuận lợi đối với sự nghiệp nhà chí só. Nhưng
hoàn cảnh khó khăn đó không ngăn cản được nhà yêu nước tiếp tục cất lên tiếng
hát “ái quốc”, cổ động cho dàn hợp xướng quốc dân:
Nay ta hát một thiên ái quốc,
Yêu gì hơn yêu nước nhà ta.
“Thiên ái quốc” nhắc nhở quốc dân nhớ lại lòch sử dựng nước giữ nước gian
nan của cha ông, vẽ nên dáng vóc xinh đẹp, nên thơ của giang sơn, khơi gợi tình
cảm và ý thức trách nhiệm:
Trải mấy lớp tiền vương dựng mở,

Bốn ngàn năm dãi gió dầm mưa.
Biết bao công của người xưa,
Gang sông, tấc núi, dạ dưa, ruột tằm.
Hào Đại hải âm thầm trước mặt,
Giải Cửu Long quanh quất miền Tây.
Một tòa san sát xinh thay,
Bên kia Vân Quảng, bên này Côn Lôn
Để có được từng “gang sông, tấc núi” cha ông ta đã phải bao phen “dãi gió,
dầm mưa”, “nằm gai”, “nếm mật”, phải thao thức bao đêm “dạ dưa, ruột tằm”
Bài thơ mở ra và kéo lại khoảng cách giữa dân với nước, gợi lên sự gần gũi, thân
thương của con cháu với cha ông. Tạo được tình cảm trong sáng, cao cả đối với
giang sơn, đất nước, sự xúc động trong lòng người đọc, đó là hiệu quả thẩm mỹ của
bài thơ. Từ nền tảng tình cảm thiêng liêng này, nhà chí só lại hướng “công chúng”
sang một bình diện khác: ý thức về thực tại đau buồn. Đó là cảnh mất nước, nô lệ
“dân cùng, của hết”, “Bốn mươi năm nước mất quyền không”, là tang tóc “Nước
tanh máu đỏ, non chồng thòt cao” Lời thơ như thủ thỉ, tâm tình, lại như thôi thúc,
thức tỉnh:

(1)
Trần Đình Hượu – Lê Chí Dũng, Sđd, tr. 137.

Văn học Việt Nam 1900 – 1930 - 23 –


ThS. Phan Thò Hồng Khoa Ngữ Văn
Non nước ấy biết bao máu mủ,
Nỡ nào đem nuôi lũ sài lang?
Cờ ba sắc xứ Đông Dương,
Trông càng thêm nhục nói càng thêm đau!
Nhục vì nước mà đau người trước,

Nông nỗi này, non nước cũng oan.
Điều mà nhà chí só hướng tới, hình dung ra, tin tưởng sẽ diễn ra đó là ngày
toàn thể quốc dân: “Hợp muôn sức ra tay quang phục. Quyết có phen rửa nhục báo
thù” cho lòch sử, cho nước nhà
Nhằm thiết lập lại tình cảm nội bộ người trong một nước, ý thức về sự tồn
vong của chủng tộc da vàng, hướng tới mục đích cứu nước, Phan Bội Châu kêu gọi
người Việt Nam còn phải biết “Ái quần” “Ái chủng”. Với việc kêu gọi mười hạng
người đồng tâm (Hải ngoại huyết thư) Phan Bội Châu đã được coi là ngôi sao dẫn
đường đoàn kết dân tộc. “Ái quần”, “Ái chủng” là hai lời kêu gọi phát ra nhằm
nhắc lại, nhấn mạnh lại ở những phương diện khác, giá trò của khối đại đoàn kết
dân tộc – một tư tưởng lớn của nhà chí só cấp tiến. Nhà chí só khẳng đònh, người
Việt Nam vốn “Non sông riêng một nước nhà”, lòch sử đã trải “hơn bốn nghìn
năm”, quan hệ vốn gần gủi, ruột rà “Ông cha một họ, anh em một nhà” v.v
Nhưng hiện tai :
Chỉ vì tan tác từng người,
Phen này đến nỗi lạc loài xót xa.
“Ái quần” là để “Nam, Bắc hiệp hòa”, để “Họ hàng đông đủ cánh vây.
Chen vai ưu thắng ra tay cạnh tồn”, để “Làm cho nổi tiếng Lạc, Hồng, vẻ vang
dòng dõi con rồng cháu tiên”. Khẳng đònh sức mạnh của sự gắn bó đoàn thể, sự cần
thiết phải bảo vệ khối liên kết muôn người nhà chí só sử dụng những biện pháp ví
von, so sánh dễ hiểu:
Thể đoàn như đá chẳng mòn,
Như thành chẳng chuyển như non chẳng dời.
Đừng như đàn quạ giữa trời,
Gặp cơn mưa gió vội rời nhau ra.
Thậm chí, để nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của khối đại đoàn kết, sự
cần thiết phải hy sinh cái riêng tư cho sự nghiệp chung trong cuộc đấu tranh lúc bấy
giờ nhà yêu nước còn viết :
Có đàn thì mới có ta,
Đàn là rất trọng, ta là rất khinh.

Bởi có đoàn kết, gắn bó với nhau mới có thể giành lại “cơ nghiệp vẹn
tuyền”, đó là cái đích mà lời kêu gọi “Ái quần” hướng tới.

Văn học Việt Nam 1900 – 1930 - 24 –


ThS. Phan Thò Hồng Khoa Ngữ Văn
Nhìn nhận vấn đề mất nước ở phương diện chủng tộc, Phan Bội Châu quay
về lòch sử, ôn lại quá khứ vẻ vang của giống người “da vàng máu đỏ”. Với những
câu thơ đầy tự hào, kiêu hãnh ông ca ngợi lòch sử hào hùng của “chủng” da vàng:
Tài anh kiệt, nối đời sinh,
Phá Nguyên mấy lớp, đánh Minh mấy lần.
Mở mang Chân Lạp, Chiêm Thành,
Trời Nam lừng lẫy, dòng thần ở Nam.
Thế nhưng, hiện tại thì sao?
Ngán thay giống tốt nòi sang,
Bởi đâu sa sút mà mang tiếng hèn?
Nhà chí só thở than, băn khoăn:
Xưa nay đứng chủ cầm quyền,
Rày sao nhẫn nhục, chòu hèn làm tôi?
Kết thúc bài Ái chủng là lời kêu gọi tha thiết:
Giống ta nay chẳng dại rồi,
Chân tay cột dạ muôn người cùng nhau.
Muốn cho nòi giống thònh giàu,
Về đi hợp bụng mà mưu chấn hoàng.
Mưu sao kéo lại giống vàng,
Uống say máu giặc, ăn tương thòt thù.
Mấy câu ái chủng reo hò,
Chữ đồng tâm ấy phải cho một lòng
“Đồng tâm”, “hợp chủng” để khôi phục sự “thònh giản” của “nòi giống” đó

chính là điều mà nhà chí só mơ ước.
b) Truyện, tiểu thuyết
Viết truyện, Phan Bội Châu chỉ nhằm vào một đối tượng chính: Những
gương phấn đấu, hi sinh vì nước trong phong trào chống Pháp đầu thế kỷ. Đó là
những thanh niên yêu nước trong phong trào Đông Du, những người đồng chí thân
thiết, những nhà vận động cách mạng nổi tiếng lúc bấy giờ như Nguyễn Hàm, Trần
Q Cáp, Đặng Thái Thân v.v Liệt só Phạm Hồng Thái với tiếng bom la diện vang
dội, Hoàng Hoa Thám con hùm của núi rừng Yên Thế chống Pháp đều trở thành
đối tượng viết truyện, thành nguồn cảm hứng dạt dào trên các trang văn của nhà chí
só họ Phan. Nhân vật người anh hùng cứu quốc trở thành hình ảnh duy nhất trong
truyện của nhà chí só. Để thấy được sự tiến triển trong quá trình viết truyện của
Phan Bội Châu, có thể chia những tác phẩm thuộc thể loại này thành hai nhóm như
sau:
Nhóm 1: Những truyện có tính chất ghi chép chân thực theo kiểu liệt truyện
gồm các tiểu truyện như: Nguyễn Hàm, Đặng Thái Thân, Nữ liệt só Đinh phu nhân,
Trần Q Cáp, Hoàng Phan Thái, Trần Đông Phong Vì ghi chép theo kiểu liệt

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×