1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Để duy trì tốc độ tăng trưởng ở mức cao và thành công trong quá trình
chuyển đổi kinh tế và xã hội hóa đất nước, Chính phủ Việt Nam đã đề ra chiến
lược phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2020, thể hiện nhiều tham vọng mạnh mẽ
về đầu tư dành cho cơ sở hạ tầng, với tổng số vốn ước tính khoảng 160 tỷ
USD.Tuy nhiên, ngân sách không đủ để đáp ứng nhu cầu này. Thật vậy, những
ràng buộc về ngân sách bắt đầu được cảm nhận tại Việt Nam, đặc biệt khi nguồn
vốn truyền thống của các nhà tài trợ quốc tế có xu hướng giảm từ lúc Việt Nam
được Ngân Hàng thế giới xếp vào nước có thu nhập trung bình thấp vào năm
2011. Theo bà Vũ Quỳnh Lê, Giám đốc Trung tâm hỗ trợ đấu thầu, Bộ Kế hoạch
và Đầu tư: “Hiện nay nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng của Việt Nam khoảng 16 tỷ
USD/năm trong khi khả năng đáp ứng của Nhà nước chỉ khoảng 7-8 tỷ USD”
1
.
Thêm vào đó từ ngày 24/02/2011 Chính phủ đã ra Nghị quyết 11/NQ-CP thực
hiện việc cắt giảm đầu tư công nhằm tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh
tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Do vậy, ngân sách cho đầu tư công đã thiếu
nay lại càng thiếu thêm, để bù đắp khoản thiếu hụt này, việc huy động tất cả các
nguồn lực sẵn có là rất cần thiết.
Trong hoàn cảnh đó, mô hình hợp tác công-tư (PPP)là một trong những
lựa chọn của Chính phủ Việt Nam để giải quyết bài toán nói trên. Điều này đã
được đề cập trong Quy hoạch phát triển kinh tế -xã hội giai đoạn 2006- 2012,
cũng như lời khẳng định của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư- Ông Bùi Quang
Vinh : “Dù muốn hay không, chúng ta không chỉ trông cậy vào nguồn ngân sách
rất nhỏ bé trong đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Do vậy, đòi hỏi phải thu hút
mạnh mẽ nguồn lực đầu tư từ khu vực tư nhân, các thành phần kinh tế Nhà nước.
Nếu không giải quyết được bài toán này, chắc chắn việc phát triển kết cấu hạ
tầng và đầu tư chung của xã hội sẽ gặp khó khăn, kinh tế cũng sẽ không thể tăng
1
2
trưởng được”
2
. Và trên thực tế mô hình hợp tác công-tư đã được áp dụng và
thành công tại hơn 50 quốc gia bao gồm Anh, Pháp, Mỹ, Canada, Hàn Quốc,
Trung Quốc và một số nước khác trên thế giới.
Tuy nhiên, tại Việt Nam, qua hơn 3 năm triển khai Quyết định
71/2010/QĐ-TTg ngày 09/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành
Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công- tư, Quyết định này vẫn
chưa phát huy được khả năng của mình, tính đến nay các dự án thực hiện theo
Quyết định này vẫn dậm chân tại chỗ và chưa có một dự án nào thực sự được
triển khai trên thực tế. Trong khi đó, Ông David Wootton thị trưởng thành phố
London phát biểu trên tờ Saigon Times “Các công ty Anh đang nhắm đến các dự
án thuộc hình thức PPP ở Việt Nam, nhưng họ sẽ chỉ tham gia các dự án này khi
khung pháp lý đó được hoàn thành”
3
.
Đứng trước thực trạng đó đòi hỏi cần phải có sự nghiên cứu, tìm hiểu
những bất cập, hạn chế trong văn bản pháp lý về mô hình hợp tác công-tư, từ đó
có giải pháp để hoàn thiện hệ thống pháp luật về hợp tác công-tư, thúc đẩy sự
phát triển của mô hình hợp tác công tư, tạo sự an tâm cho các nhà đầu tư tư nhân
khi đầu tư vào mô hình hợp tác công-tư tại Việt Nam. Và đó cũng chính là lý do
tại sao tác giả chọn đề tài: “Mô hình hợp tác công-tƣ thực trạng và kiến nghị”
để làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Khóa luận nhằm làm rõ về mô hình hợp tác công-tư, khái niệm và đặc
trưng của nó, trên cơ sở đó nêu lên thực tiễn áp dụng của mô hình này ở Việt
Nam hiện nay, từ đó tìm ra những bất cập còn tồn tại trong hệ thống pháp lý của
mô hình hợp tác công-tư, đồng thời tìm hiểu về kinh nghiệm thành công của mô
hình hợp tác công-tư ở một số quốc gia khác trên thế giới, để có những kiến nghị
2
Phát biểu của ông Bùi Quang Vinh, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đăng trên báo Tuổi trẻ số ra ngày
20/7/2012
3
3
và giải pháp hữu hiệu để hoàn thiện khuôn khổ pháp luật của nước ta về mô hình
hợp tác công-tư. Trong đó khóa luận đi sâu giải quyết 4 vấn đề sau:
- Mô hình hình hợp tác công-tư là gì?
- Bản chất và cơ chế giải quyết tranh chấp của hợp đồng hợp tác công -tư ?
- Phía chính quyền ai là đối tác?
- Doanh nghiệp thực hiện dự án có nhất thiết phải thành lập doanh nghiệp
dự án?
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, tác giả còn
vận dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, so sánh và thống kê để xem xét
và nhận định vấn đề. Trong đó, phương pháp phân tích và tổng hợp được tác giả
sử dụng trong việc trình bày khái niệm, đặc trưng của mô hình hợp tác công-tư,
kinh nghiệm của một số nước trên thế giới. Phương pháp thống kê, so sánh và
phân tích được tác giả sử dụng để tìm ra các bất cập trong thực tế áp dụng mô
hình hợp tác công-tư và các văn bản pháp lý của nó hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung đi làm rõ mô hình hợp tác công-tư và các bất cập của nó
trong thực tiễn áp dụng tại Việt Nam, trong đó tác giả chỉ đi sâu phân tích các bất
cập về vấn đề pháp lý và tìm lời giải thỏa đáng cho những bất cập này. Ngoài ra,
đề tài còn nghiên cứu sơ lượt kinh nghiệm của một số nước trong việc áp dụng
mô hình hợp tác công-tư và các qui định của pháp luật có liên quan đến mô hình
hợp tác công-tư như Luật Đầu tư, Bộ luật Dân sự , Luật Thương mại, Luật Hành
chính, Luật Ngân sách nhà nước, Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước, Luật Tố
tụng dân sự…
4
5. Giới thiệu kết cấu khóa luận
Khóa luận này gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Lý luận chung về mô hình hợp tác công-tƣ. Trong chương
này, tác giả đi tìm hiểu về mô hình hợp tác công-tư theo quan niệm của quốc tế
và Việt Nam từ đó đưa ra một khái niệm chung nhất cho mô hình này, cùng các
đặc trưng và vai trò của nó.
Chƣơng 2: Kinh nghiệm của một số quốc gia trong mô hình hợp tác
công tƣ và bài học cho Việt Nam: Trong chương 2, tác giả đi phân tích và tổng
hợp về kinh nghiệm áp dụng thành công mô hình hợp tác công-tư ở một số quốc
gia trên thế giới như Pháp, Hà Lan, Canada… để từ đó rút những những bài học
kinh nghiệm có thể tạo nên sự thành công của mô hình hợp tác công-tư tại Việt
Nam.
Chƣơng 3 : Thực trạng hoạt động đầu tƣ theo mô hình hợp tác công
tƣ tại Việt Nam, những bất cập và kiến nghị: Trong chương này, tác giả đi tìm
hiểu về thực trạng áp dụng mô hình hợp tác công-tư tại Việt Nam trong hơn 20
năm vừa qua, từ đó tìm ra các bất cập và hạn chế trong mô hình này, sau đó đi
sâu phân tích những bất cập về pháp lý và kết hợp với những bài học kinh
nghiệm đã rút ra ở chương 2 để đưa ra lời giải cho những bất cập trong mô hình
hợp tác công-tư của Việt Nam.
5
CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔ HÌNH HỢP TÁC CÔNG-TƢ
1.1 Tổng quan về mô hình hợp tác công tƣ:
1.1.1 Hợp tác công- tƣ là gì?
Thuật ngữ Public-Private Partnerships (hợp tác công-tư) viết tắt là PPP
được sử dụng lần đầu tại Hoa Kỳ vào thập niên 1950, với các chương trình giáo
dục được cả khu vực công và khu vực tư cùng tài trợ. Sau đó, thuật ngữ này
được sử dụng rộng rãi để nói đến mối liên hệ giữa chính quyền thành phố và nhà
đầu tư tư nhân trong việc cải tạo các công trình đô thị ở Hoa Kỳ trong thập niên
1960.
Từ năm 1980, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của mô hình này trên thế
giới, thuật ngữ này dần được phổ biến ở nhiều quốc gia khác nhau.Và ở mỗi nơi
nó đến, tùy thuộc vào bối cảnh kinh tế, chính trị, khuôn khổ pháp lý, chính
quyền, hay tác giả mà thuật ngữ này lại mang cho mình một định nghĩa riêng
biệt. Tuy nhiên, nhìn chung các định nghĩa này đều không khác nhau nhiều,
chúng đều cho chúng ta một cách hiểu chung nhất.
Như cuốn “Public private partnership, A guide for local government” xuất
bản tháng 5/1999 của Chính quyền bang British Columbia, Canada thì PPP được
hiểu là sự hợp tác giữa Chính phủ và tư nhân trong việc cung cấp cơ sở hạ tầng
cho công chúng, những tiện nghi công cộng và những dịch vụ có liên quan.Sự
hợp tác này được thể hiện thông qua việc phân chia nguồn vốn đầu tư, rủi ro,
trách nhiệm và lợi ích giữa các bên đối tác.
Cuốn “ Public – Private Partnership Handbook” (tạm dịch là Sổ tay hướng
dẫn mô hình hợp tác công - tư) của Ngân hàng Phát triển Châu Á, xuất bản năm
6
2008, thì khái niệm PPP được hiểu là mối quan hệ giữa nhà nước và tư nhân
trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng và những dịch vụ khác.
Theo nghiên cứu “Khai thác lợi thế của PPP: Vai trò của chiến lược hỗ trợ
tài chính trong phát triển bền vững” của Colverson và Perera(2012) thì PPP được
định nghĩa là “một hình thức được áp dụng trong một số dạng hợp đồng giữa
nhà nước và khu vực tư nhân nhằm mục tiêu cung cấp dịch vụ phát triển cơ sở
hạ tầng”.
4
Và một số tổ chức chuyên hoạt động trong lĩnh vực PPP như Hội đồng
PPP của Canada ( Canadian Council for Public Private Partnership), Hội đồng
quốc gia về PPP của Mỹ (National Council for Public Private Partnership) cũng
đưa ra những khái niệm riêng của mình về PPP. Chẳng hạn như:
“PPP là một liên doanh hợp tác giữa khu vực công và tư, dựa trên lợi
thế của mỗi bên nhằm xác định nhu cầu của cộng đồng thông qua việc
phân bổ hợp lý nguồn lực, rủi ro và lợi ích”.
5
Từ các nghiên cứu và định nghĩa của các nước khác chúng ta có thể nhận
thấy,mặc dù mỗi cách hiểu về PPP tồn tại ở các dạng khác nhau, nhưng chung lại
ở chúng có chung một đặc điểm đó là đều nói lên rằng PPP mang bản chất của sự
hợp tác giữa khu vực nhà nước và tư nhân trong việc thực hiện một dự án nào
đó .
Trong khi đó ở Việt Nam, mặc dù mô hình hợp tác công-tư đã xuất hiện
khá lâu, từ thập niên 1990, tuy nhiên mãi cho đến những năm gần đây thì mô
hình này ở Việt Nam mới nhận được sự quan tâm và nghiên cứu đầy đủ.Đặc biệt
cho đến khi chính phủ Việt Nam ban hành Quyết định 71/2010 /QĐ-TTg ban
hành Quy chế thí điểm về đầu tư theo hình thức PPP thì mới dần xuất hiện
nhiều những nghiên cứu và định nghĩa riêng biệt tại Việt Nam cho mô hình này.
4
Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và UNDP Việt Nam(2013), Phương thức đối tác công-tư(PPP): Kinh nghiệm quốc tế
và khuôn khổ thể chế tại Việt Nam, Nhà xuất bản Tri thức.
5
Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và UNDP Việt Nam(2013), Phương thức đối tác công-tư(PPP): Kinh nghiệm quốc tế
và khuôn khổ thể chế tại Việt Nam, Nhà xuất bản Tri thức.
7
Theo khoản 1 điều 2 Quy chế Thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công
–tư,ban hành kèm theo Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ngày 09/11/2010 của
Thủ tướng Chính phủ thì mô hình hợp tác công-tư(PPP) là “việc nhà nước và
nhà đầu tư cùng phối hợp thực hiện Dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp
dịch vụ công trên cơ sở Hợp đồng dự án”. Theo đó Quyết định này đã mở rộng
khuôn khổ pháp lý cho các dự án PPP so với các khuôn khổ trước đó vì nó bao
gồm tất cả dạng hợp tác PPP, chứ không chỉ dừng lại ở các dự án BOT,BTO và
BT. Đây là một bước tiến đáng kể trong hệ thống pháp lý Việt Nam.
Tiếp theo Tiến sĩ Phạm Sỹ Liêm lại tổng kết và định nghĩa rằng “ Quan hệ
đối tác công tư là việc Nhà nước cùng với một hoặc nhiều đối tác thuộc khu vực
tư nhân thiện nguyện cùng phối hợp và chia sẻ rủi ro để thực hiện dự án phát
triển kết cấu hạ tầng, cung ứng dịch vụ công cộng trên cơ sở Hợp đồng quan hệ
đối tác.”
6
Còn Thạc sĩ Nguyễn Duy Hà, Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Bắc Ninh nhận
định “mô hình hợp tác công tư là mô hình nhà nước và các nhà đầu tư tư nhân
cùng ký một hợp đồng để phân chia lợi ích, rủi ro cũng như trách nhiệm của mỗi
bên trong việc xây dựng một cơ sở hạ tầng hay cung cấp một dịch vụ công nào
đó”.
7
Từ định nghĩa trong Quyết định 71/2010 /QĐ-TTg và các nghiên cứu của
những nhà khoa học Việt Nam, chúng ta nhận thấy, tại Việt Nam cách nhìn nhận
về PPP không khác nhiều so với các nước ở trên thế giới, chúng đều mang một
đặc điểm đó chính là sự hợp tác giữa nhà nước và tư nhân trong việc phối hợp
cùng thực hiện một dự án nào đó ,nhằm mục đích phục vụ lợi ích công cộng.
Vậy từ các phân tích và các định nghĩa nêu trên ta có hiểu mô hình hợp tác
công-tư theo một cách đơn giản nhất đó là sự hợp tác giữa chủ thể công và một
hoặc nhiều chủ thể tƣ nhân để huy động sự đóng góp về nguồn lực và trình
6
Phạm Sỹ Liêm(2011), Các khái niệm tư nhân hóa – xã hội hóa và quan hệ đối tác công tư (PPP).
7
tu giai-phap-thu-hut-
cac-nguon-luc-tu-khu-vuc-tu-nhan.html
8
độ chuyên môn của chủ thể tƣ nhân vào việc cung cấp dịch vụ ,cơ sở hạ tầng
vì lợi ích công nhằm mục tiêu đạt đƣợc mức độ mở rộng phạm vi cung cấp
và nâng cao chất lƣợng dịch vụ công phù hợp với yêu cầu của cơ quan công
quyền. Mục đích của sự hợp tác này, đó chính là sự tận dụng điểm mạnh và lợi
thế của mỗi bên để tiến hành hợp tác một cách có hiệu quả và mang lại lợi ích
cho đôi bên và toàn xã hội.
Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay, đang áp dụng song song hai văn bản pháp
luật đó là Quyết định 71/2010/QĐ-TTg ban hành kèm theo “ Quy chế thí điểm
đầu tư theo hình thức đối tác công-tư ”(PPP) và Nghị định 108/2009/NĐ-CP
ngày 27/11/2009 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức Hợp đồng Xây dựng-
Kinh doanh-Chuyển giao, Hợp đồng Xây dựng –Chuyển giao- Kinh doanh, Hợp
đồng Xây dựng –Chuyển giao(quy định về các hình thức BOT,BTO,BT). Như
vậy,ở nước ta PPP và BOT,BTO,BT hiện đang áp dụng theo hai văn bản khác
nhau, theo cách hiểu từ việc áp dụng riêng lẻ hai văn bản pháp luật này, thì PPP
không bao gồm các hình thức BOT,BTO,BT. Theo tác giả hiểu như vậy là không
chính xác, nó đã làm hiểu hẹp đi khái niệm PPP so với thông lệ quốc tế. Thực
chất PPP và BOT,BTO,BT chỉ khác nhau về tên gọi, còn về bản chất
BOT,BTO,BT vẫn là các hình thức của PPP.
1.1.2 Các đặc trƣng của mô hình hợp tác công-tƣ :
1.1.2.1 Các dạng hợp đồng hợp tác công- tư:
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều trường phái và rất nhiều nghiên cứu chỉ
ra các dạng các hình thức hợp đồng PPP khác nhau như trong cuốn “Public
private partnership,Aguide for local government” xuất bản tháng 5/1999 của
Chính quyền bang British Columbia, Canada thì đưa ra 10 mô hình PPP ,còn
trong bài nghiên cứu của Tiến sĩ Phạm Sỹ Liêm về Các khái niệm tư nhân hóa-
xã hội hóa và quan hệ đối tác công-tư (10/8/2011) thì có đến 17 hình thức hợp
đồng PPP. Do đó đứng trên quan điểm của cá nhân, của một người nghiên cứu,
9
cũng như tìm hiểu từ những tài liệu được cung cấp bởi Sở Kế hoạch và Đầu tư
Thành phố Hồ Chí Minh;cá nhân tác giả xin đưa ra các hình thức của hợp đồng
PPP theo cách tiếp cận của Quyết định 71/2010 /QĐ-TTg cũng như nhiều quốc
gia khác trên thế giới.
Thì theo cách tiếp cận này, cách tiếp cận từ Quyết định 71/2010 /QĐ-TTg,
PPP gồm 2 nhóm sau:
(1) PPP “đầu tƣ cơ sở hạ tầng” tư nhân tham gia đầu tư phát triển và quản lý
cơ sở hạ tầng.
(2) PPP “ủy thác công tác quản lý dịch vụ công” tư nhân tham gia quản lý
và cung cấp trực tiếp dịch vụ công để cải cách công tác điều hành một
ngành và cải thiện công tác quản lý, hiệu quả và hiệu suất của ngành.
Trong đó mỗi nhóm lại có những hình thức hợp đồng riêng mà sau đây tác giả
xin trình bày chúng cùng với những đặc điểm của các dạng hợp đồng này:
Nhóm Hợp đồng đầu tƣ cơ sở hạ tầng
Hợp đồng Xây dựng,vận hành, chuyển giao (BOT) và các biến thể:
Hợp đồng BOT là mô hình mà ở đó công ty thực hiện dự án sẽ đứng ra
xây dựng và vận hành công trình trong một thời hạn nhất định sau đó chuyển
giao toàn bộ cho Nhà nước.Trong mô hình này đối tác tư nhân không trực tiếp
nhận thù lao từ người sử dụng công trình, mà từ đối tác Nhà nước, nghĩa là đối
tác Nhà nước mua lại dịch vụ do công trình mà đối tác tư nhân đã đầu tư xây
dựng và vận hành.
Từ mô hình Xây dựng, vận hành, chuyển giao (BOT) mô hình này đã
được biến thể ra nhiều mô hình khác như: Xây dựng,sở hữu, vận hành (BOO);
Xây dựng, chuyển giao, vận hành (BTO);Xây dựng ,chuyển giao (BT). Trong đó
BOO là mô hình mà công ty thực hiện dự án sẽ đứng ra xây dựng công trình, sở
hữu và vận hành nó, còn phía Nhà nước mua lại sản phẩm đầu ra theo cam kết
với công ty thực hiện dự án; còn mô hình BTO là mô hình mà sau khi công trình
10
được xây dựng xong ,quyền sở hữu công trình sẽ được chuyển giao ngay lập tức
cho Nhà nước , nhưng công ty thực hiện dự án vẫn giữ quyền khai thác công
trình và thực hiện việc nhận thù lao từ người sử dụng công trình;BT là mô hình
mà sau khi xây dựng xong, công ty thực hiện sẽ chuyển giao công trình đó cho
Nhà nước đồng thời chính phủ sẽ tạo điều kiện cho công ty thực hiện thực hiện
dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho công ty thực
hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng BT.Ngoài ra còn một số biến thể khác như:
Mua, xây dựng , vận hành(BBO) hay các mô hình BOT hỗn hợp trong đó Nhà
nước và tư nhân cùng góp vốn thành lập công ty phát triển dự án và đồng sở hữu
công trình.
Hợp đồng Thiết kế,xây dựng, vận hành (DBO)và các biến thể:
Hiện nay hợp đồng DBO vẫn chưa được thực hiện phổ biến tại Việt Nam,
theo đề nghị của Ngân hàng Thế giới (WB) về hình thức đầu tư xây dựng Nhà
máy Xử lý nước thải Nhiêu Lộc - Thị Nghè theo hình thức thiết kế - xây dựng -
vận hành (DBO), Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh đang nghiên
cứu về để tiến hành mô hình này. Theo cuốn “Le montage de partenariats public-
privé secteurs eau urbaine et assainissement en zone industrielle”(2013),của
trung tâm PADDI thì DBO là hợp đồng trong đó Cơ quan nhà nước giao cho tư
nhân thiết kế, thi công và vận hành một công trình cơ sở hạ tầng, chứ không
tham gia đầu tư vào công trình đó.
Và một biến thể của DBO mà trong đó khu vực tư nhân sẽ đứng ra thực
hiện tất cả các giai đoạn của một dự án để cung cấp dịch vụ công ,bao gồm thiết
kế(D), xây dựng(B), tài trợ(F) và vận hành dự án(O); tuy nhiên công trình đó vẫn
thuộc sở hữu của Nhà nước.Đó chính là hợp đồng DBFO ( thiết kế, xây dựng,tài
trợ, vận hành).
Hợp đồng Vận hành và bảo trì (O&M)
Đây là hợp đồng quan hệ đối tác trong đó Nhà nước giao cho tư nhân vận
hành, bảo trì và đôi khi cải tảo một phần công trình đã được xây dựng. Đổi lại,
11
đối tác tư nhân sẽ nhận được thù lao tương ứng với hiệu quả đạt được. Ở Việt
Nam, hiện nay mô hình này được áp dụng rộng rãi trong việc vận hành và bảo trì
các công trình dầu khí.
Nhóm Hợp đồng “ủy thác công tác quản lý dịch vụ công”
Hợp đồng dịch vụ:
Là loại hợp đồng thỏa thuận giữa khu vực nhà nước với khu vực tư nhân,
trong đó nhà nước thuê khu vực tư nhân thực hiện một hoặc một số công việc,
dịch vụ cụ thể, nhằm mục đích phục vụ lợi lích công cộng, trong một thời gian
nhất định, thường là 1 đến 3 năm.Tuy nhiên, khu vực nhà nước vẫn là người
cung cấp chính các dịch vụ cơ sở hạ tầng và chỉ thuê đối tác tư nhân điều hành
một phần hoạt động.Trong đó đối tác tư nhân phải thực hiện dịch vụ với một chi
phí được thỏa thuận và phải đáp ứng được các tiêu chuẩn do nhà nước đặt ra.
Hình thức hợp đồng này thường gắn với các thủ tục đấu thầu để trao hợp đồng
dịch vụ.
Hợp đồng quản lý:
Là hợp đồng thỏa thuận giữa khu vực nhà nước với tư nhân để chuyển
giao một phần hoặc toàn bộ công tác quản trị của một dịch vụ công. Việc cung
cấp dịch vụ công vẫn thuộc về phía Nhà nước, tuy nhiên hoạt động quản lý, kiểm
soát và thẩm quyền xử lý hằng ngày được giao cho đối tác tư nhân. Hình thức
này giúp khu vực chính phủ tận dụng được trình độ quản lý của khu vực tư nhân,
nhưng vẫn giữ nguyên được quyền sở hữu đối với tài sản và cơ sở hạ tầng.
12
Nguồn : Public – Private Partnership Handbook,ADB,2008
Hình 1: Cấu trúc Hợp đồng quản lý
Hợp đồng nhượng quyền:
Là loại hợp đồng mà khu vực Nhà nước dựa trên các tài sản hay cơ sở hạ
tầng vốn có của mình để nhượng lại quyền khai thác, kinh doanh và kể cả hoạt
động đầu tư cải tạo, bảo trì, phát triển hệ thống dịch vụ cho khu vực tư nhân.Khu
vực Nhà nước chịu trách nhiệm thiết lập các tiêu chuẩn hoạt động và đảm bảo
rằng người được nhượng quyền đáp ứng được các tiêu chuẩn này.Đồng thời vai
trò của Nhà nước chuyển từ việc cung cấp dịch vụ sang việc điều tiết, quản lý giá
và chất lượng dịch vụ.
So với hợp đồng quản lý hình thức này đối tác tư nhân không nhận được
khoản thanh toán trực tiếp từ Nhà nước mà các khoản phí này được thu từ người
sử dụng dịch vụ. Do đó, lợi nhuận của khu vực tư nhân phụ thuộc nhiều vào chất
lượng dịch vụ của họ thông qua đó có thể khuyến khích họ nâng cao chất lượng
dịch vụ mình cung cấp.
Quy định:
Xây dựng biểu phí
Các tiêu chuẩn
dịch vụ
Giám sát môi
trường thực hiện
Phê Chuẩn
Đầu tư và trợ cấp
Báo cáo
Chính phủ
Nhà cung cấp dịch
vụ công
Nhà điều hành tư
nhân
Biểu phí
Quản lý
13
Nguồn : Public – Private Partnership Handbook,ADB,2008
Hình 2: Cấu trúc Hợp đồng nhƣợng quyền
Hợp đồng khoán:
Đây là hợp đồng ủy thác quản lý, theo đó Cơ quan nhà nước ủy thác cho
đơn vị tư nhân việc vận hành và kinh doanh dịch vụ công. Đối tác tư nhân chịu
trách nhiệm khai thác dịch vụ và bảo trì dự án. Trong hợp đồng này, đối tác tư
nhân có thể đầu tư tài chính để cải tạo một phần hoặc mở rộng mạng lưới cung
cấp dịch vụ, phần đầu tư này vẫn thuộc sở hữu của đối tác tư nhân. Thu nhập mà
đối tác tư nhân nhận được phụ thuộc trực tiếp vào doanh thu đạt được từ giá dịch
vụ hoặc phần doanh thu giữ lại theo thỏa thuận về giá khoán với Nhà nước.Còn
đối tác Nhà nước chịu trách nhiệm đầu tư tài chính và mở rộng mạng lưới dịch
vụ, đồng thời cùng chịu rủi ro thương mại tương ứng với phần doanh thu mà đối
tác tư nhân chuyển về.
Hợp đồng nhượng
quyền
Quy định:
Xây dựng biểu phí
Các tiêu chuẩn dịch
vụ
Giám sát môi trường
thực hiện
Báo cáo
Chính phủ
Công ty được nhượng
quyền
Người tiêu dùng
Các dịch vụ
Doanh thu
Bên cho
vay
Cổ đông
Vốn vay/cổ phần
14
1.1.2.2 Đặc điểm của mô hình hợp tác công-tư:
Từ các dạng hợp đồng của mô hình hợp tác công tư ta có thể đưa ra 7 đặc
điểm của các hợp đồng này như sau:
Chủ thể tham gia hợp đồng: trong các loại hợp đồng của PPP luôn đòi
hỏi phải có sự tham gia của ít nhất một bên là đối tác công và một bên là đối tác
tư nhân. Trong đó đối tác công có thể là các bộ, ngành, cơ quan, chính quyền địa
phương hoặc các doanh nghiệp nhà nước; còn đối tác tư nhân là các doanh
nghiệp tư nhân hoặc các nhà đầu tư trong và ngoài nước .
Đối tượng của hợp đồng: từ phân tích ở phần trên ta có thể thấy đối tượng
của hợp đồng hợp tác công- tư chủ yếu liên quan đến các hoạt động cung ứng
dịch vụ công cho cộng đồng (như cung cấp điện, nước,dịch vụ y tế, dịch vụ an
ninh quốc phòng…) và xây dựng phát triển các hệ thống cơ sở hạ tầng.
Mục đích của hợp đồng: là huy động và khai thác nguồn lực tài chính,
năng lực chuyên môn, công nghệ quản lý, kỹ thuật, kỹ năng vận hành của đối tác
tư nhân để bù đắp vào sự thiếu hụt của nhà nước và các chủ thể công khác. Để từ
đó nâng cao khả năng phục vụ của khu vực nhà nước đối với cộng đồng.
Điều kiện áp dụng: hợp đồng hợp tác công tư được áp dụng khi khu vực
nhà nước vì một lý do nào đó không thể thực hiện dự án một cách độc lập hoặc
khó áp dụng phương pháp cổ phần hóa vào các dự án.Do đó cần sự tham gia của
một đối tác khác để giúp đỡ nhà nước thực hiện công việc này, trong tình hình
đó PPP là sự lựa chọn tối ưu cho họ để thực hiện công việc này một cách hiệu
quả.Tuy nhiên, cũng cần phải nói thêm rằng ở Việt Nam, việc cổ phần hóa cũng
kéo theo sự bắt tay giữa nhà nước và tư nhân,nhưng hoạt động này chịu sự điều
chỉnh của luật doanh nghiệp và nhà nước tham gia quan hệ này với tư cách là
một nhà đầu tư giống như những cổ đông khác, mà không có địa vị pháp lý đặc
thù của nhà nước.
15
Phương thức xác lập: hợp đồng PPP được xác lập thông qua các thỏa
thuận của nhà nước và tư nhân. Hiện nay các hợp đồng này thường được gắn với
quá trình đấu thầu để lựa chọn đối tác cho khu vực nhà nước.
Sự hợp tác: hợp đồng PPP khác với các hợp đồng mua đứt bán đoạn ở chỗ
các dự án PPP thường có thời gian thực hiện kéo dài, đòi hỏi sự phối hợp giữa
hai bên đối tác trong suốt thời gian thực hiện dự án. Sự hợp tác này góp phần
chia sẻ rủi ro và lợi ích giữa hai bên, giúp mỗi bên tận dụng tốt sức mạnh của
mình để phát triển dự án.
Nguồn luật: nguồn luật điều chỉnh các hợp đồng PPP khác với nguồn luật
điều chỉnh các loại hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh doanh truyền thống khác,
bởi vì quyền tự do thỏa thuận của các bên trong dự án PPP bị hạn chế rất nhiều
bởi các quy định chung của luật công như các quy định về thuế, phí( phí giao
thông,viện phí…),hạn chế chống tham nhũng Những nội dung này không phải
là nội dung của hợp đồng dân sự,kinh doanh truyền thống và đôi khi nó nằm
ngoài tầm kiểm soát của chính Cơ quan nhà nước tham gia ký kết PPP. Ví dụ:
UBND TP.HCM là cơ quan ký kết PPP dự án xây dựng cầu Phú Mỹ, nhưng phí
giao thông lại thuộc về thẩm quyền của Bộ Giao thông và Vận tải,thuế thu nhập
doanh nghiệp lại thuộc thẩm quyền của Quốc hội.
8
1.1.3. Phân biệt mô hình hợp tác công-tƣ và các khái niệm Sự tham gia của
tƣ nhân, Tƣ nhân hóa:
1.1.3.1 Phân biệt mô hình hợp tác công-tư và Tư nhân hóa:
Để có thể phân biệt được đâu là Tư nhân hóa, đâu là PPP thì ta phải hiểu
được Tư nhân hóa là gì?
Theo Thạc sĩ Nguyễn Thị Anh , giảng viên trường Đại học Kinh tế Tp.Hồ
Chí Minh thì “Tư nhân hóa là các hoạt động liên quan đến việc bán cổ phần
8
Võ Trí Hảo, Bản chất pháp lý của các thỏa thuận PPP.
16
hoặc sở hữu trong công ty hoặc bán những tài sản hoặc dịch vụ đang hoạt động
thuộc sở hữu của nhà nước”
9
. Theo đó ta có thể hiểu Tư nhân hóa là một quá
trình chuyển đổi hình thức sở hữu một phần hoặc toàn bộ tài sản từ nhà nước
sang tư nhân.
Từ các phân tích ở trên, ta nhận thấy giữa hai khu vực Tư nhân hóa và
PPP có một sự khác nhau rất lớn, trước hết trong tư nhân hóa quyền sở hữu tài
sản của nhà nước được bán cho khu vực tư nhân, trong khi đó mô hình PPP, Nhà
nước vẫn duy trì quyền sở hữu của mình đối với các tài sản này.
Thứ hai, về sự hợp tác thì ở Việt Nam hiện nay, hình thức Tư nhân hóa
diễn ra theo hình thức cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, bởi sự tham gia
đầu tư của khu vực tư nhân, nhưng giữa Nhà nước và tư nhân không ký hợp
đồng hợp tác như trong PPP; đồng thời trong PPP sự hợp tác của hai bên thường
có thời gian hợp tác kéo dài và đòi hỏi sự phối hợp của hai bên nhưng trong Tư
nhân hóa thì lại không đòi hỏi các đặc điểm này.
Thứ ba, về việc chia sẻ rủi ro và lợi ích, nếu là Tư nhân hóa, khu vực tư
nhân phải chịu mọi rủi ro kinh doanh, trong khi đó trong mô hình PPP thì lợi ích
và rủi ro được hai bên cùng chia sẻ, mức độ chia sẻ này tùy thuộc vào sự thỏa
thuận trong hợp đồng và tùy vào từng mô hình PPP được lựa chọn.
Cuối cùng đó là vai trò của Nhà nước, thì trong Tư nhân hóa, sau khi đã
chuyển giao công việc kinh doanh cho tư nhân thì Nhà nước chỉ còn đóng vai trò
là quản lý nhà nước thông qua các công cụ luật pháp,hành chính, thuế…, mọi
Quyết định về phạm vi và phương thức thực hiện công việc kinh doanh lúc này
đều do khu vực tư nhân định đoạt. Trong khi đó, trong mô hình PPP, ngoài trách
nhiệm quản lý nhà nước, thì khu vực Nhà nước còn là một bên đối tác tham gia
có quyền và trách nhiệm rõ ràng trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh
thông qua thỏa thuận trong hợp đồng.
9
Nguyễn Thị Anh, Phân biệt các khái niệm PPP, PSP và tư nhân hóa.
17
1.1.3.2 Phân biệt mô hình hợp tác công-tư và Sự tham gia của tư nhân:
PSP là viết tắt của cụm từ Private Sector Participation dịch ra Tiếng Việt
có nghĩa “là Sự tham gia của tư nhân”, có nhiều người hiện nay vẫn hay nhầm
tưởng PSP là một cách gọi khác của PPP, tuy nhiên theo tác giả PSP mang một
nghĩa rộng hơn PPP rất nhiều, trong khi PPP nhấn mạnh đến yếu tố hợp tác của
hai bên ,thì PSP là một khái niệm chú ý đến sự chuyển giao chức năng phục vụ
xã hội của Nhà nước cho khu vực tư nhân, chẳng hạn như mới đây Chính Phủ đã
tiến hành thí điểm mô hình Thừa phát lại tại Tp.Hồ Chí Minh, để việc thi hành
án vừa do Cơ quan thi hành án dân sự
10
vừa do Văn phòng thừa phát lại
11
thực
hiện, trong đó Văn phòng thừa phát lại là do cá nhân có đủ điều kiện làm thừa
phát lại thành lập
12
.Như vậy hoạt động thi hành án hiện nay ở Thành phố Hồ Chí
Minh vừa do Nhà nước thực hiện vừa do tư nhân đứng ra cung ứng. Ta cũng có
thể thấy nhiều trường hợp trong đó hoạt động công quyền trước đây chỉ do Nhà
nước đảm nhiệm nhưng nay đã có thêm “sự tham gia của tư nhân” trong lĩnh vực
này như trong hoạt động công chứng, hay một số vấn đề khác trong lĩnh vực y tế,
giáo dục…
Không những thế, vai trò của Nhà nước trong PSP cũng tương tự như vai
trò của Nhà nước trong Tư nhân hóa, tức là trong PSP, mọi hoạt động của tư
nhân đều do tư nhân tự Quyết định và tự chịu trách nhiệm, Nhà nước chỉ còn
quản lý được nó thông qua các công cụ quyền lực nhà nước như luật pháp, hành
chính, thuế… Trong khi đó, trong mô hình PPP, Nhà nước ngoài trách nhiệm
quản lý nhà nước của mình, nó còn là một bên đối tác của hợp đồng cùng tham
gia và cùng chịu trách nhiệm trong hoạt động.
10
Điểm 2 điều 13 Luật thi hành án Dân sự 2008
11
Điều 3 và điều 15 Nghị định 61/2009/QĐ-CPngày 24 tháng 07 năm 2009 Về tổ chức và hoạt động của Thừa
phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 135/2013/NĐ-CP.
12
Điều 10 Nghị định 61/2009/QĐ-CPngày 24 tháng 07 năm 2009 Về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực
hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh, được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 135/2013/NĐ-CP.
18
Do đó, chúng ta không thể đồng hóa hai khái niệm PSP và PPP với nhau
được, ở chúng phải có một sự tách biệt rõ ràng, để phản ánh đúng thực chất vai
trò cũng như bản chất của mỗi mô hình riêng.
1.2 Vai trò của mô hình hợp tác công-tƣ :
Thực tế áp dụng mô hình PPP ở các nước trên thế giới và cụ thể là ở Việt
Nam đã cho thấy mô hình PPP đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát
triển kinh tế của các quốc gia. Nó giúp :
Giảm gánh nặng ngân sách nhà nước và nợ nước ngoài, tạo ra nhiều
khoản đầu tư hơn cho cơ sở hạ tầng: Trong Quy chế Thí điểm đầu tư theo hình
thức đối tác công –tư,ban hành kèm theo Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ngày
09/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định tại điểm 2 điều 9 quy định “tổng
giá trị phần tham gia của nhà nước không vượt quá 30% tổng mức đầu tư của dự
án, trừ trường hợp khác do chính phủ quy định”. Do đó với cơ chế này, mô hình
hợp tác công- tư đã giúp nhà nước đã giảm được một gánh nặng phải tìm
kiếm,sắp xếp và phân bổ ngân sách đầu tư cho các dự án –việc phải làm với các
dư án theo phương thức truyền thống. Điều này đã được nghiên cứu và minh
chứng trong cuốn “Delivering the PPP promise:A review of PPP issues and
activity”
13
thông qua biểu đồ hình 3. Bởi vậy, so với trước đây, với cùng một
lượng vốn ngân sách để đầu tư cho một dự án theo phương thức đầu tư truyền
thống, thì nay, với phương thức này nhà nước có thể phát triển hai đến ba công
trình tương tự.
13
PricewaterhouseCoopers(2005), Delivering the PPP promise:A review of PPP issues and activity.
19
Hình 3. So sánh việc mua sắm theo cách truyền thống và theo quan hệ đối
tác công –tƣ.
Tạo ra sự ổn định và tăng trưởng cho khu vực tư nhân: Với việc tham
gia vào hình thức PPP, khu vực tư nhân sẽ có được nhiều cơ hội đầu tư mang
tính dài hạn và ít rủi ro hơn, bởi sự đảm bảo và hợp tác từ nhà nước. Từ đó tạo sự
ổn định và tăng trưởng cho khu vực tư nhân, giúp cho sự phát triển của kinh tế,
cũng như là chất lượng cuộc sống của xã hội được nâng lên.
Giảm thiểu chi phí ngân sách nhà nước và nâng cao được chất lượng
công trình: Trong các dự án PPP việc xây dựng, vận hành và bảo trì các công
trình thường do khu vực tư nhân đảm nhiệm, do đó để tiết kiệm chi phí cho mình
khu vực tư nhân sẽ có động lực và giải pháp tận dụng hết khả năng quản lý, kỹ
thuật, công nghệ hiện đại để tham gia xây dựng công trình, từ đó chất lượng
công trình sẽ ngày được nâng cao, thời gian thực hiện công trình sẽ được đảm
bảo,từ đó nhà nước sẽ tiết kiệm được các khoản tiền do dự án kéo dài, hay chi
phí sửa chữa các công trình này.
Giai đoạn
xây dựng
Giai đoạn
xây dựng
Chi phí
vốn dự
toán
Chi phí
phụ trội
Chi phí vận hành dự toán
Chi phí vận hành phụ
trội
5 10 15 20 Năm
Giai đoạn vận hành và bảo trì
Vốn và chi phí hoạt
động do nhà nước chi
trả, do đó mà nhà nước
phải chịu rủi ro về vượt
quá mức dự toán và
thường chậm trễ tiến độ
Mua sắm theo truyền thống của chính
phủ
Không
thanh toán
cho đến
khi dự án
hoàn
thành
Thanh toán theo sự sẵn có của
tiện ích
Thanh toán theo mức độ sử dụng
5 10 15 20 Năm
Giai đoạn vận hành và bảo trì
Khu vực công chỉ thanh toán trong dài hạn
như các dịch vụ được giao. Nguồn vốn của
khu vực tư nhân tự lo bằng cách sử dụng
một phần lớn vốn vay, cộng với vốn chủ sở
hữu của cổ đông. Sự thu hồi vốn của tư
nhân phụ thuộc vào chất lượng các dịch vụ
Mua sắm theo hình thức PPP
20
Thu hút được nguồn đầu tư, cũng như kinh nghiệm và công nghệ từ
nước ngoài:Một điều phải nói tới đối với khu vực công đó là, so với khu vực tư
nhân thì khả năng quản lý, công nghệ và kỹ thuật thì lúc nào họ cũng thua kém
so với khu vực tư nhân, đặc biệt là đối với Việt Nam chúng ta. Với sự hợp tác
giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân trong việc tham gia xây dựng các dự
án, sẽ góp phần thu hút nguồn đầu tư từ khu vực tư nhân đặc biệt từ các nhà đầu
tư nước ngoài, từ đó sẽ giúp chúng ta cải thiện và học hỏi kinh nghiệm quản lý,
công nghệ hiện đại từ chính các nhà đầu tư, góp phần thực hiện mục tiêu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của chúng ta.
Nâng cao uy tín của Đảng và Nhà nước: Trước việc tận dụng được
nguồn lực từ tư nhân và sức mạnh Nhà nước sẽ góp phần nâng cao, mở rộng và
cải thiện chất lượng cung cấp dịch vụ công từ khu vực Nhà nước đối với nhân
dân, từ đó sẽ tạo lòng tin ở quần chúng nơi chính quyền và nâng cao vai trò, uy
tín của Đảng, Nhà nước trong nhân dân ta.
21
CHƢƠNG 2
KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG MÔ HÌNH
HỢP TÁC CÔNG-TƢ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
2.1 Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong mô hình hợp
tác công-tƣ:
Kế thừa và học hỏi tinh hoa nhân loại là một trong những yếu tố quan
trọng trong quá trình hội nhập và phát triển của mỗi quốc gia, Việt Nam cũng
không ngoại lệ. Để có được sự thành công trong việc vận dụng mô hình PPP tại
Việt Nam, chúng ta cần tiếp thu và trau dồi kinh nghiệm thông qua các mô hình
PPP thành công trên thế giới. Qua đó chúng ta có thể giảm thiểu rủi ro một cách
tối đa và xác định được hướng đi nào phù hợp cho việc áp dụng mô hình PPP
của Việt Nam. Sau đây tác giả xin trình bày một số mô hình PPP thành công ở
các quốc gia phát triển trên thế giới và từ đó rút ra những bài học cho việc áp
dụng mô hình PPP của Việt Nam.
2.1.1 Canada:
Thông qua bài viết của Thạc Thạc sĩ Lâm Văn Hoàng– Phó Vụ trưởng,
Phó trưởng Ban Ban Quản lý các dự án đầu tư đối tác công - tư ( PPP), Bộ Giao
thông vận tải– về mô hình hình hợp tác công-tư (PPP) đã được áp dụng ở
Canada ,sau chuyến công tác và học hỏi kinh nghiệm tại Canada trong việc áp
dụng mô hình PPP
14
, tác giả xin trích dẫn và có một cái nhìn tổng quát về mô
hình PPP tại Canada như sau:
Cũng giống như Việt nam,Canada là quốc gia đã có lịch sử 20 năm phát
triển mô hình PPP.Hiện nay,Canada đã có 185 dự án đã và đang được triển khai
14
Lâm Văn Hoàng(2014), Mô hình hợp tác công – tư (PPP) ở Canada.
22
tại 45 thành phố. Tổng số vốn thu hút đầu tư cho các dự án này đạt trên 58 tỷ đô
la Canada, trong đó, đứng đầu là lĩnh vực giao thông có 42 dự án với vốn đầu tư
23,5 tỷ đô, chiếm 41%; Ngành y tế có 64 dự án với vốn đầu tư 20,7 tỷ đô, chiếm
36%. Trong số 185 dự án nói trên thì có 97 dự án đã hoàn thành công tác đầu tư
xây dựng và đang trong quá trình vận hành, 46 dự án đang trong quá trình xây
dựng và 42 dự án đang trong quá trình đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư.
15
Khác với Việt Nam, hiện nay mô hình hợp tác công-tư ở Canada được gọi
với nhiều tên gọi khác nhau (như PPP;PFI-sáng kiến, tài chính, tư nhân; AFP-
phương pháp mua sắm thay thế) và ở Canada mô hình hợp đồng được áp dụng
phổ biến nhất là mô hình hợp đồng DBFM( thiết kế -xây dựng- tài trợ- bảo trì
).Ở dạng hợp đồng này nhà đầu tư trúng thầu sẽ chịu trách nhiệm thiết kế công
trình, xây dựng công trình, thu xếp tài chính để xây dựng công trình và bảo trì
công trình trong khoảng thời gian ấn định trước, trên cơ sở các tiêu chí được xây
dựng trong Hồ sơ mời thầu của cơ quan Nhà nước phát hành. Thông thường, nhà
đầu tư được nhận thanh toán 30- 50% giá trị dự án sau khi hoàn tất giai đoạn xây
dựng và phần còn lại sẽ nhận trong khoảng thời gian 25-30 năm tiếp theo. Ngoài
ra, ở Canada có các mô hình như DBFMO, DBF (Thiết kế- Xây dựng-Thu xếp
tài chính). Dạng hợp đồng này nhà đầu tư có thêm trách nhiệm vận hành dự án
so với dạng BF (Xây dựng- Thu xếp tài chính). Theo đó, dạng DBFMO và DBF
thường áp dụng cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng mới, dạng BF phù hợp với
các dự án nâng cấp, cải tạo. Ngoài ra mô hình dạng O&M (Vận hành và bảo trì):
Thường được áp dụng đối với các dự án cấp nước và xử lý nước thải.
Ở Canada đa số áp dụng hình thức DBFM, rất ít khi áp dụng hình thức
khai thác (operation) vì theo chính sách ở Canada thì nhà nước bao giờ cũng
muốn giữ quyền sở hữu, không chuyển giao quyền này cho khu vực tư nhân
(trên toàn Canada chỉ có 2 con đường được áp dụng hình thức thu phí). Bên cạnh
đó, theo mô hình DBFM thì quy định về trách nhiệm bảo trì công trình cũng
15
Lâm Văn Hoàng(2014), Mô hình hợp tác công – tư (PPP) ở Canada.
23
được ghi rõ ràng, thường là suốt thời gian hợp đồng (25-35 năm), kèm theo các
điều kiện chuyển giao quy định trước. Đồng thời, các thỏa thuận hợp đồng dựa
trên hoạt động hữu dụng của công trình và đối tác được hoàn trả vốn. Chính phủ
hoặc đơn vị bảo trợ chỉ bắt đầu thanh toán từ khi hoàn thành việc xây dựng.
Những khoản thanh toán tiếp theo sẽ phải chịu khấu trừ nếu không đảm bảo cung
cấp dịch vụ và bảo trì theo quy định trong hợp đồng.
Qua đó ta thấy việc áp dụng hình thức này ở Canada đã mang đến một lợi
thế vô cùng to lớn đó là tạo niềm tin cho các nhà đầu tư trong việc thực hiện các
dự án bởi nhà nước cam kết thanh toán cho nhà đầu tư 30- 50% giá trị dự án sau
khi hoàn tất giai đoạn xây dựng và phần còn lại sẽ nhận trong khoảng thời gian
25-30 năm tiếp theo.Với cơ chế như vậy, việc thu hồi vốn của nhà đầu tư sẽ được
đảm bảo, thời hạn thanh toán hợp đồng kéo dài sẽ giảm áp nặng lên ngân sách
Nhà nước, đồng thời chuyển trách nhiệm vận hành bảo trì cho phía nhà đầu tư
buộc họ phải có trách nhiệm và kế hoạch thực hiện dự án một cách tốt nhất nếu
không muốn bị giảm lợi nhuận, khắc phục được tình trạng nhà đầu tư sau khi xây
dựng xong công trình, nhà đầu tư bỏ bê chất lượng dịch vụ và bảo trì.Hơn thế,
chính việc cam kết thực hiện thanh toán từ Nhà nước, Canada đã giảm thiểu việc
hình thành tràn lan các trạm thu phí.
Đồng thời,tại Canada, căn cứ vào quy hoạch các cơ quan chức năng sẽ đề
xuất các dự án và ưu tiên lựa chọn mô hình để đầu tư PPP. Theo đó, các dự án có
quy mô lớn (thường là trên 40triệu USD), sẽ được đánh giá để lựa chọn áp dụng
mô hình PPP theo tiêu chí khả thi và hiệu quả đối với cả vòng đời dự án. Nếu
việc phân tích cho rằng đầu tư theo hình thức PPP không hiệu quả, thì mới tiến
hành theo hình thức đầu tư công truyền thống. Đây là điểm khác biệt với Việt
Nam thường xem xét đầu tư - công trước, sau đó mới xem xét đầu tư công -
tư.Tuy nhiên, ở đây chúng ta cần lưu ý rằng không phải dự án nào ở Canada
24
cũng được thực hiện theo hình thức PPP chỉ những dự án nào thỏa mãn các yếu
tố sau mới được thực hiện theo hình thức PPP
16
:
Dịch vụ hoặc dự án không thể tiến hành bằng việc cung cấp các
nguồn lực tài chính hoặc chuyên môn của riêng chính quyền địa
phương.
Đối tác tư nhân sẽ làm tăng chất lượng hoặc mức độ dịch vụ mà
chính quyền địa phương thực hiện.
Việc tham gia của đối tác tư nhân sẽ giúp cho các dự án, dịch vụ
được thực hiện ngắn hơn so với khi chỉ có chính quyền địa phương
thực hiện.
Sẽ có nhiều người sử dụng dịch vụ từ các dự án, dịch vụ này.
Có sự cạnh tranh giữa các đối tác tư nhân tiềm năng.
Không có điều cấm trong quy định pháp luật về sự tham gia của tư
nhân trong một dự án, dịch vụ.
Đầu ra của dịch vụ có thể được đánh giá rõ ràng.
Chi phí của dịch vụ hoặc dự án có thể được phục hồi thông qua việc
thu phí.
Dự án hoặc dịch vụ sẽ tạo ra một cơ hội cho sự phát triển.
Tạo ra cơ hội để thúc đẩy kinh tế phát triển.
Nếu không có các điều kiện trên tồn tại, thì một dự án sẽ không được xem
xét theo mô hình PPP ở Canada.
Hơn thế, so với Việt Nam ở Canada các dự án PPP được tiến hành một
cách công khai, minh bạch hóa các thông tin về dự án;đồng thời xây dựng các
chương trình đối thoại với công chúng để kịp thời tháo gỡ vướng mắc, tạo sự
đồng thuận trong giải phóng mặt bằng, xây dựng dự án,tạo được sự ủng hộ của
công chúng trong việc thực hiện các dự án PPP. Đến nay,tại Canada tỉ lệ công
chúng ủng hộ đạt tới 75%.Đồng thời khuông khổ pháp lý về PPP cũng được
16
Chính quyền bang British Columbia,Canada(5/1999), Public private partnership,Aguide for local government.
25
Chính phủ Canada dành sự quan tâm đặc biệt với hàng loạt các bộ luật quy định
về PPP như : Luật về Giao kết hợp đồng của các tổ chức thuộc khu vực công (An
Act Respecting Contracting by Public Bodies) có hiệu lực thực hiện từ
07/12/2012; Luật về hợp tác trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng giao thông (Act
Respecting Transport Infrastructure Partnerships) có hiệu lực thực hiện từ
01/4/2012; Luật Thành lập tổ chức Hạ tầng Québec (Act respecting
Infrastructure Québec) có hiệu lực từ 17/3/2010 và hướng dẫn dành cho chính
quyền địa phương (“Public private partnership,Aguide for local government”
xuất bản tháng 5/1999 của Chính quyền bang British Columbia, Canada, đã giúp
cho các cấp chính quyền cơ sở và các cơ quan thực hiện dự án PPP có được sự
chủ động khi tiến hành các dự án này; và các nhà đầu tư cũng có sự an tâm khi
đầu tư vào các dự án PPP ở Canada.
Vậy từ mô hình hợp tác công tư của Canada ta có thể thấy:
Thứ nhất,không phải dự án nào cũng có thể áp dụng mô hình PPP,
chỉ những dự án thỏa mãn được các tiêu chí nhất định của mô hình
PPP thì mới có thể áp dụng mô hình này.
Thứ hai, để thực hiện thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân nhà nước
phải có một khuôn khổ pháp lý chặt chẽ đảm bảo cho nhà đầu tư,
tạo sự an tâm cho họ khi tham gia vào sự hợp tác này.
Thứ ba, việc thực hiện các dự án cần phải công khai minh bạch, và
xây dựng các chương trình đối thoại với công chúng để kịp thời
tháo gỡ vướng mắc, tạo sự đồng thuận trong giải phóng mặt bằng,
xây dựng dự án; để có thể tiến hành dự án một cách nhanh chóng và
giảm thiểu chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng- một vấn đề nan
giải của Việt Nam chúng ta hiện nay.
Thứ tư, với tình trạng khó khăn của Việt Nam trong việc thực hiện
các dự án BOT,BTO hiện nay bởi việc đặt trạm thu phí quá nhiều
thì mô hình DBFM của Canada là một hình thức chúng ta có thể áp
dụng để giải quyết khó khăn này.