Tải bản đầy đủ (.pdf) (114 trang)

cảnh huống ngôn ngữ ở hà giang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.29 MB, 114 trang )

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM







NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN







CẢNH HUỐNG NGÔN NGỮ Ở HÀ GIANG




LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ













Thái Nguyên- 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM




NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN




CẢNH HUỐNG NGÔN NGỮ Ở HÀ GIANG

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.01



LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ




NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: GS. TS. NGUYỄN ĐỨC TỒN






Thái Nguyên- 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

3
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, là kết quả lao
động nghiêm túc, tìm tòi và kế thừa trong quá trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì
công trình nào khác.


Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Huyền















Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi được sự hướng dẫn tận tình của
GS.TS, Nguyễn Đức Tồn, Viện Ngôn ngữ học, thầy đã có những định hướng
ban đầu, những lời nhận xét và chỉ dẫn quý báu trong suốt quá trình tôi thực
hiện luận văn. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc nhất của tôi tới
thầy về những ý kiến quý báu và thời gian mà thầy đã dành cho tôi.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới tất cả những
thầy cô đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và quan tâm giúp đỡ tôi trong suốt
thời gian theo học chương trình thạc sĩ Ngôn ngữ khóa 2008 - 2010 tại
trường Đại học Sư phạm - ĐHTN cũng như quá trình bắt tay vào viết và hoàn
thành luận văn.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn những người than trong gia đình, những bạn
bè khác đã hết lòng động viên , khuyến khích, giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi
có kết quả cưới cùng ngày hôm nay.


Thái Nguyên, tháng 08 năm 2010

Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

5
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 5
1. Lí do chọn đề tài 5
2. Lịch sử vấn đề 7
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4. Phương pháp nghiên cứu 9
5. Đóng góp mới 10
6. Bố cục luận văn 11
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 12
1.1 Những cơ sở lí thuyết có liên quan đến cảnh huống ngôn ngữ 12
1.1.1 Khái niệm “cảnh huống ngôn ngữ ” 12
1.1.2 Các nhân tố hình thành cảnh huống ngôn ngữ 13
1.1.3 Sự phân loại cảnh huống ngôn ngữ 15
1.1.4 Những khái niệm có liên quan đến cảnh huống ngôn ngữ 16
1.1.4.1 Song ngữ, đa ngữ 16
1.1.4.2 Các nhân tố làm nảy sinh các hiện tượng đa ngữ 18
1.1.4.3 Song thể ngữ, đa thể ngữ. 19
1.1.4.4 Năng lực giao tiếp 21
1.1.4.5 Sự pha tạp ngôn ngữ 22
1.1.4.6 Tiếng phổ thông. 24
1.1.5 Các khái niệm về chính sách ngôn ngữ và các loại hình chính sách
ngôn ngữ 24
1.1.5.1 Khái niệm “chính sách ngôn ngữ” 24
1.1.5.2 Các loại hình chính sách ngôn ngữ phổ biến và đặc điểm của chúng 27

1.2 Những đặc điểm khái quát về địa lí tự nhiên, kinh tế xã - văn hóa - xã hội
và dân cư ở Hà Giang 27
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

6
1.2.1 Khái quát chung về địa lí, kinh tế xã hội Hà Giang 27
1.2.2 Giới thiệu chung về các dân tộc ở Hà Giang 31
1.2.3 Giới thiệu chung về các ngôn ngữ ở Hà Giang 34
1.2.4 Giới thiệu chung về văn hóa, giáo dục ở Hà Giang 35
1.2.4.1 Về tình hình giáo dục 35
1.2.4.2 Về lĩnh vực văn hoá 38
Tiểu kết 41
Chƣơng 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH LƢỢNG VÀ ĐỊNH CHẤT CỦA CẢNH
HUỐNG NGÔN NGỮ Ở HÀ GIANG 42
2.1 Đặc điểm cảnh huống ngôn ngữ ở Hà Giang xét theo tiêu chí định lượng 42
2.1.1 Số lượng của các ngôn ngữ ở Hà Giang 42
2.1.2 Số lượng người nói mỗi thứ tiếng trong quan hệ với số lượng chung của
cư dân Hà Giang 43
2.1.3 Số lượng các ngôn ngữ nổi trội về mặt chức năng ở Hà Giang và số
lượng các phạm vi giao tiếp của mỗi ngôn ngữ ở Hà Giang trong quan hệ với
số lượng chung các phạm vi giao tiếp 45
2.2 Đặc điểm cảnh huống ngôn ngữ ở Hà Giang theo tiêu chí định chất 46
2.2.1 Đặc điểm các ngôn ngữ ở Hà Giang 46
2.2.2 Quan hệ cội nguồn của các ngôn ngữ ở Hà Giang 48
2.2.3 Tương quan về tỉ trọng (hay tinh chất cân bằng) về chức năng các ngôn
ngữ ở Hà Giang 52
2.2.4 Đặc điểm của ngôn ngữ nổi trội về chức năng ở Hà Giang 53
2.3.1 Tình hình sử dụng ngôn ngữ ở người Mông 53
2.3.1.1 Tình hình người Mông sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ 53
2.3.1.2 Tình hình người Mông sử dụng tiếng Việt 55

2.3.1.3 Tình hình người Mông sử dụng ngôn ngữ các dân tộc khác 56
2.3.2 Tình hình sử dụng ngôn ngữ ở người Tày 57
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

7
2.3.2.1 Tình hình người Tày sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ 57
2.3.2.2 Tình hình người Tày sử dụng tiếng Việt 59
2.3.2.3 Tình hình người Tày sử dụng ngôn ngữ các dân tộc khác 60
2.3.3 Tình hình sử dụng ngôn ngữ ở người La Chí 60
2.3.3.1 Tình hình người La Chí sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ 60
2.3.3.2 Tình hình người La Chí sử dụng tiếng Việt 61
2.3.3.3 Tình hình người La Chí sử dụng ngôn ngữ các dân tộc khác 61
Tiểu kết 61
Chƣơng 3: ĐẶC ĐIỂM CẢNH HUỐNG NGÔN NGỮ Ở HÀ GIANG
XÉT THEO TIÊU CHÍ ĐỊNH GIÁ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI
VỚI CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ Ở HÀ GIANG 64
3.1. Thái độ đối với tiếng mẹ đẻ của các dân tộc ở Hà Giang 64
3.1.1 Trong đời sống hằng ngày 64
3.1.2 Trong văn nghệ và truyền thông 66
3.1.3 Trong giáo dục 70
3.2 Thái độ đối với tiếng phổ thông của các dân tộc ở Hà Giang 72
3.2.1 Trong đời sống hằng ngày 72
3.2.2 Trong lĩnh vực văn hóa 74
3.2.3 Trong lĩnh vực giáo dục 75
3.3 Ý kiến của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Hà Giang về tình hình sử dụng
ngôn ngữ của họ 77
3.3.1 Đối với tiếng mẹ đẻ 77
3.3.2 Đối với tiếng phổ thông 78
3.3.3 Đối với sự nghiệp phát triển văn hóa giáo dục ở dân tộc mình 78
3.4 Kiến nghị 79

3.4.1 Đánh giá chung 79
3.4.1.1. Đối với ngôn ngữ các dân tộc thiểu số 80
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

8
3.4.1.2 Đối với tiếng phổ thông 80
3.4.2 Kiến nghị cụ thể 81
3.4.2.1 Về chương trình giáo dục và giáo dục ngôn ngữ 81
3.4.2.2 Về đào tạo đội ngũ giáo viên 82
3.4.2.3 Về xây dựng cơ sở vật chất 83
3.4.3 Một số biện pháp thực hiện 83
Tiểu kết 93
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 101
















Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

9
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1 Hà Giang là một tỉnh miền núi vùng cao biên giới cực bắc của Tổ quốc, có
trên 20 dân tộc anh em như: Mông, Dao, Tày, Nùng, Lô Lô, Giáy, Bố Y, Pu
Péo, Cờ Lao, Phù Lá, Pà Thẻn, Kinh… thuộc các ngữ hệ khác nhau: Nam Á,
Tày – Thái, Mông – Miền, Hán – Tạng. Có thể nói, Hà Giang là một trong số
các tỉnh có nhiều dân tộc nhất ở nước ta.
Các dân tộc ở Hà Giang phân bố xen cài bên nhau trên những địa hình
núi non hùng vĩ, hiểm trở, độ cao trung bình 1.500 m – 1.600m so với mực
nước biển. Nhìn chung đời sống của đồng bào các dân tộc ở đây còn khó
khăn, mức sống không đồng đều nhau giữa các dân tộc và giữa các vùng khác
nhau trong tỉnh. Hà Giang được xem là một tỉnh còn nhiều khó khăn nhất cả
nước hiện nay.
Các dân tộc cư trú ở Hà Giang hiện nay là kết quả của những cuộc di
cư từ những vùng đất khác nhau và vào những thời gian khác nhau trong lịch
sử. Song Hà Giang - “đất lành chim đậu”, các dân tộc anh em hội tụ nơi đây
sớm hình thành một cộng đồng đoàn kết thương yêu đùm bọc nhau, một lòng
xây dựng quê hương và bảo vệ biên cương thiêng liêng của Tổ quốc, đồng
thời có mong muốn bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống đậm đà
bản sắc dân tộc mình. Một trong những nét văn hóa cần bảo tồn và phát triển
là ngôn ngữ dân tộc Hà Giang.
2.2 Ngôn ngữ là một trong những yếu tố cơ bản cấu thành nên văn hóa và
mang bản sắc của văn hoá dân tộc, là một trong những phương tiện quan
trọng nhất tạo nên tính thống nhất của từng dân tộc. Do hiểu được tầm quan
trọng của ngôn ngữ, Chính phủ Việt Nam không ngừng có những chính sách
bảo tồn, phát triển ngôn ngữ của các dân tộc nói riêng và tạo nên sự thống
nhất trong ngôn ngữ toàn Việt Nam nói chung. Đây chính là việc tiến hành

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

10
các biện pháp tổ chức giải quyết các vấn đề về ngôn ngữ, với các biện pháp
nhằm làm biến đổi hoặc duy trì cảnh huống ngôn ngữ hay biến đổi hay duy trì
chuẩn mực ngôn ngữ. Như vậy cảnh huống ngôn ngữ có vai trò quyết định
đối với các chính sách ngôn ngữ. Chỉ có chính sách ngôn ngữ nào chú ý để có
sự phù hợp với đặc điểm các nhân tố thuộc cảnh huống ngôn ngữ thì mới khả
năng thực thi thành công và cho kết quả tốt đẹp. Xuất phát từ lí do này mà
việc nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ ở Việt Nam nói chung, ở Hà Giang nói
riêng có vai trò quan trọng, nhằm hướng tới việc giáo dục và sử dụng ngôn
ngữ (tiếng mẹ đẻ của các dân tộc thiểu số cũng như tiếng Việt) có hiệu quả
hơn, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội ở nơi đây.
2.3 Là một giáo viên sinh ra và lớn lên ở vùng dân tộc thiểu số và nhiều năm
qua gắn bó với vùng đất này, tôi luôn trăn trở về kết quả dạy và học đối với
học sinh dân tộc thiểu số ở nơi mình sinh sống và công tác nói riêng và các
học sinh cư trú ở Hà Giang nói chung. Tình trạng sử dụng song ngữ ở hầu hết
học sinh dân tộc thiểu số khi đến trường là phổ biến. Tuy nhiên việc các em
tiếp nhận tiếng Việt, việc học ngôn ngữ thứ hai (ngoài ngôn ngữ mẹ đẻ là
tiếng dân tộc mình) và sử dụng trong học tập ở trường, hiện nay đang gặp
không ít khó khăn. Đây chính là phương tiện và cũng là rào cản lớn đối với
các em để hòa nhập được với nhau và nắm bắt được kiến thức trong nhà
trường. Do vậy, việc tạo ra được một môi trường song ngữ lí tưởng đối với
học sinh các dân tộc sinh sống trên địa bàn Hà Giang là một yêu cầu cấp thiết,
nhằm vừa bảo tồn và phát triển tiếng mẹ đẻ của học sinh, vừa giúp học sinh
nắm bắt và sử dụng tốt được tiếng Việt, từ đó có điều kiện nâng cao chất
lượng giáo dục trong nhà trường.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề nói trên, chúng tôi mạnh
dạn chọn đề tài luận văn là Cảnh huống ngôn ngữ ở Hà Giang để nghiên
cứu, nhằm chỉ ra các đặc điểm và những nhân tố ảnh hưởng đến tình hình sử

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

11
dụng ngôn ngữ ở Hà Giang. Từ đó luận văn góp phần giúp chính quyền hoạch
định chính sách ngôn ngữ phù hợp hơn ở Hà Giang.
2. Lịch sử vấn đề
2.1 Vấn đề nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ
Cảnh huống ngôn ngữ của một quốc gia nói chung hay của một khu
vực nói riêng được hình thành trong suốt một thời gian dài chứ không chỉ
trong một vài năm. Cảnh huống ngôn ngữ có vai trò như căn cứ để từ đó đưa
ra các chính sách ngôn ngữ. Nhận thức được điều này, mấy chục năm gần đây
các nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ, nhằm xác
định được những cơ sở lí thuyết chung cũng như thực tế ở những vùng miền
khác nhau, phục vụ cho nghiên cứu trong ngôn ngữ học nói chung và ngôn
ngữ học xã hội nói riêng. Đề cập đến cảnh huống ngôn ngữ không thể không
nhắc tới các tác giả quốc tế: V.YU.Mikhailchenko, A.E.Karlinskij,
Iu.A.Zhluktenko, V.C.Rubalkin, V.A.Tkachenko… Ở Việt Nam có thể nhắc
đến các tác giả: Trần Trí Dõi với “Nghiên cứu các dân tộc thiểu số ở Việt
Nam”, “Thực trạng giáo dục ở vùng dân tộc miền núi một số tỉnh của Việt
Nam”, Khổng Diễn với “Danh số và dân tộc ở Việt Nam”, Tạ Văn Thông
(chủ biên) với “Tìm hiểu ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam”, …và một loạt
các bài viết của Tạ Văn Thông: “Chữ viết của các dân tộc thiểu số ở Việt
Nam”, Nguyễn Đức Tồn với “Cảnh huống và chính sách ngôn ngữ ở Liên
bang Nga”…. Nói chung các công trình đã xuất bản trong nước chỉ nghiên
cứu từng khía cạnh khác nhau của tình hình sử dụng một ngôn ngữ nào đó
hoặc một nhân tố nào đó tại một địa phương nhất định trên lãnh thổ Việt
Nam. Cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách sâu sắc
và toàn diện về cảnh huống ngôn ngữ ở Hà Giang để phục vụ cho việc xây
dựng chính sách dân tộc và ngôn ngữ tại dịa phương này.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

12
2.2 Vấn đề nghiên cứu về Hà Giang
Từ những năm 90 của thế kỉ XX trở lại đây có rất nhiều công trình
nghiên cứu về các dân tộc thiểu số ở Hà Giang: Trường Lưu, Hùng Đình Quý
(chủ biên) với “Văn hóa dân tộc Hmông Hà Giang”, Bộ Văn hóa – Thông tin,
Sở Thông tin – Thể thao Hà Giang xuất bản năm 1996; Hùng Đình Quý (chủ
biên) với “Văn hóa truyền thống ởHà Giang”, Sở Văn hóa – Thông tin Hà
Giang và Viện Dân tộc học, xuất bản năm 1999; Lê Duy Đại, Triệu Đức
Thanh (chủ biên) với “Văn hóa truyền thống các dân tộc ở Hà Giang”, Nhà
xuất bản Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Hà Giang, xuất bản năm (1994); Triệu
Đức Thanh (chủ biên) với “Các dân tộc ở Hà Giang”, Ủy ban Nhân dân tỉnh
Hà Giang, Nhà xuất bản Thế giới (2008)…. Tuy nhiên các công trình này chỉ
chú trọng mô tả các nét văn hóa truyền thống của các dân tộc ở tỉnh Hà
Giang. Việc nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc ở Hà Giang nói chung, một
thành tố trong văn hóa truyền thống và cảnh huống ngôn ngữ ở Hà Giang nói
riêng, chưa được coi như một đối tượng độc lập mà chỉ là những nghiên cứu
điểm xuyết. Nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ ở Hà Giang; nghiên cứu về
các ngôn ngữ ở Hà Giang: Mông, Pu Péo, Pà Thẻn, Dao, La Chí…; nghiên
cứu về ngôn ngữ giáo dục ở Hà Giang trong việc dạy và học tiếng – chữ
Mông chưa được quan tâm thích đáng.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ nói chung, chỉ ra
các đặc điểm và các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến việc sử dụng ngôn
ngữ ở Hà Giang (trong đó tập trung vào nghiên cứu theo kiểu trường hợp
ngôn ngữ của người Mông là dân tộc chiếm tỷ lệ đông nhất tại tỉnh; tiếng Tày
là ngôn ngữ của dân tộc có nguồn gốc bản địa và cũng là ngôn ngữ được sử
dụng trong giao tiếp ở tất cả 11 huyện, thị với tư cách như ngôn ngữ vùng;

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

13
ngôn ngữ của dân tộc La Chí đại diện cho nhóm các dân tộc đặc biệt ít người)
nhằm mục đích miêu tả cụ thể hơn các đặc điểm cảnh huống ngôn ngữ ở Hà Giang.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn đã tiến hành điều tra điền
dã tại 9 xã của các huyện có các dân tộc thuộc đối tượng nghiên cứu trong
luận văn ở tỉnh Hà Giang. Nơi cư trú ở các dân tộc nói trên là huyện Đồng
Văn, huyện Mèo Vạc, huyện Bắc Quang, huyện Yên Minh, huyện Quản Bạ,
huyện Bắc Mê, huyện Hoàng Su Phì. Chúng tôi đã khảo sát về thực tế sử
dụng các ngôn ngữ nơi đây, cũng như ý kiến của các nhà quản lí và giáo viên;
thái độ, nguyện vọng của học sinh và đồng bào các dân tộc về vấn đề dạy và
học tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ của mình nên như thế nào.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số khía cạnh trong cảnh huống
ngôn ngữ ở Hà Giang như sau:
- Thực trạng sử dụng ngôn ngữ trong đời sống hàng ngày của các cộng
đồng được nghiên cứu, bao gồm việc sử dụng tiếng mẹ đẻ, ngôn ngữ phổ
thông trong những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau (trong gia đình, làng bản, ở
trường học, ở chợ, trong lễ hội…).
- Đánh giá được khả năng sử dụng ngôn ngữ trong đời sống hàng ngày,
trong giáo dục ở hoàn cảnh thực tế của địa phương Hà Giang và trong các
hoạt động khác nhau của đời sống, ở các tầng lớp xã hội khác nhau.
- Từ những kết quả nghiên cứu kể trên, chúng tôi mạnh dạn thử đề xuất
một số giải pháp trong việc bảo tồn và phát triển tiếng mẹ đẻ của các dân tộc,
đồng thời giáo dục và sử dụng tiếng Việt có hiệu quả hơn trong hoạt động
giáo dục và đời sống xã hội của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Hà Giang.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn này được thực hiện với những phương pháp nghiên cứu chủ
yếu sau:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

14
4.1 Phƣơng pháp ngôn ngữ học điền dã
Phương pháp này được sử dụng để thu thập tư liệu về cảnh huống ngôn
ngữ ở các cộng đồng dân tộc tại địa phương, với các thao tác như: sử dụng các
bảng hỏi, ghi âm ,chụp ảnh, phỏng vấn, thu thập các số liệu tại chỗ, các văn bản
ghi của học sinh…để hoàn thiện hồ sơ tư liệu làm căn cứ cho nghiên cứu.
4.2 Phƣơng pháp thống kê
Phương pháp này được sử dụng để định lượng các yếu tố có liên quan
đến cảnh huống ngôn ngữ, từ đó có cơ sở xác minh luận điểm nghiên cứu
khoa học.
4.3 Phƣơng pháp miêu tả
Với các thao tác phân tích và tổng hợp, phương pháp này được sử dụng để
chỉ ra thực trạng sử dụng ngôn ngữ và các nhân tố ảnh hưởng tới tình trạng này,
đồng thời rút ra được các đặc điểm chung của cảnh huống ngôn ngữ ở Hà Giang.
5. Đóng góp mới
5.1 Về lí luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần soi sáng những vấn đề lí
luận chung về cảnh huống ngôn ngữ vốn mới được nghiên cứu chủ yếu ở
nước ngoài, từ đó thúc đẩy sự phát triển của chuyên ngành ngôn ngữ học xã
hội vốn còn non trẻ ở Việt Nam. Luận văn có thể mang lại những kinh
nghiệm nghiên cứu quý cho ai quan tâm trong lĩnh vực này.
5.2 Về thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể cung cấp những luận cứ có giá
trị để Đảng và Nhà nước ta nói chung, các nhà lãnh đạo ở Hà Giang nói riêng,
trong việc hoạch định chính sách dân tộc, chính sách về ngôn ngữ tại Hà
Giang trong mối quan hệ với các địa phương khác trong cả nước khi thực hiện
các Nghị quyết Đại hội lần thứ XI Đảng cộng sản Việt Nam. Đặc biệt giúp
cho công tác văn hóa – giáo dục ở Hà Giang phát triển đúng hướng và có kết

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

15
quả hơn. Đây cũng có thể là tài liệu giúp tìm hiểu sâu sắc hơn về tình hình
chính trị-kinh tế - xã hội ở Hà Giang.
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Thư mục tài liệu tham khảo,
luận văn có các chương mục sau:
Chương 1: Những cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Đặc điểm của cảnh huống ngôn ngữ ở Hà Giang xét theo
các tiêu chí định lượng và định chất
Chương 3: Đặc điểm của cảnh huống ngôn ngữ ở Hà Giang xét theo
tiêu chí định giá và những vấn đề đặt ra đối với chính sách ngôn ngữ xã hội ở
Hà Giang.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

16
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
1.1 Những cơ sở lí thuyết có liên quan đến cảnh huống ngôn ngữ
1.1.1 Khái niệm “cảnh huống ngôn ngữ ”
Có rất nhiều các công trình nghiên cứu về chính sách ngôn ngữ nói chung
và cảnh huống ngôn ngữ nói riêng. Trong hầu hết các công trình này các tác giả
đều đưa ra những quan niệm của mình về cảnh huống ngôn ngữ. Có thể điểm
một số công trình sau: V.YU. Mikhalchenco với Những vấn đề dân tộc - ngôn
ngữ ở Liên bang Nga: Cảnh huống ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ // cảnh
huống và chính sách ngôn ngữ ở các quốc gia đa dân tộc; Nguyễn Đức Tồn với
Cảnh huống và chính sách ở Liên bang Nga; Nguyễn Văn Lợi với Một số vấn đề
về chính sách ngôn ngữ ở các quốc gia đa dân tộc Nhìn chung các tác giả đều
đưa ra những khái niệm về cảnh huống ngôn ngữ. Mặc dù nhấn mạnh ở khía

cạnh này hay khía cạnh khác nhưng tựu chung lại các tác giả đều cho rằng: Cảnh
huống ngôn ngữ là sự phân bố những hình thức tồn tại khác nhau của ngôn ngữ
trên một lãnh thổ. Đặc biệt, Nguyễn Đức Tồn trong bài nghiên cứu của mình có
dẫn ra ý kiến của V.Yu.Mikhalchenco như sau: "Cảnh huống ngôn ngữ là sự
phân bố được hình thành trong suốt một thời gian dài trên một lãnh thổ nhất
định những hình thức tồn tại khác nhau (ngôn ngữ văn học, khẩu ngữ, các
phương ngữ) và những hình thức thể hiện khác nhau (nói và viết) của các ngôn
ngữ đang hành chức trên lãnh thổ này" [30,9].
Tác giả Nguyễn Văn Lợi trong "Một số vấn đề về chính sách ngôn ngữ
ở các quốc gia đa dân tộc" nêu quan điểm như sau: "Cảnh huống ngôn ngữ là
toàn bộ các hình thái tồn tại (bao gồm cả các phong cách) của một ngôn ngữ,
hay toàn bộ các ngôn ngữ trong mối quan hệ tương hỗ về lãnh thổ - xã hội và
sự tương tác về mặt chức năng, trong giới hạn của một khu vực địa lí, hay
một lãnh thổ hành chính - chính trị nhất định". Mặc dù cách tiếp cận theo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

17
hướng chức năng của Nguyễn Văn Lợi khác với cách cách tiếp cận theo
hướng hình thức của V.Yu.Mikhalchenco nhưng nội hàm của hai quan niệm
này đều là như nhau.
Trên đây là lược thuật một số quan điểm nghiên cứu chính về cảnh
huống ngôn ngữ. Có thể nói: Cảnh huống ngôn ngữ là một khái niệm quan
trọng trong ngôn ngữ xã hội học và có liên quan trực tiếp đối với chính sách
ngôn ngữ. Nói cách khác chính sách ngôn ngữ gắn bó chặt chẽ với cảnh
huống ngôn ngữ. Tuy nhiên để có cách nhìn nhận đúng về cảnh huống ngôn
ngữ thì cần phải xem xét nhiều khía cạnh khác,trong đó có các nhân tố hình
thành nên cảnh huống ngôn ngữ.
1.1.2.Các nhân tố hình thành cảnh huống ngôn ngữ
Cảnh huống ngôn ngữ của một quốc gia hay khu vực nào đó được hình
thành nên trong suốt mấy chục năm chứ không phải chỉ trong một vài năm

nhất định. Trong quá trình hình thành cảnh huống ngôn ngữ chịu sự tác động
của rất nhiều các nhân tố khác nhau. Theo V.Yu.Mikhalchenco, các nhân tố
hình thành nên cảnh huống ngôn ngữ là:
1. Các nhân tố dân tộc - nhân khẩu: thành phần dân tộc của cư dân trong một
khu vực, cách cư trú của những người thuộc các dân tộc khác nhau, sự phân
hóa xã hội, trình độ học vấn của họ.
2. Các nhân tố ngôn ngữ học: Trạng thái cấu trúc và chức năng của một ngôn
ngữ: trong ngôn ngữ này lại có các phong cách chức năng, hệ thống thuật
ngữ, truyền thống chữ viết
3. Các nhân tố vật chất: có các cuốn từ điển, sách hội thoại, tài liệu, giáo viên,
hệ thống lớp học ngôn ngữ
4. Các nhân tố con người: Những định hướng có giá trị của người bản ngữ, tri
năng ngôn ngữ, sự sàng lọc ngôn ngữ mới của họ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

18
Hay như T.B.Kjuchkova thì lại cho rằng: cảnh huống ngôn ngữ là một hiện
tượng phức tạp gồm nhiều tầng bậc, gồm các thông số chủ quan và khách quan.
1. Thông số chủ quan bao gồm:
- Sự đánh giá của những đối tượng sử dụng ngôn ngữ về các ngôn ngữ
và các
hình thức tồn tại các ngôn ngữ tham gia vào cảnh huống.
- Sự đánh giá tập trung khả năng thích dụng trong giao tiếp, uy tín văn
hóa và thẩm mĩ của ngôn ngữ
2. Thông số khách quan bao gồm:
- Số lượng các ngôn ngữ (phương ngữ, biệt ngữ hành chức trên địa
bàn lãnh thổ hành chính).
- Số người sử dụng các ngôn ngữ này, cách phân bố các đối tượng sử
dụng, số lượng phạm vi giao tiếp của từng ngôn ngữ, số lượng người có chức
năng ưu thế và đặc tính ngôn ngữ của chúng (biến thể của một ngôn ngữ hay

các ngôn ngữ khác nhau).
- Quan hệ cấu trúc loại hình giữa chúng (cùng ngữ hệ hay khác ngữ hệ,
tính bình đẳng hay không bình đẳng về chức năng giữa chúng, đặc điểm ngôn
ngữ có ưu thế (bản ngữ hay ngôn ngữ nhập).
Như vậy, có thể thấy cảnh huống ngôn ngữ được hình thành từ rất
nhiều nhân tố. Dựa vào các nhân tố trên, có thể phân loại và miêu tả cảnh
huống ngôn ngữ theo các tiêu chí: định lượng, định chất và định giá .
1. Các tiêu chí định lượng gồm:
- Số lượng các thứ tiếng (thổ ngữ/ phương ngữ/ ngôn ngữ).
- Số lượng người nói mỗi thứ tiếng trong quan hệ với số lượng chung
cư dân khu vực đó.
- Số lượng các phạm vi giao tiếp của mỗi ngôn ngữ trong quan hệ với
số lượng chung các phạm vi giao tiếp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

19
- Số lượng các ngôn ngữ nổi trội về chức năng.
2. Các tiêu chí định chất gồm:
- Đặc điểm của các thứ tiếng thuộc khu vực đó: chúng là các biến thể
của một ngôn ngữ, hay là các ngôn ngữ độc lập.
- Quan hệ về cấu trúc và cội nguồn các ngôn ngữ: các tiếng giống nhau
hay khác nhau về loại hình; có quan hệ cội nguồn với nhau hay không; mức
độ quan hệ cội nguồn.
- Tính chất cân bằng về chức năng của các ngôn ngữ, tính chất cân đối -
phi cân đối về chức năng của các thứ tiếng.
3. Tiêu chí định giá liên quan đến sự cân bằng của người bản ngữ hay người
nói ngôn ngữ khác về tính hữu ích, giá trị văn hóa của ngôn ngữ.
1.1.3. Sự phân loại cảnh huống ngôn ngữ
Trên cơ sở các nhân tố hình thành, cảnh huống ngôn ngữ được phân loại:
1. Dựa theo số lượng ngôn ngữ: Theo số lượng các ngôn ngữ được sử dụng

trên một khu vực có thể chia cảnh huống ngôn ngữ thành: cảnh huống ngôn
ngữ một thành tố và cảnh huống ngôn ngữ đa thành tố.
2. Dựa theo tiêu chí định chất:
- Theo tiêu chí định chất 1: Có thể phân chia thành: quốc gia có cảnh
huống ngôn ngữ đơn ngữ (chỉ có một ngôn ngữ với các biến thể của ngôn ngữ
này) và quốc gia có cảnh huống ngôn ngữ đa ngữ (từ hai ngôn ngữ trở lên).
- Theo tiêu chí định chất 2: Có thể xét theo 2 tiêu chí nhỏ:
a. Xét theo quan hệ cội nguồn: các quốc gia đa ngữ có thể chia thành: cảnh
huống ngôn ngữ đồng nguồn và cảnh huống ngôn ngữ phi đồng nguồn
b. Xét theo loại hình: các quốc gia đa ngữ có thể chia thành: cảnh huống ngôn
ngữ đồng hình và cảnh huống ngôn ngữ phi đồng hình.
- Theo tiêu chí định chất 3 - tiêu chí năng lực giao tiếp của các ngôn ngữ:
có thể chia cảnh huống ngôn ngữ ra thành: cảnh huống ngôn ngữ cân bằng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

20
(trong đó các ngôn ngữ có chức năng giao tiếp ngang bằng nhau) và cảnh huống
ngôn ngữ phi cân bằng (khi các ngôn ngữ có năng lực giao tiếp không ngang
bằng nhau).
- Theo tiêu chí thứ 4 có thể chia cảnh huống ngôn ngữ thành: cảnh
huống ngôn ngữ cội nguồn (ngôn ngữ nổi trội là ngôn ngữ bản địa) và cảnh
huống ngôn ngữ ngoại ngôn (ngôn ngữ nổi trội là tiếng nước ngoài).
1.1.4 Những khái niệm có liên quan đến cảnh huống ngôn ngữ
1.1.4.1 Song ngữ, đa ngữ
a. Song ngữ
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trong nhất của xã hội con người.
Mỗi một cộng đồng xã hội hay dân tộc khác nhau có những hình thức giao tiếp
khác nhau. Có những dân tộc trong xã hội chỉ dùng một ngôn ngữ duy nhất để
giao tiếp với nhau. Trường hợp ấy gọi là tình trạng đơn ngữ. Lại có những dân
tộc trong xã hội để giao tiếp với nhau người ta sử dụng nhiều hơn 2 ngôn ngữ

trong sinh hoạt hàng ngày. Trường hợp này người ta gọi là tình trạng song ngữ.
Nói như Nguyễn Văn Khang trong "Ngôn ngữ học xã hội" thì "Song ngữ, theo
cách hiểu chung nhất, là hiện tượng sử dụng 2 hay trên 2 ngôn ngữ của người
song ngữ trong xã hội đa ngữ" [7,39]. Đồng thời với việc làm rõ khái niệm này,
chúng tôi cũng nêu ra một số khái niệm liên quan đến song ngữ.
- Người song ngữ: là người biết 2 hoặc trên 2 ngôn ngữ hoàn toàn như
nhau, có khả năng sử dụng một cách thuần thục 2 ngôn ngữ đó. Tuy nhiên
trên thực tế thì việc sử dụng thuần thục 2 ngôn ngữ của một người song ngữ là
không hề đơn giản. Cho nên khả năng song ngữ của người song ngữ được
chia thành 2 loại lớn: song ngữ hoàn toàn và song ngữ bộ phận:
+ Song ngữ hoàn toàn là khả năng nắm một cách chủ động, tự do như
nhau 2 ngôn ngữ đến mức có thể tư duy trực tiếp bằng từng ngôn ngữ mà
không cần dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác - song ngữ lí tưởng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

21
+ Song ngữ bộ phận (song ngữ không hoàn toàn, song ngữ có điều
kiện) là trong một phạm vi cơ bản, người sử dụng có thể trình bày được ý
nghĩ của mình mà người khác hiểu được, thụ cảm được, đồng thời lại có thể
hiểu được điều người khác trình bày bằng ngôn ngữ đó. Đây là hiện tượng
song ngữ phổ biến.
- Song ngữ xã hội: Đây là khái niệm chưa được quan tâm xứng tầm bởi
khi nói đến song ngữ thì người ta thường nghĩ đến song ngữ cá nhân nhưng
trên thực tế thì điều quan trọng lại thuộc về song ngữ xã hội. Chỉ trong xã hội
thì cá nhân mới tiến hành giao tiếp song ngữ được. Tuy nhiên khi lí giải hiện
tượng song ngữ xã hội, cần phải xuất phát từ 3 phương diện là: tính khu vực,
tính dân tộc, tính chức năng.
- Tiếng mẹ đẻ: Theo Tổ chức giáo dục văn hoá và khoa học của Liên
hợp quốc thì tiếng mẹ đẻ "là ngôn ngữ mà con người học được trong những
năm đầu đời của mình và trở thành công cụ tư duy và truyền thống tự nhiên".

Như vậy, tiếng mẹ đẻ là thứ tiếng đầu tiên mà trẻ học nói không nhất thiết
phải là thứ tiếng mà cha mẹ đứa trẻ dùng.
- Giao thoa (ngôn ngữ) là hiện tượng lệch khỏi chuẩn của một ngôn
ngữ nào đó trong lời nói của những người biết từ hai ngôn ngữ trở lên.
b. Đa ngữ
Trong nghiên cứu ngôn ngữ, thuật ngữ song ngữ được sử dụng thường
xuyên và trở nên quen thuộc bởi ở giai đoạn đầu việc nghiên cứu ngôn ngữ chủ
yếu dựa vào 2 ngôn ngữ. Việc nghiên cứu chỉ dựa vào hai ngôn ngữ cũng bắt
nguồn từ thực tế số lượng người biết song ngữ phổ biến hơn so với đa ngữ.
Tuy nhiên trong tiến trình phát triển của lịch sử - xã hội với xu thế quốc
tế hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ thì số người biết nhiều ngôn ngữ (đa ngữ)
tăng lên đáng kể. Thuật ngữ đa ngữ cũng chính thức được sử dụng rộng rãi.
Đề cập đến vấn đề này, Nguyễn Văn Khang trong "Ngôn ngữ học xã hội"
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

22
đưa ra: "Đa ngữ không chỉ là một hiện tượng ngôn ngữ học thuần túy
mà nó có liên quan đến cả vấn đề chính trị - xã hội mang tính nhà nước ở các
quốc gia nói chung và đặc biệt ở các quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ nói
riêng" [7,62].
Như vậy có thể nói song ngữ, đa ngữ là hiện tượng phổ biến ở tất cả
các quốc gia trên thế giới. Mặc dù là hai khái niệm độc lập nhưng hai cách gọi
song ngữ và đa ngữ có thể dễ dàng luân chuyển cho nhau trong khi sử dụng.
Nói cách khác thì khi dùng song ngữ cũng đã bao hàm đa ngữ và ngược lại.
1.1.4.2. Các nhân tố làm nảy sinh các hiện tượng đa ngữ
Mục đích của đa ngữ là phục vụ các dạng giao tiếp khác nhau trong
cộng đồng xã hội. Có thể nói đa ngữ nảy sinh là do các nhân tố xã hội khác
nhau tạo thành. Tuy nhiên, người ta thường nhắc đên 3 nhân tố chủ yếu sau:
a. Những người cùng sống chung với nhau trên một vùng lãnh thổ, dùng các
ngôn ngữ khác nhau đã tự nhiên hình thành hiện tượng đa ngữ

Trong một cộng đồng có rất nhiều nguyện nhân làm cho các cư dân sử
dụng các ngôn ngữ khác nhau sống đan xen để tạo nên tình trạng đa ngữ. Tình
trạng di dân là một trong những nguyên nhân đáng chú ý nhất hình thành nên
tình trạng đa ngữ. Bởi lẽ những kiểu di dân từ nơi này sang nơi khác hay tập
trung vào một vùng đã tạo nên trạng thái đa ngữ khác nhau theo nhiều kiểu:
- Cư dân mới đến và cư dân bản địa học ngôn ngữ của nhau.
- Cư dân mới đến học ngôn ngữ của cư dân bản địa.
- Cư dân bản địa học ngôn ngữ của cư dân mới đến.
Việc hình thành nên đa ngữ diễn ra theo kiểu nào tùy thuộc vào hoàn
cảnh cụ thể còn lí do dẫn đến thì có rất nhiều. Tuy nhiên có thể kể đến một số
lí do chủ đạo là do các vấn đề về quân sự, kinh tế, thương mại.
+ Di dân vì quân sự: sự di dân cùng với các cuộc xâm lăng và theo đó
là sự bành trướng ngôn ngữ của kẻ xâm lược.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

23
+ Di dân vì xã hội, kinh tế: Vì mưu sinh, ở từng giai đoạn lịch sử và
căn cứ vào tình hình kinh tế, ổn định xã hội của từng khu vực (hay quốc gia)
mà có sự di đan của làn sóng người đổ dồn về một khu vực hay một vùng nào
đó. Trong làn sóng di cư ấy có rất nhiều người thuộc các dân tộc, màu da và
ngôn ngữ khác nhau.
+ Di dân do buôn bán, thương mại.
b. Đa ngữ do các nguyên nhân về chính trị, văn hóa, lịch sử. Trong đó có vai
trò của chính quyền trong việc sử dụng đa ngữ
Trong xã hội, sự liên minh về chính trị của các dân tộc khác nhau, sự
đảm bảo quyền bình đẳng và quyền tự quyết dân tộc trong đó có vấn đề ngôn
ngữ ở các các quốc gia đa dân tộc cũng tạo nên trạng thái đa ngữ. Ví dụ: Việt
Nam là một quốc gia đa dân tộc. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, về mặt ngôn
ngữ Nhà nước Việt Nam đề ra chính sách nhất quán và bình đẳng về dân tộc
trong đó có ngôn ngữ. Tiếng Việt được coi là ngôn ngữ giao tiếp chung cho

các dân tộc. Các ngôn ngữ dân tộc trong quốc gia Việt Nam vẫn được phát
triển với tư cách là ngôn ngữ giao tiếp của dân tộc đó. Với chính sách này đã
tạo nên một trạng thái đa ngữ tại Việt Nam.
c. Việc giáo dục song ngữ (đa ngữ) đã tạo nên các cá nhân đa ngữ
Ví dụ: Đối với các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói
riêng hiện nay coi tiếng Anh là một thứ tiếng dạy cho học sinh. Phong trào
học tiếng Anh ngày càng trở nên phổ biến. Cho nên có thể nói trạng thái đa
ngữ mà tiếng Anh là một trong các ngôn ngữ - là yếu tố của trạng thái này,
đang là hiện tượng phổ biến ở các quốc gia trên thế giới hiện nay.
Ngoài 3 nhân tố trên còn có rất nhiều các nhân tố khác làm nảy sinh
hiện tượng đa ngữ.
1.1.4.3. Song thể ngữ, đa thể ngữ
Theo Nguyễn Văn Khang trong "Ngôn ngữ học xã hội" thì "song thể
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

24
ngữ, thuật ngữ dùng để chỉ trong một cộng đồng xã hội sử dụng tương đối ổn
định và lâu dài 2 hoặc trên 2 biến thể ngôn ngữ có chức năng khác nhau và
điều quan trọng là, các chức năng đó được xã hội công nhận" [7,90].
Như vậy tác giả đã khẳng định "Hai dạng của ngôn ngữ cùng tồn tại trong
toàn bộ một cộng đồng nói năng và mỗi dạng có vai trò nhất định" chính là
song thể ngữ.
Ban đầu, thuật ngữ "song thể ngữ" được dùng để chỉ giới hạn trong một
phạm vi xã hội thừa nhận 2 ngôn ngữ cùng được sử dụng và giữa chúng có
sự phân bố về chức năng. Nhưng sau này, trên khảo sát thực tế thì không chỉ
có mà trên 2 ngôn ngữ cùng tồn tại, được sử dụng một cách lâu dài và giữa
chúng có sự thay thế cho nhau về chức năng. Vì lẽ đó khái niệm song thể ngữ
đã chuyển sang một giới hạn mới là đa thể ngữ (trên 2 ngôn ngữ). Tuy nhiên
do thói quen sử dụng nên khi nói "song" đã bao hàm "đa" ở trong đó.
Khi nghiên cứu về hiện tượng song ngữ, các nhà nghiên cứu mà đại

diện là Gumperz đã chỉ ra rằng hiện tượng song thể ngữ không chỉ có trong xã
hội đa ngữ mà cả trong xã hội sử dụng 2 hoặc trên 2 phương ngữ khác nhau.
Như vậy, "các biến thể ngôn ngữ được sử dụng trong môi trường song ngữ sẽ
bao gồm cả các ngôn ngữ và các phương ngữ cùng tồn tại lâu dài trong một
cộng đồng xã hội và có sự phân bố chức năng sử dụng chúng” [7,91].
Tóm lại, có thể nói khái niệm song thể ngữ, đa thể ngữ là hai khái niệm
bao hàm nhau. Các thuật ngữ này dùng để chỉ sự tồn tại ổn định và lâu dài của
hai hoặc trên hai biến thể ngôn ngữ trong một cộng đồng xã hội và chúng
được phân bố chức năng (trong xã hội).
Một số đặc điểm của song thể ngữ:
- Các biến thể ngôn ngữ phải có cấu trúc và tên gọi độc lập
- Các biến thể ngôn ngữ đều được sử dụng khá ổn định và giữa chúng
có sự phân công về mặt chức năng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

25
- Giữa các biển thể H (cao) và L (thấp) có vai trò khác nhau. Với tư
cách là tiếng mẹ đẻ, biến thể L được hình thành từ nhỏ, nhiều khi không cần
học ở trường. Còn biến thể H thì được coi là chuẩn về ngôn ngữ và phải được
giáo dục mới nắm được.
1.1.4.4. Năng lực giao tiếp
Năng lực giao tiếp là một khái niệm quan trọng của ngôn ngữ học xã
hội. Nguyễn Văn Khang cho rằng: "Năng lực giao tiếp có thể được hiểu là
năng lực vận dụng ngôn ngữ để tiến hành giao tiếp xã hội" [7,183]. Theo đó
thì năng lực giao tiếp là sự kết hợp linh hoạt của 3 tham tố là: cấu trúc ngôn
ngữ, vận dụng ngôn ngữ và đời sống xã hội.
Năng lực giao tiếp của con người có được là nhờ quá trình xã hội hóa.
Có thể nói quá trình đó diễn ra xuyên suốt cuộc đời của mỗi con người. bất kì
một cá nhân tồn tại trong xã hội thì nhất thiết phải học hỏi các tri thức, kĩ
năng, chuẩn mực mà xã hội có được nhờ tích lũy theo thời gian. Sự học hỏi và

nằm vững quy ước những điều mang tính xã hội sẽ là điều kiện để mỗi các
nhân thích ứng và khẳng định tư cách trong xã hội.
Tham gia vào các quan hệ xã hội con người sẽ hoàn thiện dần bản lĩnh
về hành vi ngôn ngữ. Trình độ giao tiếp của cá nhân con người phụ thuộc vào
các quan hệ như hoàn cảnh gia đình, sự từng trải của từng cá nhân và cả
những nhu cầu thực tế. Như vậy, năng lực giao tiếp của con người sẽ giúp cho
con người có được bản lĩnh cơ bản đó.
Năng lực giao tiếp bao gồm năng lực tạo mã (vận dụng) và giải mã (lí
giải) được thể hiện ở các mặt của hành vi nói năng.
Trong việc lựa chọn mà của người giao tiếp để phù hợp với bối cảnh
giao tiếp chịu tác động của 3 nhân tố là: chu cảnh, thoại đề và người tham
thoại. Trong 3 nhân tố này thì nhân tố thứ 3 là quan trọng nhất. Khi một người
tham gia vào giao tiếp mà mà ngôn ngữ được chọn giao tiếp tương ứng với

×