HỒ CHÍ MINH - TẤM GƯƠNG SÁNG NGỜI VỀ ĐẠO ĐỨC
I/ Lời mở đầu
Bác Hồ Chí Minh sinh ngày 19-5-1890, lúc bé tên là Nguyễn Sinh Cung đếnkhi bắt đầu
hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc.
Vào cuối thế kỷ XIX, nước ta bị chủ nghĩa thực dân Pháp thống trị. Không cam chịu nô
lệ, nhiều nhà yêu nước nổi tiếng như: Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, Hoàng Hoa Thám,
Lương Văn Can…đứng lên cứu nước, nhưng đều bị thất bại. Người thanh niên Nguyễn Tất
Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của họ nhưng không thể đi theo con đường cải lương
như cụ Phan Chu Trinh dựa vào Nhật để đánh đổ Pháp, chẳng khác nào “đưa hổ đi cửa trước,
rước beo đi cửa sau”.
Trong cơn bế tắc giữa lúc tình hình đen tối không có đường ra, ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất
Thành lúc đó mới có 21 tuổi đã có tinh thần yêu nước, yêu dân, kiên quyết rời bến Nhà Rồng ra
đi tìm đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam. Nguyễn Tất Thành đã len lỏi trong quần chúng
cần lao, trong giới thợ thuyền, những người nông dân nghèo khổ, các nông thôn hẻo lánh ở New-
York, Luân Đôn, Anh, Pháp, Trung Quốc, Thái Lan…để tìm hiểu, tham gia vận động và tổ chức
các phong trào cách mạng. Song, lúc đó Người chưa thể có điều kiện đầy đủ để bắt gặp Chủ
nghĩa Mác - Lênin.
Ở châu Âu, Chủ nghĩa Mác ra đời năm 1847-1911. Đã hơn 60 năm nhưng trên thế giới
chưa có cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nào giành được thắng lợi. Những nơi mà Nguyễn Ái
Quốc đặt chân đến để tìm hiểu và nghiên cứu cũng chưa có Đảng Cộng sản và trước năm 1919,
Quốc tế Cộng sản chưa ra đời. Người nghiên cứu những cuộc cách mạng tư sản đã giành thắng
lợi ở những nước tư bản phát triển nhất. Đó là cách mạng Mỹ năm 1776, cách mạng Pháp tháng
7-1789. Người rất khâm phục tinh thần cách mạng ở những nước này, nhưng không thể theo con
đường cách mạng của họ được. Bởi vì như Người đã nói “Kách mệnh Mỹ cũng như cách mệnh
Pháp nghĩa là Kách mệnh tư bản, Kách mệnh không đến nơi, tiếng là Cộng hoà, là dân chủ, kỳ
thực thì nó tước đoạt công nhân, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”.
Năm 1917, Người trở lại Pháp tham gia phong trào đấu tranh của công nhân Pháp, tham gia
sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Đến tháng 11 năm 1917, diễn ra một sự kiện rung chuyển toàn thế
giới, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử xã hội loài người. Đó là cách mạng Tháng Mười
Nga thắng lợi vĩ đại, mở đầu một thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
xã hội. Năm 1920, tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc đọc văn kiện Luận Cương của Lênin về vấn đề dân
tộc và thuộc địa . Người nói: “Bản Luận Cương làm cho tôi cảm động, phấn khởi sáng tỏ biết
bao! Tôi cảm động đến phát khóc lên! Ngồi một mình trong phòng mà tôi nói to lên như nói
trước quần chúng đồng bào: “Hỡi đồng bào bị đoạ đày, đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng
ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. “Tôi chỉ có sự ham muốn tột bậc là làm sao cho nước
ta hoàn toàn độc lập, dân ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, ai cũng có áo mặc, ai
cũng được học hành. Mỗi ngày đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ
không yên".
Đến giữa năm 1923, Người rời nước Pháp sang Liên Xô, trực tiếp tìm hiểu và hoạt động tại
quê hương Lênin. Tại đây, Người có điều kiện thuận lợi để tiếp thủ đầy đủ Chủ nghĩa Mác -
Lênin, tìm hiểu kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga, quan sát trực tiếp nước xã hội
chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới ra đời và tham gia hoạt động của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế thứ
ba). Nhờ đó, nhận biết của Người về lý luận và thực tiễn nói chung, kinh nghiệm của cách mạng
Tháng Mười Nga sâu sắc hơn đã giải đáp đúng đắn vấn đề mà Người rất quan tâm. Đó là con
đường giải phóng dân tộc bị áp bức, độc lập và tiến lên chủ nghĩa xã hội, góp phần định hướng
con đường cứu nước, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và tiến lên xây dựng chủ
nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trong tương lai của dân tộc Việt Nam, nhằm thực hiện mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh của dân tộc Việt Nam.
Từ đây, Nguyễn Ái Quốc đứng hẳn về con đường cách mạng Tháng Mười, đứng hẳn về
Chủ nghĩa Mác - Lênin, đứng hẳn về Quốc tế Cộng sản. Như Người đã ghi lại trong cuốn sách
Đường Kách mệnh: "Trong thế giới bây giờ chỉ có Kách mệnh Nga là thành công và công đến
nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật sự. Kách mệnh Nga đã
đến được với tư bản, địa chủ, rồi lại gia sức cho công nông các nước và các dân tộc bị áp bức,
các thuộc địa làm kách mệnh để lật đổ tất cả đế quốc và tư bản chủ nghĩa thế giới".
Lập trường của Người đứng hẳn về Chủ nghĩa Mác - Lênin được ghi rõ: "Bây giờ học
thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, Kách mệnh nhất là Chủ nghĩa
Mác - Lênin".
Với lập trường yêu nước đúng đắn của Người đã vạch ra chân lý sáng ngời cho dân tộc
Việt Nam: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không còn con đường nào khác con đường
Kách mệnh xã hội chủ nghĩa". Người còn chỉ rõ: "Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản
mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức".
Sau gần 15 năm tìm đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam, đến năm 1924, Người rời nước
Nga Xô viết trở về phương Đông, Quảng Châu gần tổ quốc Việt Nam để truyền bá Chủ nghĩa
Mác - Lênin vào Việt Nam và chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam. Người đã vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp Chủ nghĩa
Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của dân tộc Việt Nam, đã dẫn đến
sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3-2 năm 1930.
Đảng ta đứng đầu là Hồ Chí Minh lãnh tụ vĩ đại đã sớm giải quyết đúng đắn con đường cứu
nước giải phóng dân tộc, đưa cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nhà nước công nông
đầu tiên ở Đông Nam Á. Từ đây dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Hồ Chủ Tịch đã động
viên toàn dân, toàn quân tham gia chiến đấu giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đưa cả nước ta được hoàn toàn độc lập, thống nhất và tiến lên xây
dựng chủ nghĩa xã hội đến thắng lợi rực rỡ ngày nay.
Như vậy trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh,
tấm gương sáng ngời đã được thực hiện như thế nào?
Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được thể hiện ở sự kết tinh truyền thống yêu nước của
chủ nghĩa yêu nước, yêu dân, quyết tâm tìm bằng được con đường cứu nước, cứu dân, kiên quyết
phấn đấu đem lại cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta
ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Trong quá trình đó, Hồ Chí Minh luôn luôn
coi trọng cả đức và tài, trong đó lấy đức làm gốc. Đạo đức của Hồ Chí Minh thể hiện ở cần,
kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng phục vụ nhân dân ta, dân tộc ta.
Tấm gương đạo đức của Hồ Chí minh còn được thể hiện: Luôn luôn đứng vững trên lập
trường tư tưởng của Chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt
động của Đảng.
Tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh được tiếp tục phát triển và không ngừng nâng cao
cho đến khi Người qua đời, là tấm gương sáng của Tổ quốc ta, dân tộc ta./
II/
Sự vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ trên bình diện tư tưởng, trong lãnh đạo, chỉ
đạo sự nghiệp cách mạng, mà còn thể hiện bởi chính tấm gương đạo đức sáng ngời của
Người. Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức đã đạt tới sự thống nhất chặt chẽ giữa nói với làm,
giữa lý luận với thực tiễn, suy nghĩ với hành động, việc công với đời tư, giữa đạo đức cách
mạng với đạo đức đời thường. Vì thế, Người đã trở thành biểu tượng, là tấm gương sáng ngời
về đạo đức, không chỉ của dân tộc Việt Nam, mà còn của cả nhân loại tiến bộ trên thế giới.
1. Nói đến đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước hết là nói đến tấm gương trung với
Đảng, trung với nước, hiếu với dân, trọn đời phấn đấu, hy sinh cho sự nghiệp giải phóng
dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và toàn nhân loại; ý chí và nghị lực
tinh thần to lớn vượt qua mọi thử thách, khó khăn để đạt mục tiêu cách mạng. Ngay từ
thuở thiếu thời, Người đã chọn cho mình con đường suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Trên con đường cách mạng,
Người đã chấp nhận mọi sự hy sinh, không quản gian nguy, luôn kiên định mục tiêu độc
lập dân tộc gắn liền với CNXH, sáng suốt vạch ra con đường cách mạng đúng đắn để giải
phóng và phát triển dân tộc Việt Nam. Người đã cùng với Đảng ta đề ra đường lối chiến
lược, sách lược đúng đắn để lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân ta tiến hành cuộc Cách mạng
Tháng Tám, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và sau đó, tiến hành thắng lợi hai
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, hoàn thành sự nghiệp
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước quá độ đi lên
CNXH. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận rõ “Không có gì quý hơn độc lập tự do!” và coi đó là
lý tưởng, lẽ sống, là học thuyết chính trị - đạo đức của mình, của dân tộc Việt Nam. Từ
đó, Người dấn thân vào thực tiễn đấu tranh cách mạng để mưu cầu tự do, hạnh phúc cho
dân tộc Việt Nam và toàn thể nhân loại. Hoài bão, ham muốn, ham muốn tột bậc của
Người là làm sao cho nước nhà độc lập, dân ta được tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc,
nhà ở, được học hành tiến bộ, được chăm sóc sức khoẻ, được tự do đi lại, được hưởng
quyền dân chủ, có đời sống ấm no hạnh phúc. Chính ham muốn mãnh liệt ấy đã tạo cho
Người một ý chí, nghị lực phi thường “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không
thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục” và cho đến khi phải từ biệt thế giới này,
Người vẫn chỉ có một điều luyến tiếc là không được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều
hơn nữa. Trung với nước, hiếu với dân trong đạo đức Hồ Chí Minh là tinh thần nhẫn nại,
kiên trì, thắng không kiêu, khó khăn không nản, chẳng quản gian nguy vì mục tiêu độc
lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân. Khi lâm vào tình cảnh bị hiểu lầm, nghi kỵ
“như sống ở bên lề, bên ngoài Đảng”, Người vẫn kiên trì giữ vững quan điểm độc lập, tự
chủ, luôn tự khuyên mình: muốn nên sự nghiệp lớn, tinh thần càng phải cao.
2. Đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở sự tuyệt đối tin tưởng vào sức mạnh
của nhân dân, kính trọng nhân dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Trong toàn bộ
hoạt động của mình, ở bất cứ hoàn cảnh, cương vị nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hết
lòng thương yêu, quý trọng, tin tưởng vào trí tuệ và sức mạnh của nhân dân. Người khẳng
định rằng: “Nước ta là nước dân chủ”, vì vậy: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu
quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp
kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung
ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại,
quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”
1
. Trên thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hoá
thân vào nhân dân, nên thấu hiểu cuộc sống, tâm nguyện của nhân dân và suốt đời phấn
đấu, hy sinh vì tự do, ấm no, hạnh phúc của dân. Chính vì thế, mọi việc làm, chủ trương,
chính sách mà Người đề ra, cũng như chỉ đạo các cấp tổ chức triển khai thực hiện, đều
xuất phát từ nhu cầu và lợi ích chính đáng của nhân dân, luôn luôn dựa vào tài trí, sức
mạnh của dân. Từ nhận thức sâu sắc rằng, nếu nước nhà được độc lập mà dân không
được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì, nên Người luôn chú
trọng giáo dục cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân, có trách nhiệm
với dân, phấn đấu chăm lo, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Người
luôn dạy đội ngũ cán bộ phải là “người đầy tớ trung thành” của nhân dân; luôn gần dân,
hiểu tâm lý, yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân; thường xuyên lắng nghe ý kiến của dân,
không được lên mặt “quan cách mạng”, cậy quyền, cậy thế, đè đầu, cưỡi cổ dân. Mặc dù
ở cương vị rất cao, uy tín và sức hấp dẫn rất lớn, được toàn dân suy tôn là “Cha già dân
tộc”, nhưng chưa khi nào Người tự cho mình đứng cao hơn nhân dân, mà luôn đồng cam,
cộng khổ với nhân dân. Người cho rằng, Chủ tịch nước là công việc của “người lính vâng
mệnh lệnh quốc dân ra trận”. Bởi vậy, mặc dù bận trăm công, ngàn việc, nhưng mỗi khi
nhận được thư, quà chúc mừng của nhân dân, Người đều tự tay viết thư trả lời, cám ơn
một cách thân tình, chu đáo. Việc làm đó là tấm gương ứng xử văn hoá, là bài học về sự
khiêm nhường và kính trọng đối với nhân dân để các thế hệ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh
đạo các cấp học tập và noi theo. Cả cuộc đời Người đã nêu tấm gương thật độc đáo về
đạo đức làm người, đạo đức cách mạng.
3. Đạo đức Hồ Chí Minh còn thể hiện sâu sắc ở tình thương bao la của Người với đồng loại.
Tình cảm đó Người dành cho tất cả mọi người, không quên, không bỏ sót một ai. Người
luôn hiểu rõ nỗi khổ của mỗi người, mỗi nhà và của toàn dân tộc. Người cảm nhận sâu
sắc: “Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nỗi đau khổ
riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi”
2
. Tình yêu thương
bao la đó được mở rộng đối với nhân dân lao động toàn thế giới. Với những người lầm
lạc và cả những người chống đối hay kẻ thù, Người vẫn luôn thể hiện lòng khoan dung,
độ lượng. Trong Di chúc, Người căn dặn khi thực hiện công tác hàn gắn vết thương sau
chiến tranh: “đầu tiên là công việc đối với con người”. Trước hết là đối với cán bộ, binh
sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong; cha, mẹ, vợ, con thương binh, liệt sĩ, với
phụ nữ, nông dân ; cuối cùng là những nạn nhân của chế độ cũ. Điều này minh chứng
cho tấm lòng yêu thương đối với tất cả mọi người ở Hồ Chí Minh. Vì thế, Chủ tịch Hồ
Chí Minh là tấm gương sáng ngời của một con người nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân
hậu, hết mực vì con người để mỗi chúng ta học tập và noi theo.
4. Đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện rõ nét nhất là đức “cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư”; đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi
thường. Trong cuộc sống hằng ngày, Người luôn coi khinh mọi sự xa hoa, không ưa
chuộng nghi thức trang trọng. Người dặn dò chúng ta, khi Người qua đời, chớ nên điếu
phúng linh đình, lãng phí thì giờ, tiền bạc của nhân dân. Ở Người luôn toát lên một cốt
cách giản dị, cao thượng, vĩ đại và sự khiêm tốn phi thường; không sùng bái cá nhân, mà
luôn luôn nêu cao sự nghiệp anh hùng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Người
cho rằng: quần chúng mới là người làm nên lịch sử và lịch sử là lịch sử của chính họ chứ
không phải của một cá nhân anh hùng nào.
5. Liêm chính vì dân: Ngay trong tập sách Đường kách mệnh xuất bản lần đầu tiên năm
1927, ở những trang đầu tiên, tác giả Nguyễn Ái Quốc đã nêu ra rất rõ ràng và mạch lạc
những tiêu chí về tư cách một người cách mạng. Đó là:
“Tự mình phải:
Cần kiệm.
Hòa mà không tư.
Cả quyết sửa lỗi mình.
Cẩn thận mà không nhút nhát.
Hay hỏi.
Nhẫn nại (chịu khó).
Hay nghiên cứu, xem xét.
Vị công vong tư.
Không hiếu danh, không kiêu ngạo.
Nói thì phải làm.
Giữ chủ nghĩa cho vững.
Hy sinh.
Ít lòng ham muốn về vật chất.
Bí mật.
Đối người phải:
Với từng người thì khoan thứ.
Với đoàn thể thì nghiêm.
Có lòng bày vẽ cho người.
Trực mà không táo bạo.
Hay xem xét người.
Làm việc phải:
Xem xét hoàn cảnh kỹ càng.
Quyết đoán.
Dũng cảm.
Phục tùng đoàn thể”.
Còn trong Di chúc, viết năm 1969, Bác cũng không quên nhắc nhở: “Đảng ta là một đảng cầm
quyền. Mỗi đảng viên cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm
chính chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là
người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.
Trong suốt cuộc đời hoạt động vì dân, vì nước sôi nổi và không mệt mỏi của mình, Bác Hồ đã
luôn nhấn mạnh tới việc, chỉ dựa trên nền tảng đạo đức thực sự, những người cộng sản Việt Nam
mới có thể có cơ hội giữ vững được vai trò là đội quân tiên phong của dân tộc, đưa đất nước
ngày một phát triển, tiến tới mục đích dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài ”. (Sách Sửa đổi lối làm việc, viết
xong tháng 10/1947). Bác nhìn nhận, khởi thủy của mọi thành bại trong sự nghiệp cách mạng
chính là đạo đức.
Cũng trong sách Sửa đổi lối làm việc, Bác đã viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước,
không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải
có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải
phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo
đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”. Chính vì thế nên
“Đảng phải chọn lựa những người rất trung thành và rất hăng hái, đoàn kết họ thành nhóm trung
kiên lãnh đạo. Đảng phải luôn luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hóa ra ngoài. Đảng phải giữ nghiêm
kỷ luật từ trên xuống dưới ”. Và mỗi đảng viên, để giữ vững đạo đức cách mạng, cần phải rèn
giũa trong mình ít nhất là 5 đức tính tốt: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm.
Theo Bác, đạo đức cách mạng chính là 5 phẩm chất trên và “đạo đức đó không phải là đạo đức
thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng cá nhân, mà vì lợi ích
chung của Đảng, của dân tộc, của loài người ”.
Các tiêu chí đạo đức cách mạng mà Bác Hồ nêu ra luôn lấy chữ Nhân nghĩa làm đầu: “Nhân là
thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những
người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi
người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không e cực khổ, không
sợ oai quyền Những người đã không ham, không e, không sợ gì thì việc gì là việc phải họ đều
làm được”. Câu nói này của Bác có thể khiến chúng ta liên tưởng đến một câu nói xưa
trong Diêm thiết luận của Trung Hoa: “Người quân tử, trọng được, khinh được, làm tội được,
giết chết được, nhưng không thể bắt làm xằng được”. Người cán bộ cách mạng có đạo đức phải
là người không bao giờ làm việc gì xằng bậy, có hại đến Đảng, đến nhân dân. Làm cách mạng,
suy cho cùng, cũng là làm để dân yên. Ở đây ta cũng có thể liên tưởng tới câu văn thấm thía của
Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”).
Năm 1948, khi viết bài đề cập tới 6 điều không nên làm và 6 điều nên làm dành cho cán bộ,
đảng viên ta trong các lĩnh vực hoạt động, Bác đã mở đầu bằng câu: “Nước lấy dân làm gốc” và
diễn giải chi tiết những việc không nên làm khiến mất lòng dân, thí dụ như “không nên làm điều
gì có thể thiệt hại đến nương vườn, hoa mầu, hoặc làm bẩn, làm hư nhà cửa, đồ đạc của dân”,
“không nên năn nỉ quá hoặc mượn cho bằng được những đồ vật người ta không muốn bán hoặc
cho mượn”, “không bao giờ sai lời hứa”, “không xúc phạm tới tín ngưỡng”
Thậm chí, Bác còn căn dặn: “Không nên đưa gà còn sống vào nhà đồng bào miền ngược”. Luôn
luôn có tầm nhìn xa trông rộng, hướng tới đại cục, nhưng khi cần thiết, Bác Hồ cũng biết nói
một cách rất tỉ mỉ tới những việc cứ tưởng như nhỏ nhưng lại có thể làm phương hại tới hình ảnh
đạo đức của người cán bộ cách mạng.
Với Quân đội nhân dân Việt Nam, Bác luôn nhắc nhớ, cần phải “Trung với Đảng, Hiếu với dân,
Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, Khó khăn nào cũng vượt qua, Kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Bác
cũng căn dặn các vị tướng lĩnh quân đội phải giữ chữ Nhân, tức là phải “thương yêu cấp dưới,
phải đồng cam cộng khổ với họ. Đối với địch hàng, ta phải khoan dung”.
Với lực lượng Công an nhân dân, 6 lời dạy của Bác là:
“Đối với tự mình, phải cần kiệm liêm chính.
Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ.
Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.
Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.
Đối với công việc, phải tận tụy.
Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo”.
Với thanh niên, Bác căn dặn:
“Không có việc gì khó,
Chỉ sợ lòng không bền.
Đào núi và lấp biển,
Quyết chí ắt làm nên”.
Với thiếu nhi, Bác nêu ra 6 lời dạy, trong đó có những câu mà người viết bài này đã nhập tâm từ
khi 6-7 tuổi tới bây giờ: “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; Học tập tốt, Lao động tốt; Giữ gìn vệ sinh
thật tốt; Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm ”. Vừa ngắn gọn, thiết thực và dễ nhớ!.
Để giữ vững đạo đức cách mạng, theo Bác Hồ, chúng ta luôn cần phải chống lại chủ nghĩa cá
nhân. Ngay từ năm 1948, trên chiến khu Việt Bắc, Bác đã rung chuông báo động:
“Nhờ ngọn lửa kháng chiến hun đúc rèn luyện mà cán bộ quân sự, chính trị, hành chính, chuyên
môn đều tiến bộ nhiều và nhanh. Song vẫn còn một vài người, một vài cơ quan hãy chưa tẩy hết
cái bệnh chủ nghĩa cá nhân. Bệnh ấy tỏ rõ ra nơi:
Ngày thường thì kỷ luật kém.
Khi có vấn đề nghiêm trọng thì hoang mang.
Lúc tính toán công việc thì đặt lợi ích cá nhân mình, của nhóm mình lên trên lợi ích chung.
Bệnh ấy dễ đưa đến chỗ trái kỷ luật, lợi ích của dân tộc”.
Bác cũng đã sớm nhìn ra mối liên hệ giữa chủ nghĩa cá nhân với bệnh quan liêu:
“Do chủ nghĩa cá nhân mà sinh ra bệnh quan liêu. Kềnh càng. Kiêu ngạo. Chậm chạp. Làm cho
qua chuyện. Ham chuộng hình thức ”.
Trước khi từ trần không lâu, trong một bài viết đề ngày 3/2/1969 với tiêu đề Nâng cao đạo đức
cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, Bác Hồ lại nhắc nhở:
“Còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém.
Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ
không lo “mình vì mọi người”, mà chỉ muốn “mọi người vì mình”.
Do chủ nghĩa cá nhân mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ
tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần
chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh
lệnh ”.
Để chống lại chủ nghĩa cá nhân, để giúp đỡ các đảng viên cán bộ giữ vững đạo đức cách mạng,
theo Bác Hồ, không được một giây phút nào xao nhãng những việc quan trọng và thường xuyên
như thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng; hoan nghênh và khuyến khích
quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên Đồng thời, chế độ sinh hoạt của chi bộ phải
nghiêm túc; kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh; công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ
Những bài học của Bác Hồ về đạo đức cách mạng cho tới hôm nay vẫn còn nguyên ý nghĩa
III/ Liên hệ bản thân:
Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ kính yêu của dân tộc ta, đã hiến dâng tất cả tình cảm, trí tuệ và
cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Người đã để lại tài sản vô
giá là tư tưởng và tấm gương đạo đức trong sáng, mẫu mực, cao đẹp, kết tinh những giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của nhân loại và thời đại. Học tập và làm theo tấm gương
đạo đức của Bác là niềm vinh dự và tự hào đối với mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân
Việt Nam.
Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh là nhiệm vụ rất quan trọng và thường xuyên, qua đó để giáo dục, rèn luyện mình, xứng
đáng là đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam, là “người lãnh đạo, người đày tớ thật trung
thành của nhân dân”.
Tư tưởng và phẩm chất đạo đức của Hồ Chí Minh là tinh thần yêu nước nồng nàn, hết
lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, toàn tâm, toàn ý cho sự nghiệp giải phóng
dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ quyết tâm của Người “dù phải
đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết giành cho được tự do, độc lập”, để rồi phấn đấu
cho“đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”, để đất nước ta “sánh
vai với cường quốc năm châu”.
Do vậy, trong giai đoạn hiện nay, việc Học tập và làm theo tư tưởng tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh chúng ta cần:
- Mỗi người cần nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn những hy sinh to lớn của ông cha,
để chúng ta có non sông, Tổ quốc Việt Nam độc lập, tự do, thống nhất trọn vẹn như hôm nay.
Nâng cao tinh thần yêu nước, tự hào về truyền thống anh hùng của dân tộc là lương tâm và
trách nhiệm của mỗi người Việt Nam. Trung với nước ngày nay là trung thành vô hạn với sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, nền văn
hóa, bảo vệ Đảng, chế độ, nhân dân và sự nghiệp đổi mới, bảo vệ lợi ích của đất nước. Trung
với nước, hiếu với dân ngày nay là luôn luôn tôn trọng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân
dưới cả ba hình thức: làm chủ đại diện, làm chủ trực tiếp và tự quản cộng đồng; hết lòng, hết
sức phục vụ nhân dân, giải quyết kịp thời những yêu cầu, kiến nghị hợp tình, hợp lý của dân;
khắc phục cho được thói vô cảm, lãnh đạm, thờ ơ trước những khó khăn, bức xúc của nhân
dân.
- Trung với nước, hiếu với dân ngày nay thể hiện ở ý chí vươn lên quyết tâm vượt qua
nghèo nàn, lạc hậu, góp phần dựng xây đất nước phồn vinh, sớm đưa nước ta ra khỏi tình
trạng kém phát triển, theo kịp trình độ các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới; thực
hiện bằng được mong ước của Bác Hồ kính yêu: “xây dựng đất nước ta ngày càng đàng
hoàng hơn, to đẹp hơn”.
- Trung với nước, hiếu với dân là phải luôn luôn có ý thức giữ gìn đoàn kết toàn dân
tộc, đoàn kết trong Đảng, trong cơ quan, đơn vị; kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng
trước mọi mưu đồ của các thế lực thù địch, cơ hội hòng chia rẽ dân tộc, chia rẽ khối đại đoàn
kết toàn dân tộc, chia rẽ Đảng với nhân dân. Đoàn kết là yêu nước, chia rẽ là làm hại cho đất
nước. Mọi biểu hiện cục bộ, bản vị là trái với tinh thần yêu nước chân chính.
- Trung với nước, hiếu với dân là phải có tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc,
có lương tâm nghề nghiệp trong sáng; quyết tâm phấn đấu để thành đạt và cống hiến nhiều
nhất cho đất nước, cho dân tộc; quyết tâm xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh. Phải có
tinh thần ham học hỏi, phát huy truyền thống hiếu học và quý trọng nhân tài của ông cha ta;
biết vận dụng sáng tạo các tri thức khoa học, công nghệ hiện đại, các sáng kiến trong sản xuất,
công tác, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Mọi sự bảo thủ, trì trệ, lười học tập, ngại
lao động, đòi hỏi hưởng thụ vượt quá khả năng và kết quả cống hiến là trái truyền thống đạo
lý dân tộc và trái với tư tưởng yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Trung với nước, hiếu với dân yêu cầu mỗi chúng ta phải giải quyết đúng đắn mối
quan hệ cá nhân - gia đình - tập thể - xã hội; quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi. Theo gương
Chủ tịch Hồ Chí Minh, yêu nước là sẵn sàng phấn đấu hy sinh cho lợi ích chung, việc gì có lợi
cho dân, cho nước, cho tập thể thì quyết chí làm, việc gì có hại thì quyết không làm. Làm việc
gì trước hết phải vì tập thể, vì đất nước, vì nhân dân, phải nêu cao trách nhiệm của người lãnh
đạo, không tham lam, vụ lợi, vun vén cá nhân
“Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là chuẩn mực đạo đức truyền thống trong
quan hệ “đối với mình”, được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa, vận dụng và phát triển phù hợp
với yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, trở thành chuẩn mực cơ bản của đạo đức cách mạng.
Người là một tấm gương mẫu mực về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Học tập và
làm theo tấm gương của Người, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong giai
đoạn hiện nay là:
- Tích cực lao động, học tập, công tác với tinh thần lao động sáng tạo, có năng suất,
chất lượng, hiệu quả cao; biết quý trọng công sức lao động và tài sản của tập thể, của nhân
dân; không xa hoa, lãng phí, không phô trương, hình thức; biết sử dụng lao động, vật tư, tiền
vốn của Nhà nước, của tập thể, của chính mình một cách có hiệu quả.
- Thực hiện chí công, vô tư là kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng.
Đối với cán bộ lãnh đạo, đảng viên phải loại bỏ thói chạy theo danh vọng, địa vị, giành giật
lợi ích cho mình, lạm dụng quyền hạn, chức vụ để chiếm đoạt của công, thu vén cho gia đình,
cá nhân , cục bộ, địa phương chủ nghĩa. Phải thẳng thắn, trung thực, bảo vệ chân lý, bảo vệ
đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ người tốt; chân thành, khiêm tốn; không chạy theo
chủ nghĩa thành tích, không bao che, giấu giếm khuyết điểm
- Thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư phải kiên quyết chống bệnh lười
biếng, lối sống hưởng thụ, vị kỷ, nói không đi đôi với làm, nói nhiều, làm ít, miệng nói lời cao
đạo nhưng tư tưởng, tình cảm và việc làm thì mang nặng đầu óc cá nhân, tư lợi, việc gì có lợi
cho mình thì hăng hái, tranh thủ kiếm lợi, việc gì không kiếm chác được cho riêng mình thì
thờ ơ, lãnh đạm. Không làm dối, làm ẩu, bòn rút của công, ăn bớt vật tư, tiền của của Nhà
nước và của nhân dân. Phải có thái độ rõ rệt lên án và kiên quyết đấu tranh chống tham
nhũng, tiêu cực, loại trừ mọi biểu hiện vô liêm, bất chính ra khỏi đời sống xã hội.
- Học tập và làm theo Người, mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong tổ chức, trong
tập thể, phải tôn trọng nguyên tắc, pháp luật, kỷ cương. Mọi biểu hiện dân chủ hình thức, lợi
dụng dân chủ để “kéo bè, kéo cánh”, để làm rối loạn kỷ cương, để cầu danh, trục lợi hoặc
chuyên quyền, độc đoán, đứng trên tập thể, đứng trên quần chúng , làm cho nhân dân bất
bình, cần phải lên án và loại bỏ.
- Học tập đạo đức Hồ Chí Minh tất cả vì nhân dân, mỗi cán bộ, đảng viên, dù ở bất cứ
cương vị nào phải gần dân, học dân, có trách nhiệm với dân. Phải trăn trở và thấy trách nhiệm
của mình khi dân còn nghèo đói. Không chỉ sẻ chia và đồng cam, cộng khổ với nhân dân, mà
còn phải biết tập hợp nhân dân, phát huy sức mạnh của dân, tổ chức, động viên, lãnh đạo nhân
dân phấn đấu thoát khỏi đói nghèo. Nhân dân là người thầy nghiêm khắc và nhân ái, luôn luôn
đòi hỏi cao ở cán bộ, đảng viên, đồng thời cũng sẵn lòng giúp đỡ cán bộ, đảng viên hoàn
thành nhiệm vụ, phát huy ưu điểm, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm.
- Học tập đạo đức Hồ Chí Minh phải rất coi trọng tự phê bình và phê bình. Người dạy
cán bộ, đảng viên và mọi người chúng ta: không sợ khuyết điểm, không sợ phê bình, mà chỉ
sợ không nhận ra khuyết điểm, sai lầm và không có quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, sẽ dẫn
đến khuyết điểm ngày càng to và hư hỏng. Tự phê bình phải được coi trọng, được đặt lên
hàng đầu, theo tư tưởng Hồ Chí Minh “phải nghiêm khắc với chính mình”. Phê bình phải có
mục đích là xây dựng tổ chức, xây dựng con người, xây dựng đời sống tình cảm và quan hệ
đồng chí, quan hệ xã hội lành mạnh, trong sáng, có lý, có tình. Phải khắc phục bệnh chuộng
hình thức, thích nghe lời khen, (thậm chí xu nịnh), tâng bốc nhau, không dám nói thẳng, nói
thật để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Đồng thời, cần phê phán những biểu hiện xuất phát từ
những động cơ cá nhân, vụ lợi mà “đấu đá”, nhân danh phê bình để đả kích, lôi kéo, chia rẽ,
làm rối nội bộ.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tình đoàn kết quốc tế bắt nguồn từ tình yêu thương đối với
con người, với nhân loại và đoàn kết toàn nhân loại vì mục tiêu giải phóng các dân tộc bị áp
bức, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Người là hiện thân của chủ nghĩa yêu nước
chân chính kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Nhờ đó mà nhân dân thế giới kính yêu
Người, trao tặng Người danh hiệu nhà văn hóa kiệt xuất trên thế giới, anh hùng giải phóng
dân tộc, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế. Từ chủ nghĩa quốc tế cao cả, Người
đã xây dựng nên tình đoàn kết quốc tế rộng lớn của dân tộc ta với các dân tộc trên thế giới,
góp phần quan trọng vào những thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta và phong trào cách mạng thế
giới.
- Ngày nay, trong điều kiện toàn cầu hóa, việc mở rộng tình đoàn kết quốc tế, hợp tác
cùng có lợi, chủ động, tích cực hội nhập là một nguồn lực quan trọng để xây dựng và phát
triển đất nước. Đoàn kết quốc tế trong sáng là thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa
phương hóa, đa dạng hóa với tinh thần Việt Nam sẵn sàng là bạn, đối tác tin cậy với các quốc
gia trên thế giới, phấn đấu vì độc lập, hòa bình, hợp tác và phát triển.
- Đoàn kết quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh là phát huy tinh thần độc lập tự chủ, tôn
trọng độc lập, chủ quyền của các nước khác, mở rộng hợp tác cùng có lợi, phấn đấu vì hòa
bình, phát triển, chống chiến tranh, đói nghèo, bất công, cường quyền, áp đặt trong quan hệ
quốc tế. Khép lại những vấn đề của quá khứ, lịch sử, xoá bỏ mặc cảm, hận thù, nhìn về tương
lai, xây dựng tình hữu nghị giữa các dân tộc.
- Học tập và làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần nâng cao Chủ
tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ kính yêu của dân tộc ta, đã hiến dâng tất cả tình cảm, trí tuệ và cuộc
đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Người đã để lại tài sản vô giá là tư
tưởng và tấm gương đạo đức trong sáng, mẫu mực, cao đẹp, kết tinh những giá trị truyền
thống của dân tộc, của nhân loại và thời đại. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác
là niềm vinh dự và tự hào đối với mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người Việt Nam.
Sự nghiệp đổi mới đất nước đã và đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với sự
hình thành và phát triển những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam, đồng thời
tạo ra những thuận lợi và những thử thách mới đối với mỗi chúng ta trong lĩnh vực đạo đức.
Hơn lúc nào hết, hiện nay toàn Đảng, toàn dân ta phải quan tâm đầy đủ đến vấn đề đạo đức,
tiếp tục xây dựng, hoàn thiện những chuẩn mực đạo đức đúng đắn, tiến bộ; đẩy mạnh giáo
dục, rèn luyện và tăng cường quản lý đạo đức trong Đảng và trong nhân dân.
Kế thừa truyền thống đạo đức tốt đẹp của ông cha, học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh là một trong những biện pháp quan trọng để khắc phục sự suy thoái về đạo
đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm lành mạnh nền đạo đức xã hội, góp
phần giữ vững sự ổn định chính trị, xã hội, tạo động lực cho sự phát triển nhanh, hiệu quả, bền
vững. Vấn đề cơ bản nhất khi thực hiện cuộc vận động là mỗi người chúng ta phải nhận thức
đầy đủ vị trí của vấn đề đạo đức, thường xuyên tự giác, nỗ lực học tập, rèn luyện, tu dưỡng
theo gương Bác Hồ vĩ đại.