Tải bản đầy đủ (.docx) (12 trang)

Đề tài: Dịch vụ công trên địa bàn Vĩnh Phúc 

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (139.27 KB, 12 trang )

Trang 1
TIỂU LUẬN
MÔN: DỊCH VỤ CÔNG
Đề tài: “Dịch vụ công trên địa bàn Vĩnh Phúc”.
LỜI MỞ ĐẦU
Cách đây hơn 30 năm, Vĩnh Phúc được cả nước biết đến là quê hương của "Khoán
hộ", với những bứt phá trong đổi mới về cơ chế khoán trong sản xuất nông nghiệp. Cùng
với cả nước đẩy mạnh CNH, HÐH, Vĩnh Phúc lại tạo nên dấu ấn trong chuyển dịch nhanh
cơ cấu kinh tế. Vào thời điểm tái lập tỉnh năm 1997, xuất phát điểm nền kinh tế rất thấp,
kinh tế thuần nông, tỷ trọng nông nghiệp chiếm trên 52% giá trị GDP, công nghiệp chiếm
12,86%; thu nhập bình quân đầu người là 140 USD. Đến năm 2009: Công nghiệp, xây
dựng chiếm 61,06%; dịch vụ chiếm 24,68%; nông, lâm, thủy sản 14,25%. GDP bình quân
đầu người đạt 1.380 USD. Không có hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, hiện nay, tỉ lệ hộ
nghèo giảm còn 9,4%. Mặc dù có tốc độ phát triển các khu công nghiệp thuộc diện cao ở
miền Bắc nhưng Vĩnh Phúc vẫn còn 60% dân số sống bằng nghề nông với hiệu quả sản
xuất chưa cao. Bình quân mỗi lao động nông nghiệp chỉ tạo ra 7, 2 triệu đồng /năm; trong
khi đó, sản xuất công nghiệp cao gấp 8, 2 lần, làm dịch vụ gấp 3, 5 lần. Đồng đất Vĩnh
Phúc đa số bạc màu, nghèo dinh dưỡng, tuy nông dân đã biết ứng dụng tiến bộ kỹ thuật
nhưng giá trị thu nhập vẫn thấp. Năm 2006, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ra Nghị quyết
03-NQ/TU về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân. Nội dung
bao trùm của Nghị quyết là “giảm đóng góp, tăng đầu tư”, trong đó vấn đề đào tạo nghề,
nâng cao trình độ cho nông dân và cung cấp dịch vụ công nông thôn được đặc biệt chú
trọng. Sau 4 năm tổ chức thực hiện, Nghị quyết 03-NQ/TU của Tỉnh uỷ đã thực sự đi vào
cuộc sống, đã thu được những kết quả quan trọng, góp phần nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần cho đại bộ phận nhân dân trong tỉnh.
Trang 2
NỘI DUNG CHÍNH
A. THỰC TRẠNG CÁC DỊCH VỤ CÔNG Ở NÔNG THÔN VĨNH PHÚC
Dịch vụ công có thể hiểu khái quát là những dịch vụ do Nhà nước chịu trách
nhiệm, phục vụ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu chung của người dân không vì mục tiêu lợi
nhuận (khác với dịch vụ tư, do tư nhân đảm nhiệm vì mục tiêu lợi nhuận). Trên cơ sở đó,


dịch vụ công ở nông thôn được hiểu là những loại dịch vụ do Nhà nước đảm nhiệm để
đáp ứng nhu cầu của khu vực nông thôn. Có nhiều dịch vụ công nông thôn (DVCNT),
trong đó các dịch vụ thiết yếu là: giáo dục, y tế, văn hoá thông tin, thuỷ lợi, giao thông,
nước sinh hoạt, vệ sinh môi trường, khuyến nông, khuyến công.
Trong những năm đổi mới vừa qua, tại tỉnh Vĩnh Phúc các dịch vụ công thiết yếu
và cơ bản đã được cải thiện đáng kể, góp phần rất quan trọng vào phát triển kinh tế, xã hội
và có tác động tích cực đến cải thiện đời sống, đảm bảo công bằng ở các vùng nông thôn.
Với trình độ phát triển kinh tế- xã hội và đời sống ngày càng cao hơn, đã có những thay
đổi lớn về phát triển và cung cấp dịch vụ công, Nhà nước có chủ trương xã hội hoá việc
cung ứng một số dịch vụ công. Đặc biệt, ở khu vực nông thôn các nhu cầu về DVCNT
không nhất thiết phải do Nhà nước độc quyền cung cấp mà Nhà nước đóng vai trò bà đỡ,
tạo môi trường thuận lợi cho quá trình xã hội hoá DVCNT theo phương châm "nhà nước
và nhân dân cùng làm" và thu hút các thành phần kinh tế khác tham gia cung ứng
DVCNT hiệu quả hơn.
I. Những kết quả trên một số lĩnh vực
1. Lĩnh vực Giáo dục, đào tạo và dạy nghề
- Hiện tại, tổng số có 571 đơn vị giáo dục công lập và ngoài công lập từ Mầm non
đến THPT. Cụ thể như sau: Ngành học mầm non có 217 trường. Trong đó có 162 trường
công lập, 3 trường tư thục và 52 cơ sở mầm non tư thục khác (tỷ lệ học sinh ngoài công
lập chiếm 1,5%). Trong năm 2010 đã chuyển đổi các trường mầm non bán công sang
công lập. Bậc tiểu học 174 trường công lập. Bậc THCS 146 trường công lập. Bậc THPT
38 trường công lập, 02 trường dân lập. Nhiều cơ quan, đoàn thể, tổ chức kinh tế, dòng họ,
cá nhân tham gia hoạt động khuyến học, Quỹ hội khuyến học các cấp trên toàn tỉnh đã
Trang 3
quyên góp được khoảng 10 tỷ đồng, góp phần cho công tác khuyến khích hỗ trợ phát triển
giáo dục của địa phương.
- Hiện nay, mạng lưới các cơ sở dạy nghề với các loại hình đa dạng như: cơ sở dạy
nghề công lập, cơ sở dạy nghề của tổ chức xã hội và cơ sở dạy nghề của các doanh
nghiệp. Toàn tỉnh có 55 cơ sở, trong đó: 4 trường cao đẳng nghề, 3 trường trung cấp nghề,
10 trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp có dạy nghề, 23 trung tâm dạy nghề, 15 cơ

sở giáo dục khác có tham gia dạy nghề. Từ năm 2005-2010, các cơ sở dạy nghề đã tuyển
sinh đào tạo nghề cho 147.340 người, trong đó đào tạo hệ dài hạn, hệ trung cấp nghề và
hệ cao đẳng nghề được 38.016 người và 109.324 người được qua đạo tạo nghề hệ ngắn
hạn, hệ sơ cấp, dạy nghề dưới 3 tháng. Từ 2004 đến nay Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ
thuật tỉnh đã đào tạo 12.495 học sinh trung học chuyên nghiệp, mở 874 lớp huấn luyện
nghề ngắn hạn cho nông dân với tổng số 26.220 người. Kết quả bước đầu cho thấy, đại bộ
phận nông dân có chuyển biến về nếp nghĩ, cách làm trong sản xuất, kinh doanh, từng
bước hình thành đội ngũ nông dân kiểu mới có kiến thức, tay nghề, năng động trong nền
kinh tế thị trường.
* Khó khăn: Việc xã hội hoá trong lĩnh vực giáo dục còn chậm và hạn chế về quy
mô. Một số thôn, xóm chưa có cơ sở nuôi dạy trẻ, lớp học mầm non, nên vẫn phải tổ chức
nuôi dạy nhờ ở nhà dân và các nhà văn hoá thôn. Cơ sở vật chất, nhà xưởng, thiết bị thực
hành của các cơ sở dạy nghề thiếu; chương trình, giáo trình chậm đổi mới; đào tạo nghề
chưa thực sự gắn với thị trường lao động, việc làm. Chưa thu hút được nhiều lao động ở
khu vực nông nghiệp, nông thôn vào các khu công nghiệp, đô thị.
2. Lĩnh vực y tế
- Hiện tại, tổng số cơ sở khám, chữa bệnh toàn tỉnh có 355 đơn vị với 2070 giường
bệnh. Trong đó các cơ sở công lập có 163 đơn vị, gồm: cấp tỉnh 10 đơn vị (5 bệnh viện, 5
trung tâm kỹ thuật hệ dự phòng với 1.330 giường bệnh); cấp huyện 6 bệnh viện, 3 trung
tâm y tế và 7 trung tâm kỹ thuật hệ dự phòng (với 740 giường bệnh); cấp xã có 137 trạm y
tế xã. Cơ sở khám chữa bệnh xã hội hoá trên địa bàn tỉnh hiện có 192 cơ sở y tế tư nhân,
trong đó có 17 phòng khám đa khoa, 175 phòng khám chuyên khoa và phòng chẩn trị y
học cổ truyền; cấp giấy phép hành nghề cho 05 công ty TNHH kinh doanh thuốc theo
thẩm quyền và 550 nhà thuốc, quầy thuốc, đại lý thuốc trên địa bàn tỉnh.
Trang 4
- Các chương trình quốc gia về y tế được duy trì và triển khai hiệu quả, hầu hết các
Trạm y tế đều được đầu tư xây dựng nhà kiên cố và được bổ sung các trang thiết bị y tế;
96,5% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế, có 110/137 bác sĩ đang công tác
các Trạm y tế, đạt 80%. Tỷ lệ cán bộ công tác tại các trạm y tế là 5,1 cán bộ/trạm.
* Khó khăn: Tỷ lệ bác sỹ đạt 7 người/1 vạn dân, thấp hơn tỷ lệ bình quân của toàn

quốc. Một số chuẩn y tế khó thực hiện ở các xã (chuẩn II về vệ sinh môi trường ); một số
địa phương chưa có nguồn nhân lực để cử đi đào tạo bác sỹ. Kinh phí đầu tư hàng năm để
thực hiện Đề án Chuẩn quốc gia về y tế xã còn hạn chế, còn nợ đọng XDCB, đặc biệt đối
với các xã khó khăn.
3. Lĩnh vực Văn hóa, Thông tin
- Công tác xã hội hoá tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử văn hoá và tổ chức lễ hội hàng
năm phục vụ nhân dân được triển khai tích cực. Toàn tỉnh hiện có 1.264 di tích các loại,
trong đó có 287 di tích đã được Nhà nước xếp hạng gồm: 65 di tích xếp hạng cấp Quốc
gia và 222 di tích xếp hạng cấp tỉnh. Từ năm 2005 đến nay tổng kinh phí hỗ trợ từ ngân
sách Nhà nước cho tu bổ chống xuống cấp ở 40 di tích trên địa bàn tỉnh ước gần 3 tỷ
đồng. Huy động từ các nguồn xã hội hóa trong nhân dân là gần 10 tỷ đồng. Những di tích
trọng điểm của tỉnh có sự đóng góp của nhân dân cả nước với nguồn kinh phí hàng chục
tỷ đồng: Thiền Viện Trúc lâm Tây Thiên huyện Tam Đảo (tổng kinh phí trên 20 tỷ đồng),
Di tích chùa Hà thành phố Vĩnh Yên trên 50 tỷ đồng
- Việc xây dựng nhà văn hóa ở cơ sở được đẩy mạnh theo hướng xã hội hóa. Toàn
tỉnh đã xây dựng được 112/137 nhà văn hóa xã, 1147/1368 nhà văn hóa thôn (làng – tổ
dân phố). Ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ một phần cho mua sắm trang thiết bị, còn toàn
bộ phần xây dựng cơ bản đều do nhân dân đóng góp khoảng từ 120 – 150 triệu đồng cho
một nhà văn hóa xã và 70 - 90 triệu đồng cho một nhà văn hóa thôn.
- Ở tuyến huyện, thành, thị và cơ sở có 06 nhà thi đấu; 06 sân vận động cấp huyện,
80/152 xã (phường) có sân chơi bãi tập thể dục thể thao (TDTT), 149/1450 thôn, khối phố
có sân chơi bãi tập TDTT, 248 câu lạc bộ TDTT, 360/390 trường học đạt chất lượng về
giáo dục thể chất. Xây dựng 121/137 trạm cung cấp thông tin xã, đạt 88,3%; thực hiện kết
nối Internet cho 109 trạm cung cấp thông tin ở cấp xã.
Trang 5
* Khó khăn: Việc dành đất cho xây dựng thiết chế văn hoá ở một số địa phương
còn khó khăn, ngân sách nhà nước đầu tư, hỗ trợ có hạn. Thực hiện nếp sống văn minh
trong việc cưới, việc tang, lễ hội ở nông thôn nhiều nơi chưa tốt, phát triển văn hoá chưa
theo kịp với tốc độ phát triển kinh tế.
4. Lĩnh vực thủy lợi

Ngân sách tỉnh đã bố trí 164 tỷ đồng kiên cố hoá trên 366 km kênh mương. Vĩnh
Phúc là một trong những tỉnh đầu tiên thực hiện miễn thuỷ lợi phí cho sản xuất nông
nghiệp (thực hiện từ năm 2007). Hiện nay có 4500 ha /5300 ha khó khăn nguồn nước đã
được tưới tiêu chủ động và đã xây dựng xong bản đồ tưới trên địa bàn tỉnh. Từ năm 2007-
2010, ngân sách tỉnh hỗ trợ miễn thuỷ lợi phí: 216 tỷ đồng.
* Khó khăn: Nhiều công trình thuỷ lợi từ lâu đã bị xuống cấp nhưng chưa đầu tư
kinh phí duy tu, sửa chữa, nâng cấp (đặc biệt là các công trình xã, HTX quản lý). Những
vùng không có khả năng xây dựng công trình, nhà nước có chính sách hỗ trợ khác, nhưng
đến nay chưa thực hiện được. Nông dân ở những vùng này bị thiệt thòi hơn so với những
vùng có công trình được đầu tư.
5. Lĩnh vực nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
- Về cấp nước sinh hoạt: Tính đến thời điểm tháng 1/2010, dân số nông thôn được
sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh là 584.633 người, đạt 73%; sử dụng nước sạch theo
Tiêu chuẩn TC09 là 140.312 người, đạt 24%;
- Về vệ sinh nông thôn: Số hộ gia đình nông thôn có nhà WC là 161.254 hộ, chiếm
khoảng 95%; trong đó, hợp vệ sinh theo Tiêu chuẩn TC08 là 45.151 hộ, đạt 28%. Số
chuồng trại chăn nuôi được xử lý chất thải đảm bảo vệ sinh môi trường là 64.831chuồng
trại, đạt tỷ lệ 45%/ tổng số chuồng trại chăn nuôi cần phải xử lý.
- Việc xã hội hoá và đầu tư cho bảo vệ môi trường đang được thực hiện ở các địa
phương trên địa bàn tỉnh, ngày càng có nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã bảo vệ môi trường
ra đời, nhiều dịch vụ công về bảo vệ môi trường được các cá nhân, tổ chức đứng ra thực
hiện như: Tổ thu gom rác thải, công ty TNHH xử lý môi trường xanh, Hợp tác xã dịch vụ
môi trường Duy Tiến, … các doanh nghiệp đã quan tâm hơn đến công tác bảo vệ môi
trường trong sản xuất và kinh doanh.
Trang 6
- Công tác cung cấp và hỗ trợ người dân trong việc xây dựng hầm bioga được thực
hiện rộng khắp trên địa bàn tỉnh. Tính đến tháng 12/2009 toàn tỉnh đã triển khai được
6.400 hầm bioga, với kinh phí ngân sách tỉnh hỗ trợ là 9,6 tỷ đồng, dân tự đầu tư 26,784
tỷ đồng.
* Khó khăn: Phối hợp liên ngành, địa phương để giải quyết các vấn đề môi trường

trong thời gian qua tiến hành có lúc, có nơi chưa đồng bộ và thiếu chặt chẽ, chưa đưa ra
được cơ chế, hình thức phối hợp có hiệu quả, chưa thúc đẩy mạnh mẽ quá trình xã hội hoá
công tác bảo vệ môi trường. Số hộ gia đình sử dụng nhà WC hợp vệ sinh theo Tiêu chuẩn
TC08 còn thấp. Số làng nghề được xử lý chất thải đảm bảo vệ sinh môi trường thấp
(chiếm khoảng 12%/ tổng số làng nghề phải xử lý).
6. Lĩnh vực giao thông
- Tính đến tháng 12 năm 2009 toàn tỉnh đã kiên cố hoá được 2.312 km/3.562 km
đường giao thông nông thôn, đạt 64,9% so với mục tiêu Nghị quyết số 11/2007/NQ-
HĐND tỉnh về cơ chế hỗ trợ phát triển giao thông nông thôn. Riêng nguồn vốn đóng góp
của nhân dân năm 2009 cho phong trào xây dựng giao thông nông thôn đạt gần 40%, với
khối lượng chủ yếu là nâng cấp cúng hoá mặt đường 270km (nhựa 9,7km; bê tông xi
măng 260,6km); xây rãnh gạch 30,5km và tu sửa nền, mặt đường, các công trình thoát
nước bị hư hỏng.
- Hiện có 8 tuyến xe buýt từ thành phố Vĩnh Yên về 8 huyện, thị xã hoạt động ổn
định. Các tuyến xe buýt đã kịp thời đáp ứng cơ bản nhu cầu đi lại của nhân dân.
* Khó khăn: Nguồn vốn xây dựng giao thông nông thôn rất lớn, việc huy động
nguồn vốn đóng góp của nhân dân rất khó khăn do vậy nhiều dự án phải kéo dài, thi công
không đúng tiến độ. Công tác xã hội hóa xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn
còn hạn chế so với tiềm năng.
7. Lĩnh vực khuyến nông
- Đến nay đã hình thành các vùng trồng trọt sản xuất hàng hoá (TTSXHH) với tổng
diện tích gần 14 nghìn ha cây trồng các loại. Năng suất, chất lượng cây trồng tăng, hiệu
quả sản xuất trên đơn vị diện tích và thu nhập của nông dân tăng, đã hình thành một số
vùng TTSXHH như lúa chất lượng cao Yên Lạc, Vĩnh Tường, gạo Long Trì (Tam
Dương), bí đỏ Vĩnh Tường, dưa chuột An Hoà (Tam Dương); su su Tam Đảo, Năm
Trang 7
2008 và năm 2009, UBND tỉnh cho thí điểm triển khai xây dựng 12 khu sản xuất tập
trung, với kinh phí đầu tư, hỗ trợ 19,6 tỷ đồng. Đồng thời, tỉnh đã hỗ trợ gần 2 tỷ đồng thí
điểm hỗ trợ lãi suất mua phân bón trả chậm cho nông dân mua trên 8,5 nghìn tấn phân
bón, góp phần tăng năng suất, sản lượng giúp nông dân vượt qua khó khăn do thiên tai,

lạm phát.
- Trạm Khuyến nông các huyện, thành, thị đã tổ chức nhiều lớp tập huấn, xây dựng
nhiều mô hình trình diễn, chuyển giao và áp dụng tiến bộ KHCN mới vào sản xuất. Cụ
thể như: xây dựng các mô hình trình diễn các loại giống mới, sản xuất rau an toàn, trồng
cây ăn quả, sử dụng phân bón, chăn nuôi: dế, rắn, lợn rừng …
- Trên địa bàn tỉnh đã giao tổng số: 30.295,2 ha đất lâm nghiệp cho các tổ chức và
hộ gia đình sử dụng. Việc xã hội hóa công tác quản lý và bảo vệ phát triển rừng đã làm rõ
trách nhiệm quản lý và quyền lợi của các chủ rừng từ đó đã đem lại hiệu quả rõ rệt, độ che
phủ của rừng đã được nâng lên.
* Khó khăn: Các các vùng trồng trọt sản xuất hàng hoá và khu sản xuất tập trung
hiện nay mới được hình thành, khối lượng hàng hoá ít, giá thành cao; công nghiệp chế
biến nông, lâm sản chậm phát triển; trình độ khoa học - công nghệ, quản lý còn yếu, chất
lượng lao động chưa cao, tình trạng thừa lao động thiếu việc làm khá phổ biến.
II. Một số kinh nghiệm bước đầu
1. Đánh giá chung
Từ năm 1997 đến nay bộ mặt nông thôn Vĩnh Phúc ngày càng khởi sắc, hệ thống
kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trong nông nghiệp, nông thôn được tăng cường. Hệ thống
chính trị ở nông thôn không ngừng được củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực và hiệu
quả hoạt động. Các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao và đào tạo nghề cho nông
dân tiếp tục phát triển; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; đời sống vật
chất, tinh thần của đại bộ phận người dân được cải thiện và nâng cao. Sản xuất nông
nghiệp từng bước chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá. Kinh tế nông thôn ngày
càng phát triển, kinh tế trang trại có bước chuyển biến tích cực, góp phần khai thác tốt
tiềm năng đất đai, lao động ở nông thôn, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá. Việc cung ứng
các dịch vụ công nông thôn đã đạt được một số thành tựu và có xu hướng xã hội hoá ngày
càng mở rộng, nhưng đồng thời cũng bộc lộ không ít hạn chế. Quá trình xã hội hoá dịch
Trang 8
vụ công trong các lĩnh vực diễn ra chậm so với tiềm năng. Việc sắp xếp, đổi mới cơ chế
quản lý đối với các cơ sở công lập thuộc các lĩnh vực nông nghiệp nông thôn gặp nhiều
khó khăn. Nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước được huy động cho đầu tư phát triển dịch

vụ công còn rất hạn chế. Chính quyền một số huyện, xã còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào
Nhà nước, chưa chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch, giải pháp giảm nghèo.
2. Một số kinh nghiệm bước đầu
Một là, tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo về phát triển các dịch vụ trong nông
nghiệp nông thôn, ban hành nhiều Nghị quyết chuyên đề về lĩnh vực an sinh xã hội, trong
đó có quy định cụ thể về cơ chế thực hiện và huy động nguồn lực cho công tác xã hội hóa
các dịch vụ công, đặc biệt là Nghị quyết số 03 của Tỉnh ủy về nông nghiệp, nông thôn,
nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2006 – 2010, định hướng đến năm 2020. Các chủ
trương của Tỉnh ủy, Nghị quyết của HĐND tỉnh đều được UBND tỉnh cụ thể hóa bằng
các văn bản để tổ chức thực hiện và tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại
chúng, các tổ chức chính trị xã hội, các địa phương tuyên truyền, triển khai cụ thể hóa các
nhiệm vụ này xuống người dân.
Hai là, phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của cấp ủy Đảng và chính
quyền địa phương trong việc tổ chức triển khai thực hiện chủ trương, chính sách về xã hội
hóa dịch vụ công, nâng cao vai trò của các tổ chức hội quần chúng trong việc tuyên
truyền, vận động các cá nhân và doanh nghiệp tham gia cung ứng dịch vụ công nông
thôn.
Ba là, Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư với các cá nhân, tổ chức trong và ngoài
nước để huy động nguồn lực và kêu gọi các thành phần kinh tế tham gia cung cấp dịch vụ
công trong một số lĩnh vực như: giáo dục phổ thông, đào tạo nguồn nhân lực, khám chữa
bệnh, vệ sinh môi trường, giống cây trồng vật nuôi, đường giao thông, vận tải hàng
khách,…
Bốn là, Phân cấp, trao toàn quyền đối với người đứng đầu các đơn vị sự nghiệp
dịch vụ công được tự chủ về tài chính, tuyển dụng và bố trí bộ máy nhân sự cũng như
tăng thu nhập của người lao động.
Trang 9
Năm là, Đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học-công nghệ, thúc đẩy
hình thành các vùng sản xuất hàng hoá. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ và dạy nghề cho nông dân.
B. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CÔNG Ở NÔNG THÔN VÀ

GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHO GIAI ĐOẠN TỚI
I. Định hướng phát triển: Nhà nước nhỏ- Xã hội lớn
Một là, cải cách đơn vị sự nghiệp dịch vụ công cần được thể chế hoá bằng Chương
trình của Chính phủ, trong đó đổi mới cơ chế quản lý theo hướng tăng cường quyền tự
chủ trong cung ứng dịch vụ công nói chung và DVCNT cho các cơ sở cung cấp các dịch
vụ. Chuyển đổi hình thức tổ chức hoạt động của một số đơn vị sự nghiệp dịch vụ công
nông thôn sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp ngoài công lập.
Hai là, Phân cấp cho địa phương cấp huyện, cấp xã chịu trách nhiệm về từng loại
DVCNT theo hướng tự cân đối trong khuôn khổ ngân sách được giao. Tăng đầu tư cho
phát triển cơ sở vật chất DVCNT tương ứng với yêu cầu của xã hội, của nền kinh tế hội
nhập. Cần đưa các chỉ tiêu chung của DVCNT vào kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của
địa phương; Tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước vào phát triển giáo dục, đào tạo nghề,
chăm sóc sức khoẻ, đường giao thông, thuỷ lợi và các dịch vụ khuyến nông ở cấp cơ sở
đặc biệt là ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn.
Ba là, Nghiên cứu áp dụng chế độ Nhà nước đặt hàng các DVCNT và cơ chế đấu
thầu thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công cho Doanh nghiệp tư nhân, tổ chức xã
hội, tổ chức phi Chính phủ đảm nhận.
II. Các giải pháp
1. Đối với giáo dục - đào tạo
Tiếp tục thực hiện đổi mới giáo dục công lập một cách toàn diện. Khuyến khích
chuyển các cơ sở giáo dục và dạy nghề công lập sang ngoài công lập và thành lập mới các
cơ sở ngoài công lập cho từng cấp học và từng địa phương. Tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho một số tập đoàn và doanh nghiệp lớn đầu tư xây dựng các trường Đại học tư thục trên
địa bàn tỉnh. Thành lập quỹ học bổng hỗ trợ học sinh nghèo theo một quy trình xét duyệt
thống nhất.
Trang 10
2. Đối với dịch vụ y tế
Tăng ngân sách thường xuyên cho hoạt động y tế cấp cơ sở và các hoạt động chăm
sóc sức khoẻ, tuyên tuyền giáo dục chăm sóc sức khoẻ sinh sản, có tỷ lệ ưu tiên cho các
xã vùng sâu, vùng xa. Hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ y tế cấp

cơ sở, đặc biệt là một số chuyên khoa như sản, tiêm chủng, quản lý y tế cấp cơ sở.
Đối với các bệnh viện và các trung tâm y tế cấp huyện cần được đầu tư nâng cấp cả
về cơ sở vật chất, trang thiết bị và trình độ tay nghề của đội ngũ bác sỹ, nhân viên y tế để
nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh giảm mức độ quá tải hiện nay đối với các bệnh viện
tuyến tỉnh. Khuyến khích mở rộng các dịch vụ khám chữa bệnh chất lượng cao của tư
nhân.
3. Đối với thuỷ lợi
Cần đưa ra chính sách đầu tư công trình đầu mối, bê tông hóa hệ thống kênh
mương, đầu tư tu sửa, trang bị, nâng cấp công trình thủy lợi và chính sách đối với công
trình thủy lợi do dân tự xây dựng. Chỉ đạo thực hiện mạnh mẽ việc tu sửa, nâng cấp các
công trình thuỷ lợi đã xây dựng nhằm nâng cao hiệu quả, tính bền vững của công trình và
chất lượng dịch vụ thuỷ lợi. Tăng cường phân cấp những khoản đầu tư sửa chữa nhỏ công
trình thuỷ lợi với mức giá trị nhất định cho các hợp tác xã và tổ dịch vụ. Đồng thời, thực
hiện giao các dự án xây dựng và sửa chữa các công trình quy mô vừa và nhỏ cho cấp cơ
sở theo nguyên tắc "xã có công trình, dân có việc làm" để gắn trách nhiệm, quyền lợi của
họ với công trình.
4. Đối với giao thông nông thôn (GTNT)
Cần tiếp tục thực hiện chủ trương về xây dựng quỹ phát triển GTNT và đề ra cơ
chế xây dựng các tuyến đường GTNT chính cho các xã khó khăn, đặc biệt là đường đến
trung tâm huyện, xã, nối các trường học, bệnh viện, trạm xá. Tiếp tục chính sách kích cầu
bằng ngân sách nhà nước, tuy nhiên phải cân đối tăng tỷ lệ hỗ trợ cho các xã nghèo. Xây
dựng mô hình dân tự quản đối với đường xã, liên thôn.
5. Đối với văn hóa - thông tin
Trang 11
Cần đẩy mạnh công tác xã hội hoá các hoạt động văn hoá, thông tin ở cấp cơ sở
theo hướng ngân sách nhà nước hỗ trợ phát triển các phương tiện tuyên truyền, giao lưu,
người dân đóng góp, tự quản lý, tổ chức các hoạt động, đặc biệt là các hoạt động thể thao,
văn nghệ quần chúng, xây dựng làng văn hoá, gia đình văn hoá với sự tham gia của các tổ
chức đoàn thể xã hội. Tăng kinh phí, các nguồn tài trợ để xây dựng các trung tâm văn hoá
cộng đồng tuyến huyện, xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin, trước hết là hệ thống loa truyền

thanh cho các thôn xóm trong các xã.
6. Lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
Đẩy mạnh phát triển trang trại và kinh tế hợp tác, doanh nghiệp trên địa bàn nông
thôn. Mở rộng và phát triển các loại hình dịch vụ nông thôn: dịch vụ tài chính, phát triển
quỹ tín dụng nhân dân; hình thành các cơ sở dịch vụ chuyên cung cấp vật tư nông nghiệp,
dịch vụ vận tải, dịch vụ thú y
Tổ chức các hình thức hợp tác sản xuất, kinh doanh thích hợp với mỗi vùng, địa
phương. Phát triển loại hình lao động phi nông nghiệp bằng cách đẩy mạnh đầu tư khuyến
khích các hộ dân chuyển sang làm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch
vụ. Trong đó, đặc biệt chú trọng tới việc bảo tồn duy trì và mở rộng các làng nghề truyền
thống tại nông thôn - đây chính là khu vực thu hút và giải quyết việc làm cho nhiều lao
động.
Các trạm khuyến nông và khuyến công cần mở rộng sang cung cấp thông tin, các
dịch vụ nghiên cứu thị trường, thương mại (marketing) và phát triển thương hiệu. Hoạt
động này có thể được tổ chức, hợp tác với các doanh nghiệp, hợp tác xã, trạm, trại giống
Đẩy mạnh nâng cao chất lượng lao động nông thôn thông qua công tác bồi dưỡng,
nâng cao kiến thức cho nông dân, trang bị học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, hiểu
biết thị trường cho lực lượng lao động nông thôn, đặc biệt là lao động chuyển từ sản xuất
nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
Trang 12

×