Tải bản đầy đủ (.pdf) (33 trang)

LÝ LUẬN VĂN HÓA HỌC Ở TRUNG QUỐC pps

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (484.75 KB, 33 trang )

LÝ LUẬN VĂN HÓA HỌC Ở TRUNG QUỐC

ThS. Nguyễn Ngọc Thơ
(Đại học Quốc gia Tp.HCM)

1. Lược sử hình thành và phát triển nghiên cứu văn hóa học ở Trung
Quốc
a. Quá trình hình thành và phát triển
Theo sự phát triển chung của khoa học trên toàn thế giới nói chung và tại Trung
Quốc nói riêng, văn hóa học (dưới đây viết tắt là VHH) đã hình thành và trở thành
một khoa học độc lập được nhiều giới trong xã hội chú ý. Nguyên nhân hình thành
và phát triển VHH ở Trung Quốc có thể tóm gọn qua bốn yếu tố chính sau:
(1) Nhu cầu cải cách xã hội toàn diện, xây dựng cuộc sống văn hóa mới.
(2) Sự phát triển theo chiều sâu trong tư duy khoa học của giới nghiên cứu
Trung Quốc
(3) Là yêu cầu và là bước phát triển tất yếu của nghiên cứu khoa học xã hội và
nhân văn ở Trung Quốc từ sau 1949.
(4) Sự kích thích của trào lưu nghiên cứu văn hóa và VHH toàn cầu.
Văn hóa Trung Quốc vốn có truyền thống lâu đời, các nghiên cứu văn hóa ở
Trung Quốc vốn rất phong phú đã và đang làm nền tảng cho VHH hình thành và
phát triển thuận lợi. Trào lưu nghiên cứu văn hóa và VHH đầu tiên ở Trung Quốc
hình thành vào đầu thập niên 1930. Từ sau phong trào Ngũ Tứ, nhiều cuộc luận
đàm về văn hóa đông – tây, khoa học và huyền học nổ ra ở Trung Quốc, trong đó
vấn đề được thảo luận nhiều nhất là văn hóa. Một số nhà nghiên cứu không hài
lòng với các đánh giá, nhìn nhận đương thời về văn hóa nên đã đơn phương đi tìm
lối đi riêng cho mình. Lý Đại Chiêu 李大钊 là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ
VHH tại Trung Quốc. Năm 1924 trong cuốn “Sử học yếu luận. Hệ thống lịch sử
học” bàn về lịch sử học, Lý Đại Chiêu cho lịch sử học có ba hệ thống lớn: lịch sử
học phổ thông, lịch sử học đặc thù và triết học lịch sử, trong đó lịch sử học phổ
thông phân ra hai phần lý luận và ký thuật. Phần lý luận bao gồm chính trị học,
kinh tế học, pháp lý học, luân lý học, tôn giáo học, văn học, triết học, mỹ học, giáo


dục học gọi chung là nhân văn học hay văn hóa học [Lý Vinh Thiện 1996: 46].
Tuy nhiên tác giả này không giải thích ý nghĩa nội hàm của thuật ngữ này. Năm
1926, Trương Thân Phủ 张申府 trong cuốn “Văn minh và văn hóa” cũng sử dụng
thuật ngữ này nhưng cũng không giải thích. Mãi đến năm 1932, nhà nghiên cứu
Hoàng Văn Sơn 黄文山 công bố hai cuốn “Văn hóa học kiến thiết luận” và “Văn
hóa học phương pháp luận” mới bước đầu đặt nền móng lý luận cho sự hình thành
khoa học VHH độc lập về sau. Đến năm 1948 ông công bố cuốn “Sự kiến lập Văn
hóa học” càng củng cố thêm nền tảng khoa học của hệ thống lý luận mà ông đề
xuất. Cùng thời kì với Hoàng Văn Sơn còn có Diêm Hoán Văn 阎焕文 với cuốn
“Văn hóa học” (1934), Chu Khiêm Chi 朱谦之 với “Triết học văn hóa” (1935),
Trần Tự Kinh 陈序经 với “Khái quan văn hóa học” (1947), v.v Bên cạnh đó,
Lương Tấu Minh 梁漱溟, Phùng Hữu Lan 冯友兰, Hạ Lân 贺麟, Trương Đông
Tôn 张东荪 v.v. đứng ở góc nhìn triết học văn hóa cũng đã công bố nhiều tác
phẩm bình luận có giá trị. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa như
Lương Khải Siêu 梁启超, Trần An Nhân 陈安仁, Liễu Di Trừng 柳诒澄, Trần
Đăng Nguyên 陈登原, Thường Nãi Đức 常乃德 v.v., nhà nhân loại học Lâm Huệ
Tường 林慧祥, các nhà dân tộc học Giang Thiệu Nguyên 江绍原, Cố Hiệt
Cương 顾颉刚, Dung Triệu Tổ 容肇祖 v.v cũng có đóng góp đáng kể trong việc
hình thành VHH ở Trung Quốc trong giai đoạn đầu [Lý Vinh Thiện 1996: 46].
Tuy nhiên, theo đánh giá của giới học giả về sau, các tác giả trên đây đều thiếu sự
chỉ đạo của lịch sử quan duy vật. Dù vậy, họ vẫn được mệnh danh là những người
đi đầu trong việc sáng lập VHH ở Trung Quốc.
Giai đoạn 1949 – 1979, hoạt động nghiên cứu VHH nói riêng, khoa học xã hội
nói chung tại Trung Quốc bị ngưng trệ bởi nhiều lý do khách quan khác nhau.
Trong suốt 30 năm này, Trung Quốc chỉ xuất bản duy nhất cuốn “Yếu luận sử văn
hóa Trung Quốc” có liên quan đến văn hóa và VHH. Bên ngoài đại lục, một số tác
giả hoặc ở Hồng Kông, Đài Loan, hoặc từ đại lục ra đã tiếp tục nghiên cứu và
công bố một số công trình tiêu biểu. Chẳng hạn Hoàng Văn Sơn năm 1968 sau 30
năm tìm tòi và nghiên cứu đã xuất bản cuốn “Hệ thống văn hóa học” rất được giới
khoa học chú ý. Trong tác phẩm này, ông đã chú trọng xem xét các vấn đề trực

tiếp của VHH như loại hình, kết cấu hệ thống VHH, so sánh hệ thống VHH đông,
tây và sự biến thiên, sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hóa trên thế giới. Năm
1983, ông lại tiếp tục công bố cuốn “Văn hóa học và vị trí của nó trong hệ thống
khoa học”, góp phần củng cố vị trí của VHH tại Trung Quốc. Trước đó, Tiền Mục
钱穆 năm 1952 cũng công bố cuốn “Đại nghĩa văn hóa học” ở Đài Loan (tái bản
năm 1979). Cùng năm này Đông Thời Anh 东时英 cho ra cuốn “Văn minh luận
hoành” cũng có ảnh hưởng nhất định.
Mãi đến thập niên 1980, Trung Quốc đại lục phát triển nền kinh tế hàng hóa.
Trong xu thế đó, giới nghiên cứu VHH Trung Quốc mới trở lại nghiên cứu lý luận
VHH. Tiêu biểu trong giai đoạn này có Đàm Quang Quảng 覃光广 với cuốn “Từ
điển Văn hóa học” (1988), Hàn Dân Thanh với cuốn “Văn hóa luận” (1989), Hứa
Tô Dân 许苏民 với cuốn “Triết học văn hóa” (1990), Quách Tế Dũng 郭齐勇 với
cuốn “Khái luận văn hóa học”, Hồ Tiêu với “Hiện tương văn hóa học” (1991),
Nghiêm Xuân Bảo 严春友, Nghiêm Xuân Hữu 严春宝 với “Văn hóa toàn tức
luận” (1991), Lưu Thủ Hoa 刘守华 với “Thông luận văn hóa học” (1992), Dương
Kính Giang 杨镜江 với “Dẫn luận Văn hóa học” (1992), Lý Vinh Thiện (李荣善)
với “Dẫn luận văn hóa học” (1996), Chung Kính Văn (钟敬文) với “Văn hóa học
dân tục: tóm tắt nội dung và quá trình phát triển” (1996), Tôn Khải Phi 孙凯飞 với
“Văn hóa học: hiện đại quốc phú luận” (1997), Lưu Mẫn Trung 刘敏中 với “Văn
hóa học học – văn hóa học và quan niệm văn hóa” (2000), Ngô Khắc Lễ
吴克礼 với “Giáo trình văn hóa học” (2002), Phương Hán Văn (方汉文) với “Văn
hóa học so sánh” (2003), Khoa Văn hóa học Đại học Sư phạm Hoa Trung với
“Giáo trình văn hóa học” (2004), v.v Bên cạnh đó, các tác giả còn công bố nhiều
báo cáo, bài viết có giá trị về văn hóa học, chẳng hạn Trương Thân Phủ (张申府)
với các bài viết “Văn hóa học kiến thiết luận”, “Văn hóa học phương pháp luận”,
“Văn hóa học pháp tắc luận”, “Vấn đề lý luận trong xây dựng văn hóa học và văn
hóa Trung Quốc”, “Văn hóa Trung Quốc nhìn nhận dưới lập trường của văn hóa
học” v.v đăng trên các học báo Đại học Trung Sơn, Đại học Sư phạm Bắc Kinh,
Đại học Trung ương vào các năm 1926-1927 [Hoàng Văn Sơn 1949: 10], Dư Cận
(余近) với “Tóm lược về quá trình kiến lập Văn hóa học và triển vọng phát triển”

đăng trên “Xã hội học tấn” (?), Điền Đan (田丹) với “Lý luận Văn hóa học của GS.
Trần Tự Kinh và mối quan hệ với các vấn đề xã hội” đăng trên “Sử học Nguyệt
san” (kì 1/2005), v.v Các tác giả giai đoạn này đều vận dụng tư tưởng triết học
văn hóa chủ nghĩa Mác, đồng thời tiếp thu các thành quả nghiên cứu của phương
Tây nên rất có giá trị, được giới học thuật Trung Quốc đánh giá cao [Lưu Thủ Hoa
1992: 20; Hướng Tường 1997: 10-11]. Nhiều đơn vị nghiên cứu trong nhiều
trường đại học, học viện đã đầu tư nhân lực, vật lực cho nghiên cứu lý luận VHH,
nhờ đó hệ thống lý luận VHH ở Trung Quốc ngày càng hoàn thiện. Cho đến hôm
nay, hàng loạt công trình nghiên cứu lý luận VHH ở nhiều cấp độ, nhiều góc độ đã
được công bố, góp phần củng cố nền tảng lý luận để xây dựng VHH thành một
khoa học độc lập.
b. Đặc điểm và thành tựu
Nghiên cứu VHH ở Trung Quốc mang tính hiện thực. Nó phục vụ cải cách toàn
diện tại Trung Quốc. VHH Trung Quốc áp dụng tư tưởng chủ nghĩa Mác, phù hợp
với xu thế nghiên cứu khoa học tổng hợp tại quốc gia này. Sự hình thành của hệ
thống VHH có lợi cho nhận thức VHH phổ biến trong xã hội, giúp người Trung
Quốc nhân thức và đánh giá đầy đủ về văn hóa Trung Quốc. Hiện tại, nghiên cứu
VHH ở Trung Quốc đang ở giai đoạn hình thành và củng cố giai đoạn đầu nên
thành quả nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức độ xây dựng và hoàn thiện hệ thống lý
luận VHH để khoa học này thể hiện đầy đủ vai trò và vị trí của nó trong hệ thống
khoa học Trung Quốc.
Trong lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo tại Trung Quốc, nhiều đơn vị nghiên cứu và
đào tạo khoa học về văn hóa và văn hóa học đã ra đời, góp phần tích cực vào công
cuộc nghiên cứu và ứng dụng khoa học vào cuộc sống. Khoa Văn hóa học, Đại
học Sư phạm Hoa Trung là đơn vị đào tạo và nghiên cứu VHH đầu tiên được
thành lập ở Trung Quốc (Vũ Hán, Hồ Bắc). Tiếp theo sau đó là Khoa Văn hóa học
quốc tế, Đại học Chiết Giang; Khoa Văn hóa học cộng đồng, Học viện Âm nhạc
Vũ Hán (Hồ Bắc), Khoa In ấn, truyền thông và văn hóa học, Đại học Thanh Hoa;
Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa học, Đại học Trung Sơn; Viện nghiên cứu Văn hóa
học – Dân tục học; Học viện Khoa học Xã hội Liêu Ninh; Trung tâm nghiên cứu

Văn hóa học dân gian, Đại học Sư phạm Bắc Kinh; v.v. Một số trường đại học,
trung tâm nghiên cứu đang chuẩn bị hệ thống lý luận và cơ sở cho sự hình thành
đơn vị nghiên cứu, đào tạo VHH trong tương lai. Một số trang web chuyên đăng
tải nội dung xoay quanh các vấn đề lý luận văn hóa học, văn hóa và văn hóa Trung
Quốc đã xuất hiện và được giới học giả quan tâm, chẳng hạn www.culstudies.com,
www.cctv.com/folklore.html, v.v
2. Lý luận văn hóa học ở Trung Quốc
a. Khái niệm văn hóa học
VHH trong tiếng Anh là culturology, tiếng Pháp và tiếng Đức là culturologie,
còn được hiểu là khoa học văn hóa. Xét về định nghĩa, do khái niệm văn hóa có
nhiều tầng nghĩa khác nhau mà giới khoa học vẫn chưa thống nhất nên khó có thể
đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh nhất về VHH. Các nhà VHH Trung Quốc bắt
đầu từ nhận định của nhà nghiên cứu người Mỹ L. White để đi tìm một định nghĩa
cho riêng mình. White cho rằng “VHH là một khoa học không dùng quan điểm
tâm lý học, cũng không dùng quan điểm của xã hội học, VHH dùng nhân tố văn
hóa để giải thích các vấn đề có liên quan đến hành vi con người”. Tác giả Trung
Quốc Ngô Trạch Lâm 吴泽霖 trong cuốn “Từ điển Nhân loại học” cũng có lối giải
thích tương tự, cho rằng VHH là một khoa học “coi văn hóa là hiện tượng có loại
hình đặc biệt để tiến hành nghiên cứu. Khoa học này tìm cách dùng các nhân tố
văn hóa đơn lẻ, không dùng các sinh vật hay các hiện tượng tâm lý để giải thích
các hiện tượng văn hóa ” [Lý Vinh Thiện 1996: 48]. Hoàng Văn Sơn 黄文山
[1971] thì cho rằng VHH là một khoa học về văn hóa, một khoa học kinh nghiệm,
một khoa học quy phạm. Trước tiên, VHH không phải là khoa học tự nhiên vì “hệ
thống văn hóa mà nó nghiên cứu hình thành từ sự kết hợp giữa “đạo” 道 (tức hệ
thống giá trị), “khí” 气 (hệ thống vật chất) và “động nhân con người”
人之动因 (hệ thống hành), do vậy VHH không thể tách rời giá trị và mụch đích
của nhân loại, là một khoa học mục đích, một khoa học lý giải”. “Nhà VHH trong
lĩnh vực văn hóa là một “nhà công tác cộng đồng”, “nhà tham dự cộng đồng”. Ông
nhấn mạnh rằng không thể vì tính trừu tượng và phi xác định cũa đối tượng mà
cho VHH là một khoa học ước lượng theo phương pháp thực nghiệm bài xích.

VHH không phải là thần học hay huyền học mà là một khoa học kinh nghiệm, nó
giống như khoa học tự nhiên cũng kiếm tìm và kiến lập nguyên tắc. Tuy nhiên,
VHH không giống với khoa học tự nhiên vì VHH luôn chú ý đến “hệ số chủ nghĩa
nhân bản”, và vì thế nó giống với các khoa học xã hội khác, có quy phạm đặc thù,
trở thành một khoa học quy phạm [Hoàng Văn Sơn 1971: 174-177]. Diêm Hoán
Văn thì nêu ra hai lý do cho sự hình thành của văn hóa học, rằng “Văn hóa học là
một khoa học cụ thể, có hệ thống nghiên cứu sinh mạng con người”, và “văn hóa
học là con đường tìm hiểu lịch sử văn hóa hợp lý nhất” [Hoàng Văn Sơn 1949: 12].
Tác giả Tiền Mục [1952] thì cho rằng “VHH là một khoa học nghiên cứu ý nghĩa
và giá trị nội tại của cái tổng thể mang tính truyền thống, tính tổng hợp của đời
sống con người”. Cụ thể VHH là một “khoa học nghiên cứu giá trị nhân sinh”. Tác
giả Đàm Quang Quảng trong cuốn “Từ điển văn hóa học” [1988] thì cho rằng
“VHH là một khoa học mới nổi nghiên cứu các hiện tượng văn hóa hay hệ thống
văn hóa”. “VHH chủ yếu bàn đến các vấn đề nguồn gốc, diễn biến, sự truyền bá,
kết cấu, chức năng, bản chất của các hiện tượng văn hóa, tính chất chung và riêng
của văn hóa, quy luật đặc thù và quy luật phổ biến của văn hóa” [Đàm Quang
Quảng 1988: 117]. Lý Vinh Thiện [1996: 48-51] còn thêm rằng “VHH không
nghiên cứu nội dung cụ thể của các tiểu hệ thống mà là trên cơ sở của các khoa
học chuyên môn phân tích tổng hợp các quan hệ lẫn nhau giữa các tiểu hệ thống
trong toàn bộ hệ thống văn hóa, từ đó nắm được tính chất, đặc trưng, kết cấu, chức
năng, sự truyền bá, loại hình, sự biến thiên của hệ thống văn hóa, thông qua đó rút
ra quy luật chung”. Nhà nghiên cứu Lưu Thủ Hoa cũng đưa ra khái niệm tương tự
với Lý Vinh Thiện [Lưu Thủ Hoa 1992: 24]. VHH là một khoa học tổng hợp xem
xét toàn bộ hoạt động con người ở góc độ chỉnh thể. VHH nghiên cứu chỉnh thể
hoạt động của con người, nó không thay thế được các khoa học cụ thể. Ngược lại
các khoa học cụ thể cũng không thể thay thế được vai trò của VHH.
VHH thể hiện sự tuy duy của văn hóa đối với chính văn hóa, hay còn gọi là sự tự
giác văn hóa. Trước đây văn hóa nhân loại phat triển vô ý thức, chưa có quy luật.
Từ sau khi VHH ra đời, nhân loại bắt đầu suy nghĩ trở lại về hành vi văn hóa của
mình. Do vậy sự xuất hiện của VHH còn làm tiêu chí cho sự phát triển của văn

hóa nhân loại. VHH là vật phái sinh của văn hóa, nó làm cho văn hóa tự nhận thức
chính mình, thông quy tư duy văn hóa sẽ tự thể hiện mình tốt hơn. VHH kêu gọi
con người hãy sáng tạo văn hóa theo quy luật phát triển của văn hóa nếu không
muốn tiến đến chỗ diệt vong. VHH không chỉ dừng lại ở nghiên cứu tổng hợp quá
khứ mà còn là khoa học chỉ điểm văn hóa nhân loại trong tương lai cũng như điều
tiết hành vi nhân loại. Nhiệm vụ này các khoa học khác không thay thế được
[Nghiêm Xuân Hữu, Nghiêm Xuân Bảo 1991: 36].
VHH cũng như các khoa học xã hội khác, có đối tượng nghiên cứu đặc thù của
mình, vì thế nó có thể trở thành một khoa học độc lập. Là một khoa học xã hội,
VHH phải áp dụng phương pháp nghiên cứu của khoa học xã hội trong thế giới
quan khoa học và sự chỉ đạo của phương pháp luận mới có thể hình thành và phát
triển bền vững. Chỉ khi nghiên cứu VHH mới có thể hiểu được bản chất văn hóa,
quy luật của sự phát triển văn hóa cũng như các mối quan hệ lẫn nhau giữa văn
hóa và xã hội, văn hóa và cá nhân, mới hiểu được vị trí, tác dụng, ý nghĩa của văn
hóa trong đời sống xã hội, từ đó thúc đẩy phát triển văn hóa. Do vậy, khi bắt đầu
nghiên cứu VHH, nhà nghiên cứu cần tìm hiểu đối tượng nghiên cứu, phương
pháp nghiên cứu và ý nghĩa nghiên cứu VHH.
b. Đối tượng nghiên cứu của VHH
VHH là một khoa học mang tính tổng hợp, đối tượng chính là hiện tượng văn hóa,
bản chất văn hóa, quy luật hình thành và phát triển của văn hóa. VHH coi việc
khảo sát các hiện tượng văn hóa làm hướng đạo nhập môn, coi việc tìm hiểu bản
chất văn hóa, quy luật hình thành và phát triển văn hóa làm nhiệm vụ trọng tâm.
Trên tổng thể VHH nghiên cứu trí tuệ của con người và năng lực sáng tạo thực
tiễn của con người trong hoạt động sống, bao gồm cả phương thức tư duy cùng với
những biểu hiện và quy luật diễn biến của nó. VHH không giống với khoa học tự
nhiên có đối tượng nghiên cứu là một chủng loài, một phương diện nào đó của tự
nhiên cùng với quy luật phát triển của nó. Còn VHH có đối tượng là con người và
văn hóa của họ.
VHH cũng không giống như các khoa học xã hội nhân văn cụ thể chỉ lấy các khía
cạnh, khâu đoạn hay các phương diện cụ thể của hiện tượng xã hội làm đối tượng

nghiên cứu. VHH không những không trực tiếp nghiên cứu các hiện tượng xã hội
cụ thể mà cũng không cần khảo sát cụ thể bất kì một hiện tượng văn hóa, xã hội
đơn phương nào. VHH tiến hành khảo sát và nghiên cứu tổng hợp các hiện tượng
văn hóa xã hội nhằm tìm ra bản chất, quy luật vận hành và phát triển của chúng
trên bình diện tổng thể. Xét về đối tượng nghiên cứu, VHH ở một chừng mực nhất
định có quan hệ mật thiết với các khoa học xã hội cụ thể khác. Các kết quả nghiên
cứu của các khoa học cụ thể khác sẽ cung cấp cho VHH nguồn tư liệu phân tích cụ
thể, góp phần làm nền cho các khảo sát tổng hợp của VHH. Bản thân các khoa học
cụ thể cũng là đối tương nghiên cứu của văn hóa.
Do VHH chủ yếu quan tâm đến tổng thể hệ thống văn hóa nên tác giả Lý Vinh
Thiện [1996: 50] này chia kết cấu hệ thống lý luận của VHH thành “cộng thời
thái” (共时态) và “lịch thời thái” (历时态). Ở phương diện “cộng thời thái”,
VHH phải nghiên cứu các vấn đề bản chất, thuộc tính, kết cấu, chức năng, công
dụng, loại hình v.v. của văn hóa. Bản chất văn hóa chính là nền tảng của toàn bộ
hệ thống lý luận văn hóa. Phân tích bản chất văn hóa sẽ cung cấp khung nhận thức
để từ đó lý giải chính xác về bản chất con người, lý giải các hiện tượng văn hóa
muôn hình vạn trạng, các hình thái văn hóa và sự khác biệt về giai tầng, cấu trúc
trong nội bộ hệ thống văn hóa. Nghiên cứu chức năng, công dụng của các tiểu hệ
thống của văn hóa sẽ có lợi cho việc xác định ý nghĩa của chúng đối với sự sinh
tồn và phát triển của con người. Ở phương diện “lịch thời thái”, nhà văn hóa phải
nghiên cứu nguyên nhân và quy luật chung của nguồn gốc, quá trình tích lũy, sự
truyền bá, sự biến thiên và phát triển của văn hóa. VHH phải bàn đến nhân tố tác
dụng tương quan phát sinh từ văn hóa, văn minh, từ đó rút ra động lực nội tại của
sự hình thành văn hóa, nêu bật tính ngẩu nhiên và tất nhiên của sự hình thành văn
hóa.
c. Phạm vi nghiên cứu
Do mục đích nghiên cứu khác nhau nên Lý Vinh Thiện [1996: 51-53] chia phạm
vi nghiên cứu VHH làm VHH lý luận và VHH ứng dụng. VHH lý luận, còn gọi là
VHH vĩ mô, chú trọng đến nghiên cứu lý luận tổng thể hệ thống văn hóa, nòng cốt
nghiên cứu là quan hệ con người – văn hóa, thể hiện chủ yếu ở quá trình “nhân

hóa”, quan hệ giữa văn hóa - tự do, văn hóa và xã hội, văn hóa và đời sống con
người, bản chất văn hóa và giá trị luận văn hóa nhằm rút ra được quy luật chung
nhất của sự phát triển của văn hóa. VHH lý luận bao gồm lý luận cơ bản VHH,
lịch sử tư tưởng VHH, lịch sử VHH v.v Hiện tại nghiên cứu VHH lý luận tại
Trung Quốc còn rất non yếu. VHH ứng dụng còn gọi là VHH vi mô (vi quan) chú
trọng nghiên cứu các hiện tượng văn hóa cụ thể, ứng dụng các nguyên lý cơ bản,
phương pháp và kết luận của nghiên cứu vào thực tiễn hoạt động xã hội, từ đó tìm
ra biện pháp giải quyết tương ứng. Lĩnh vực này bao gồm VHH nhận thức, VHH
khoa học, VHH chính trị, VHH kinh tế, VHH quân sự, VHH tâm lý, VHH đô thị,
VHH quản lý, VHH nghệ thuật, VHH giáo dục, VHH sinh thái, VHH nông thôn,
VHH doanh nghiệp, VHH tôn giáo v.v Trước xu thế phát triển của nghiên cứu
VHH hiện tại ở Trung Quốc cùng với đà phát triển không ngừng của kinh tế, VHH
ứng dụng ngày càng được chú ý nhiều hơn trong xã hội Trung Quốc.
Về hai lĩnh vực sử học văn hóa và VHH so sánh, các tác giả Trung Quốc không
đạt được sự thống nhất. Trong khi một số tác giả cho hai lĩnh vực này thuộc VHH
nhưng Lý Vinh Thiện [1996: 52] lại phủ nhận điều này. Theo ông, sử học văn hóa
coi quá trình phát sinh, phát triển của văn hóa nhân loại làm đối tượng nghiên cứu,
do vậy nó là một phân ngành khoa học của sự phát triển, giống như lịch sử văn
học, lịch sử nghệ thuật, lịch sử khoa học kỹ thuật, lịch sử triết học v.v Còn VHH
so sánh thuộc lĩnh vực nghiên cứu văn hóa chứ không thuộc VHH. Theo ông, cả
ba đều là phân khoa học của nghiên cứu văn hóa. Trong hệ thống nghiên cứu văn
hóa, VHH chiếm vị trí cao nhất, sử học văn hóa chiến vị trí thấp nhất, trung gian là
VHH so sánh.
d. Phương pháp nghiên cứu
Sự hình thành và phát triển của một khoa học không chỉ cần có đối tượng nghiên
cứu rõ ràng mà phải có cả phương pháp nghiên cứu chính xác. Đầu tiên phải kể
đến phương pháp luận, sau đó đến các phương pháp cụ thể.
- Phương pháp luận VHH: các tác giả Trung Quốc đều thống nhất coi chủ nghĩa
duy vật lịch sử làm phương pháp luận VHH. Chủ nghĩa duy vật lịch sử giúp con
người thể hiện những điều huyền diệu trong bản chất con người, bản chất văn hóa.

Nó cung cấp phương pháp luận và nhận thức luận biện chứng cho quá trình tái cấu
trúc hệ thống văn hóa. Theo yêu cầu của chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp
nghiên cứu VHH phải có sự chuyển đổi rõ rệt. Thứ nhất, chuyển từ nghiên cứu
thực tế kinh nghiệm cụ thể sang nghiên cứu trừu tượng. Thời gian đầu, các nhà
VHH Trung Quốc thươờg sử dụng phương pháp xã hội học để xử lý các hiện
tượng văn hóa, vô hình trung đã biến các hiện tượng văn hóa “sống” thành hiện
tượng “chết” rồi đi tìm quy luật phổ biến của các hiện tượng “chết” này. Do vậy
thành quả nghiên cứu được không trực tiếp thể hiện ý nghĩa thật sự của các hiện
tượng văn hóa. Bản thể luận VHH yêu cầu nhà nghiên cứu phải bám sát vấn đề
sinh tồn và tự do của con người, phải coi con người là một thực thể sống và không
ngừng thay đổi, phát triển trong nghiên cứu. Thứ hai, đi từ phương pháp nghiên
cứu tâm lý học đến phương pháp triết học nhân văn. Trước đây, các nhà VHH
Trung Quốc thường chỉ chú ý đến các hiện tượng văn hóa trong đời sống hiện thực
như văn hóa kinh tế, văn hóa chính trị v.v., thường coi văn hóa là một hiện tượng
tâm lý, bỏ qua nhiệm vụ căn bản của VHH là thúc đẩy sự phát triển của con người.
Theo bản thể luận, các hiện tượng văn hóa đều là hiện tượng con người, do vậy
nghiên cứu VHH phải đi từ phương pháp nghiên cứu tâm lý học kinh nghiệm đến
phương pháp triết học nhân văn, tức coi con người là hình tượng luôn không
ngừng phấn đấu vượt qua chính mình, hướng tới sự hoàn thiện. Thứ ba, đi từ
nghiên cứu ; ý luận trừu tượng đến nghiên cứu hiện thực cụ thể. Trước đây, giới
nghiên cứu VHH Trung Quốc thường chỉ nghiên cứu một số bộ phận nhỏ của văn
hóa như văn hóa Nho gia, văn hóa Phật giáo. Loại nghiên cứu này có ý nghĩa cố
định nhưng không mang tính phổ biến và tính điển hình, tức không hoàn thành sứ
mệnh của VHH. Do vậy, VHH phải trở về với hiện thực đương đại, khảo sát các
hiện tượng văn hóa đương đại để phục vụ sự phát triển của xã hội đương đại.
- Các phương pháp điển hình nghiên cứu VHH:
Hiện tại nhiều tác giả nghiên cứu lý luận VHH đã đề xuất và áp dụng nhiều
phương pháp nghiên cứu VHH khác nhau, trong đó có những phương pháp đã đạt
được sự thống nhất chung, cũng có những phương pháp đi theo nhiều chiều hướng
khác nhau tùy thuộc vào lĩnh vực quan tâm của các tác giả. Nhìn chung, đa phần

các phương pháp này được các tác giả Trung Quốc tiếp thu từ VHH ở phương Tây.
Trước hết là các phương pháp thống nhất.
+ Phương pháp triết học: là phương pháp quan trọng, đảm bảo tính khoa học của
nghiên cứu VHH. Phương pháp triết học tại Trung Quốc được phân thành nhiều
tiểu phương pháp khác nhau, bao gồm: phương pháp “lưỡng quy kết” (两归结),
phương pháp thống nhất chủ thể và khách thể, phương pháp phân tích tổng hợp
các mâu thuẫn xã hội, phương pháp thống nhất giữa logic và lịch sử.
+ Phương pháp chỉnh thể: phương pháp khảo sát toàn bộ phương vị của một hệ
thống văn hóa bất kỳ. Nhà nghiên cứu đặt tất cả các hiện tượng văn hóa của nhân
loại thành một chỉnh thể thống nhất, trong đó mỗi thành tố văn hóa không thể tồn
tại độc lập màđều có quan hệ hữu cơ với các thành tố khác trong cùng hệ thống.
Các nghiên cứu độc lập không thể chỉ ra được đặc tính chỉnh thể và quan hệ nội tại
của hệ thống văn hóa. Vì vậy, phương pháp này đang được sư dụng rộng rãi tại
Trung Quốc [Lý Vinh Thiện 1996: 60]. Hai tác giả Nghiêm Xuân Hữu, Nghiêm
Xuân Bảo [1991: 40] đặc biệt coi trọng phương pháp này, cho rằng nó đảm bảo ý
nghĩa phổ biến nhất của đối tượng nghiên cứu.
+ Phương pháp quan sát - khảo sát thực địa: Đây là phương pháp cơ bản mà tất
cả các khoa học đều áp dụng. Theo phương pháp này, nhà nghiên cứu VHH thông
qua trực tiếp khảo sát đối tượng tìm kiếm loại tư liệu đầu tay đáng tín cậy nhất cho
nghiên cứu của mình. Các loại tư liệu có được qua tay những người nghiên cứu
trước do nhiều lý do khác nhau không thể làm hài lòng các nhà nghiên cứu ưu tú,
chẳng hạn các vấn đề đặc điểm tâm lý dân tộc thường được những người đi trước
nhân thức theo cảm tính nên sự tin cậy của loại tư liệu này không cao bằng tư liệu
thu được qua trực tiếp khảo sát. Từ nửa sau thế kỷ XIX, các nhà nghiên cứu ở
nhiều lĩnh vực khác nhau ở phương Tây đã áp dụng thành công và hoàn thiện dần
phương pháp này, đồng thời gặt hái được nhiều thành quả to lớn cho khoa học.
Giới nghiên cứu Trung Quốc ngay từ khi hình thành VHH cũng đã rất chú trọng
phương pháp này. Khi áp dụng, họ chú ý đến hai khía cạnh quan trọng đảm bảo sự
thành công của phương pháp, đó là tính khách quan và tính toàn diện trong nghiên
cứu.

+ Phương pháp tư duy logic: còn gọi là phương pháp phân tích, là phương pháp
nghiên cứu cơ bản của VHH. Ở một mức độ nhất định, phương pháp này cung cấp
giá trị lý luận cho nghiên cứu VHH. Phương pháp này chú trọng hai khâu quan
trọng, đó là phân tích và tổng hợp. Phân tích là đem các hiện tượng văn hóa phức
tập phân giải thành các nhóm thành tố, từ đó khảo sát riêng từng nhóm để tìm ra
đặc điểm, tính chất của từng thành tố một. Quá trình tổng hợp là quá trình liên kết
các đặc điểm, tính chất đã tìm ra để khảo sát tổng thể rồi rút ra cái cốt lõi của vấn
đề. Trong phương pháp này giới nghiên cứu VHH Trung Quốc chủ trương vận
dụng triết học chủ nghĩa Mác làm nền tảng suy luận.
+ Phương pháp nghiên cứu lịch sử: là phương pháp cơ bản trong nghiên cứu
VHH, phương pháp truy tìm quan hệ lịch sử theo chiều dọc của các hiện tượng
văn hóa. Phương pháp này đòi hỏi nhà nghiên cứu nắm bắt được lai lịch, diễn biến
của các hiện tượng văn hóa, qua tham chiếu các tư liệu văn hiến và văn vật để
nhân thức ra hình thái tồn tại của văn hóa trong lịch sử cũng như ảnh hưởng của
nó đối với văn hóa hiện đại, đồng thời tìm ra quy luật chung cho sự phát triển của
văn hóa trong tương lai. Các nhà nghiên cứu VHH đặc biệt chú trọng phương pháp
này vì muốn đảm bảo các nghiên cứu của mình mang tính thực tiễn.
+ Phương pháp so sánh: là một phương pháp thường thấy trong nghiên cứu VHH
cũng như các khoa học khác tại Trung Quốc. Phương pháp này cho phép nhà
nghiên cứu mang các tư liệu văn hóa, hiện tượng văn hóa tiến hành so sánh, khái
quát, phân loại ở nhiều cấp độ, phạm vi khác nhau để phát hiện và lý giải các mối
liên hệ và quan hệ lẫn nhau giữa các hiện tượng văn hóa hay giữa các nhân tố nội
tại của các hiện tượng văn hóa, từ đó nắm được bản chất đặc thù và bản chất phổ
biến của các loại hiện tượng văn hóa, quy luật đặc thù và quy luật phổ biến của sự
phát triển văn hóa. Do mục đích so sánh khác nhau, phương pháp này được chia ra
thành phương pháp so sánh lịch sử (nghiên cứu so sánh theo chiều dọc), phương
pháp so sánh loại hình (nghiên cứu so sánh theo chiều ngang) và phương pháp so
sánh kết hợp cả chiều dọc và chiều ngang. Do thao tác tiến hành khác nhau,
phương pháp so sánhcòn được chia ra thành nhiều phương pháp nhỏ như so sánh
khống chế, so sánh văn hóa giao tham v.v Lý Vinh Thiện [1996: 58-59] thì chia

phương pháp này ra dưới dạng hai hình thức: phương pháp so sánh loại (loại tỉ
pháp) và phương pháp so sánh thông thường. Phương pháp so sánh loại căn cứ vào
một đặc điểm chung (tương tự) về bản chất của hai hiện tượng văn hóa để đoán
định răằg hai hiện tượng đó có nhiều điểm chung (tương tự) khác. Phương pháp so
sánh thông thường thì coi trong nghiên cứu so sánh cả tính tương đồng và dị biệt
giữa chúng. Các tác giả đặc biệt chú trọng đến tính khách quan của tiêu chuẩn so
sánh trong nghiên cứu.
+ Phương pháp văn hiến: là một phương pháp cơ bản trong nghiên cứu VHH.
Phương pháp này thông qua khảo sát các nguồn tư liệu ghi chép như sách, báo, tài
liệu viết tay v.v để tham chiếu với các tư liệu cóđược qua khảo sát thực địa, từ đó
phân tích chính xác và toàn diện đối tượng được nghiên cứu. Phương pháp này đòi
hỏi người nghiên cứu phải có kiến thức rộng về lĩnh vực nghiên cứu, nắm được
phương pháp luận và các trình tự khoa học trong nghiên cứu.
Ngoài ra còn có một số phương pháp nghiên cứu khác được đề xuất trong nghiên
cứu VHH như sau:
+ Phương pháp phân tích quan niệm: phương pháp nghiên cứu quan niệm giá trị
con người thông qua khảo sát phương thức sống và sản xuất của con người.
Phương pháp này nghiên cứu từ hình thức đến nội dung, từ bề nổi đến chiều sâu
của vấn đề. Văn hóa của bất kỳ dân tộc nào cũng bao hàm cả phương thức tư duy,
quan niệm giá trị, ý thức thẫm mỹ, ý thức chính trị, quan niệm đạo dức, quan niệm
thời gian – không gian v.v Thông qua phương pháp này, nhà nghiên cứu sẽ nhận
thức được quan niệm về tính dân tộc, tư tưởng triết học, văn hóa, nghệ thuật v.v.
của dân tộc đó. Tuy nhiên, phương pháp này đi từ cảm tính sang lý tính nên đòi
hỏi nhà nghiên cứu phải có trình độ và bản lĩnh vững vàng trong nghiên cứu. Hiện
tại phương pháp này chưa được áp dụng tại Trung Quốc.
+ Phương pháp nghiên cứu trường hợp (nghiên cứu cá án – 个案研究): giới
nghiên cứu lý luận VHH Trung Quốc đánh giá rằng các nghiên cứu xuyên văn hóa
trong VHH sẽ thiếu cơ sở tin cậy nếu không có tiền đề của nghiên cứu trường hợp.
Nghiên cứu trường hợp đi sâu vào các chi tiết, khía cạnh cụ thể của một trường
hợp (cá án) nhất định để rút ra được quy luật chung của cả “chủng loại”. Phương

pháp này được sử dụng khá phổ biến ở Trung Quốc.
+ Phương pháp khoa học hiện đại: phương pháp áp dụng các thành quả nghiên
cứu của nhiều lĩnh vực khác kể cả khoa học tự nhiên vào nghiên cứu VHH đưới
góc độ tổng thể. Các nhà lý luận cho rằng thành quả của khoa học hiện đại đã
chứng minh tính biện chứng của các khoa học trong toàn bộ hệ thống rất cần thiết
trong nghiên cứu VHH, chẳng hạn VHH có thể áp dụng các lý luận hệ thống luận,
khống chế luận, thông tin luận, hiệp đồng luận, đột biến luận, phương pháp toàn
học v.v trong nghiên cứu của mình [Lý Vinh Thiện 1996: 61].
Tùy trường hợp cụ thể còn có các phương pháp bổ trợ khác như phương pháp
phát sinh học, phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp phân tích biểu
tượng, phương pháp mô thức văn hóa, phương pháp phân tích chủ nghĩa tương đối
văn hóa, phương pháp nghiên cứu lập thể, phương pháp sinh thái học, phương
pháp nghiên cứu truyền bá theo chiều ngang lẫn chiều dọc v.v. Các phương pháp
này đều có đóng góp tích cực cho nghiên cứu VHH ở những mức độ và tính chất
khác nhau [Chu Hồng Vũ 1987: 58]. Các phương pháp này có thể sử dụng kết
hợp đồng thời tùy trường hợp và tuỳ quan điểm của nhà nghiên cứu.
- Trình tự và kỹ thuật nghiên cứu VHH: Tác giả Hoàng Văn Sơn đề xuất trình tự
và kỹ thuật nghiên cứu VHH được giới nghiên cứu đánh giá cao. Cụ thể gồm có 5
bước sau:
(1) vạch ra phạm vi văn hóa hay giới hạn niên đại làm phạm vi nghiên cứu;
(2) nắm vững chân tướng của phạm vi văn hóa hay giới hạn niên đại đã đóng
khung;
(3) chú ý các quan hệ bên ngoài của nó, phát hiện các quan hệ tương hỗ, tìm
kiếm đặc điểm, tính chất văn hóa và ảnh hưởng qua lại giữa các yếu tố văn hóa;
(4) nghiên cứu kỹ các yếu tố biến động văn hóa; và
(5) áp dụng các khái niệm và nguyên tắc văn hóa làm nguyên tắc nghiên cứu
[dẫn trong Lý Vinh Thiện 1996: 62-63; Chu Hồng Vũ 1987: 58].
e. Tính chất và vị trí của văn hóa học
Về tính chất, VHH hội tụ ba đặc điểm sau:
Thứ nhất, VHH là một khoa học xã hội mang tính tổng hợp, nó nghiên cứu các

hiện tượng văn hóa cùng với các quy luật của văn hóa ở tất cả các bình diện của hệ
thống.
Thứ hai, VHH là một khoa học vừa mang tính lý luận trừu tượng vừa mang tính
cụ thể kinh nghiệm.Hiện tượng văn hóa tồn tại khi làm hiện tượng kinh nghiệm
trong đời sống xã hội, bất luận là hiện tượng vật chất, hiện tượng hành vi hay hiện
tượng tinh thần. Hiện tượng văn hóa là cụ thể, là sống, được con người cảm thụ
bằng các giác quan. Do vậy, VHH nghiên cứu các hiện tượng văn hóa cũng mang
tính chất kinh nghiệm ở một chừng mực nhất định. Tuy vậy, VHH vẫn có tính lý
luận cao trong nghiên cứu nên nó không hoàn toàn là một khoa học kinh nghiệm
cụ thể như các khoa học cụ thể khác như dân tộc học, kinh tế học v.v
Thứ ba, VHH là một khoa học xã hội chuyên nghiên cứu và rút ra bản chất con
người, trí tuệ và năng lực sang tạo thực tiễn của họ. Văn hóa chính là đối tượng
hóa của trí tuệ và năng lực sáng tạo của con người trong quá trình cải tạo thế giới
khác quan. Con người và văn hóa quy định lẫn nhau. VHH nghiên cứu bản chất và
quy luật phát triển của văn hóa về cơ bản cũng chính là nghiên cứu và rút ra kết
luận về bản chất con người cùng với sức mạnh của họ ở góc độ khoa học. Thông
qua VHH, chúng ta sẽ nhận thứ sâu thêm phương thức mà con người sử dụng trí
tuệ của mình để sang tạo thế giới, từ đó rút ra quy luật và định hướng phát triển
[Dương Kính Giang 1992: 1-5], [Lưu Thủ Hoa 1992: 25].
Về vị trí, hiện tại các học giả Trung Quốc vẫn đang tranh luận về vị trí của khoa
học này trong toàn bộ hệ thống khoa học. Nhìn chung, có ba xu hướng chính:
- Xu hướng coi VHH nằm ở điểm đỉnh của “kim tự tháp” khoa học, coi VHH là
khoa học cao nhất trong hệ thống khoa học kể cả tự nhiên lẫn xã hội. Đại diện cho
xu hướng này có Tiêu Dương, Hồ Chí Minh [1989], Nghiêm Xuân Hữu, Nghiêm
Xuân Bảo [1991: 35-40]. Các tác giả thuộc khuynh hướng này cho rằng đối tượng
nghiên cứu của các khoa học khác về thực chất đều thuộc hệ thống văn hóa, trong
khi VHH nghiên cứu chính hệ thống văn hóa này. Các khoa học khác chỉ nghiên
cứu các yếu tố, phương diện, quá trình, khâu đoạn, chức năng cá biệt của hệ thống
văn hóa. Các tác giả Nghiêm Xuân Hữu, Nghiêm Xuân Bảo [1991: 35] cho rằng
các khoa học cụ thể chỉ quan tâm đến công tác nghiên cứu ở lĩnh vực của mình mà

không nhận thức được ý nghĩa của mình trong hệ thống văn hóa cùng với mối liện
hệ văn hóa giữa chúng với các khoa học khác. Nhiệm vụ đó thuộc về VHH. Chẳng
hạn triết học cũng chỉ nghiên cứu triết, nhân loại học chỉ nghiên cứu con người và
chủng loài v.v Hai tác giả này còn ví von rằng các khoa học cụ thể trong hệ
thống khoa học như “những chiến sĩ trên mặt trận khai phá văn hóa nhân loại
trong khi VHH giữ vị trí thống soái”, “nhiệm vụ của nó là phân tích ý nghĩa văn
hóa của mội trận địa mà các chiến sĩ khai phá được”. Ngoài ra, theo hai tác giả này,
VHH còn có một khoa học bao trùm lên chính nó, đó là VHH học (hay nguyên
văn hóa học). Mỗi khoa học trong nó còn có nguyên khoa học, thường gọi là khoa
học học. VHH cũng thế. Bên cạnh đó, tất cả các hoạt động đều là hiện tượng văn
hóa, đều là đối tượng của VHH. Do vậy VHH cũng coi bản thân các hoạt động
khoa học làm đối tượng nên nó có thể trở thành một nguyên khoa học cao nhất.
Ngay cả triết học cũng không có vị trí này của triết học.
- Xu hướng thứ hai coi VHH là khoa học tổng hợp cơ bản nằm ở vị trí cao nhất
trong hệ thống khoa học xã hội nhân văn. Các tác giả tiêu biểu gồm có Chu Hồng
Vũ 周洪宇[1987: 47-58], Lý Vinh Thiện [1996: 45-55], v.v. Lập luận cơ bản của
quan điểm này khá giống với quan điểm trên, chỉ khác nhau ở phạm vi mà thôi.
Tác giả Lý Vinh Thiện còn lập luận rằng vị trí tối cao này của VHH trong hệ
thống khoa học xã hội nhân văn có được một phần là do xu thế chuyển hướng
nghiên cứu từ tự nhiên sang xã hội, từ cụ thể đến tổng hợp của khoa học trên toàn
thế giới. Thêm vào đó, xu hướng coi trọng tư duy con người, chú trọng sắc thái giá
trị, xác định vị trí của toàn nhân loại, của từng dân tộc, từng cá thể trong hệ thống
giá trị đã tạo nền cho VHH chiếm vị trí cao nhất trong “kim tự tháp” khoa học xã
hội nhân văn [Lý Vinh Thiện 1996: 45-56].
- Xu hướng thứ ba coi VHH là một khoa học tổng hợp thuộc hệ thống khoa học
xã hội, có vị trí thấp hơn triết học nhưng cao hơn các khoa học cụ thể khác cùng
hệ thống. Có thể thấy giới nghiên cứu lý luận VHH tại Trung Quốc phần nhiều
thiên về quan điểm thứ ba này. Tiêu biểu cho xu hướng này là Dương Kính Giang
[1992: 4|, Chu Hồng Vũ 周洪宇, Trình Khởi Hạo 程启灏, Du Hoài Ninh 俞怀宁,
Hùng Kiến Hoa 熊建华 [1987: 53-54]. Theo tác giả này, tuy VHH có đối tượng

nghiên cứu mang tính tổng hợp nhưng nó không quá khái quát như triết học, nó
thấp hơn triết học. VHH không thể cung cấp thế giới quan và phương pháp luận
mà ngược lại nó tiếp nhận từ triết học. Cụ thể hơn ở trường hợp Trung Quốc, chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác mới cung cấp cho
VHH thế giới quan và phương pháp luận. VHH hình thành và phát triển dưới sự
chỉ đạo của chủ nghĩa Mác. Ngược lại VHH có thể coi triết học là đối tượng
nghiên cứu, là đối tượng khảo sát của mình. Vị trí cụ thể của VHH trong hệ thống
khoa học được các tác giả Chu Hồng Vũ, Trình Khởi Hạo miêu tả qua sơ đồ sau
(hình 1).


Tuy vậy, các tác giả cũng nhấn mạnh rằng mặc dù có vị trí cao trong hệ thống
khoa học xã hội nhân văn, VHH vẫn phải coi trong mối quan hệ giữa mình và các
khoa học lân cận, nhất là tham khảo phương pháp nghiên cứu cũng như tiếp nhận
thành quả nghiên cứu của các khoa học khác để làm phong phú thêm nội dung
nghiên cứu của mình.
f. Văn hóa học và các khoa học lân cận
VHH là một khoa học tổng hợp nghiên cứu các loại hiên tượng văn hóa hay hệ
thống văn hóa, trong khi các khoa học xã hội và nhân văn khác cũng coi văn hóa
là một bộ phận trong đối tượng nghiên cứu của mình. Do vậy, việc khu biệt VHH
và các khoa học khác không chỉ giúp nhận thức chính xác và toàn diện vị trí của
VHH trong toàn bộ hệ thống khoa học, mà qua so sánh chúng ta còn thấy rõ sự
giao thoa, ảnh hưởng và bổ trợ lẫn nhau giữa VHH và các khoa học khác trong
quá trình phát triển. Dưới đây là nội dung khu biệt VHH và một số khoa học tiêu
biểu của các tác giả Lý Vinh Thiện [1996: 71-80], Nghiêm Xuân Hữu, Nghiêm
Xuân Bảo [1991: 35-40], Đàm Quang Quảng [1988: 117-119], Lưu Thủ Hoa
[1992: 21-23] v.v
- VHH và triết học
Đối tượng căn bản trong nghiên cứu triết học là quan hệ giữa con người và thế
giới, là sự khái quát và tổng kết giữa ý thức tự nhiên và ý thức xã hội. Triết học

còn là phương pháp luận và xuất phát điểm khoa học, vừa làm lý luận trong thực
hiện vừa chỉ đạo cho lý luận trong nghiên cứu. Triết học là một khoa học tổng thể
nghiên cứu con người và thế giới khác quan. Triết học Chủ nghĩa Mác là cơ sở lý
luận của VHH ở Trung Quốc, là kim chỉ nam trong nghiên cứu và là phương pháp
thực tiễn cụ thể của VHH. Triết học cung cấp cho các khoa học khác sự chỉ đạo về
thới giới quan và phương pháp luận.
Xuất phát điểm, nội dung và mục đích của nghiên cứu triết học có nhiều điểm
tương đồng với phạm vi nghiên cứu của VHH. Chẳng hạn, cả hai khoa học đều coi
sự tồn tại của con người là sứ mệnh cao nhất, đều quan tâm đến quan hệ giữa con
người và tự nhiên, giữa con người và xã hội, đến sự tiến bộ của ý thức tự nhiên và
ý thức xã hội, đều đi từ vĩ mô đến vi mô. Dù vậy, triết học, đặc biệt là triết học văn
hóa vẫn khác với VHH. Tuy triết họccũng nghiên cứu hiện tượng văn hóa nhưng
nó nghiên cứu tất cả các hiện tượng của giới tự nhiên, xã hội con người lẫn tư duy,
từ đó rút ra quy luật phổ biến chung nhưng triết học (triết học văn hóa) thiên về
khuynh hướng suy luận (tư biện), logic, hình nhi thượng, còn VHH thì thiên về
mặt lý luận, thuộc loại “lý luận trung hình”. Tuy VHH có đầy đủ các mô thức lý
luận song lại chú ý hơn ở sự kết hợp giữa tư liệu thực tế và suy luận lý luận, không
quá trừu tượng và khái quát như triết học (triết học văn hóa). Tóm lại, triết học
nghiên cứu bản thể thế giới, còn VHH nghiên cứu bản thể văn hóa. Mục tiêu trực
tiếp của VHH là con người và văn hóa, khác với mục tiêu của triết học.
- VHH và xã hội học
Xét ở nghĩa rộng, xã hội học nghiên cứu tổng thể các hiện tượng xã hội và các
vấn đề xã hội, bao gồm quan hệ xã hội, đời sống xã hội, chế độ xã hội, cải cách xã
hội, vận hành xã hội v.v., kể cả các vấn đề xã hội như hôn nhân, gia đình, công tác
thanh niên, việc làm, đô thị, tội phạm v.v Bên cạnh đó, xã hội học còn nghiên
cứu nhiều khía cạnh xã hội mà các khoa học khác chưa nghiên cứu đến. Ở một
chừng mực nhất định, VHH có quan hệ gần gũi với xã hội học.
Dù vậy, các hiện tượng văn hóa nằm trong đối tượng nghiên cứu của xã hội học
chỉ đơn thuần là lĩnh vực văn hóa thể hiện qua các sản phẩm văn hóa, đồng thời xã
hội học coi trọng khảo sát hiện thực, coi trọng các vấn đề kết cấu xã hội, chế độ xã

hội, biến thiên xã hội, quan hệ xã hội, chức năng xã hội v.v., từ đó nắm được tổng
thể các sự kiện xã hội, bộ mặt xã hội, rút ra các quy luật chung của xã hội và đề ra
các biện pháp giải quyết. Khác với xã hội học, VHH chú trọng đến quan hệ giữa
con người tham gia vào các hành vi, sự kiện xã hội đó và văn hóa, từ đó nắm được
vị trí của con người trong toàn bộ hệ thống giá trị, rút ra cơ chế của hệ thống văn
hóa và quy luật phát triển. Về mặt phương pháp nghiên cứu, xã hội học thường lựa
chọn phương pháp kinh nghiệm, thiếu phương pháp triết học nhân văn của VHH.
Nói về quan hệ giữa VHH và xã hội học, nhà nghiên cứu VHH Lưu Thủ Hoa
[1992: 21-23] cho VHH tách ra từ xã hội học và nhân loại học văn hóa đã hơn nửa
thế kỷ”, “xã hội học và nhân loại học văn hóa không thể đảm nhiệm được vai trò
của nghiên cứu VHH”, vì vậy “VHH là một khoa học độc lập”.
Qua phân tích trên cho thấy VHH và xã hội học là hai khoa học độc lập, có góc
nhìn, mục đích khác nhau, nhìn nhận một hiện tượng ở những khía cạnh khác nhau
nên cả hai không thể thay thế cho nhau. VHH và xã hội học có thể bổ trợ cho nhau
trong phát triển. Sự giao thoa của hai khoa học này làm tiền đề xuất hiện của xã
hội học văn hóa. Tuy VHH và xã hội học văn hóa đều có đối tượng nghiên cứu là
con người, xã hội, văn hóa song xã hội học văn hóa dung lý luận xã hội học trong
nghiên cứu trong khi VHH có hệ thống lý luận và phương pháp riêng của mình.
- VHH và nhân loại học
Xét về từ nguyên, nhân loại học là khoa học nghiên cứu con người và chủng loài
con người. Trên thực tế, nhân loại học là một khoa học thực nghiệm lịch sử và lý
luận. Nhân loại học nghiên cứu lịch sử phát triển của bản than con người cũng như
văn hóa mà con người sang tạo ra ở cả tằm vĩ mô lẫn vi mô. Nhân loại học kết hợp
nghiên cứu con người ở cả hai phương diện sinh vật học và văn hóa xã hội, từ đó
tìm ra đặc điểm rõ nét nhất, toàn diện nhất về con người. Chính ở điểm này, nhiều
nhà khoa học phương Tây đã nhầm lẫn coi VHH cũng là nhân loại học. Trong
nhân loại học, bộ phận gần nhất với VHH là nhân loại học văn hóa.
Thế nhưng, nhân loại học vẫn không trùng khớp với VHH. Sự khác biệt này thể
hiện ở hai phương diện. Một là, nhân loại học và VHH khác nhau ở khía cạnh của
đối tương và phạm vi không gian, thời gian trong nghiên cứu. Nhân loại học thiên

về chú ý các phương thức sinh hoạt, phương thức tư duy, mô thức hành vi v.v
của con người thời tiền sử hay các dân tộc thời nay đang ở giai đoạn chưa khai hóa,
trong khi đó VHH lại chú trọng đến mặt suy luận các vấn đề sinh tồn và tự do của
con người ở góc độ văn hóa hiện thực. Ngay cả nhân loại học văn hóa cũng có
mục đích nghiên cứu không trùng hợp với VHH. Hai là, nhân loại học và VHH có
phương pháp nghiên cứu khác nhau. Phương pháp nghiên cứu của nhân loại học
được xây dựng trên cơ sở của tâm lý học kinh nghiêm, trong khi phương pháp
nghiên cứu của VHH được xây dựng trên cơ sở bản thể luận. Dĩ nhiên, xã hội loài
người có nhiều biến động, chẳng hạn chiêế tranh và hoà bình, sự dịch chuyên đa
chiều của loài người, sự mất cân bằng sinh thái v.v đã khiến nhân loại học mở
rộng phạm vi nghiên cứu đến các hiện tượng văn hóa, các loại hình đời sống hiện
đại cũng như sự biến thiên văn hóa trong xã hội. Các thành quả này hoàn toàn có
lợi cho VHH trong quá trình phát triển sự nghiệp khoa học của mình.
- VHH và lịch sử học
Lịch sử học là khoa học tương đối cổ xưa trong toàn bộ hệ thống khoa học. Sự
hình thành và phát triển của VHH chắc chắn có quan hệ mật thiết với lịch sử học.
Cả hai khoa học có nhiều điểm tương đồng, đều thừa nhận đối tượng nghiên cứu
của mình có tính quy luật, và đều xem xét rút ra nội dung cốt lõi nhất của các quy
luật. Cả hai khoa học đều lấy con người làm trung tâm, đều nhấn mạnh cơ sở vật
chất của các hiện tượng văn hóa và lịch sử đều là sự phản ánh của kinh tế, chính trị,
xã hội và mối quan hệ giữa chúng. Cả hai khoa học đều đặt trọng tâm nghiên cứu
ở sự biến thiên văn hóa, sự chuyển dịch văn hóa do hai đối tượng thuộc hai xã hội
khác nhau tiếp xúc nhau tạo nên.
Bản thân lịch sử cũng là một hiện tượng văn hóa. Con người ở các thời đại khác
nhau được kết nối nhau không chỉ bằng thời gian mà còn bằng văn hóa. Ý nghĩa
đặc thù của lịch sử nhân loại là do thời gian và văn hóa mang lại. Văn hóa bản
thân mình cũng là một hiện tượng lịch sử. Sự đúc kết của văn hóa nhân loại là sản
phẩm mà con người tích lũy được qua lịch sử và thực tiễn xã hội. Muốn hiểu được
hiện tượng văn hóa phải tiên hành nghiên cứu lịch đại. Về phương điển này, lịch
sử học có vai trò bổ trợ. Thế nhưng, lịch sử học và VHH vẫn khác nhau. Lịch sử

học chủ yếu nghiên cứu hoạt động lịch sử, sự biến thiên xã hội và quy luật phát
triển của nhân loại, có căn cứ là các loại tư liệu lịch sử được ghi chép bằng văn tự,
các nguồn tài liệu sưu tập trong dân gian hay khảo cổ. Trong khi đó, VHH chủ yếu
nghiên cứu quy luật của văn hóa cùng với tác dụng của nó trong lịch sử, tuy không
có ghi chép văn tự nhưng có thể tham chiếu các hiện tượng văn hóa xã hội của các
dân tộc đang còn ở giai đoạn nguyên thuỷ thời hiện tại để suy đoán quá trình hình
thành, sáng tạo và vận dụng văn hóa của con người thời cổ đại. Điều quan trong là
lịch sử đặt trọng tâm nghiên cứu quá khứ, không quan tâm nhiều đến nghiên cứu
hiện tại và tương lai, còn VHH không chỉ nghiên cứu sự phát sinh, phát triển và
tác dụng xã hội của văn hóa trong lịch sử mà còn chú trọng nghiên cứu cả ảnh
hưởng của sự phát sinh, phát triển của văn hóa ở hiện tại và tương lai. Lịch sử học
nếu có cũng chỉ tổng kết một số kinh nghiệm lịch sử cung cấp cho con người hiện
tại mà thôi, không giống như VHH miêu tả trực tiếp phương thức sống và phương
thức hành vi mà các hiện tượng văn hóa can dự vào đời sống con người hiện đại.
Về mặt phương pháp nghiên cứu, điểm khác nhau nằm ở chỗ sự lựa chọn hình
thức. Lịch sử học thông qua sự thật cụ thể đi tìm nội dung các phương điện văn
hóa, cũng như diễn biến, phát triển của văn hóa, trong khi VHH xem xét mối quan
hệ lẫn nhau giữa các yếu tố nội tại của hệ thống văn hóa trên tổng thể, từ đó nắm
được quy luật chung của sự phát triển văn hóa. Tuy vậy, phương pháp tư duy logic
và trừu tượng khoa học của lịch sử học rất cần thiết trong nghiên cứu VHH.
- VHH và dân tộc học
Dân tộc học là một khoa học xã hội chuyên nghiên cứu quy luật phát triển chung
của các dân tộc xưa và nay. Do dân tộc học có phạm vi và mục đích nghiên cứu
rộng, một số nhà khoa học phương Tây đã đồng nhất dân tộc học với VHH. Song,
sự đồng nhất này hoàn toàn không chính xác. Nhìn trong lịch sử khoa học, dân tộc
học thường nghiên cứu các dân tộc tương đối lạc hậu, còn gọi là “dân tộc tự
nhiên”. Trong ranh giới của một quốc gia, đối tượng nghiên cứu của dân tộc học
chủ yếu là các dân tộc thiểu số. Dân tộc học thường coi trọng nghiên cứu một dân
tộc cụ thể (bao gồm cả thị tộc, bộ lạc, bộ tộc) cùng với các vấn đề nguồn gốc, quá
trình thiên di, quá trình phát triển, địa lý phân bố, hoạt động sản xuất, phong tục

tập quán, sự giao lưu tiếp biến văn hóa của dân tộc đối tượng. Đồng thời, dân tộc
học còn nghiên cứu động thái văn hóa của dân tộc đối tượng. Phương pháp nghiên
cứu căn bản là phương pháp thực địa, vì vậy có người còn gọi nhà nghiên cứu dân
tộc học là nhà khảo cổ chuyên tìm kiếm các tư liệu khảo cổ sống. VHH khác với
dân tộc học, nó chú trọng cung cấp nguyên tắc lý luận mang tính tổng hợp phổ

×