HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG TIÊU CHẢY CẤP
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Tiêu chảy cấp năm 2007 đã nhanh chóng xuất hiện và lan rộng ra
các tỉnh thành trên cả nước đặc biệt là các tỉnh phía Bắc. Điều kiện sống mất vệ sinh
trong các khu dân cư, thói quen sử dụng các loại thực phẩm không an toàn, thói quen
dùng phân và chất bẩn, nguồn nước bẩn để tưới rau của các hộ nông dân sản xuất…
chính là những nguyên nhân gây phát tán dịch. Bên cạnh đó, năng lực phòng chống
và đáp ứng dịch của cán bộ y tế cũng rất quan trọng. Vì vậy, tìm hiểu về thực trạng và
hoạt động phòng chống dịch của cán bộ y tế và người dân là rất cần thiết.
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ một số các hoạt động ứng phó đối với
dịch tiêu chảy cấp của cấp tỉnh, huyện, xã và xác định tỷ lệ kiến thức và thực hành
người dân về phòng chống tiêu chảy cấp.
Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả. Đối tượng nghiên cứu: 15 cán
bộ YTDP tuyến tỉnh, 15 cán bộ YTDP tuyến huyện, 15 trưởng trạm y tế tuyến xã, 746
hộ gia đình.
Kết quả: Có 40% cán bộ y tế tuyến tỉnh và 6,6% cán bộ y tế tuyến xã nhận
biết được ca bệnh tả, không có trạm y tế xã nào có dụng cụ lấy mẫu và chuyên chở
bệnh phẩm, trên 60% đã có đội phòng chống dịch. Thiếu hệ thống báo cáo giám sát
ca bệnh của hệ thống y tế tư nhân.
52,8% hộ gia đình sử dụng cầu tiêu không hợp vệ sinh; 73,2% chưa có kiến
thức về Khử khuẩn môi trường khi có dịch, 10,7 % hộ chưa biết các biện phòng
chống tiêu chảy cấp.
Kết luận: Những kết quả thu được từ nghiên cứu sẽ cho thấy những điểm cần
khắc phục trong công tác phòng chống dịch để từ đó hoạch định các chương trình
hoạt động phòng chống tiêu chảy cấp lâu dài và phù hợp.
ABSTRACT
EVALUATION ACTIVITIES IN THE PREVENTION OF ACUTE
DIARRHOEA OUTBREAK AT 15 SOUTHERN PROVINCES
Le Hoang Ninh, et al. * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 12 - Supplement of
No 4 - 2008: 128 - 134
Background: The acute diarrhoe outbreak in 2007 appeared and spread
rapdily especially in many provinces of the North. People live in the bad environment
sanitation, the habit of usage unsafety food, use dirty water in cultivate
vesgetables…are the reasons which make the outbreak disperse. Beside that, the
capacities of the heath wokers in response and prevent outbreaks are almost
important. So, study about the reality and prevention outbreak of people and health
workers are nessesery.
Objectives: Identify percentages some activities in response diarrhoea
outbreak of heath wokers at provinces, district,and commune. Identify percentages the
knowlegdes and practises of people who live in there about the prevention diarrhoea
outbreak.
Materials and methods: A cross-sectional study was designed and conduct
investigation in 15 health workers in each province , district and commune and 746
families.
*
Viện Vệ sinh - Y tế công cộng thành phố Hồ Chí Minh
Results: 40% health workers at province and 6.6% health workers at
commune known the definition of cholera diarrhoea case. None of communal health
has the carry medical waste samples equipments. Lack of the report about the number
of cases from private heath systems. 52.8 families use the insanitary lautrins. 73.2%
families did not know how to sterilize the environment in the outbreaks.
Conclusion: The results gained from this study will show the weak points of
the preventive activities for acute diarrhea. Since then long-term and appropriate
programmes for preventing accute diarrhea will be developed.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiêu chảy cấp nguy hiểm (hay còn gọi là bệnh tả) năm 2007 đã nhanh chóng
xuất hiện và lan rộng ra các tỉnh thành trên cả nước đặc biệt là các tỉnh phía Bắc. Tiêu
chảy cấp có những triệu chứng điển hình như: tiêu chảy liên tục có khi hàng chục lít
một ngày; phân toàn nước, trắng đục như nước vo gạo Bệnh tả do vi khuẩn hình dấu
phẩy Vibrio cholerae gây ra, gây mất nước và điện giải trầm trọng, dẫn đến sốc nặng
và tử vong nếu không được điều trị kịp thời
(1)
. Bệnh tả vẫn xuất hiện thường xuyên
trên thế giới, mỗi năm có 100.000-300.000 ca mắc tại 40-80 nước, khoảng 2% trong
số đó tử vong. Tả từng gây các đại dịch làm chết hàng triệu người, đến nay vẫn còn
xảy ra dịch ở châu Phi và một số nước châu Á. Ở Việt Nam vẫn có các trường hợp
tản phát, thường vào mùa hè ở các tỉnh ven biển. Tuy nhiên, chính điều kiện sống quá
mất vệ sinh trong các khu dân cư, thói quen sử dụng các loại thực phẩm không an
toàn, thói quen dùng phân và chất bẩn, nguồn nước bẩn để tưới rau của các hộ nông
dân sản xuất
(2)
… chính là những nguyên nhân gây phát tán dịch một cách nhanh
chóng và nghiêm trọng. Tại Việt Nam, nguy cơ dịch tái phát rất cao do mầm bệnh tả
vẫn tồn tại khá lâu trong môi trường và người lành mang bệnh, nhất là tại các vùng lũ
của miền Nam và trong dịp cuối năm, người dân đi lại nhiều.
(4)
Chính vì vậy, tìm hiểu
về tình hình phòng chống dịch của người dân, về phòng chống dịch tiêu chảy cấp, khả
năng ứng phó của cán bộ y tế các tuyến là hết sức quan trọng và có ý nghĩa phòng
bệnh lớn lao trong cộng đồng.
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định tỷ lệ các hoạt động ứng phó đối với dịch tiêu chảy cấp của cấp tỉnh,
huyện, xã
Xác định tỷ lệ kiến thức và thực hành người dân về phòng chống tiêu chảy
cấp.
ĐỐI TƯỢNG -PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Cắt ngang mô tả
Địa điểm nghiên cứu
15 tỉnh thành phía Nam (TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh, Bà Rịa-
Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang, Trà Vinh, Sóc
Trăng, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau).
Đối tượng nghiên cứu:
Cán bộ phụ trách chương trình VSATTP, phòng chống dịch tuyến tỉnh.
Cán bộ phụ trách chương trình VSATTP, phòng chống dịch tuyến huyện.
Trưởng trạm y tế xã.
Hộ gia đình: chủ hộ.
Cỡ mẫu
Theo công thức ước lượng một tỷ lệ:
Z
2
1- /2
P(1-P)
N=
d
2
Với:
Z: trị số từ phân phối chuẩn
: xác suất sai lầm loại I
P: trị số mong muốn của tỷ lệ (0,5)
d: độ chính xác mong muốn (0,05)
Hệ số thiết kế =2
Ta có, N = 768
Phương pháp thu thập số liệu
Sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn để phỏng vấn các đối tượng.
Phương pháp xử lý và phân tích
Sử dụng phần mềm Epidata và Stata 8.0
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Năng lực đối phó với dịch của cán bộ y tế
Tuy
ến tỉnh
(N=15)
Tuy
ến huyện
(N=15)
Tuyến x
ã
(N=15)
Năng
lực/Nguồn
lực
T
ần
suất
T
ần
số(%)
T
ần
suất
T
ần
số
T
ần
suất
T
ần
số(%)
Biết
v
ề định
ngh
ĩa ca
bệnh tả
6 40,0 4 26,7 1
6,6
Có
báo cáo t
ừ
h
ệ thống y
tế tư nhân v
ề
s
ố ca bệnh
tả
2 13,3 0 0 0
0
Đội
phòng
chống dịch
14 93,3 10 66,6 9
60,0
Đư
ợc
hu
ấn luyện
l
ấy bệnh
phẩm
12 80,0 12 80,0 2
13,3
D
ụng
cụ lấy v
à
chuyên ch
ở
bệnh phẩm
15 100
8 53,3 0
0
Kế
ho
ạch huấn
luyện trư
ớc
dịch
15 100
15 100
15
100
Kế
hoạch
truy
ền thông
về dịch
15 100
15 100
13
86,6
Qua khảo sát 15 tỉnh và 15 huyện, xã trực thuộc cho thấy năng lực và
nguồn lực phòng chống dịch của các địa phương còn yếu và thiếu nhiều trang
thiết bị cần thiết và hầu như các tuyến dưới thì năng lực và nguồn lực càng
mỏng.
Ngay trong thời điểm khảo sát là thời điểm có dịch xảy ra nhưng tỷ lệ số cán
bộ nhận biết được ca bệnh khá thấp tuyến xã chỉ có 6,6%; tuyến tỉnh cũng chỉ có
40,0%. Cán bộ y tế là bộ phận trực tiếp xử lý dịch nhưng chưa có đầy đủ kiến thức thì
sẽ khó có thể đáp ứng được với dịch khi có dịch xảy ra.
Hệ thống y tế tư nhân ngày càng phát triển rộng rãi về số lượng, tuy nhiên báo
cáo từ hệ thống này chưa được kiểm soát và có những thông báo chính thức với y tế
địa phương, ở tuyến xã và tuyến huyện không có địa phương nào nắm giữ được số
liệu báo cáo từ hệ thống tư nhân về các ca bệnh, ngay tại tuyến tỉnh cũng có tỷ lệ rất
thấp (13,3%). Điều này, có thể gây nên sự thiếu sót trong việc thống kê số liệu ca
bệnh, ảnh hưởng đến tình hình kiểm soát dịch bệnh.
Đa số các tỉnh, huyện, xã đã có đội phòng chống dịch riêng (> 60%) tuy nhiên,
trang thiết bị như dụng cụ lấy và chuyên chở bệnh phẩm cho các tuyến vẫn còn rất
thiếu nhất là ở tuyến xã (0%). Nếu có dịch xảy ra thì cán bộ y tế tại tuyến xã không
thể tự lấy mẫu mà phải chờ tuyến trên làm chậm trễ quá trình nhận biết và xử lý
dịch.Vì vậy, cần lưu ý nhiều hơn đến việc hỗ trợ thêm các dụng cụ phòng chống
dịch,việc huấn luyện lấy bệnh phẩm nhất là cho các tuyến xã, huyện - nơi phải phụ
trách một lượng dân cư lớn và việc huấn luyện này nên được duy trì thường xuyên.
Hầu hết các tỉnh, huyện, xã đều có kế hoạch huấn luyện trước dịch và kế
hoạch truyền thông, một số xã không tự lập kế hoạch riêng nhưng dựa trên kế hoạch
của tỉnh để thực hiện triển khai phòng chống dịch.
Hộ gia đình
Nguồn nước sinh hoạt
Bảng 1: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng các nguồn nước sinh hoạt. (Một hộ có thể
dùng nhiều nguồn nước khác nhau)
Nguồn nước Tỷ lệ
Nư
ớc máy
(n=465)
62,3%
Nư
ớc giếng (n
= 220)
30,5%
Nước m
ưa (n =
111)
15,3%
Nư
ớc sông (n =
78)
10,9 %
Bảng 2: Tỷ lệ xử lý nước ở các hộ gia đình.
Xử lý nước
Nguồn
nước
Có Không
Nước
giếng (n = 220)
66,4%
33,6
%
Nước
mưa (n = 111)
50,5%
49,5 %
Nước
sông (n = 78)
85,9%
14,1%
Cung cấp đủ nguồn nước sinh hoạt cho người dân luôn là yếu tố được chú ý
hàng đầu của các quốc gia, tỉnh, thành phố. Nguồn nước có ý nghĩa đánh giá chất
lượng sống và đặc biệt quan trọng trong mùa dịch, nhất là đối với những bệnh dịch có
thể lây lan qua nguồn nước. Qua khảo sát tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nguồn nước máy
là 62,3% tập trung ở các vùng là thành phố, trung tâm thị xã, thị trấn.Kết quả này
tương đương với nghiên cứu về chất lượng nước sinh hoạt nông thôn trước đây
(3)
. Các
hộ gia đình ở xã, huyện sử dụng nguồn nước là giếng đào, giếng khoan chiếm 30,5%;
nguồn nước mưa là 15,3%; nước sông là 10,9%. Qua kết quả cho thấy tỷ lệ hộ dân
được sử dụng nước máy vẫn còn thấp hoặc nguồn nước máy cung cấp vẫn chưa đủ
dùng, các hộ phải tận dụng cả những nguồn nước từ giếng, nước sông, nước mưa.
Nếu các nguồn nước này không được xử lý cẩn thận thì có thể là tác nhân gây bệnh
nếu có mầm bệnh trong nước.
Tuy nhiên tỷ lệ các hộ gia đình không sử dụng nước máy không xử lý nước
còn khá cao.
Cụ thể là các hộ sử dụng nước giếng chỉ có 66,4% hộ có xử lý nước bằng các
phương pháp như lắng lọc, các hộ sử dụng nước sông đã có ý thức xử lý nước trước
khi dùng tốt, tuy nhiên vẫn còn 14,1% số hộ dùng nước sông chưa qua xử lý. Có
50,5% hộ gia đình dùng nước mưa có xử lý thêm như lắng lọc lại trước khi dùng.
Bảng 3: Tỷ lệ hộ gia đình dùng dụng cụ chứa nước có nắp đậy.
Nắp đậy
D
ụng cụ
chứa nước
Có Không
Lu (n
=294)
92,5
%
7,5 %
Thùng
nhựa (n = 208)
93,7
%
6,3 %
Thùng
inox (n =116)
98,3
%
1,7 %
Khác
(ch
ủ yếu bể
ximăng) (n = 44)
86,4%
13,6%
Bảng 4: Tỷ lệ hộ gia đình súc rửa dụng cụ chứa nước đúng.
Súc rửa
D
ụng cụ
chứa nước
Dưới
1 tuần
Trên
1 tuần
Lu (n =
294)
57 %
43
%
Thùng
nhựa (n = 208)
40,6
%
59,4
%
Thùng inox
( n = 116)
24,1%
75,9
%
Khác (b
ể
ximăng) ( n = 44)
25 % 75%
Qua 746 phiếu khảo sát có 89,7 % hộ gia đình có dụng cụ chứa nước các loại
như: lu, thùng nhựa, thùng inox, bể ximăng Hầu hết các hộ đều có ý thức dùng nắp
đậy các dụng cụ chứa nước để tránh ruồi muỗi, bụi bặm chỉ có bể ximăng là ít được
đậy do thể tích khá lớn chiếm 13,6%. Tuy nhiên ý thức của người dân về việc súc rửa
dụng cụ đúng (dưới 1 tuần) còn khá thấp đặc biệt ở các hộ dân sử dụng bể ximăng và
thùng inox thì qua khảo sát cho thấy có >75% hộ súc rửa thùng không thường xuyên
hoặc khi nào thấy dơ mới cọ rửa. Điều này có thể giúp cho các loại vi khuẩn có thể
tồn lưu ở lâu trong nước phát triển về số lượng và gây bệnh. Vì vậy đây cũng là một
kiến thức mà người dân cần được cung cấp nhất là trong mùa dịch.
Nguồn nước uống
Bảng 5: Tỷ lệ sử dụng nguồn nước uống.
Nguồn nước uống Tỷ lệ
Nước mưa 26,9%
Nước giếng 15,4%
Nước máy 27,2 %
Nư
ớc tinh khiết ( đóng
chai, bình)
36,2%
Nước sông 5,7 %
Bảng 6: Tỷ lệ đun sôi nước uống trước khi dùng ở các hộ gia đình.
Đun sôi
Nguồn
nước
Có Không
Nước m
ưa
(n = 200)
74
%
26 %
Nư
ớc giếng
(n = 115)
94,7
%
5,3 %
Nư
ớc máy
(n = 203)
94,5
%
5,5 %
Nư
ớc tinh
khiết (n = 270)
42,6
%
57,4 %
Nư
ớc sông
(n = 42)
95,2
%
4,8 %
Nguồn nước uống của người dân là từ các nguồn như: nước mưa (26,9%),
nước máy (27,2%), nước giếng (15,4%), nước uống tinh khiết đóng chai (36,2%).
Đối với nước uống tinh khiết đóng chai qua ghi nhận cho thấy người dân đa số sử
dụng các loại nước sản xuất tại địa phương, cơ sở sản xuất nhỏ lẻ hoặc không có
nguồn gốc rõ ràng nhưng chỉ có 42,6% hộ có đun sôi nước trước khi uống. Các hộ
gia đình sử dụng nước sông, nước giếng để uống cũng có ý thức tốt về việc đun
sôi nước trước khi uống tuy nhiên cũng vẫn còn >5% các hộ sử dụng nước để
uống trực tiếp mà không đun nấu gì thêm. Nguồn nước sông và giếng chưa được
xử lý hàm chứa rất nhiều vi sinh vật là các vi sinh vật gây bệnh đường ruột nhất là
ở những nơi người dân còn có thói quen đi cầu ra sông và chôn đất, chất bẩn và vi
khuẩn có thể tồn lưu và phát tán nếu không được giám sát chặt chẽ.
Các loại cầu tiêu
Bảng 7: Loại cầu tiêu được sử dụng
Loại cầu tiêu Tỷ lệ
T
ự hoại, dội
thấm
47,2 %
Chôn đất 19,7 %
Cầu ao cá 20,1 %
Đi ra sông
13,0
%
Qua khảo sát cho thấy tỷ lệ người dân sử dụng các loại cầu tiêu hợp vệ sinh rất
thấp chỉ có 47,2% tập trung ở các khu trung tâm của tỉnh hay thị xã, thị trấn. Có đến
52,8% hộ gia đình sử dụng các loại hình cầu tiêu không hợp vệ sinh như đi ra sông,
chôn xuống đất hay cầu cá. Nguyên nhân phần nhiều là do thói quen, tập quán đã tồn
tại của người dân sông nước, một nguyên nhân khác là do người dân không đủ tiền để
xây dựng công trình phụ. Những năm gần đây tuy chính quyền đã có nhiều hỗ trợ
trong việc xây dựng cầu tiêu hợp vệ sinh hoặc có nhiều khuyến cáo đến người dân
trong việc xử lý phân và chất thải tuy nhiên vẫn còn là chưa đủ so với hiện trạng và
thưc tế đặt ra. Đồng bằng sông Cửu Long lại là nơi kênh rạch chằng chịt, các con
sông nối thông với nhau, vì vậy nếu có mầm bệnh sẽ lan ra rất nhanh chóng. Vì vậy
hệ thống y tế cần phải tích cực hơn nữa trong việc tuyên truyền và vận động người
dân trong việc xây dựng các loại cầu tiêu hợp vệ sinh và xử lý các loại phân và chất
thải đúng cách. Điều này có ý nghĩa thiết thực to lớn trong việc góp phần phòng các
bệnh lây lan qua đường tiêu hóa.
Thực phẩm
Bảng 8: Cách rửa trái cây,rau thông dụng
Cách xử trí
Ngu
ồn
g
ốc rau sống,
trái cây
Thu
ốc
tím
Nước
rửa rau quả
Ngâm
nước muối
Nước
thông
thường
G
ọt
vỏ
Chợ
4,9%
4,5 %
54,2
%
33,8
%
2,3
%
Siêu
thị
12,5%
20,8
%
43,3
%
16,6
%
16,
7 %
Tự
trồng
0%
16,7%
66, 7
%
16,6%
0%
Nguồn rau quả trái cây được cung cấp cho người dân là mua từ chợ, siêu thị và
tự trồng một số được mua từ gánh hàng rong và xe đẩy.Đa số người dân dùng nước
muối để ngâm rửa rau quả trước khi sử dụng hay chế biến (> 40,0%). Bên cạnh đó
còn có một số cách khác như: thuốc tím, nước rửa rau quả, gọt vỏ…Tuy nhiên nhìn
chung người dân vẫn chưa biết cách rửa rau quả đúng cách như chỉ rửa sơ bằng nước
thông thường và dưới 2 lần/mỗi lần rửa.
Bảng 9: Tỷ lệ hộ gia đình ăn 3 loại thực phẩm (rau sống, mắm, thức ăn đường
phố) trong 1 tuần trước khi khảo sát.
Lo
ại thực phẩm
ăn/1tuần.
Tỷ lệ
Rau sống 54 %
Các loại mắm 10,8
%
Thức ăn đường phố 49,8
%
Khảo sát cho thấy trong 1 tuần tỷ lệ người dân sử dụng thức ăn đường phố khá
cao (49,8%), tương tự với rau sống (54%) người dân cũng sử dụng khá nhiều. Tuy
nhiên thức ăn đường phố lại là nhóm thức ăn nhiễm vi sinh khá cao, theo một số
nghiên cứu thì tỷ lệ nhiễm các loại vi sinh của thức ăn đường phố có thể >70%. Vì
vậy chính quyền và các cơ quan y tế cần phải thường xuyên giám sát không chỉ
nguồn thực phẩm này mà còn cả người bán thức ăn đường phố về vệ sinh cá nhân, vệ
sinh dụng cụ…để góp phần đảm bảo sức khỏe cho người dân. Các loại mắm là thức
ăn phổ biến của người dân miền Tây nhưng tại thời điểm khảo sát, người dân ít sử
dụng có lẽ do có nguồn thông tin nhiều ca bệnh tiêu chảy cấp là do ăn mắm (10,8%).
Kiến thức người dân về phòng ngừa tiêu chảy cấp
Bảng 10: Kiến thức người dân về phòng ngừa tiêu chảy cấp
Kiến thức
Nội dung
Có Không
Thông
tin về tiêu ch
ảy
cấp
87,6%
12,4
%
Nhân
thức tiêu ch
ảy
cấp l
à nguy
hiểm
90,7
%
9,3 %
Các bi
ện
phòng ch
ống
tiêu ch
ảy cấp (ăn
chín u
ống sôi,
gi
ữ vệ sinh cá
nhân, không đi
cầu ra k
ênh
rạch…)
89,3
%
10,7
%
Ý th
ức
rửa tay trư
ớc khi
67,8
%
32,2 %
ăn
Ý th
ức
r
ửa tay sau khi
đi v
ệ sinh bằng
xà phòng và
nước sạch
90,6
%
9,4 %
Khử
khu
ẩn môi
trư
ờng khi có
d
ịch (xử lý phân,
nư
ớc thải của
người bệnh, )
26,8%
73,2%
Trong khi có dịch tiêu chảy cấp xảy ra, mặc dù miền Nam chỉ phát hiện 1 vụ
nhưng người dân cũng đã biết được một số thông tin xảy ra về vụ dịch (87,6%) thông
qua Ti vi, báo đài, loa phóng thanh của phường xã… Tuy nhiên cũng vẫn còn 12,4%
hộ dân không hề biết đang có dịch chủ yếu là các hộ dân cư ngụ sâu trong đồng ruộng
và chưa có điện hay hệ thống thông tin trong gia đình. Điều này cho thấy sự thiệt thòi
của các hộ dân cũng như một phần nào trách nhiệm của Cán bộ y tế vẫn còn chưa đưa
được thông tin đầy đủ đến với người dân.
Từ nguồn thông tin về tiêu chảy cấp đa số người dân đã có nhận thức về tiêu
chảy cấp là nguy hiểm có thể gây tử vong nếu không cứu chữa kịp thời (90,7 %) và từ
đó có những nhận thức về biện pháp phòng ngừa tiêu chảy cấp cho bản thân và gia
đình như ăn chín uống sôi, giữ vệ sinh cá nhân, không đi cầu ra kênh rạch…(89,3%),
cũng như ý thức rửa tay trước khi ăn, rửa tay sau khi đi vệ sinh bằng xà phòng và
nước sạch của người dân cũng khá cao (>60,5%). Tuy nhiên đây cũng chỉ là kiến thức
còn trên thực tế những hoạt động trên có được người dân thực hiện một cách thường
xuyên không cũng khó có thể giám sát được.
Chỉ có 26,8% người dân có kiến thức đúng về việc khử khuẩn môi trường
trong khi đây là một kiến thức rất quan trọng có thể khi thực hiện khảo sát chưa có
công bố phác đồ chính thức về xử lý và điều trị tiêu chảy cấp nên người dân cũng
chưa được phổ biến những kiến thức này.
Vì vậy, các cán bộ y tế cần phải đẩy mạnh hơn nữa vấn đề truyền thông để
củng cố và bổ sung kiến thức thêm cho người dân về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi
trường trước trong và sau khi có dịch.
Cơ sở y tế
Bảng 11
Nơi khám b
ệnh đầu
Tỷ lệ
tiên
Trạm y tế 22,9 %
Bệnh viện 38,1 %
Phòng khám tư 32,4%
Tự chữa bệnh 6,6 %
Đa phần người dân sẽ lựa chọn bệnh viện, trạm y tế. là nơi đến để khám bệnh
đầu tiên. Trong đó, phòng khám tư cũng chiếm một tỷ lệ không nhỏ người dân lựa
chọn là nơi đến khám chữa bệnh đầu tiên khi bị bệnh. Tuy nhiên như đã nêu ở trên,
tại cả 3 tuyến tỉnh, huyện, xã thì việc quản lý báo cáo về ca bệnh từ các phòng khám
tư là rất thấp có khi là 0% gây khó khăn cho việc kiểm soát dịch.
KẾT LUẬN
Nhìn chung các hoạt động phòng chống tiêu chảy cấp của các địa phương còn
nhiều thiếu sót và bất cập: